Số 91 Ngày 03-12-2006

MỤC LỤC

Thư Tòa Soạn

Sống Sứ Điệp và Điệp Khúc Mùa Vọng– Lm. Vũ Xuân Hạnh

Thánh Phanxicô Xavie - Vị Tông Đồ Miền Đông Á Sưu Tầm

Mừng Vui Lên - Hỡi Đấng Đầy Ân Sủng Nguyễn Học Tập

Làm Sao Tin Vào Chuyện Tội Nguyên Tổ Michel Souchon, S.J.

Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội: Niềm Hy Vọng của Nhân Loại Vũ Tiến

Ước Mơ Trần Duy Nhiên

Linh Đạo Cho Giáo Dân Ngày Nay - Lm. Jess S. Brena, S.J.

Cầu Nguyện Pierre Charles, SJ - Phạm Minh Thiện dịch

Đạp Trên Lá Vàng Khô – Step On Golden Leaves Thanh Thanh

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc-Thư Bạn Đọc

 

Thư Tòa SoẠn

 

Kính thưa quý độc giả,

Trong tuần qua, Giáo Hội và thế giới quan tâm hướng về cuộc viếng thăm của Đức Thánh Cha Bênêdictô XVI tại Thổ Nhĩ Kỳ, một quốc gia với 72 triệu người Hồi Giáo, nhưng chỉ có 20 ngàn tín hữu Công Giáo. Báo chí tiên đoán đây sẽ là một chuyến đi nguy hiểm, sẽ có nhiều cuộc biểu tình hoặc bạo động của những thành phần quá khích. Nhưng những dự đoán đó đều đã xoay chiều tích cực. Thay vì một chuyến đi hứa hẹn nhiều biến động, khó khăn và tế nhị, cuộc viếng thăm này lại biến thành một hành trình với những gặp gỡ, hứa hẹn cho công cuộc đại kết và đối thoại với Hồi giáo. Truyền thông trên thế giới và chính tại đất nước Thổ Nhĩ Kỳ (nơi đã có nhiều bất đồng với Đức Bênêđictô XVI trước đây) cũng đã lên tiếng ca ngợi sự thành công của chuyến viếng thăm này. Trong buổi đọc kinh Truyền Tin vào Chúa Nhật thứ nhất Mùa Vọng, Đức Thánh Cha đã vui mừng loan báo và hy vọng vào sự hợp tác chân thành của những môn đệ Chúa Kitô cũng như sự đối thoại thuận lợi với các tín hữu Hồi giáo.

Sau chuyến đi tưởng rằng khó khăn và phức tạp này, Đức Thánh Cha đã hồi tưởng về cộng đồng Công Giáo thân yêu đang sống trên lãnh thổ Thổ Nhĩ Kỳ với lòng biết ơn trìu mến: “…Cha đã gặp gỡ và cử hành Thánh Lễ với những anh chị em tín hữu tại đó, những người sống trong điều kiện không dễ dàng gì. Đó thực sự là một nhóm nhỏ, đa dạng, dồi dào nhiệt huyết với đức tin sống động, mà chúng ta có thể nói đời sống liên lỉ nhưng mãnh liệt này với kinh nghiệm của Mùa Vọng là được duy trì bằng niềm đợi chờ trong hy vọng.”

Cũng như các tín hữu này, ai trong chúng ta cũng đã từng trải qua tâm trạng mong đợi nào đó. Và cũng theo lẽ thường, không ai muốn chờ đợi lâu bao giờ. Sống trong thế giới có nhiều tiện nghi và phương tiện giải trí, hoặc trong những giai đoạn hoặc hoàn cảnh khó khăn, con người thường muốn có câu trả lời ngay lập tức. Người bạn trẻ mong câu trả lời rõ ràng của người yêu: thương hay không, đi đến hôn nhân hay chấm dứt? Người bệnh nôn nóng muốn biết kết quả khám nghiệm: mắc bệnh gì, chữa được hay không? Người thương gia chỉ mong chóng đạt doanh số: tăng vòng vốn, làm giàu, để sớm nghỉ hưu hưởng nhàn. Những người chân tu cũng bị cám dỗ: sao Chúa chưa ra tay hành động, sao thế gian nhiều chuyện đau lòng mà hình như Chúa vẫn từ tốn lặng im?

Bài học Chờ Đợi và Kiên Nhẫn của Mùa Vọng mà chúng ta đã bắt đầu bước vào vì thế càng có giá trị. Ở đây phải bày tỏ lòng cảm phục các tiền nhân khi dịch chữ La-tinh Adventus, có nghĩa là đến, thành chữ vọng (đợi chờ). Thực vậy, tuy Chúa nhật mùa Adventus mang ý nghĩa đón mừng việc Chúa Giê-su đến lần thứ hai, nhưng tâm tình của những tín hữu trong Mùa Vọng phải là một tâm tình kiên nhẫn, chờ đợi trong hy vọng, bình an, trung tín cùng với niềm vui đón chờ Đấng Cứu Thế đến lần thứ hai. Đây là tâm tình người đầy tớ biết luôn tỉnh thức, đón chờ chủ về (Lc 12, 37). Trước kia, tinh thần của mùa Vọng mang tính chay tịnh của Mùa Chay, (tuy ngày nay đã đổi, cũng như cho dù Giáo hội Tây phương không còn chính thức đòi hỏi tín hữu phải giữ chay,) nhưng cũng không khuyến khích tổ chức các lễ hội trong mùa này. Màu tím trong phụng vụ và không đọc kinh Vinh Danh trong Thánh Lễ Chúa Nhật nói lên tâm tình đó. Nếu Chúa Ki-tô chưa đến, thì ý nghĩa đợi chờ càng nổi bật. Mà chờ đợi điều gì, chờ đợi ai? Nếu ta chưa nhìn ra việc Chúa đến trong các bí tích, trong Lời Chúa, trong gặp gỡ giữa những người anh em, nhất là những người bất hạnh, trong cái chết của từng cá nhân, và cuối cùng là trong sự trở về trọn vẹn của toàn thể con người khi Chúa sẽ đến lần thứ hai, thì hỏi rằng chờ đợi có mang ý nghĩa gì?

Nhưng Chúa đã đến rồi. Dẫu vậy, Ngài cũng vẫn chưa đến trọn vẹn như sẽ đến vào buổi cánh chung. Thế nên, điều đã xảy ra rồi nhưng vẫn chưa (already but not yet) càng nổi bật. Và con người vẫn phải tiếp tục chờ đợi, kiên trì đợi chờ. Cuộc sống của chúng ta luôn ở trong tâm tình chờ đợi một điều gì đó, một con người nào đó, một thế giới mới nào đó, mặc dù đã bắt đầu có mặt nơi đây nhưng chưa hề biểu lộ trọn vẹn. Đó là nỗi niềm ước mong khắc khoải chờ đợi của mỗi con người, được thánh Au-gus-ti-nô diễn tả tuyệt vời: " Lạy Chúa, Chúa đã tạo dựng con cho Chúa, và tâm hồn con khắc khoải nôn nao mãi không nguôi cho đến khi được nghỉ an trong Chúa".

Chính vì cần phải tỉnh thức, kiên trì chờ đợi nên nhiều nhà tu đức đã cho rằng kiên nhẫn là một nhân đức căn bản của Ki-tô giáo. Nếu những người Do thái xưa vì thiếu kiên nhẫn nên đã không nhìn ra được một đấng Mê-si-a đang ở giữa họ khi đặt những câu hỏi “Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay chúng tôi còn phải đợi một ai khác” (Mt 11,3; Lc 7,19) và phụ nữ tên Mác-ta đáp trả câu hỏi này với lòng xác tín, “Thưa Thầy, con vẫn tin Thầy là Đức Ki-tô, con Thiên Chúa, Đấng phải đến trong thế gian,” thì ngày nay mọi tín hữu trong Hội thánh của Chúa cũng cần nhắc nhở tập luyện cho mình tâm tình kiên nhẫn theo cung cách Chúa muốn, để hành động ứng xử trong cuộc sống của mình. Điều này thật hệ trọng, và chúng ta cũng không thể nôn nóng chống lại chương trình kỳ diệu của Thiên Chúa bằng cách sử dụng các phương cách trần thế vội vã của mình, mà nghĩ rằng mình đang thực hiện thánh ý Chúa.

Nhân đức kiên nhẫn này đã hiển hiện trong đời sống của người nữ tín hữu đầu tiên với tên gọi Maria; và trong chuyến tông du vừa qua, Đức Thánh Cha đã đến Êphêsô, đến căn nhà nhỏ mà theo truyền thuyết cho rằng, người nữ tín hữu ấy đã sống và lớn lên tại đó. Nơi đây, Đức Giáo Hoàng đã gặp gỡ và dâng thánh lễ cho những người Công Giáo đến từ khắp Thổ Nhĩ Kỳ. Ngài đã ân cần nhắc nhở rằng: “Để sống trọn vẹn tâm tình Mùa Vọng, phụng vụ mời gọi chúng ta nhìn vào Mẹ rất thánh Maria, và đồng hành với Mẹ để hướng về hang đá Bê lem. Khi Thiên Chúa gõ cửa đời sống nơi cô gái trẻ Maria, cô gái ấy đã đón chào Người bằng đức tin và tình yêu. Trong một vài ngày tới, chúng ta sẽ ngắm nhìn Mẹ trong mầu nhiệm chói ngời: Vô Nhiễm Nguyên Tội. Hãy để chúng ta bị quyến rũ bởi vẻ đẹp trinh trong của mẹ, trong sự chìm đắm suy tư hướng về làm vinh danh Thiên Chúa, để khi ‘Đấng là Thiên Chúa ngự đến,’ Người có thể tìm thấy trong mỗi chúng ta một trái tim tốt lành và rộng mở, để Người có thể lắp đầy bằng món quà tuyệt diệu là chính Người.”

Giáo Hội Việt Nam những ngày qua cũng rộn ràng hân hoan đón chào phái đoàn Hội Đồng Giám Mục Pháp Quốc đến viếng thăm các giáo phận Hà Nội, Hải Phòng, Thanh Hoá, và Đà nẵng, Kontum, và đặc biệt phái đoàn các Hồng Y tại Châu Á cũng đã viếng thăm Việt Nam, và cùng với 12 ngàn bạn trẻ tụ họp nhau tại Trung Tâm Mục Vụ thuộc Tổng Giáo Phận Sài gòn mừng kính 500 năm thánh Phan-xi-cô Xa-vi-ê truyền giáo tại Châu Á.

Niềm vui và bài học nên thánh của Phan-xi-cô Xa-vi-ê chọn Nước Trời làm gia nghiệp mà Giáo hội mừng kính ngày 3 tháng 12 vừa qua, cũng như gương sáng chờ đợi của Mẹ Ma-ri-a “Còn bà Ma-ri-a thì hằng ghi nhớ kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng.” (Lc 2,19) phải là bài học cho chúng ta trong Mùa Vọng năm nay. Thánh Phan-xi-cô đã kiên trì rao giảng Tin Mừng không ngơi nghỉ. Mẹ Maria là gương mẫu tuyệt hảo của đợi chờ và hy vọng trong cầu nguyện. Chúng ta có niềm hy vọng lớn lao (gương của Mẹ Maria) để tin tưởng cậy trông, kiên nhẫn hy vọng và mong chờ ngóng đợi, để như một tiếp bước lên đường SỐNG ĐẠO, chủ đề của Năm Phụng Vụ mới này. Trong tâm tình đó, xin cho chúng ta tiếp tục kiên trì chờ đợi đấng Mê-si-a đã đến, và sẽ trở lại với lời kinh của Mùa Vọng đã có tự bao thời: Marana tha, lạy Chúa Giê-su, xin ngự đến!

MARANATHA

Trở về mục lục >>

  

SỐNG SỨ ĐIỆP VÀ ĐIỆP KHÚC MÙA VỌNG

Lm. Vũ Xuân Hạnh

Mùa Vọng lại về. Điệp khúc, cũng chính là sứ điệp mùa Vọng lại vang lên: “Tỉnh thức và cầu nguyện.” Gọi là điệp khúc vì nó quen thuộc. Quen thuộc như hơi thở của bản thân. Như hơi thở cần cho sự sống thế nào, điệp khúc và sứ điệp mùa Vọng: “tỉnh thức và cầu nguyện” cần thiết đến vô cùng như thế, để đưa ta vào nếm hưởng hạnh phúc vĩnh cửu. Bởi sống trong đời, biết mình là Kitô hữu mà không tỉnh thức, không cầu nguyện, đồng nghĩa với việc ta chỉ mang danh Kitô hữu mà không thực là Kitô hữu.

Tỉnh thức và cầu nguyện là hai chiều kích thánh thiêng bổ sung cho nhau nơi một tâm hồn biết để Chúa chiếm ngự, nơi một tâm hồn thực sự là tâm hồn Kitô hữu. Nói tỉnh thức và cầu nguyện là hai chiều kích thánh thiêng bổ sung cho nhau, là bởi:

1. Tỉnh thức giúp ta cảnh giác thói hư tật xấu, cảnh giác tội lỗi, không để những cái xấu thế trần ảnh hưởng, hoặc làm mất đi sự thánh thiện trong tâm hồn tín hữu. Nói cách khác, sống tinh thần tỉnh thức là biết ăn năn thống hối, biết dọn tâm hồn bằng một đời sống nhân đức để Chúa có thể chiếm ngự tâm hồn, và tâm hồn thuộc về Chúa hoàn toàn.

2. Cầu nguyện là phương thế tốt nhất để gắn kết phàm trần với thiêng liêng, gắn kết con người với Thiên Chúa. Vì thế, chỉ cần ham thích cầu nguyện, thì tự bản thân của việc cầu nguyện đã đưa ta về phía Chúa, đã là cách ta mở đường để Chúa đến chiếm ngự hồn ta. Cầu nguyện là đi tìm Thiên Chúa, để bắt gặp chính Người là Đấng hằng đợi chờ, tìm kiếm ta. Bởi con người phàm trần yếu đuối, đã có thể tìm gặp Thiên Chúa, Đấng thánh tuyệt đối, từ ngàn xưa đã đi tìm loài người. Nhờ thế, cái phàm trần yếu đuối nơi loài người càng được thánh hóa, càng vững mạnh, càng được củng cố, càng lãnh nhận nguồn ơn tuyệt hảo là chính Chúa, sức mạnh vô cùng cho loài người.

3. Một Kitô hữu lại luôn luôn có Chúa làm sức mạnh, làm “côn trượng,” “làm núi đá” nương thân của mình như thế, chắc chắn sẽ là người dễ dàng đứng ngoài vòng vây hãm của cám dỗ, của sự dữ và tội lỗI hơn. Chính vì thế, tỉnh thức và cầu nguyện luôn bổ sung cho nhau, cần có nhau, tương qua lẫn nhau. Bởi đã cầu nguyện thì người luôn luôn cầu nguyện chắc chắn là người luôn luôn tỉnh thức. Càng tỉnh thức, người ta càng thấy nhu cầu của sự cầu nguyện là không bao giờ hết, trái lại tỉnh thức bao nhiêu thì đòi sự cầu nguyện càng tăng trưởng bấy nhiêu. Có tỉnh thức, có cầu nguyện, linh hồn ta có Chúa. Còn có hạnh phúc nào bằng hạnh phúc ta có Chúa chiếm ngự hồn mình. Có Chúa chiếm ngự trong hồn, cánh cửa của hạnh phúc đời đời sẽ không bao giờ đóng lại nhưng đời đời mở ra cho ta, đưa ta vào lối trường sinh, sống trong lòng Thiên Chúa Vĩnh Cửu.

4. Mùa Vọng lại về. Điệp khúc của mùa Vọng lại vang lên từ những trang Tin Mừng, nơi chứa đầy lòng khoan dung, tình yêu mà Thiên Chúa đã gởi trao cho loài người. Lắng nghe sứ điệp tình yêu từ cung lòng Thiên Chúa thốt lên, dạy ta phương thế để tiến về phía Thiên Chúa. Phương thế đó là: “Hãy tỉnh thức và cầu nguyện.” Lẽ nào ta chỉ dừng lại ở chỗ lắng nghe mà không sống sứ điệp xuất phát từ cung lòng Thiên Chúa? lẽ nào điệp khúc thân thương của mùa Vọng, chính là lời tha thiết xuất phát từ cung lòng Thiên Chúa, lại bị ta hờ hững, dửng dưng, thậm chí chối từ và đẩy Thiên Chúa xa lòng mình?

5. Tôi muốn giới thiệu một khuôn mặt thánh nhân, tuy không mừng kính vào mùa Vọng, nhưng với tôi, đó là khuôn mặt rất đáng yêu giúp chúng ta noi gương bắt chước sống tinh thần mùa Vọng bằng sự tỉnh thức và cầu nguyện suốt cuộc đới mình. gương mặt thánh nhân đó chính là thánh Phanxicô Assisi.

Bằng một con đường riêng, thánh nhân đã sống lời mời gọi Tin Mừng theo sát mặt chữ: từ một thanh niên giàu sang, phung phí, thánh nhân đã trút bỏ mọi sự để nên nghèo khó. Nghèo đến nỗi hoàn toàn trần trụi, không còn gì. Kể từ ngày quyết trút bỏ mọi sự, đời của chàng trai Phanxicô là một cuộc hành trình dài (chứ không phải chỉ một vài năm tháng) trong sự trút bỏ để đi đến tận cùng của cái nghèo khó, để tiến về đích điểm cao trọng không ai bằng, đó là trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô.

Đặc biệt thời gian cuối đời, thánh nhân đã ẩn lên núi Alverne để trở nên một với Đấng-Chịu-Đóng-Đinh, đến độ năm dấu thánh thể hiện trên chi thể của thánh nhân, như một bằng chứng không thể tả cho cả một đời trút bỏ mà thánh nhân đã sống. Thế nhưng trong hình hài đớn đau của nỗi đau thập giá Chúa Kitô khắc vào thân thể mình, và hầu như mù lòa, Phanxicô vẫn ca ngợi Thiên Chúa với tâm tình tạ ơn, đặc biệt qua Bài Ca Vạn Vật, một tuyệt tác của con người thần bí đã nhìn thấy dấu vết của Thiên Chúa trong mọi tình huống của cuộc đời. Ngài về nhà Cha ngày 3-10-1226, ở tuổi 44, nhưng ảnh hưởng của ngài kéo dài mãi cho đến các thế hệ đời sau, đến tận bây giờ.

6. Chính tâm hồn thánh thiện, phản chiếu sâu đậm tình yêu và lòng nhân từ của Thiên Chúa nơi các thánh nói chung, nơi thánh Phanxicô Assisi nói riêng, sẽ chiếu rọi vào cuộc đời mỗI Kitô hữu, giúp họ trưởng thành hơn trong sự tỉnh thức và cầu nguyện..

Thánh Phanxicô đã thức tỉnh chính mình. Từ khi Phanxicô bắt gặp chân lý đức tin, người ta phải ngỡ ngàng trước thái độ đổi đời quá ngoạn mục của một chàng trai giàu có, phóng túng. Bắt gặp chân lý đức tin rồi, chàng trai - vị thánh ấy đã ôm chặt bên mình chân lý ấy, say trong chân lý ấy. Đúng hơn, từ khi bắt gặp chân lý đức tin, Phanxicô luôn luôn tỉnh thức, luôn luôn cầu nguyện, hiến thân hoàn toàn để được gắn chặt đời mình vào cuộc đời và Lời Chúa Kitô. Gắn chặt đến nỗi, suốt một đời tỉnh thức và cầu nguyện của vị thánh là suốt một đời chiêm niệm hoàn toàn, tắm mình hoàn toàn trong ơn Chúa, kết hiệp hoàn toàn với thập giá Chúa Kitô, để như Chúa Kitô, vị thánh hoàn toàn đủ sức chấp nhận hình hài thập giá của Chúa Kitô trên chính hình hài của mình.

Trước khi trở thành thánh nhân, Phanxicô đã trút bỏ hết sức, đã bước ra, để từ một chàng trai giàu có thành người nghèo khó; Từ một thanh niên phung phí, lêu lỏng trở nên khí cụ bình an đem nguồn bình an cho tâm linh con người; Từ một kẻ sống gần sự tội, trở thành chứng nhân và thành thánh nhân của Thiên Chúa; Từ một con người chỉ biết hoạt động và ngụp lặn trong đời, trở thành nhà cầu nguyện tài ba. Nhờ đó, con người yếu kém của Phaxicô đã đổi đời, trở nên khuôn mặt đầy khả ái phản chiếu lớn lao tình yêu của thiên Chúa…

7. Cũng vậy, một khi thực sự sống sứ điệp và điệp khúc của mùa Vọng: “Hãy tỉnh thức và cầu nguyện,” chúng ta cũng sẽ trở nên đồng hình đồng dạng hoàn toàn với Chúa Kitô, Chúa chúng ta. tỉnh thức và cầu nguyện thực sự bằng cả cuộc đời mình, ta sẽ không còn dễ bị ru ngủ bởi những hoan lạc trần thế. Sẽ không còn một tình trạng trì trệ, nặng nề, say sưa, thói nuông chiều thân xác… lôi kéo ta xa rời tình yêu của Chúa. Như chính Lời Chúa mời gọi, như Hội Thánh hằng nhắc lại để dạy ta, như thánh Phanxicô và nhiều anh chị em khác trong HộI Thánh đã sống, ta quyết một lòng sẽ sống một đời trong sự “tỉnh thức và cầu nguyện”

Trở về mục lục >>

THÁNH PHAXICÔ XAVIE - VỊ TÔNG ĐỒ MIỀN ĐÔNG Á

(1506-1552)

I- CUỘC ĐỜI:

Tuổi trẻ đầy hứa hẹn

Phanxicô Xavie (Francisco de Jaso) sinh ngày 7-4-1506 tại Xavie, miền Navarre, nước Tây Ban Nha. Sau khi hoàn tất chương trình học tại Navarre, năm 19 tuổi cậu rời quê hương đi theo học tại đại học Paris. Năm 1529, cậu đậu tú tài, và năm sau đậu cử nhân. Tương lai sáng lạn mở ra trước mắt Phanxicô, cậu được chọn để dạy triết tại trường Dormans-Beauvais, và theo học thêm sáu năm thần học. Hãnh diện về gia thế, về trí thông minh xuất chúng và về những thành tích đạt được, Phanxicô chỉ những mơ tưởng đến danh vọng và tiền bạc... nhưng Thiên Chúa đang chờ đợi điều gì khác nơi Phanxicô, Ngài gọi nhân vật đặc biệt ấy qua chàng sinh viên Ignatiô thành Loyola.

Bước đầu đời tận hiến

Phanxicô đã hoán cải vào năm 1533, ba năm sau khi gặp Ignatiô. Mười lăm tháng sau, ngày 15-8-1534, cùng với Ignatiô và 5 sinh viên khác, chàng thanh niên ấy giã từ cuộc chạy đua “tìm lời lãi cả thế gian” để tận hiến cho việc phụng sự Chúa bằng lời khấn khiết tịnh, khó nghèo và tuyên thệ trung thành phục vụ Nước Chúa Kitô. Năm 11-1536, cùng với các bạn, Phanxicô đi Venise. Ngày 24-6-1537, Phanxicô nhận tác vụ linh mục. Kể từ đó, Ngài hăng say đi khắp các thành phố Bắc Ý để rao giảng Lời Chúa, và đến các nhà thương để phục vụ các bệnh nhân.

Bước đường Chúa dẫn dắt

Năm 1540, Dòng Tên được châu phê với số tu sĩ tiên khởi khá khiêm tốn: 9 vị. Nhưng với lời khấn tuân phục Đức thánh cha, các vị đã thừa lệnh Đức Phaolô III đến phục vụ tại nhiều miền trong Giáo Hội. Riêng Phanxicô Xavie thì ở lại làm thư ký cho cha Ignatiô tại Roma. Vào dịp ấy, vị phó vương đang cai trị Ấn độ gửi thư xin đại sứ Bồ đào nha ở Roma gửi những linh mục đạo đức và trí thức tới đây truyền giáo. Phanxicô lòng mừng khấp khởi, hi vọng mình được chọn. Nhưng cha Ignatiô đã gọi hai cha Rodriguez và Bobadilla về để chuẩn bị cho sứ mạng này.

Phanxicô không hề hé môi, ngài lý luận : Rodriguez thì khỏe, Bobadilla tuy đang bịnh, nhưng sẽ bình phục thôi, vả lại vị linh mục này có một nghị lực bất khuất và đức tin sâu sắc. Cha Ignatiô luôn luôn có lý. Hơn nữa, Ấn độ là gì chứ ? Một xứ sở mơ hồ, hoàn toàn xa lạ, với đủ thứ ngôn ngữ và đủ loại thần linh! Loan báo Tin Mừng ở đây hay ở đó thì nào có khác gì. Cha Ignatiô vẫn nói : dù Giêrusalem hay Đất Thánh mặc lòng không quan trọng, miễn là ở nơi nào ta có thể làm việc để tôn vinh Chú hơn cả. Thế nên, ở Siennna, Calabre, Ái nhĩ lan, Parmô, Lisbonne hay ấn Độ cũng như nhau, và ở lại văn phòng này thì cũng thế. Đức Phaolô III phái cha Broet đi Sienna, hai cha Laynez và Favre đi Perme; cha Bobadilla đi Calabre; hai cha Codure và Salmeron đi Ái Nhĩ Lan. Cha Ignatiô cử cha Rodriguez đi Sienna. Tuy nhiên lý luận thì lý luận, chứ ước mơ thì vẫn ước mơ: Ấn độ! Đó là cơ hội tấn công trực tiếp vào vương quốc của ma quỷ mà!

Ơn gọi truyền giáo

Đến giờ chót, cha Bobadilla không thể lên đường vì lý do sức khỏe. Cha Ignatiô chọn Phanxicô để thay thế. "Con sẵn sàng!" Chỉ cần một tối để chuẩn bị, sáng hôm sau Phanxicô đã rời Roma đi Bồ đào nha, chờ tàu đến Ấn độ. Phanxicô thức đêm khâu vá quần áo. Hành trang của ngài là Thánh giá, sách nguyện và một cuốn sách thiêng liêng. Lúc này là tháng 3-1540.

Lên đường

Phanxicô lên tàu tại Lisbonne vào ngày 7-5-1541. Tuy giữ chức vụ đặc sứ của Nhà Vua và sứ thần Tòa Thánh, Phanxicô muốn xuất hiện như một linh mục nghèo của Chúa Kitô. Bề ngoài, ngài ăn mặc tầm thường. Bề trong, ngài đến đâu cũng muốn lệ thuộc những đại diện của Đức Giáo Hoàng và của nhà vua, ngài đến xin ý kiến của các Giám mục và thống đốc địa phương.

Sau 13 tháng hành trình, Phanxicô đã đến Goa. Vừa đặt chân lên đất liền, Ngài đã lóa mắt vì nhà thờ chính toà nguy nga, nhà thờ lớn nhỏ rải tác khắp nơi, lại có cả một đan viện nữa. Đầy phấn khởi, Ngài viết về cho Ignatiô : "Thành phố Goa đầy người Công Giáo." Nhưng chỉ mấy ngày sau, Ngài đã thất vọng ê chề. Chỉ đi vài bước trong thành phố là ngài đã gặp những người Bồ đào nha vênh váo ngồi trên cáng, bắt những người Ấn độ mình trần khiêng đi. Các phụ nữ Bồ Đào Nha thì ăn mặc diêm dúa, trang sức lộng lẫy, ung dung vắt vẻo trên kiệu giữa phố, với một đám thổ dân theo sau hầu hạ. Rồi chợ bán nô lệ, những sòng bạc, những quán rượu ...

Khuôn mặt Đức Kitô tại đây đang bị bóp méo bởi bàn tay của đám con buôn Tây Phương.

Ngài đã tìm một chỗ ở khiêm tốn gần những người bệnh và nhà thương, rồi đi trình diện Đức Giám Mục sở tại, xuất trình giấy giới thiệu của Đức thánh cha và Nhà Vua, cử ngài đến giúp người Bồ đào nha, dạy dỗ các tân tòng và đưa người ngoại trở lại, nhưng ngài xin tuân theo mệnh lệnh của Giám Mục địa phương.

Tổng quát hoạt động truyền giáo

Thế là bắt đầu 10 năm sống và hoạt động đấy căng thẳng của Phanxicô, được phân chia ra làm ba giai đoạn truyền giáo chính xen vào đó là những chuyến dừng chân đó đây để lo công việc tổ chức. Mỗi giai đoạn đó kéo dài khoảng hai năm: Trên bờ biển Ấn độ (gọi là "de la Pêcherie từ 1542-44), tại quần đảo Moluccas (1545-47), tại Nhật bản (1549-51).

Bốn tháng sau Phanxicô lên đường sang Trung Quốc, ngài dừng chân tại đảo Tam Châu. Tại đây, suốt ba ngày ngài chờ một người Hoa dẫn ngài vào Lục Địa, không hiểu vì sao người đó không đến. Ngày thứ hai 21-11-1552, ngài ngã bệnh. Mọi người thấy ngài luôn luôn kêu danh Chúa Ba Ngôi, Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần và lời nguyện: "Lạy Chúa Giêsu, Con Vua Đa Vít, xin thương xót con." Sáng ngày 28-11, Ngài á khẩu và mê đi, rồi lại tỉnh lại. Ngài đã tất thở vào lúc trước rạng đông sáng thứ bảy 3-12-1552, trong một chòi tranh. Lúc này, Ngài mới chỉ 46 tuổi.

Những chặng đường truyền giáo

Ta có thể tổng kết các chuyến đi của Phan-xicô như sau : từ Lisbonne đến Goa, gần 20.000 km, đi trong vòng 13 tháng; trừ đi 6 tháng trú đông tại Mozambique, ta có 7 tháng đi trên biển, với mức trung bình 85 cây số một ngày. Chuyến đi đến đảo Moluccas dài 15.000 km cần 9 tháng rưỡi đi tàu (53 km một ngày). Đi sang Nhật Bản đường dài 20.000 km, phải mất 10 tháng trên biển (68 km một ngày). Cuối cùng, chuyến đi đến đảo Tam Châu đường dài khoảng 7.000 km, phải mất 2 tháng rưỡi (khoảng 90 km một ngày). Cộng vào 62.000 cây số này, là khoảng 15.000 cây số đi dọc theo bờ biển Ấn độ trong thời gian 13 tháng. Như thế, trên tổng số 11 năm 8 tháng kể từ khi thánh Phanxicô rời Lisbonne cho đến khi ngài qua đời, ngài đã đi tàu trong vòng 3 năm 7 tháng, với tổng số đường dài 80.000 km, trung bình một ngày đi được 60 cây số. Vậy cứ ba ngày thì Xavie sống trên biển một ngày.

Đường lối hoạt động

Quả thật, Phanxicô đã tận dụng thì giờ và sức lực, với những phương tiện yếu kém thời ấy. Khi mới đến Goa, Ngài đã bắt tay ngay tức khắc vào các hoạt động nhân đạo: thăm viếng các bệnh nhân, các người phong cùi và các tù nhân. Ngài lắc chuông trên các nẻo đường để tập họp trẻ em lại mà dạy giáo lý. Ngài xuống miền Nam Ấn Độ để giảng cho dân thuyền chài đã được rửa tội nhưng giáo lý còn sơ sài. Để bài trừ nạn rượu đế, ngài bày cho họ thử uống thứ rượu dừa nhẹ hơn. Năm 1544, ngài đến Sri-Lanca. Tại đây, vì đám thương gia Bồ Đào Nha cản trở, Ngài không thu hoạch được kết quả bao nhiêu. Tại Nam Dương quần đảo, ngài chọn nơi có người hung dữ, thích ăn thịt người, ngài tìm đến mong cứu linh hồn họ. Năm 1547, đang ở Malacca, Ngài gặp một người Nhật xin học đạo và xin chịu phép rửa rội. Qua trung gian của ông, ngài quyết tâm sang Nhật Bản để loan báo Tin Mừng. Sau khi đã sắp đặt xong công việc của Dòng tại Ấn độ, Ngài xuống một thuyền buôn ngoại giáo và vào ngày 15-8-1549, Ngài đặt chân lên thành Kagosima trên đảo Kiusiu của Nhật Bản. Được ít lâu, người Nhật đã cật vấn: tại sao Trung Quốc từ xưa tới nay vẫn cung cấp cho Nhật nhiều điều hay lại chưa chịu theo đạo ? Phanxicô liền chọn hướng truyền giáo tại Trung Hoa. Nhưng Chúa đã muốn cho vị tông đồ được an nghỉ.

Vỏn vẹn hơn 10 năm trời, Phanxicô đã di chuyển gần trăm ngàn cây số, coi thường cái chết khi đến với dân man di Alfourous, và đã đặt những nền móng vững chắc cho Giáo hội tại miền Đông Á. Hành trình của Phanxicô đã trở thành di sản chung của nhân loại như những cuộc chinh phục của Alexandre đại đế và của Christophe Colomb tìm ra Mỹ Châu vậy.

II/ SỨ ĐIỆP CỦA THÁNH PHANXICÔ CHO CHÚNG TA HÔM NAY

Truyền giáo: làm chứng bằng đời sống

Thần học về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, thánh Phanxicô Xavie đã không viết ra, nhưng ngài đã sống. Tuy nhiên châm ngôn ngài thương xuyên nhắc nhủ các vị hoạt động truyền giáo là : chỉ một mình Thiên Chúa là tất cả. Người tông đồ chẳng là gì cả, và chẳng làm được gì cả.

Thánh Phanxicô đã diễn tả Thiên Chúa ra theo cách thức của ngài. Trong dàn nhạc hòa tấu của Thiên Chúa, thánh Phanxicô có nốt nhạc riêng. Ngài có một tính khí đam mê, đó là gia tài của thời đại, của quê hương Tây Ban Nha và của dòng họ mình, biểu hiện bằng những thái quá xuyên qua các nhân đức của ngài.

Thánh Phanxicô sống vào thời đại khá giống thời đại chúng ta, thời đại của những khám phá lớn lao và của cuộc phát triển không ngừng trong mọi lãnh vực. Các lục địa mới được khám phá đã thu hút tinh thần của ngài, khiến ngài cảm thấy sâu sắc tính cấp bách của bổn phận truyền giáo. Tại sao người ta không quan tâm mang ánh sáng Phúc âm đến để lôi kéo các linh hồn khỏi vương quốc tối tăm của Satan? Tình cảnh túng quẫn của nhân loại thúc bách Ngài, nhưng tình yêu của Đức Kitô cũng thúc bách Ngài. Đối với người nào không dung hòa được hai thứ tình yêu này, thì thật là tai hại, vì sẽ lao vào một hoạt động không còn biết tới nguồn gốc thần linh của mình. Xavie đã đi qua thế giới như một nhà chiêm niệm trong hoạt động. Tuy nhiên, ngài chỉ nêu gương chứ không dạy về bổn phận này cách đặc biệt. Dưới mắt ngài, rõ ràng vị tông đồ là một con người hoạt động trong Thiên Chúa. Sứ điệp riêng của Ngài, đó là chỉ duy Thiên Chúa đang hoạt động trong vị tông đồ.

Thiên Chúa, linh hồn của việc truyền giáo

Thánh Phanxicô đã học biết điều đó ngay từ ngày ngài hoán cải; nhưng qua kinh nghiệm hoạt động, niềm xác tín ấy trở thành một sứ điệp để truyền đạt. Người ta kể lại rằng, khi ngỏ lời với một đệ tử, thánh Phanxicô đã thẳng thắn thóa mạ "dư luận" (opinion), từ ngữ Ngài dùng để chỉ sự lo lắng cho danh tiếng riêng mình và cố tạo dư luận tốt trước mắt người đời. Ngài nói: "Hỡi dư luận, ngươi đã làm biết bao nhiêu sự xấu cho chúng ta." Cho đến cuối đời, ngay khi ở trên đảo Tam Châu, Ngài vẫn lặp lại sứ điệp của Ngài. Một tác giả đã mô tả như sau: "Ngài giống như một người có nghề rung chuông cấp báo cứ tiếp tục lắc chuông trên một bờ biển hoang vắng, rồi phó mặc cho làn gió đưa các lời cảnh giác đi đến tận cùng thế giới, Ngài cứ lặp đi lặp lại không ngừng : Vâng phục ! Khiêm nhường! Vâng phục! Khiêm nhường!"

Để nghe được những tiếng kêu báo động này, cần phải hiểu biết con tim của người đang kêu. Khi lặp đi lặp lại rằng mọi điều thiện hảo đều do Thiên Chúa thực hiện, còn từ con người chỉ tuôn ra tội lỗi, thánh Phanxicô không hề muốn xúc phạm đến hoạt động của con người, ngài không muốn giảm thiểu bản chất của tự do; nhưng ngài đang mạnh dạn cương quyết bảo vệ vinh quang Thiên Chúa. Điều ngài e sợ, là sợ vị tông đồ chỉ lo chinh phục một thứ quyền hành nào cho riêng mình thay vì cho Thiên Chúa; ngài sợ rằng, vì tìm cách duy trì quyền hành và sự tín nhiệm của người đời, các vị ấy đang xây nhà trên cát; ngài sợ rằng nhịp đập trái tim của các vị tông đồ ấy tìm đến những người có giàu có thế lực thay vì đến với những người nghèo. Đấy là những điều Phanxicô luôn lo ngại. Bởi vì Ngài muốn xây dựng người tông đồ trên nền tảng không thể chuyển lay là Thiên Chúa, Chúa chúng ta. Duy mình Thiên Chúa có sáng kiến, duy mình Thiên Chúa hoạt động và duy mình Thiên Chúa làm cho các ân huệ của Người sinh hoa kết quả.

Tín thác tuyệt đối vào Thiên Chúa

Để nắm bắt được cách thâm thúy rằng Thiên Chúa là tác giả duy nhất làm ra tất cả mọi điều thiện hảo, vị tông đồ phải để cho Chúa đưa mình xuống tận đáy của sự hư vô của mình. Từ vực thẳm ấy, sẽ trào dâng lên tiếng kêu diễn tả lòng tín thác tuyệt đối. Nơi người hoạt động tông đồ, sự nhận biết ấy trước tiên không thể là kết quả của một sự chú tâm đến mình, điều ấy hẳn sẽ làm cho họ lạc xa khỏi ơn gọi truyền giáo, là hoa trái của một sự sẵn sàng tận căn và thường xuyên.

Người ta không chinh thể phục đức khiêm nhường, người ta nhận nhân đức ấy từ bàn tay của Thiên Chúa. Bí quyết chính, không phải là tìm xem phải hoạt động gì cho bằng để Thiên Chúa hướng dẫn mình nên làm gì, là sẵn sàng thay đổi, là dám khởi sự hoạt động mới tùy theo những biểu lộ luôn luôn mới mẻ của Thiên Chúa. Đây không phải là sự bất động ỷ lại, nhưng là đáp trả mọi dấu chỉ cho thấy ý muốn của Chúa, dưới bất cứ dạng thức nào mà ta nhận ra : qua những biến cố, những đòi hỏi của người lân cận hoặc những yêu cầu của Thần Khí, và trên hết mọi sự là đức vâng phục. Vì vậy, vấn đề trước tiên không phải là chọn một hình thức hoạt động nào đó, mà là có thể thẩm thấu trước bất cứ dấu hiệu nhỏ bé nào, linh động vào mỗi khoảnh khắc, nếu đó là sáng kiến đến từ Thiên Chúa. Như thế sự tin tưởng vào mình đã bị phá hủy tận căn: khác với những con người hoạt động theo kiểu con cái của trần gian, vị tông đồ không chắc về mình cho bằng chắc chắn về Chúa. Khi đó có thể nói Chúa thế chỗ cho họ, họ được Thiên Chúa bao bọc.

Nhận rõ giới hạn bản thân

Vậy vị tông đồ có hoạt động. Nhưng ngay từ đầu, hoạt động người ấy đã bị những hạn chế của bản thân mình không ngừng làm cho lệch lạc rồi. Canh chừng những thiếu sót ấy, chính là tích cực khám phá ra sự yếu đuối của mình, cộng thêm vào cảm thức với tư cách tạo vật hiểu biết về sự bần khốn của mình, nhờ đó gia tăng cường độ của tiếng gọi tín thác phát xuất từ đáy tâm hồn. Sự canh phòng ấy không làm họ co quắp lại trên chính mình, mà biết chú ý đến thực tại mà Chúa đặt mình dưới mắt mình.

Vậy "linh đạo" của người tông đồ không hệ tại việc làm một số việc nào trước hết, mà đầu tiên cần có một nỗ lực uốn nắn bản thân theo chính đời sống của Thiên Chúa. Chúa đào luyện các tông đồ của Ngài theo dòng lịch sử: Tất cả những gì Chúa thực hiện, đều biểu lộ qua lịch sử và cuộc sống. Vị tông đồ phải chú ý để bước đi cùng nhịp với Ngài. Người ấy biết rằng trước khi mình chết, mình sẽ chưa đạt tới sự thanh luyện cuối cùng; do đó người ấy đón nhận các thử thách như những bài tập, được tình yêu từ phụ của Thiên Chúa gửi đến. Lần lượt, tùy theo nhịp độ của Thiên Chúa, vị tông đồ sẽ thấm nhuần hai tâm tình bề ngoài có vẻ mâu thuẫn nhau:

Có khi người ấy phải đấu tranh chống lại một kẻ thù rõ ràng: người ấy thấy dường như chỉ có thể an toàn tránh khỏi cuộc xung đột nếu từ chối sáng kiến; bằng không, sẽ là phạm thánh và tục hóa, sẽ là hoạt động thay thế Thiên Chúa. Vậy bằng mọi giá, người ấy dám giã từ thứ hoạt động mà mình cảm thấy tự căn bản là khác ý Chúa ; khi đó, tìm Chúa trong hoạt động tông đồ thôi không đủ. Nỗi sợ hãi hoạt động xâm lấn người ấy đến nỗi trào dâng lên trong lòng họ, không do một qui luật nào cả, mà là như hoa trái của kinh nghiệm nội tâm, nhu cầu khôn nguôi được tìm gặp lại Chúa trong thinh lặng tuyệt đối và kinh nguyện của những đầy tớ vô dụng.

Có khi Thiên Chúa lại ở với người ấy hiển nhiên đến nỗi người ấy không còn nhận ra mình nữa và hoạt động của người ấy dường như là một cuộc hiển linh của Thiên Chúa. Niềm vui bung ra từ một con người đã được thay đổi. Tạ ơn Thiên Chúa vì ở trong Chúa Kitô, Người đang dẫn chúng ta đi từ chiến thắng này đến chiến thắng khác và nhờ chúng ta, Người đổ chan hòa khắp nơi hương thơm của sự hiểu biết về Người.

"Vậy còn phải nói thêm gì nữa? Có Thiên Chúa bênh đỡ chúng ta, ai còn chống lại được chúng ta? Đến như chính Con Một, Thiên Chúa cũng không tha, nhưng đã trao nộp vì hết thảy chúng ta. Một khi đã ban Người Con đó, lẽ nào Thiên Chúa lại chẳng rộng ban tất cả cho chúng ta?...Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô ? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo? Như có Lời Kinh Thánh chép" Chính vì Ngài mà mỗi ngày chúng con bị giết, bị coi như bầy cừu để sát sinh." Nhưng trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thằng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta. Đúng thế, tôi tin chắc rằng: cho dù là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm, hay bất cứ một loài thụ tạo nào, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô, Chúa chúng ta" (Rm 8,31-39)

LỜI NGUYỆN: Lạy Chúa, Chúa đã sai Thánh Phanxicô đi rao giảng để kêu mời các dân tộc Á Châu đón nhận Tin Mừng. Xin cho các tín hữu được nhiệt thành truyền giáo như thánh nhân và cho Giáo hội được hân hoan đón nhận nhiều con cái. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô Chúa chúng con. Amen.

(Theo Xavie Léon-Dufour, St Francois Xavie, Ed. du Vieux Colombier, 1953)

Trở về mục lục >>

LỄ ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI

MỪNG VUI LÊN, HỠI ĐẤNG ĐẦY ÂN SỦNG!

Nguyễn Học Tập

Bài Phúc Âm của lễ Truyền Tin, hôm nay được trích dẫn để cử hành Thánh Lễ tôn vinh Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, một hồng ân được Chúa ban, chuẩn bị cho Me xứng đáng là Mẹ của Chúa Ki-tô, người Anh Cả sẽ cứu chuộc và hướng dẫn cả đoàn em nhân loại của Ngài vào Nước Cha trên trời.

Tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội được Đức Thánh Cha Pio IX, tuyên bố với sắc lệnh Bolla "Ineffabilis Deus" ngày 08 tháng 12 năm 1854.

Bài Phúc Âm về việc Thiên Sứ Truyền Tin cho Đức Mẹ hôm nay, chúng ta có thể suy niệm duới nhiều khía cạnh khác nhau:

1/ Dưới bình diện Ki-tô học (Christologia): chúng ta suy niệm đến bản tính mầu nhiệm của Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, mặc lấy thân xác loài người như chúng ta, trong cung lòng Đức Mẹ Maria.

2/ Dưới bình diện thần học (Theologia): chúng ta suy niệm thánh ý Thiên Chúa qua lời truyền tin của Thiên Sứ, thực hiện lời Ngài đã hứa với chúng ta: Thiên Chúa ở cùng chúng ta.

3/ Dưới bình diện Thánh Mẫu Học (Mariologia): chúng ta suy niệm tấm gương tuyệt vời của Đức Mẹ, trong việc Mẹ đón nhận Thiên Chúa trong cuộc sống của mình và cộng tác vào chương trình cứu rổi của Ngài. Cử chỉ tiếp nhận sứ mạng Thiên Chúa giao phó cho của Đức Mẹ là mẩu gương cho chúng ta bắt chước.

Và đó là bình diện chúng ta muốn cùng nhau suy niệm hôm nay.

Nhận biết Đức Mẹ được Chúa dành cho đặc ân vô nhiễm nguyên tội từ lúc bà Thánh Anna cưu mang Mẹ, là nhận biết khả năng của Mẹ đón nhận hoàn hảo và xứng đáng ân sủng Chúa ban cho, nhứt là qua công trình của Chúa Thánh Linh. Và là niềm hãnh diện cho cả nhân loại chúng ta.

Thiên Sứ chào mừng Đức Mẹ: "Hãy vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng Bà." (Lc 1, 28).

Trong lời chào mừng vừa kể, Thiên Sứ đã nêu lên ba yếu tố: một động từ ở thể sai khiến hay khuyến khích (imperatif): hãy vui lên, một tước hiệu kính cẩn: hỡi Đấng đầy ân sủng, và một kho tàng bảo chứng: Đức Chúa ở cùng Bà.

a) Một động từ ở thể khuyến khích: Hãy vui lên!

Động từ ở thể khuyến khích đó, Thiên Sứ gợi cho Đức Mẹ nhớ lại các lời tiên tri nói với dân Do Thái , khi đoàn người rời đất Ai Cập, kết thúc thời gian lưu đày,và mở đầu cuộc giải thoát trở về đất hứa:

"Reo vui lên hỡi thiếu nữ Sion,

Hò vang dậy đi nào, nhà Israel hỡi!

Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy nức lòng phấn khởi.

Án lệnh phạt ngươi, Đức Chúa đã rút lại,

Thù địch của ngươi, Người đã đẩy lui xa.

Đức vua của Israel đang ngự giữa ngươi, chính là Đức Chúa

Sẽ chẳng còn tai ương nào khiến ngươi phải sợ ( Xp 3, 14-15).

Nói cách khác, qua động từ ở thể khuyến khích trên, hãy vui lên, Thiên Sứ đã báo cho Đức Mẹ biết thời gian cứu rỗi mà Thiên Chúa hứa cho nhân loại đã đến.

Nghe lời chúc phúc hãy vui lên, liên tưởng đến đoạn Cựu Ước của giai đoạn giải thoát vừa kể, như bất cứ người Do Thái nào, Đức Maria nhận thức được Thiên Chúa đang thực hiện những gì thật trọng đại cho chính Mẹ và cho nhân loại.

Qua lời chào ở thể sai khiến vừa kể được chuyển đến cho Đức Mẹ, Ngài đại diện cho nhân loại khiêm tốn, nhận Tin Mừng cứu rổi cho tất cả chúng ta: thời gian lưu đày và nô lệ đã hết, thời gian giải thoát và cứu rổi Chúa hứa đang bắt đầu thực hiện:

"Án phạt ngươi, Nguời đã rút lại, Thù địch ngươi, Nguời đã đẩy xa."

b) Một tước hiệu kính cẩn.

Sau động từ ở thể sai khiến, Thiên Sứ kính cẩn nêu lên tước hiệu qúy tộc của Đức Mẹ: "hởi Đấng đầy ân sủng"( Kekacritomênê): Đức Mẹ đã đuợc Thiên Chúa biệt đãi trọng hậu, ban cho Mẹ tràn trề ân sủng của Ngài.

Thánh Phaolồ cũng diễn tả lại trạng thái tương tợ của người Ki Tô hữu trong ân sủng của Thiên Chúa, nhờ công ơn của Chúa Kitô:

"Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giêsu Ki Tô, Chúa chúng ta. Trong Đức Ki Tô, từ cõi trời, Ngưòi đã thi ân giáng phúc cho ta muôn vàn ân phúc của Thánh Thần." ( Eph 1,3).

c) Kho tàng bảo chứng.

Kho tàng bảo chứng cho niềm vui của kẻ được báo cho Tin Mừng cứu rỗi và mang tước hiệu quý tộc, hỡi Đấng đầy ân sủng, đó là Mẹ có Thiên Chúa ở cùng, “Đức Chúa ở cùng Bà.”

Đức Mẹ được phúc đức hơn bất cứ người phụ nữ nào ở trần gian, không phải chỉ vì Mẹ là Đấng được Chúa ban cho đầy ân sủng, mà chính vì Thiên Chúa, nguồn mạch vô tận của mọi ân sủng hiện diện trong Mẹ, " Đức Chúa ở cùng Bà."

Đó là điều mà các giáo phụ, các ngôn sứ, các vị lãnh đạo dân Do Thái hằng mong đợi.

"Đức Chúa ở cùng Bà", không những Đức Mẹ được đẹp lòng Thiên Chúa, được Ngài chúc phúc và ban ơn sủng tràn đầy và được Thiên Chúa luôn luôn ngự trong lòng như Thánh Phaolô hằng nhắc nhở các tín hữu về thân xác của họ: "Hay anh em lại chẳng biết rằng thân xác anh em là đền thờ của Thánh Thần sao? Mà Thánh Thần đang ngự trong anh em là Thánh Thần chính Thiên Chúa đã ban cho anh em." (ICr 6,19), mà chính Chúa Giêsu ở trong cung lòng Đức Mẹ, là Con Thiên Chúa, nguồn mạch vô tận của mọi ân sủng đó, Ngài là " Thiên Chúa ở giữa chúng ta": "Này đây trinh nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, nguời ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là " Thiên Chúa ở cùng chúng ta." (Mt 1, 23 ).

Và sau lời chào hỏi và chúc tụng đó, đây là thái độ của Đức Me, gương mẫu cho chúng ta bắt chước.

- Khiêm tốn.

Trước hồng ân cao cả mà Chúa muốn ban cho mình và cho cả nhân loại như vừa kể, Đức Maria cúi đầu nhận biết thân phận hèn mọn của mình, cũng như của cộng đồng nhân loại, anh em của Mẹ, trước tình yêu bao la và hồng ân trọng đại của Thiên Chúa.

Thật vậy, trước lời tiên báo long trọng của Thiên Sứ:

"Và đây Bà sẽ thụ thai, hạ sinh một con trai và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao; Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng David, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Giacob đến muôn đời và triều đại Người sẽ vô tận" ( Lc 1,31),

Đức Maria cúi đầu chấp nhận thân phận nhỏ bé của mình:

"Phận nữ tỳ hèn mọn,

Nguời đoái thương nhìn tới;

Từ nay hết muôn đời sẽ khen tôi diểm phúc

Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả,

Danh Người thật chí thánh chí tôn" ( Lc 1, 48-49)

Trước Thiên Chúa toàn năng, Mẹ Maria chỉ là một tạo vật vô nghĩa, khiêm tốn:

"Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa Đấng cứu độ tôi.

Phận tỳ nữ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới;

Từ nay hết muôn đời sẽ ngợi khen tôi diễm phúc." ( Lc 1, 46-48).

-  Sẵn sàng chấp nhận và suy xét lại những dự tính cá nhân.

Trước những lời báo tin của Thiên Sứ: "Bà sẽ thụ thai và hạ sinh một con trai, đặt tên là Giêsu.” (Lc 1, 23a),

Đức Maria đối thoại lại: " Việc ấy xảy ra thế nào được, vì tôi không biệt việc vợ chồng ?" (Lc 1, 34).

Đọc lời đối thoại của Mẹ Maria với Thiên Sứ, chúng ta có cảm tưởng như là một câu vấn nạn.

Có lẽ bản dịch Việt Ngữ chúng ta được phiên dịch từ bản La Ngữ hay Pháp Ngữ không lột hết được ý nghĩa của nguyên bản tiếng Aramaica của Phúc Âm Thánh Luca. Nguyên bản Phúc Âm Thánh Luca cho phép chúng ta dịch câu đối thoại trên dưới một hình thức khác: "(Tôi) Tỳ nữ của Thiên Chúa phải làm gì, vì (tôi) tỳ nữ của Thiên Chúa không biết đến việc vợ chồng?"

Dịch câu văn như vậy, chúng ta thấy Đức Maria không đặt vấn nạn cho việc nhận hay không nhận sứ diệp của Thiên Sứ. Đức Maria sẵn sàng chấp nhận, vâng phục thánh ý Chúa, nhưng không biết phải làm sao, vì Mẹ "không biết đến việc vợ chồng."

Và câu trả lời của Thiên Sứ được thốt ra không ngần ngại, để trấn an Đức Mẹ:

"Thánh Thần sẽ ngự xuống trên Bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên Bà.

Vì thế Đấng sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa." ( Lc 1, 35).

Hiểu đoạn văn như vậy, chúng ta thấy cách thức chấp nhận thánh ý Thiên Chúa của Đức Mẹ là một tấm gương để chúng ta tự hỏi về chúng ta:

Thiên Chúa đang muốn chúng ta phải làm gì?

- Hoàn toàn tùy thuộc và phó thác.

Trong mỗi hoàn cảnh sống, trước mỗi biến cố đang xảy đến cho chúng ta, chúng ta đang làm theo ý muốn của Thiên Chúa hay chúng ta đang pha lẫn dự án của chúng ta vào chương trình của Ngài, để tìm lấy cá nhân của chúng ta và theo những khuôn mẩu thế tục hơn là theo những dự án Ngài muốn.

Có lẽ trong mỗi hoàn cảnh và trước mỗi biến cố của cuộc sống, chúng ta nên đặt lại câu hỏi của Me Maria với Thiên Sứ: "Tỳ nữ của Thiên Chúa phải làm gì" để hành động theo thánh ý Chúa?

Và đó cũng là câu trả lời hoàn toàn đón nhận thánh ý Thiên Chúa, đặt mình hoàn toàn tùy thuộc và phó thác cho Ngài, mà Đức Maria đã trả lời cho Thiên Sứ: "Xin Chúa cứ làm cho tôi, như lời Sứ Thần nói.” ( Lc 1. 38).

Đức Mẹ nhận lãnh thánh ý Thiên Chúa trong thái độ khiêm tốn lãnh nhận của một lời cầu nguyện:" Xin Chúa cứ làm cho tôi" tôi hoàn toàn tuân phục thánh ý Ngài.

-  Vâng theo để phục vụ.

Một tấm guơng khác Đức Maria để lại cho chúng ta, đó là ân sủng Chúa ban cho, " hỡi Đấng đầy ân sủng,” không phải là để huởng thụ, để coi mình trỗ vượt hơn anh em, mà là để phục vụ.

Đó là ý nghĩa câu Đức Maria trả lời cho Thiên Sứ: "Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói. " (Lc 1, 38).

Vâng, xin Chúa ban hồng ân cho tôi theo thánh ý Ngài, để tôi phục vụ Ngài và phục vụ anh em.

Uớc gì mỗi người và mỗi ngày chúng ta lập lại lời cầu nguyện đó của Đức Mẹ

Trở về mục lục >>

LÀM SAO TIN VÀO CHUYỆN TỘI NGUYÊN TỔ?

Michel Souchon, SJ, Croire Aujourd'hui

Chính bởi vì Chúa Giêsu đem ơn cứu độ cho mọi người, mà Thánh Phaolô trình bày Adam như kẻ mang tội lỗi đến cho toàn thể nhân loại. Không phải học thuyết về tội là đầu tiên và căn bản, nhưng chính là sự xác tín rằng chúng ta được đặt dưới lòng thương xót của Chúa.

Vừa mới đây thôi, một người bạn giải thích cho tôi, một cách võ đoán: “Trong mọi tôn giáo đều có một cái chìa khoá để nhốt lại. Nơi các Kitô-hữu, đó chính là tội nguyên tổ.” Ai trong chúng ta chưa nghe những câu hỏi nầy: một tội mà chúng ta không chịu trách nhiệm, lại đè nặng trên chúng ta, thay đổi dòng lịch sử nhân loại, làm dấy lên cảm giác tội lỗi và sự sợ hãi đối với Thiên Chúa...Tất cả những cái đó không thể nào nhận lĩnh được. Làm sao tin vào nó được chứ?

Học thuyết tội nguyên tổ không nên đi tìm trong sách Sáng Thế, trong trình thuật tội của Adam và Evà, nhưng đúng hơn phải tìm trong thư Thánh Phaolô gửi tín hữu Rôma và trong cách mà Thánh Phaolô giảng giải sách Sáng Thế. Cái chủ yếu nơi lập luận của Ngài gói gọn ở trong một số từ. Không ai có thể nói: tôi không cần đến lòng xót thương của Thiên Chúa. Tất cả mọi người chúng ta đều cần đến. Chính vì chúng ta, tất cả, đều thuộc về một nhân loại tỗi lỗi, tất cả đều dự phần một cuộc sáng tạo đã không sử dụng tốt tự do của mình, ngay khi nó ý thức được điều đó (Rm 3,9). Tuyệt vọng vì điều gì? Không - lời Thánh Phaolô – vì,” được công chính hoá nhờ đức tin, chúng ta sống hoà bình với Thiên Chúa nhờ Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta.” (Rm 5,1). Chính khi quy chiếu về Chúa Giêsu Kitô và về tính phổ quát của ơn cứu độ nơi Chúa Giêsu Kitô, mà Thánh Phaolô trình bày Adam, khuôn mặt của tính phổ quát tội lỗi của nhân loại.

Adam không nên được coi là một cá thể lịch sử, mà như một hữu thể cộng đồng. Lời giảng giải nầy phù hợp với cách thức đúng đắn tiếp nhận các trình thuật về cội nguồn. Chúng đáp ứng những vấn nạn lớn của con người. Đó là những trình thuật “bản thể học,” chứ không phải là những trình thuật lịch sử. Chúng không nói: một ngày nọ, điều ấy đã xảy ra như thế; nhưng là: Điều đó vẫn luôn xảy ra như thế. Ví dụ: các bạn hỏi tại sao con người nói những ngôn ngữ khác nhau và không hiểu được nhau? Hãy nghe câu chuyện Tháp Babel. Tại sao sự chết, những cơn đau khi sinh con, sự cần thiết phải làm việc lam lũ? Hãy nghe chuyện của Adam và Evà. Nhưng câu chuyện nầy còn đi xa hơn bản kê khai các giải trình. Nó cho chúng ta hiểu trước tiên rằng sự tốt lành của thế giới nầy có trước sự dữ. Nó đồng thời cũng nói cho chúng ta biết rằng tội lỗi luôn có đó và tội lỗi là tự khởi nguyên; rằng Adam, mọi con người, ngay từ đầu đã bị cám dỗ chống đối Thiên Chúa, từ chối Tình Yêu vốn là căn nguyên của nó, để tự đặt mình làm địch thủ của Thiên Chúa, để tự huyễn hoặc rằng mình có thể tự ban cho mình sự sống và ý nghĩa cuộc đời, nằm ngoài tương quan với cội nguồn đã tạo thành và làm cho nó được sống. Trình thuật Sáng Thế mạc khải cho chúng ta bản chất của “tôi cội nguồn nầy: nó nẩy sinh từ sự ngờ vực Thiên Chúa. Con rắn nói với Adam: Thiên Chúa không muốn thấy ngươi hạnh phúc...”

Thánh Phaolô ngạc nhiên về sự hiện diện nầy của sự dự phần trong Ngài, thật sâu thẳm, về sự ảnh hưởng các sức mạnh sự dữ trên ý chí và tự do của Ngài:” Tôi chẳng hiểu gì về những điều tôi làm: điều tôi muốn, thì tôi không làm; mà điều tôi ghét,thì tôi lại làm (...). Việc tốt tôi muốn, tôi không làm, trong khi điều xấu tôi chẳng hề muốn, thì tôi lại làm.” (Rm 7,15–19). Ta có thể nói rằng, với Thánh Phaolô, tội nguyên tổ không phải là một tín điều, mà là một dữ liệu kinh nghiệm!

Thừa hưởng tội căn nguyên nầy, chúng ta cũng chịu trách nhiệm về tội. Người hát Thánh Vịnh nói cùng một lúc: “Vâng, tôi biết tội mình đã phạm, lỗi lầm cứ ám ảnh ngày đêm. Con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa, dám làm điều dữ trái mắt Ngài. Như vậy Ngài thật công bình khi tuyên án, liêm chính khi xét xử. Ngài thấy cho: lúc chào đời con đã vương lầm lỗi, đã mang tội khi mẹ mới hoài thai.” (Tv 50,5-7). Tôi vào trần gian đã bị ghi dấu bởi sự dữ và điều đó làm thương tổn tự do của tôi.

Chúng ta hãy nói lại điều đó cách khác. Phải “nhớ lại rằng có một trật từ hoặc một hệ thống cấp bậc các chân lý của giáo lý Công-giáo, tùy theo tương quan khác biệt của chúng với cái căn bản đức tin Kitô-giáo.” (Công Đồng Vatican). Tội nguyên tổ là một giáo lý thứ yếu so với một chân lý quan trọng và căn bản: tất cả chúng ta đều được cứu rỗi trong Chúa Giêsu Kitô; tất cả chúng ta đều được đặt dưới lòng thương xót của Thiên Chúa. Giáo lý về tội căn nguyên không phải là một “chìa khoá nhốt lại,” nhưng là loan báo một sự giải thoát, là Một Tin Mừng

Trở về mục lục >>

ÐỨc Maria Vô NhiỄm Nguyên TỘi:

NiỀm hy vỌng cỦa nhân loẠi

Vũ Tiến

Vào tháng 11 năm 1848, các cuộc cách mạng bạo động sôi sục diễn ra trên khắp Âu Châu cuối cùng đã lan tràn tới Rome. Những người quá khích đã ám sát thống đốc tiểu bang và bao vây Tòa Thánh. Ðức Thánh Cha Piô 9 phải thoát đi lánh nạn ở Ghêta, thuộc vương quốc Naples.

Ba tháng sau đó, ngay trong khi còn đang phải đi tị nạn, Ðức Piô 9 đã gửi cho tất cả các Giám Mục trên khắp thế giới một bức thư tựa đề Ubi Primum.  Điều đáng ngạc nhiên là Đức Piô đã không dùng lá thư để nói đến việc ngài đi tị nạn hoặc những khủng hoảng chính trị và xã hội đang đe dọa Giáo Hội, nhưng là để mời tất cả các Giám Mục cùng cầu nguyện và góp ý với ngài trong việc công bố tín điều Ðức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội.

Chọn thời điểm này để công bố một tín điều quan trọng, Đức Piô 9 đã chứng tỏ rằng Giáo Hội không hề bị lay chuyển bởi những xáo trộn chính trị và những khủng hoảng xã hội.

Nhờ lòng sùng kính Đức Mẹ một cách đặc biệt, ngài đã đem Giáo Hội đi từ những lo âu đến vui mừng.

Đức Thánh Cha Piô 9 viết: "Đức Maria đã luôn luôn che chở các tín hữu khỏi những hoạn nạn lớn lao nhất, khỏi những cạm bẫy và tấn công của kẻ thù, đã cứu vớt họ khỏi mọi đổ vỡ.

Và tương tự như vậy, trong tình hình hiện tại, Đức Mẹ mong muốn ngăn cản và xóa tan mọi bão tố hiểm nguy của ác thần đang chống phá Giáo Hội."

Trải qua nhiều thế hệ, qua nhiều bàn luận có khi rất gay go sôi nổi trong Giáo Hội, niềm tin nơi sự vô nhiễm nguyên tội của Đức Mẹ vào thời gian đó đã trở nên hiển nhiên. Chẳng hạn, trước đó ngay tại Mỹ vào năm 1846, các Đức Giám Mục đã nhận Đức Mẹ Vô Nhiễm là bổn mạng của quốc gia Hoa Kỳ. Vì thế đối với Đức Piô 9, trên phương diện đức tin, thời điểm để công bố tín điều quan trọng Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội đã chín mùi.

Trong khi đó tại Âu Châu, các cuộc cách mạng ý thức hệ, các ảnh hưởng gia tăng của chủ thuyết vô thần, sự tôn thờ khoa học và vật chất đã liên tục gây ra những khủng hoảng lớn liên tiếp xảy ra từ Paris qua Frankfurt, Vienna, Budapest và Rome. Do đó tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm đã chẳng được chú ý đến. Tuy nhiên, Đức Piô vững lòng tin nơi một sức mạnh âm thầm nhưng rất mạnh mẽ đang che chở Giáo Hội, dựa vào một sự kiện mà ngài đã biết, là vào năm 1830, một nữ tu trẻ ở Paris đã được diện kiến Đức Maria.

Đức Trinh Nữ hiện ra đầu mang vương miện và mặc áo trắng tuyền, đứng trên quả địa cầu, chân đạp trên đầu con rắn. Một vòng sáng hình bầu dục bao quanh Trinh Nữ, trên đó có hàng chữ "Lạy Mẹ Maria tinh tuyền lúc thụ thai, cầu cho chúng con là những người chạy đến xin Mẹ che chở."

Nữ tu, mà sau này trở thành thánh nữ Catherine Labouré, đã nghe trong lòng một lời chỉ bảo hãy làm mẫu ảnh dựa trên những gì đã được diện kiến.

Đức Piô rất tôn kính mẫu ảnh này và lòng tôn kính đó đã thúc đẩy ngài khi thảo bức thư cho các giám mục như đã nêu trên. Mẫu ảnh đó đúng là một hào quang huy hoàng nổi bật giữa những tăm tối đang đe dọa Giáo Hội. Đức Maria đã tỏ mình ra ứng nghiệm với tất cả những điều đã được viết về Mẹ trong Kinh Thánh: một Evà mới trong sách Sáng Thế Ký và một Hoàng Hậu trong sách Khải Huyền, nghĩa là từ đầu cho đến cuối của toàn bộ Kinh Thánh.

Đức thánh cha Piô 9 trở lại Rome vào năm 1850 với lòng cảm tạ Đức Mẹ đã che chở Giáo Hội trong những sóng gió vừa qua. Ngài bắt tay ngay vào việc soạn thảo tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, sau khi được các Đức Giám Mục nồng nhiệt phúc đáp thư của ngài. Đã có tổng cộng 603 giám mục ưng thuận và chỉ có 4 vị không đồng ý.

Bốn năm sau đó, vào ngày 8 tháng 12, 1854 cùng với sự hiện diện của các giám mục trên thế giới, Đức Thánh Cha Piô 9 đã chính thức công bố niềm tin của Giáo Hội nơi việc Thiên Chúa đã tạo sinh Đức Mẹ tinh tuyền, vô nhiễm nguyên tội.

Ngày nay giữa một thế giới khủng hoảng lan tràn vì sa đọa và chiến tranh hận thù, tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội là niềm hy vọng của nhân loại.

Đức cha Fulton Sheen nói: "Tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội được công bố vào thời điểm mà thế giới văn minh đang mù quáng chạy theo những thần tượng đối nghịch. Karl Marx cho ra đời chủ thuyết cộng sản vô thần và đấu tranh giai cấp; Darwin phổ biến thuyết tiến hóa, theo đó con người bắt nguồn từ loài vật, và John Stuart Mill chủ trương một quan niệm cực đoan về quyền lợi cá nhân. Những chủ thuyết này có cùng một ước vọng muốn gạt bỏ Thiên Chúa ra khỏi niềm tin của nhân loại, cho rằng con người không cần đến Thiên Chúa. Họ phủ nhận tội tổ tông và cho rằng con người tự mình có khả năng trở nên toàn thiện.

Đức cha Fulton Sheen kết luận rằng: "Nói cách khác, con người tự vỗ ngực cho rằng họ tất cả đều vô nhiễm nguyên tội". Trong những ngày đi tị nạn, Ðức Piô đã thấy trước chiều hướng nguy hiểm này. Do đó khi soạn thảo tín điều Ðức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, ngài muốn soạn một hiến chương mới cho thế giới, để kháng cự lại những tà thần của thời đại.

Tín điều Ðức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội luôn nhắc nhở chúng ta về sự nguy hiểm của ma quỉ và tội lỗi, đồng thời cũng cho ta một hy vọng, một lời hứa là chúng ta được che chở và bảo vệ.

Tín điều Ðức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội đã khởi sự một thế kỷ mới trong việc kính mến và tôn sùng Ðức Trinh Nữ Maria, mà cao điểm là việc công bố tín điều Ðức Mẹ Hồn Xác lên Trời vào năm 1950. Hai tín điều thật quan trọng: tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội khởi đầu và tín điều Ðức Mẹ Hồn Xác Lên Trời kết thúc cuộc đời Ðức Mẹ ở trần gian. Qua hai tín điều này Giáo Hội nhắn nhủ chúng ta nhìn vào gương của Ðức Mẹ để nhận ra ý nghĩa và cùng đích của cuộc đời. Nhờ ân sủng của Thiên Chúa, chúng ta được cứu khỏi tội lỗi, được thánh hóa, được ban cho khả năng biết yêu mến và được hứa cuộc sống hạnh phúc vĩnh cửu.

Sau cùng, chính Ðức Mẹ là người đã xác tín với chúng ta về tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội. Ðầu năm 1858, tức là chỉ 4 năm sau khi tín điều được công bố, Bernadette một cô gái quê mùa và thất học tại Lộ Ðức, một làng nhỏ nơi miền núi Pyréné bên Pháp đã được diện kiến Ðức Mẹ. Khi được Bernadette hỏi tên, Ðức Mẹ mỉm cười trả lời: "Ta là Ðấng Vô Nhiễm Nguyên Tội.”

Trở về mục lục >>

ƯỚc MƠ

Trần Duy Nhiên

Ước mơ hầu như luôn luôn là bước khởi đầu để đi đến hiện thực, vì có mơ ước thì mới có một cái gì đó làm nhân khởi đầu, hay làm đích nhắm trong quá trình biến nó thành hiện thực. Những thành tựu lớn của nhân loại hiện nay đều khởi đầu từ những mơ ước, mang tính tưởng tượng hơn là thực tế. Quả thật, nhiều mơ ước đầy tính viển vông trong tiểu thuyết của Jules Verne nay đã thành hiện thực. Việc lên cung trăng, lên sao Hỏa, điện thoại có cả hình ảnh, tivi mầu, máy vi tính, mạng Internet… không việc nào mà không khởi đầu từ một giấc mơ. Như vậy mơ là điều hết sức quan trọng, nhưng mơ lại là việc dễ làm nhất trong những bước đi đến hiện thực. Vậy thì tội gì mà không mơ? Hãy mơ cho nó đã trí tưởng tượng!

Muốn xã hội cũng như Giáo Hội tiến bộ và làm được những việc vĩ đại, thì việc trước tiên là phải mơ, đồng thời nói lên mơ ước của mình. Trong chiều hướng đó, trước khi bước vào Năm Mới Ất Dậu, tôi muốn nói lên những ước mơ của mình về Giáo Hội. Và Giáo Hội tôi nói tới ở đây là Giáo Hội Việt Nam nhiều hơn là Giáo Hội nói chung.

NhỮng ưỚc mơ cỦa tôi

1. Giáo Hội trở thành Nước Trời tại thế

Niềm ước mơ lớn nhất của tôi về Giáo Hội, đó là mơ Giáo Hội trở thành Nước Trời thật sự, một Nước Trời tại thế trước khi là một Nước Trời tại thiên.

Nước Trời luôn luôn là lý tưởng, là đích phải nhắm tới của mọi thể chế Giáo Hội cũng như xã hội. Nước Trời – hay Nước Thiên Chúa – là từ được dùng trong Tin Mừng để chỉ một xã hội toàn hảo, trong đó tất cả mọi người đều được hạnh phúc. Xã hội đó hạnh phúc và toàn hảo vì vị vua cai trị xã hội đó là một minh quân, đầy tình yêu, khôn ngoan, và quyền năng. Và vị vua của Nước Trời theo nghĩa viên mãn nhất là Thiên Chúa, hay Đức Kitô, Ngài chính là Tình Yêu, Khôn Ngoan, và Quyền Năng. Nhờ đó, tất cả mọi người trong xã hội ấy đều đối xử với nhau bằng tình thương, một cách cụ thể và thực tế. Vì tình thương luôn luôn được thể hiện mọi nơi mọi lúc, nên xã hội không còn tranh chấp, hận thù, mọi người đều sống trong an bình, từ trong tâm hồn ra đến ngoài xã hội.

Thánh Kinh đã mô tả tình trạng hết sức tốt đẹp đó của Nước Trời bằng những hình ảnh như: «Bấy giờ sói sẽ ở với chiên con, beo nằm bên dê nhỏ. Bò tơ và sư tử non được nuôi chung với nhau, một cậu bé sẽ chăn dắt chúng. Bò cái kết thân cùng gấu cái, con của chúng nằm chung một chỗ, sư tử cũng ăn rơm như bò. Bé thơ còn đang bú giỡn chơi bên hang rắn lục, trẻ thơ vừa cai sữa thọc tay vào ổ rắn hổ mang. Sẽ không còn ai tác hại và tàn phá trên khắp núi thánh của Ta, và sự hiểu biết Đức Chúa sẽ tràn ngập đất này cũng như nước lấp đầy lòng biển» (Isaia 11,6-9). Tất cả những thế lực mà trước đây được quan niệm là ghen ghét, thù nghịch nhau, thì bấy giờ trở thành bạn hữu, yêu thương nhau, sống chung hòa bình với nhau. Trong xã hội lúc đó, tất cả những người ác độc không phải bị tiêu diệt cho bằng được tình thương biến đổi, cảm hóa thành hiền lành, thuận thảo. Chỉ có sự ác là bị tiêu diệt thôi. Còn nhiều đoạn khác trong Thánh Kinh, đặc biệt trong Isaia, cũng mô tả sự tốt đẹp, thái bình, hạnh phúc của Nước Trời (Xem Isaia 66,25; 29,18-20; 32,1.4-5; 35,5-10; 24,6-10;).

Tôi cũng mơ ước toàn thể thế giới biến thành Nước Trời, nhưng có lẽ Nước Trời chỉ được khơi mào từ Giáo Hội Chúa Kitô. Nếu Giáo Hội không biến thành Nước Trời, thì còn hy vọng gì nơi những xã hội khác! nhất là toàn thể thế giới! Và giả như có một xã hội trần thế nào khác gần với Nước Trời hơn, thì lúc ấy Giáo Hội quả là… cần phải sám hối và đặt lại vấn đề, vì đáng lẽ Giáo Hội phải là hình ảnh trung thực nhất của Nước Trời: một thời rất lâu, thậm chí cho đến nay, nhiều nhà thần học đã đồng hóa Giáo Hội với Nước Trời kia mà!

Mơ ước như thế thì quả là quá chung chung, chẳng cụ thể. Tôi nghĩ cần phải mơ một cách thực tế hơn, nghĩa là đi vào chi tiết hơn. Để Giáo Hội biến thành Nước Trời tại thế, tôi mơ rằng…

2. Giáo Hội đi bước đầu… bằng cách biến mình thành Nước Trời trước đã

Giáo Hội được mời gọi biến thế giới này thành Nước Trời. Đó cũng là công việc mà Giáo Hội thừa kế của Chúa Giêsu, qua các tông đồ. Nhưng để thực hiện được điều đó, thì Giáo Hội phải thực hiện Nước Trời trước tiên ngay trong nội bộ của mình. Thật vậy, làm sao Giáo Hội có thể biến trần thế này thành một thế giới đầy yêu thương khi mà ngay trong lòng Giáo Hội, vẫn còn nhiều hận thù ghen ghét, các thành viên của Giáo Hội vẫn chưa yêu thương nhau, vẫn chưa quan tâm đến nhau, chưa sẵn sàng chia sẻ cho nhau. Giáo Hội luôn luôn kêu gọi người giàu, nước giàu chia sẻ những gì mình dư dật cho người nghèo, nước nghèo. Nhưng thử xét xem, điều đó đã được thực hiện ngay trong nội bộ Giáo Hội chưa? Đáng lẽ điều này phải được thực hiện ưu tiên trong hàng ngũ giáo phẩm và giáo sĩ, là giới có bổn phận làm gương và giảng dạy. Nếu giới này chưa làm được thì có được bao nhiêu hy vọng nơi những giới khác?

Muốn Giáo Hội toàn thể trở thành Nước Trời, thì chúng ta phải bắt đầu từ những Giáo Hội nho nhỏ là gia đình Kitô hữu, xứ đạo, giáo phận, v.v… Mỗi Giáo Hội nho nhỏ ấy phải biến thành một Nước Trời nho nhỏ. Nước Trời sẽ đến, nếu trong mỗi gia đình Kitô hữu, vợ và chồng, con cái và cha mẹ thật sự yêu thương nhau bằng những hành động cụ thể. Nước Trời sẽ đến, nếu trong xứ đạo, cha sở cha phó yêu thương nhau như anh em ruột thịt, nếu linh mục và giáo dân cộng tác với nhau chặt chẽ trong tinh thần cởi mở, hòa đồng. Nước Trời sẽ đến, nếu trong giáo phận, có sự