|
Thanh Thanh
Mùa thu. Nó có thể gắn liền với con người trong đau thương hoặc gợi lên sự vui sướng và tính siêu việt. Thu là mùa của tình thương hay là mùa của phân ly? Khi tôi nghe tiếng thu sang, mưa gió và cây lá lại gặp nhau, làm trời đất lên tiếng. Tiếng gió mùa thu, khẽ đập lá bay—những chiếc lá đổi màu đỏ, tím, xanh, vàng--rơi rụng sang ngang, tượng trưng số mệnh con người cũng giống như những mảnh lá thu, bay phất phơ giữa trời đất, giữa cuộc đời. Khi thiên nhiên bộc lộ sự sống động của nó, tôi cảm thấy bớt đau đớn vì trời đất giúp tôi gào thét với sự bất công trước cuộc đời, tàn nhẫn và yếu đuối của con người. Tôi khóc trong lầm than, trong khắc khoải, với giòng lệ rơi trong lẻ loi, cho những ai bơ vơ đang ngửa tay xin tình người. Và khi tiếng mưa tiếng gió thì thầm bên ngoài, tôi vui mừng vì trời biết thương chia sẻ và an ủi lòng tôi. Nhiều lúc, âm vang trời đất của mùa thu, dù lớn hay nhỏ, cho tôi cảm giác dễ chịu hơn tiếng người. Suy ra, cái sự quay về với thiên nhiên đã nói lên cảm giác xa cách với con người và xã hội. Con người gắn bó với niềm vô hạn bằng cách quy phục trước cảm xúc và để cảm xúc đưa ta đến cái sự siêu nghiệm. Tôi ra đời vào mùa thu, và mỗi mùa thu tôi chết đi một lần nữa. Vào thu, tôi nhập học và tìm được sự sống trong xóm học. Nhưng cùng một hơi thở trong sức sống đó, con người ăn học và trí thức đó đã chết đi vì được trau dồi cái hiểu biết mới. Đức Phật Sakyamuni từng nói, “con người và cuộc đời là một giòng sông, mỗi chuyện đến rồi đi, và trong không gian và thời gian, mang lại sự sống rồi lại sự chết.” Đến khi được gửi thân vào khung trường đại học, tôi cảm nghiệm hơn lời nói của Đức Phật. Khi nói đến cái biến chuyển của con người, tôi cảm nhận rằng con người của tôi đã được đưa vào trạng thái mà tôi gọi là “ngưỡng cửa của xã hội và văn hóa (to live in liminality).” Đứng giữa hai nền văn hóa, tư tưởng và ý thức hệ của Đông - Tây, tôi thấy mục đích của đời sống và con đường đưa đến ý nghĩa của đời sống trong văn hóa Đông - Tây đều đối nghịch với nhau. Và sự đối nghịch (dichotomy) này làm tôi luôn luôn bỡ ngỡ trước cuộc đời và ngã gục giữa trời đất, tự hỏi bản thân đâu là chân lý của đời sống và con người. Tôi xin mượn ý trong câu thơ của Xuân Diệu:
“Cuộc đời cay cực đang dơ vuốt Cơm áo không đùa với khách thơ.”
Sau chiến tranh Việt Nam năm 1975, tôi được đưa sang đất Mỹ khi còn bé. Và thưở nhỏ, tôi được nuôi dưõng và lớn lên trong truyền thống gia đình Công Giáo Việt Nam. Khi tốt nghiệp trung học, tôi cũng như các bạn cùng lứa tuổi, tiếp tục bước vào đại học. Trong môi trường đại học, tôi và nhiều người bạn Việt khác đều theo học ngành khoa học hoặc toán học. Tuy không gặp khó khăn gì khi theo ngành khoa học, nhưng tôi cảm thấy mình còn thiếu sót cái gì đó. Phải chăng là đi tìm chân lý và ý nghĩa của đời sống con người? Khi tôi nhìn thấy tình yêu của mẹ tôi dành cho con cái, những sự hy sinh và dạy dỗ về đức tính làm người, tôi cảm phục và nuôi niềm khát vọng được đào sâu thêm về chân lý con người. Sau một hai năm, tôi cảm thấy mình bị thu hút và say đắm với những môn học nhân văn. Và không lâu, tôi sung sướng chuyển sang ngành triết học. Trong thời gian sau đó, tôi say mê với những triết lý Tây phương, hằng ngày bước đi cùng với Plato, Aristole, Wittgenstein, Derida, Nietzche, nghiền ngẫm triết lý cổ điển và hiện đại, suy tư với khái niệm công chính, chính trực, tình yêu, tự do, nhân quyền, mỹ học, v..v.. Và trong thời gian này, tôi đã theo đuổi và trau dồi một thế giới lý tưởng riêng tư và để cho mình yêu quí đời sống trí thức, nuôi dưỡng trào lưu ‘văn dĩ tải đạo.’ Không ngừng ở đó, tôi học thêm và tốt nghiệp với văn bằng triết học. Khi tôi vào dạy trong môi trường đại học, việc trau dồi trí thức và nghiên cứu đã đưa tôi va chạm với đời và chứng kiến rất nhiều sự bất công và đau khổ của con người, đặc biệt là những phụ nữ Việt Nam. Đứng giữa hai nền văn hóa Đông-Tây, phụ nữ Việt Nam ở hải ngoại phải tự đi tìm kiếm cho mình một đời sống “ôn hòa” và được “chấp nhận” trong xã hội. Luôn luôn, họ phải vật lộn giữa đời sống gia đình và nghề nghiệp, giáo dục và tín ngưỡng, tâm hồn cá nhân và gìn giữ bản sắc của mình trong xã hội. Trong nhiều giai đoạn của đời sống, phụ nữ Việt Nam sống dưới áp lực của xã hội, gia đình và tôn giáo. Trước những công việc trong vai trò lãnh đạo, nghề nghiệp, học thức, đời sống tu trì, hôn nhân, ly dị, gia đình và giáo dục con cái, phụ nữ Việt Nam luôn sống trong vị trí cách ly ra khỏi nhịp điệu phát triển của xã hội. Những biến cố trong cuộc đời đã để lại cho phụ nữ thế hệ sau cái phê bình và chỉ trích giáo dục phong kiến, trong khi đó phụ nữ thế hệ trước trở nên hoài nghi, cay đắng, bất chấp với cuộc đời. Nhà trí thức Trịnh Minh Hà đã cho rằng chiến tranh, văn hóa xã hội và tôn giáo đã làm cho phụ nữ Việt Nam sống trong “Tam Kết (Triple Bind).” Đó là, bản sắc phụ nữ Việt Nam được trói buộc bởi: 1) đạo lý tam tòng tứ đức 2) sự nhận thức là nạn nhân của chiến tranh và 3) sự đối nghịch giữa văn hóa Đông - Tây. Vì những áp lực và khó khăn trong xã hội và để trung thành với trào lưu Tam Kết, phụ nữ Việt Nam tại hải ngoại, đôi khi, đã chịu phải ôm lấy cái thực tế và đánh mất đi lý tưởng của mình. Sống trong trạng thái đó, đâu là lối thoát? Làm sao để tự mình được cứu vớt? được chấp nhận? Người Việt hiện đại chúng ta đang bị Tây hóa và hoàn cầu hóa. Xã hội tân thời đã đề cao quyền lực của bản thân cá nhân hơn là nơi đức tin và gia đình. Với một người sống giữa hai nền văn hoá, điều gì đi trước? Hạnh phúc nơi đâu? Có lúc, ta tưởng rằng ta đang sống cho gia đình và xã hội, nhưng ngược lại, ta đang sống cho chính bản thân cá nhân ta. Và khi ta tuởng rằng ta trung thành với lý tưởng của ta, thì ta lại phải trả giá rất đắt với cuộc đời. Trong hiện đại, rõ nét hơn bao giờ hết, con người và xã hội đã và đang thay đổi—biến mình thành một thế giới mà chính chúng ta thường thừa nhận: nơi mà lý tưởng nhân loại trở nên suy yếu tàn tạ, sức mạnh quốc gia dựa vào lực lượng quân đội, tiền bạc biểu tượng thế lực, và khoa học phục vụ thương mại. Chiến tranh Việt Nam đã qua, nhưng để lại cho thế hệ sau một chiến tranh về ý thức hệ, về trào lưu văn hóa Đông Tây, và về bản sắc cá nhân trong xã hội. Hơn 30 năm qua, đất nước Việt Nam chia đôi, tâm hồn con người bị xáo trộn (và có khi còn bị đánh mất), đến nỗi bản sắc cá nhân bị biến chuyển không ngưng nghỉ trong giới hạn của văn hóa và lịch sử, đến nỗi chúng ta nhìn người khác là phương tiện để đạt một mục đích, chứ không phải chính tự nhân loại là cứu cánh. Tuy những thay đổi đã mang đến cho con người niềm lo sợ lớn lao, nhưng cũng đồng thời mang lại hy vọng và đức tin vĩnh cửu. Mỗi khi tôi lo sợ, tôi thường nghĩ đến mẹ tôi. Bà sinh tôi ra vào mùa thu, mùa tôi chào đời cũng đồng thời là mùa tôi vượt qua giai đoạn sống bằng hơi thở của người mẹ, hơi thở của cá nhân, của quá khứ, và của văn hóa và lịch sử. Người mẹ thương yêu của tôi, tuy là một người bình thường, nhưng đã truyền dạy lại cho tôi những chân lý đời sống qua những hành động và hy sinh lớn lao trong cuộc đời của một người mẹ. Mẹ tôi sống trung thành với đức tin Công Giáo và đã là gương mẫu cho tôi trong đời sống Kitô hữu. Sự can đảm của tôi càng ngày càng mãnh liệt khi đối đầu với những áp bức và thử thách của đời sống thực tế. Và trong lời cầu nguyện mỗi ngày, tôi rơi một giọt nước mắt cho những người đau khổ, nghèo khó, cô đơn, bị bỏ rơi, và đang sống bên lề xã hội. Nhưng cũng đồng thời, tôi trao một nụ cười với người tôi tiếp xúc và một giây phút thinh lặng với thiên nhiên và bản thân tôi. Qua nước mắt, nụ cười, sự trầm lặng, đây là những lời cầu nguyện và chân lý tôi sống hằng ngày. Nếu tôi muốn sống một đời sống Kitô hữu thật sự và chân thành, tôi phải chấp nhận sự đau khổ và hy sinh của đời sống con người, và sống với niềm Tin, Cậy và Mến ●
Step on Golden Leaves
Autumn. It can evoke a sense of misery and pain, or the possibilities of utter joy and transcendence. Is autumn a time of love or departure? When autumn comes, with its breeze tapping falling leaves, heaven speaks. The sound of autumn wind stirs majestically amidst the red, purpel, golden leaves, across grassy field, resembling human fate is like those of autumn leaves, fluttering amongst nature and in life. When nature ruptures its dynamic life and motions, it lessens my pain because heaven howls at the injustice, inhumane, and frailty of human beings. I cry in misery and agony, weeping in solitary, for those marginalized individuals who are begging for love and kindness of humanity. At the same time, when I hear falling rain and wind whispering, my heart leaps in enchantment, feeling that nature could console me in sorrow. Many times, nature’s movement, with its mighty and gentleness, eases me profoundly beyond human language. It seems as though the increasing emphasis on nature suggests a sense of alienation from human beings and society. Human beings link themselves with the infinite by the capacity to submit to feeling and be led by it to transcendence. I entered this world in autumn, and for each autumn I transform once again. When autumn comes, I find life through the journey in school. In the same breath of that life, the intellectual person of mine transforms due to new insights and ideas. As Buddha Sakyamuni has said, “life is a never-ending river. Nothing stays the same. Each moment rises and falls. Each moment in time carries within itself life and death, being and not being.” As each autumn arrives, the Buddha’s teaching becomes true to me. In speaking of human transcendence, I feel that I have been living in a state of liminality, that is growing and developing in between two cultures and societies. Living in and struggling in the contrasting worlds of traditional Asian values and Western postmodernity, I find my life filled with dichotomies of Eastern and Western values. Such dichotomies lead me to a journey in life filled with confusion and wandering, whereby life momentarily has brought me down to my knees. In such moments of anguish, I desperately search for the truth and meaning of life. As in the words of Xuan Dieu, a Vietnamese 20th century poet,
“Life is filled with bitterness and adaptations, Practicalities are not kind to idealism.”
After the Vietnam War in 1975, I arrived in America at a tender age. From young, I grew up in a Catholic family. Having accomplished my high school diploma, I moved on to college with the intention to study math and sciences. Although I had no issues with the empirical studies, I found something was lacking. Was it the search for meaning of life and truth that was yearning inside of me? When I witnessed my mother’s love for her children, with all of life’s sacrifices, and her moral education for us, I was moved and such phenomenon aspired me to search for wisdom. I was intensely drawn to the studies of humanities. Consequently, after a year of discernment, I joyfully changed my major to philosophy. During that time, I fell in love with philosophy, “walking” daily with Plato, Aristotle, Wittgenstein, Derrida, Nietzsche, analyzing and digesting classical and modern philosophies, reflecting on the notions of justice, truth, love, human rights, aesthetic, etc… For that chapter of my life, I have cultivated an idealistic and intellectual life of my own, nurturing the ideology of “literature conveys truth.” As the result, I had finished my studies. As I embarked on my career in teaching in a university setting, my research and scholarship have led me to face with realities of life and to witness human injustice and suffering, in particular the sufferings of Vietnamese American women. Living in between cultures, Vietnamese women in diaspora are searching for a life of “harmony” and “acceptance” in society. With much difficulties, they try to balance life between family and career, faith and moral education, individualism and self-identity in society. In many stages in life, they live under the pressure of society, family, and religious community, all of which have led them to living lives at the margins, dealing alone with issues of leadership, career, education, marriage, divorce, and family. Their personal crisis had left women of latter generation a critical and rebellious approach towards traditionalism, while the previous generation had skeptical and cynical attitudes towards life. According the Trinh Minh Ha, the Vietnam war, culture, and religions have bound Vietnamese women to the life of “Triple Bind.” That is, their identity are tied to the doctrine of Three Obediences and Four Virtues, to the notion of victims of war, and to the mindset of living in-between East and West. Under such societal pressures and to be truthful to the ideology of Triple Bind, Vietnamese women are led to embrace involuntarily the realities of life, and therefore sacrifice their personal idealism. Living in such state of being, what is liberation? Where is self-redemption? How can one be truly accepted? The Vietnamese in diaspora are being westernized and globalized. The modern individuals locate authority in the self rather than in society and faith, not knowing whether which take precedence, and what would constitute a happy life. At times, we assume that we live altruistically for others, but, in turn, we have vested interest. And when we believe that we are able to be faithful to our ideals, we risk paying a high price in life. In modernity, more vividly than ever before in history, the world was changing—was becoming the world we ourselves assume, in which humankind as an ideal wanes, nations define themselves in military opposition to one another, money constitutes power, and science serves commerce. The Vietnam war was over, but it had left the ongoing ideological war for the latter generations, struggling to ascertain one’s self-identity. More than 30 years have passed, Vietnam with its civil wars and the people in diaspora, the spirit of the Vietnamese people has been damaged (at times vanished), with their identities being transformed ceaselessly within the limitations of cultures, such that we all perceive others as means to an end, and not humanity as an end in and of itself. Such changes might provide ground for fear, but it also supplied the substance of hope. When I experience fear, I often think of my mother who gave birth to me in autumn, the time of new life as well as the time in which I have moved beyond the stages of breathing through my mother, through the breath of the individual, of the past, and of history. My loving mother, although simple, has taught some truths in life through her Christian deeds and life of motherhood. She lives with a Christian faith and is my role model. My unflinching courage heightens when I am faced with challenges and obstacles in life. For that, in my daily prayers, I shed some tears for those who are suffering in misery and at the margins. At the same time, I offer a smile to those I encounter, and honor one quiet moment for nature and for myself. Through my tears, smile, and silence, I truly live a Christian life. If I want to live an authentic Christian life, I must accept sufferings in life with the three theological virtues: Hope, Faith, and Love ●
|