|
Số 92, Ngày 23-12-2006 Thời Điểm Rương Đựng Chẳng Hề Vơi - Lm. Trần Cao Tường Một Vài Ý Nghĩa về Lễ Chúa Giáng Sinh – Khánh Linh Mỗi Người Là Một Món Quà – G.B. Nintermann – Lê Văn Lộc dịch Thiên Chúa Ba Ngôi – Lương Hữu Định Cantique De Noel – O Holy Night – Ôi Đêm Thánh – Phạm Hoàng Nghị Hãy Mang Giầy Vào – Pierre Charles, SJ - Phạm Minh Thiện dịch Những Món Quà Của Ba Đạo Sĩ – Maranatha The Unopened Gift - Món Quà Chưa Mở – Thanh Thanh Xin Chúc Tụng Đấng Tình Yêu Tự Huỷ - Thơ - Trần Duy Nhiên Chúa Lại Nhập Thể Trong Hình Hài Của Bạn – Trần Duy Nhiên Phép Lạ Giáng Sinh – Maranatha sưu tầm Ai Là Anh Em Tôi? – Nguyễn Hưng Tâm Tình Cùng Bạn Đọc - Thư Bạn Đọc
Thư Tòa Soạn
Kính
thưa Quý độc Đêm Đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời... Bài hát Giáng Sinh này đã ghi khắc một hình ảnh quen thuộc trong tâm tình mọi người Công giáo Việt Nam; và trong đêm Noel thì hầu hết mọi người Công giáo trên thế giới đều thấy hiện lên trong trí óc mình một Chúa Hài Nhi run rẩy giữa đêm đông giá lạnh. Thế nhưng thực tế thì không đúng như vậy. Sách Talmud cho biết rằng người Do Thái đưa cừu ra đồng cỏ từ tháng 3 và đến tháng 11 là trễ nhất thì phải lùa về trại, vì không thể để đàn cừu ngoài trời mưa. Sách Etra (Esdrad 10, 9.13) nhắc đến những cơn mưa tầm tã vào tháng 9. Bài tường thuật duy nhất trong bốn sách Phúc Âm cho biết rằng, đêm Chúa Giáng Sinh, những người chăn chiên đang ở ngoài đồng cỏ (Lc 2, 8). Như thế Chúa Giêsu không thể nào sinh vào một ‘đêm đông’ cả, mà trễ nhất là vào Mùa Thu. Tuy nhiên các sách Phúc Âm không xác định Chúa giáng sinh ngày nào. Vào thế kỷ thứ I trước công nguyên, Rôma mừng lễ Mithra, thần ánh sáng. Vào thời ấy, ngày 25 tháng 12 là đông chí, nghĩa là ngày mà thần Mithra - thần ánh sáng - bắt đầu chiến thắng bóng tối, và người ta dâng lên thần một con bò mộng. Thời Giáo Hội sơ khai, Kitô hữu không mừng lễ Giáng Sinh. Bắt đầu thế kỷ thứ II thì Giáo Hội mới truy tìm ngày sinh của Chúa Giêsu, mà Phúc Âm không hề nhắc đến. Vì Phúc Âm im lặng nên Giáo hội chọn ngày đông chí để cho thấy rằng Chúa Kitô mới đích thực là Ánh Sáng đến xua đuổi bóng đêm của Tử Thần, và như thế Giáo Hội đặt lễ Chúa Giáng Sinh vào ngày 25-12 để thánh hóa một ngày lễ ngoại giáo. Khoảng năm 330, hoàng đế Constantinô xác định lễ Giáng Sinh vào ngày này, nhưng đến năm 353 thì Giáo Hoàng Liberiô mới chính thức thiết lập lễ Giáng Sinh tại Rôma. Như vậy, Chúa Giêsu đã không ra đời trong một đêm đông lịch sử! Tuy nhiên, hình ảnh của đêm đông vẫn còn ý nghĩa trên bình diện biểu trưng. Quả thật như vậy, trong một thế giới mà con người bắt đầu cảm thấy giá lạnh trong tâm hồn, khi không còn có một ngọn lửa nào sưởi ấm được lòng người, thì Hài Nhi Giêsu đã đến giữa mùa đông giá lạnh ấy để đem ngọn lửa tình yêu sưởi ấm con người. Và ngọn lửa yêu thương đã dần dần lan rộng trên mọi vùng đất theo dòng thời gian, để rồi mãi mãi khơi lại hơi ấm cho những tâm hồn giá lạnh. Cậu bé yếu ớt và bất lực ở Bêlem là hình ảnh nghịch lý của tình yêu. Trong xã hội, trong gia đình hiện nay, những ‘người lớn’ đối xử với nhau bằng ‘quyền lợi và nghĩa vụ’ hơn là vì ‘yêu thưong vô vị lợi.’ Và vì thế mà biết bao gia đình tan vỡ. Vậy mà giữa cái thế giới đang nghiêng ngả này, những người bất lực nhất lại làm nên điều trọng đại. Chuyện về một đôi vợ chồng trí thức trẻ có học vị cao, đời sống đức tin khá vững vàng. Nhưng rồi đến một ngày, họ thấy rằng không thể tiếp tục chia sẻ cuộc sống với nhau được. Dù ly dị là biện pháp mà anh chị em trong cộng đoàn Công giáo không đồng tình, hai người buộc lòng phải chia tay để sống trung thực với lòng mình: tình yêu đã không hiện diện trong đời sống hôn nhân của họ, và kéo dài tình trang gượng ép là một điều giả hình mà lương tâm họ không cho phép. Tuy thế, họ không cắt đứt liên lạc vì còn đứa con. Hai người phải thay phiên chăm sóc con, kết quả những năm chung sống. Chính vì tình thương dành cho người con, và bài học gặt hái được là giúp cha mẹ có cơ hội nhìn sâu hơn về nhân vị con người, ý nghĩa đời sống, giá trị của hôn nhân và tình yêu. Sau đó, hai người đã suy nghĩ lại và ý thức được rằng cuộc sống hôn nhân quá khứ, họ chỉ quan tâm đến bản thân, nghề nghiệp và công việc của mình, mà dành rất ít thời gian cho gia đình cũng như lưu tâm đến nhu cầu của người phối ngẫu. Khi chăm sóc đứa con thơ, chính người con bé bỏng yếu đuối đã dạy cho cặp vợ chồng biết nhìn nhau qua cặp mắt của con mình, biết nhẫn nại để lắng nghe những tiếng nói của tình yêu, để chấp nhận nhau, và họ tái khám phá tấm lòng của nhau nhờ khi chăm sóc người con bé bỏng ấy. Tình yêu không tính toán của người con đã khiến cho cặp vợ chồng đã ly dị đang quay lại với nhau để chia sẻ tình yêu trong một cuộc sống mà họ từng bỏ dở. Thật là một câu chuyện Giáng Sinh ý nghĩa, ít nhất là đối với đôi vợ chồng này. Câu chuyện hàn gắn này kể ra cũng hi hữu trong thời đại hôm nay, khi con số thống kê về ly dị càng ngày càng gia tăng, không chỉ ở các xã hội Tây phương, mà còn lan rộng đến các gia đình tại Việt Nam, nơi có nền văn hoá gìn giữ và trân trọng truyền thống gia đình. Nhưng có một câu chuyện càng hi hữu hơn nữa mà ai cũng biết nhưng rất nhiều người không còn buồn đế ý. Đấy là câu chuyện của Hài Nhi Giêsu, đến trần gian trong tư thế khó nghèo nhất để nối kết đất với trời. Cuộc tình duyên giữa Thiên Chúa và con người đã hầu như vô phương hàn gắn, thế mà con trẻ bất lực ấy đã làm nên một kỳ công có một không hai. Và biến cố Giáng Sinh đấy đã chạm đến lòng những đạo sĩ phương đông, để họ vượt bao nhiêu dặm đường đến tặng quà cho Hài Nhi giáng thế. Quà tặng của họ trở thành một truyền thống ngày càng lan rộng. Khởi đầu là những món quà Giáng Sinh mà cha mẹ tặng cho con cái mình, rồi dần dần lan ra toàn xã hội, để các thành viên trong gia đình tặng quà cho nhau và tặng quà cho thân hữu gần xa. Dần dần, người ta quên đi món quà quí giá nhất trong lễ Giáng Sinh ấy là chính Hài Nhi Thiên Chúa. Tất cả những quà khác của con người tặng nhau chỉ là biểu hiện của tình yêu thương lẫn nhau, còn Hài Nhi Giêsu thì chính là Tình Yêu đã trở thành xác thịt, và đem lại ý nghĩa cho mọi tình yêu khác trên đời. Đấng có thể trao ban tất cả đã trở thành một em bé bất lực để van xin tất cả. Và đó là cái nghịch lý tình yêu mà hai ngàn năm qua con người cũng chưa thấu hiểu. Thiên Chúa ban cho loài người món quà vĩ đại nhất qua một Hài Nhi có vẻ như cần đến những món quà của con người. Chúa đã dạy cho mỗi một người con Chúa hiểu rằng món quà lớn nhất mà mình có thể tặng cho một ai là tặng bản thân mình, không chỉ là mồ hôi và công sức, mà phải trao tặng cả đến thế giá, danh dự, địa vị mình: món quà nào không thể hiện được sự trao ban chính mình thì đó chỉ còn là một mánh khoé của thế gian, dù cho món quà ấy được gói ghém trong chiếc áo mỹ từ nào. Vì thế, chủ đề số báo Giáng sinh năm nay là Quà Tặng, và Maranatha 92 xin gửi đến quý độc giả những bài viết liên quan nhiều khía cạnh khác nhau của quà tặng, để rồi qua đó, chúng ta biết đón nhận lại món quà Giáng Sinh quí giá nhất, mà vì quá quen thuộc ta không còn tha thiết đón nhận một cách hết lòng. Để rồi mỗi người đều biết đón nhận Món Quà Hài Nhi Giêsu, khi đó chúng ta sẽ trở thành quà tặng cho nhau, cho cuộc đời. Và để khỏi lơ đễnh bỏ qua Món Quà Vô Giá đó, chúng ta cùng nhau chân thành khấn nguyện, đặc biệt trong mùa Giáng Sinh này: Marana tha, lạy Chúa Giê-su, xin ngự đến!
EMMANUEL: THIÊN CHÚA Ở CÙNG CHÚNG TA! NGUYỆN XIN CHUÁ GIÊ-SU HÀI ĐỒNG TUÔN ĐỔ TRÀN ĐẦY ÂN SỦNG, BÌNH AN VÀ NIỀM VUI ĐÍCH THỰC CỦA NGÀI XUỐNG TRÊN QUÝ CỘNG TÁC VIÊN VÀ ĐỘC GIẢ THÂN YÊU
THỜI ĐIỂM RƯƠNG ĐỰNG CHẲNG HỀ VƠI Lm. Trần Cao Tường Bên các nước Âu Mỹ vào dịp lễ Giáng Sinh, việc chọn quà và tặng quà quả là một dịch vụ kham khổ, đôi khi trở thành một gánh nặng phải làm cho xong như một thủ tục chẳng đặng đừng. Các bãi đậu xe rộng bao la của những thương xá thường không còn một chỗ trống vào những cuối tuần trước ngày lễ. Thì mỗi người thân cũng phải có một món quà chứ! Mua về nhà lại phải cẩn thận gói lại và để dưới gốc cây Giáng Sinh có đèn chớp chớp. Đúng đêm lễ mới có nghi thức mở quà, mà phải mở trước mặt mọi người với lời cám ơn rối rít, dù có thích hay không. Giấy gói tháo ra một đống. Nhẩm trong bụng thì đã mất khá bộn tiền mà quà thì chả mấy khi vừa ý. Cái cần thì lại không được, mà cái được thì lại xếp xó, chật cả cửa nhà… Cái nỗi cực tâm nhất của việc mua quà cho trẻ em bên xứ Âu Mỹ là món quà phải là đồ mắc tiền! Đồ chơi phải là của Toys R Us. Quần áo phải có nhãn hiệu nổi tiếng như Polo hay Tommy Hilfiger. Giầy phải là Nike, Adidas v.v. Không có chuyện của ít lòng nhiều. Chẳng cần phải quí cái tấm lòng hay cái tâm nguyện nào cả. Quà rẻ tiền có nghĩa là lòng thương ít. Lì xì một phong thư đỏ với một đồng tiền mới tượng trưng để lấy hên là chuyện cổ tích. Đứa trẻ nhận được phong thư đỏ cũng theo thói Mỹ là mở ngay ra trước mặt mình, và có đứa đã tuyên bố một cách thẳng thừng chả phải kiêng dè gì cả: chỉ có một đô la thôi à!
CHÚ BÉ ĐÁNH TRỐNG Chả bù cho chú bé nghèo đánh trống qua một bài hát rất phổ thông trong mùa Giáng Sinh. Chú bé không có tiền mua sắm quà cáp gì cho người mình thương cả. Chú chỉ có một cái trống nhỏ trống trơn. Chú biết đánh trống nên chú đã đánh lên một bài trống làm quà tặng. Quí hóa và cảm động lắm chứ. Cứ đến mùa tặng quà là tôi nhớ đến một câu truyện về một cặp sắp cưới nhà nghèo. Gần đến ngày lễ mà chẳng đào đâu ra tiền mua quà tặng nhau. Anh chàng rất thương nàng nên nghĩ bụng đi bán quách cái đồng hồ của mình để mua cho nàng một cái kẹp tóc đồi mồi. Vì nàng có mái tóc dài thật đẹp nhưng cứ bị lòa xòa hoài mỗi khi làm việc; vả lại cái đồng hồ đã đứt dây từ lâu cứ phải bỏ vào túi rất bất tiện. Đang khi đó thì cô nàng lại nghĩ ra cách tặng quà cho chàng: mái tóc dài của mình để cũng vô tích sự; đẹp thì cũng đẹp đấy, chi bằng cắt bán quách đi để lấy tiền mua cho chàng cái dây đồng hồ. Tội chàng quá đi, cái đồng hồ đứt dây từ lâu mà không sao mua được cái dây khác mà thay! Thế là cả hai cùng giữ bí mật, đợi đến gần ngày lễ mới lẳng lặng đi thi hành kế hoạch. Cô nàng soi gương lần cuối kiểu thơ Nguyễn Tất Nhiên: Em hãy đứng trước gương làm dáng Tự khen mình đẹp quá, đi em. Lỡ mai kia mốt nọ theo chồng, Còn đôi chút luyến lưu thời con gái. Rồi nàng cắn răng cắt mái tóc dài bán đi để mua được cái dây đồng hồ. Anh chàng thì đành lòng bán cái đồng hồ quí để mua cho nàng cái kẹp tóc đồi mồi cho thêm duyên dáng. Hai món quà được gói lại cẩn thận. Đúng giờ phút linh thiêng thì mới đưa tặng nhau. Cô nàng nhận được cái kẹp tóc đồi mồi rất sang thì mái tóc dài của mình không còn nữa. Anh chàng nhận được cái dây đồng hồ thì cái đồng hồ của mình đã bán đi mất rồi! Cả hai món quà đều không còn dùng được, nhưng quả là cả hai món quà đều đắc ý nhất, có sức lay động con tim nhất. Và dĩ nhiên là có cảnh sụt sùi cảm động. Tình thương dâng lên ngút ngàn. MÓN QUÀ QUÍ NHẤT Mẹ Têrêsa đã có lần định nghĩa tình yêu là cho đi tới mức cảm thấy đau. Cặp sắp cưới trên đây đã thể hiện điều đó. Cũng như chính Mẹ và các nữ tu dòng Bác Ái đã sống ngay giữa những người bị bỏ rơi nhất của xã hội ở Calcutta, dùng ngay những đồ do những người cùi làm ra. Những đồ này không ai dám mua thì các nữ tu mua về dùng. Quà tặng như vậy mới có sức làm lay động con tim, tạo dựng tình thương, chứ không phải là những thứ mua sắm mắc tiền vào những dịp lễ hiện nay. Đức Maria đã tặng cho nhân loại chính người con của mình. Đó là món quà quí nhất, mắc giá nhất. Món quà đã làm cho một Gioan dù còn nằm trong bụng mẹ cũng nhảy mừng reo vui. Đức Chúa Trời thương yêu nhân loại đến nỗi đã trao tặng chính người Con duy nhất. Đó là cách sắm quà đúng nhất, vì tình thương là trao tặng cho tới mức cảm thấy đau. Những mua sắm quà tặng trong nhà lúc này đang nhằm mục đích gì nhỉ? Tìm tạo dựng tình thương hay chỉ đổ thêm vào lòng ham hố đua đòi càng ngày càng thêm bất mãn? PHÚT CẢM NHẬN QUÀ TẶNG Và món quà nào năm nay tôi nhận được đắc ý nhất? Lời thiên thần (chứ không phải ông già Noel) đi cho quà các mục đồng giữa đêm đen thanh vắng: "Ta mang đến cho các người một tin vui lớn, cũng là tin vui cho mọi người: hôm nay Chúa Kitô, Đấng Cứu Thoát, đã giáng sinh cho các người." Quà đấy chứ còn chờ quà nào khác. Hãy lãnh nhận và cho nhau thứ quà quí nhất và đắc ý nhất năm nay là chính Đức Kitô, như Đức Mẹ đã tặng quà cho bà Eligiabét. Chú bé trong bụng mẹ mừng quá bèn nhảy lên là vậy… Tôi muốn phóng dịch bài Quà Tặng từ cuốn ”Tiên Tri” (The Prophet) của nhà tiên tri thời đại là Kahlil Gibran, cuốn sách bán chạy nhất thế kỷ, chỉ sau cuốn Kinh Thánh:
Quà Tặng Khi bạn cho những cái bạn đang có, thì quà tặng của bạn thật nhỏ nhoi. Chỉ khi bạn cho chính mình bạn, thì quà tặng mới trở nên đích thực. Vì của cải là gì, nếu không phải là những gì mình lo tích trữ sợ rằng ngày mai sẽ cần đến. Và ngày mai, ngày mai sẽ trao ban cái gì cho con chó quá tinh khôn đem giấu những khúc xương dưới cát, đang khi cùng đoàn người lữ hành đi về thành thánh? Và cái gì sợ sẽ phải cần đến, nếu không phải là chính điều cứ thèm khát mãi? Khi mà giếng của bạn đầy nước mà bạn vẫn còn khát, thì cơn khát này không khủng khiếp lắm sao, và không có gì có thể làm cho bạn hết khát được! Có những người chỉ cho đi một chút xíu những cái họ có, và họ cho đi để lấy tiếng, thì cái ẩn ý này làm cho quà tặng của họ mất hết giá trị. Và có những người chẳng có bao nhiêu mà cho đi tất cả. Đó mới là những người tin vào cuộc đời, vì cuộc đời thật sung túc, và rương đựng chẳng hề vơi. Có những người cho đi với niềm vui, thì niềm vui chính là phần thưởng. Và có những người cho đi với hy sinh, thì hy sinh đó là phép rửa. Lại có những người cho đi mà không cần để ý tới hy sinh hay tìm niềm vui, mà cũng chẳng cho đi vì nhân đức. Họ cho đi vì trong thung lũng, cây trầm đang thở hương vào không gian diệu vợi. Qua bàn tay của những người như thế, Thiên Chúa đang tiếp tục vỗ về. Và từ sau khóe mắt họ, Người mỉm cười trên mặt đất. Cho khi được xin thì cao đẹp, nhưng cho mà chỉ cần hiểu ý chứ không cần phải được xin, thì cao đẹp hơn nhiều. Đi tìm người sẽ mở rộng tay đón nhận thì vui hơn là chính việc cho đi. Và có phải chính bạn đang muốn giữ lại không nhỉ? Mọi sự bạn đang có một ngày kia sẽ phải cho đi. Vì thế, hãy cho đi hôm nay, thì mùa ban tặng sẽ là của bạn, chứ không phải là những người thừa kế bạn. Bạn thường nói: tôi sẽ cho, nhưng chỉ cho những người xứng đáng. Cây trái trong vườn chẳng nói vậy. Súc vật ngoài đồng cũng chẳng nói vậy. Chúng cho đi thì chúng mới sống, vì giữ lại là chết. Vì chắc chắn ai đã xứng đáng lãnh nhận ngày và đêm, thì cũng xứng đáng lãnh nhận bất cứ gì từ bạn. Và ai đã xứng đáng uống nước từ nguồn suối bao la của cuộc đời, thì cũng xứng đáng múc đầy ly từ dòng suối nhỏ của bạn. Vì thực ra thì cuộc đời mới trao ban cho cuộc đời. Đang khi bạn tưởng là người trao ban thì lại chỉ là người làm chứng mà thôi. Và bạn là người lãnh nhận. Tất cả các bạn chỉ là người lãnh nhận, mà không cần phải biết ơn, kẻo rồi bạn lại tạo ra cái ách đè trên bạn và trên người cho. Tốt hơn là bạn hãy vươn lên cùng với người cho mang theo quà tặng như mang theo đôi cánh. Vì quá để ý tới mang ơn, tức là đã hồ nghi lòng rộng lượng của Đấng đã nhận Đất làm Mẹ và nhận Chúa là Cha.● Tin Vui Thời Điểm - trích tác phẩm Nhịp Múa Sông Thanh, Thời Điểm xuất bản.
MỘT VÀI Ý NGHĨA VỀ LỄ Chúa Giáng Sinh Khánh Linh Dưới thời đế quốc Rô-ma, người ta mừng sinh nhật các nhà lãnh đạo, nên các Ki-tô hữu cũng muốn mừng sinh nhật Chúa của mình. Tuy nhiên, việc mừng lễ như thế ngay từ ban đầu không phải được mọi người chấp nhận. Các giáo phụ như I-rê-nê và Tê-tu-li-ô thậm chí bỏ không kể ngày Giáng Sinh nằm trong các lễ đạo. Riêng O-ri-gen còn cho rằng theo Kinh Thánh, chỉ có người tội lỗi mới mừng ngày sinh của mình. Và Ac-nô-bi-ô còn chế diễu về ngày sinh nhật của các thần thánh: đã là Chúa rồi mà còn có ngày sinh nhật? Nhưng theo thời gian, Giáo Hội phương Đông mừng ngày sinh của Chúa vào mùng 6 tháng Giêng, mở đầu niên lịch theo mặt trời, còn ngày lễ Hiển Linh thì để mừng lễ Chúa chịu phép Rửa. Đến khi lễ Hiển Linh du nhập vào phương Tây, thì lại để mừng việc Chúa tỏ mình cho Ba Vua. Vào năm 330, Giáo Hội Rô-ma lấy ngày 25 tháng 12 làm ngày sinh của Chúa. Đến thế kỷ thứ năm, thì tập quán này của Giáo Hội Rô-ma trở thành phổ quát, và giữ lại mừng hai ngày 25 tháng 12 cho Giáng Sinh và 6 tháng Giêng cho Hiển Linh. Có người nghĩ rằng Giáo Hội chọn ngày 25 tháng 12 làm ngày sinh của Chúa Ki-tô vì muốn tín hữu quên đi ngày lễ Thần Mặt Trời (Natale solis invicti) mà Hoàng Đế Ao-rê-li-ô đã đặt ra để mừng thần Ê-mê-sa của người Sy-ri. Nhưng cũng có ý kiến khác cho rằng việc chọn ngày 25 tháng 12 làm ngày sinh nhật của Chúa vì theo truyền thống, Giáo Hội đã từng mừng Lễ Truyền Tin và Tử Nạn của Chúa vào ngày 25 tháng 3. Theo phụng vụ Rô-ma, có tất cả ba thánh lễ Giáng Sinh được cử hành vào ba thời điểm khác nhau: Lễ Nửa Đêm (missa in nocte), Lễ Rạng Đông (missa in aurora), và Lễ Ban Ngày (missa in die). Phúc Âm công bố trong 3 thánh lễ này cũng khác: Lễ Nửa Đêm là việc Truyền Tin (Lc 2:1-14), Lễ Rạng Đông thì kể lại việc mục đồng đến viếng thăm Chúa (Lc 2:15-20), và Lễ Ban Ngày nói về việc Nhập Thể (Ga 1:1-18). Ba thánh lễ được cho là biểu tượng 3 lần sinh của Chúa Giê-su: (1) sinh ra tự muôn đời, từ Chúa Cha, (2) sinh ra trong lịch sử, qua Đức Mẹ Maria, và (3)sinh ra trong tâm hồn con người, vào trong lòng của từng tín hữu. Chung quanh Lễ Giáng Sinh và Mùa Vọng có một số phong tục tập quán đã hình thành. Mùa Vọng thì có việc thắp nến và làm vòng hoa bắt nguồn tại Đức quốc từ thế kỷ 16; việc chuẩn bị máng cỏ từ Pháp; hoạt cảnh tìm chỗ cho Chúa sinh (phát xuất từ Herbergesuchen của Đức quốc và Posada của Tây Ban Nha). Còn trong Mùa Giáng Sinh thì có hát thánh ca (Carols); làm hang đá hay máng cỏ (theo câu chuyện thánh Phan-xi-cô A-si-di làm hang đá cho Hài Nhi Giê-su); thắp nến đèn Giáng Sinh, cây thông (cũng phát xuất từ nước Đức). Rồi có những lễ nghi đã tục hóa hoàn toàn như gửi thiệp, tặng quà, và ăn uống vui chơi trong dịp lễ. Người Thanh Giáo (Puritans) đã bãi bỏ hoàn toàn lễ Giáng Sinh vì cho rằng nó đã bị thế tục hoá. Vào năm 1642, họ cấm không có lễ nghi trong nhà thờ cũng như mừng lễ của công chúng trong ngày 25 tháng 12. Vào năm 1647, Quốc hội Anh đã chính thức ra lệnh hủy bỏ ngày lễ Giáng Sinh cũng như những ngày lễ khác. Mặc dù bị dân chúng phản đối, luật này vẫn được thi hành nghiêm nhặt. Mãi đến năm 1660, khi chế độ quân chủ được phục hồi, lễ Giáng Sinh mới được mừng trở lại, cũng như mừng lại việc ông già Noel. Tại các thuộc địa của Mỹ lúc bấy giờ, chuyện ông Sinter Klass của người Hoà Lan đã biến thành ông già Santa Claus, và việc thăm viếng của Thánh Ni-cô-la vào ngày 5 tháng 12 đã được dời vào đêm 24 tháng 12. Vì người Thanh Giáo ghét các ngày lễ cũng như các giám mục, nên hình tượng của ông già Noel Santa Claus đã được biến đổi cho giống thần Thor của người Bắc Âu hơn là giống thánh Ni-cô-la của thế kỷ thứ tư. Ngày nay, người ta muốn tục hoá ngày lễ Chúa Giáng Sinh, vì có quá nhiều tôn giáo không tin vào Chúa Cứu Thế. Thay vì câu Merry Christmas đã có truyền thống lâu đời, nhiều tổ chức phi tôn giáo hay có gốc từ Ki-tô giáo, muốn tỏ ra tổ chức của mình khách quan, không thiên vị đạo nào, đã sử dụng câu chúc Happy Holidays trong dịp lễ Giáng Sinh. Người Công Giáo cũng như những người tin vào Chúa Giê-su không nên vô tình làm mất ý nghĩa ngày lễ cũng như căn tính của niềm tin mình, nên cần ý thức khi tổ chức lễ mừng trong dịp này, chẳng hạn không nên quá lưu ý đến việc vui chơi phung phí, cũng như không nên mua và gửi những tấm thiệp chỉ có câu chúc chung chung mừng lễ, mà không hề nhắc đến một biến cố trọng đại là việc Thiên Chúa là Ngôi Hai nhập thể, mang thân phận con người vì yêu thương chúng ta. Chính Chúa Giê-su là món quà Giáng Sinh lớn lao nhất mà chúng ta đón nhận, và qua việc đón nhận này, chúng ta cũng sẽ là món quà cho Chúa và cho tha nhân. Mà món quà nào cũng chỉ có ý nghĩa khi được cho đi, đón nhận, mở ra và chia sẻ. Chúa Giê-su đã là món quà trao ban cho chúng ta nhận lãnh, và như thế mầu nhiệm Thiên Chúa làm người mới thật có ý nghĩa cho người tín hữu. Merry Christmas – Mừng Chúa Giáng Sinh – Emmanuel - Joyeux Noël ●
G.B. Nintermann – Lê Văn Lộc dịch “Lạy Cha, con muốn rằng những người Cha đã ban cho con, thì con ở đâu, họ cũng ở đấy với con.” (Ga 17, 24a). Tôi xin chia sẻ ý nguyện ấy của Chúa Giê-su: những người Chúa ban cho tôi, tôi muốn rằng tôi ở đâu, họ cũng ở đó với tôi…Tha nhân là những món quà Chúa tặng cho tôi. Một số mới nhìn qua, tôi thấy ngay rất hấp dẫn. Một số lại được gói bằng loại giấy tầm thường, một số khác là những bưu kiện bị rách nát. Đôi khi có những gói được gửi đặc biệt. Có những gói bọc sơ sài, lại có những gói thật vuông vắn, có giây buộc cẩn thận…Nhưng phải nói ngay rằng: bao bì bên ngoài đâu đã phải là quà tặng, vậy mà lại rất dễ gây hiểu lầm. Ta thường bật cười khi thấy trẻ em lầm tưởng quà tặng là cái bao giấy lộng lẫy mà không để ý đến bên trong…Cũng có đôi khi ta phải nhờ người khác mở giúp một thùng quà. Có lẽ phải chịu đau mấy đầu ngón tay để gỡ nút buộc giây chứ? Lại còn hồi hộp sợ thùng quà đã bị ai đó lén mở trước, tráo đổi hay lấy mất món quà…Biết đâu là gửi cho người khác chứ không phải cho ta thì sao? Tôi là một Con Người. Vậy tôi cũng là một Món Quà. Trước hết là món quà cho chính tôi, do Thiên Chúa Cha ban tặng. Vậy tôi đã xem kỹ nội dung quà tặng đó chưa hay còn e ngại? Lẽ nào nội dung lại khác với điều tôi mong ước sao? Có lẽ tôi chưa bao giờ nghĩ rằng tôi nhận được món quà là chính bản thân tôi. Mà đã là quà của Thiên Chúa Cha thì nhất định phải tuyệt vời vô cùng. Tâm lý con người ta là rất thích được nhận quà của những người thân thiết, thì tất nhiên tôi phải trân trọng hết sức đối với quà tặng của Thiên Chúa. Vậy mà món quà ấy lại chính là tôi, cốt ý để tôi đem trao lại cho người khác. Tôi có chấp nhận nổi ý muốn ấy của Thiên Chúa không? Một người là quà tặng cho người khác ư ? Mà thường thì người khác lại chỉ chú ý đến cái vẻ bề ngoài mà không hề thưởng thức nội dung bên trong, như vậy tôi có đồng ý không? Bất cứ cuộc gặp gỡ nào cũng là một dịp để trao tặng quà. Nhưng nếu nhận mà không biết tặng ai thì chưa phải là quà tặng đúng nghĩa vì thiếu mất mối liên hệ giữa người cho và người nhận. Như vậy, yêu thương phải là mối tương quan giữa những con người biết chấp nhận bản ngã của nhau. Quả vậy, nhưng món quà của Thiên Chúa Cha chính là của người này đem trao cho người khác, cho anh em đồng loại. Một người bạn đúng là một món quà không chỉ riêng cho tôi mà còn cho người khác, thông qua chính tôi. Vì thế, khi tôi chiếm hữu một người bạn thì tôi đã huỷ diệt tính chất Quà Tặng của người bạn ấy. Khi tôi dành riêng người bạn ấy cho bản thân tôi, chính lúc đó tôi đánh mất người bạn. Ngược lại, sẵn sàng trao tặng người bạn thân của mình cho người khác, chính là tôi đã giữ được người ấy cho tôi. Người ta quả là những món quà Nhận Được hoặc Đem Cho, chẳng khác gì Chúa Giê-su. Như thế, yêu thương chính là một lời đáp trả của những con-người-quà-tặng dâng lên Thiên Chúa Cha, là Đấng đã ban tặng...Yêu thương chính là Nhiệm tích Thánh Thể, là Kinh Nguyện Tạ Ơn...●
Lương Hữu Định LTS: Giáo Sư Tiến Sĩ Lương Hữu Định nguyên là một Phật tử thuần thành. Ông đã tìm hiểu đức tin Công Giáo và theo học nhiều năm trước khi quyết định tin nhận Chúa Giêsu và gia nhập Giáo Hội Công Giáo. Ông có nhiều đóng góp cho Giáo Hội và Xã Hội qua các bài viết về Tôn Giáo, Xã Hội và giảng dạy về Kinh Tế, cũng như chia sẻ cho giới trẻ về những thao thức tâm linh, đức tin và thân phận con người trong các sinh hoạt tại giáo phận Sàigòn. Ông qua đời trong sự thương tiếc của nhiều bạn hữu và sinh viên. Bài viết này được Ông gửi tặng người bạn phương xa. Maranatha xin trích đăng như một nén hương tưởng nhớ Ông trong dịp lễ giỗ lần thứ 10. Mỗi cuối năm, khi dọn mình để đón Chúa Giáng Sinh, chúng ta thường tự kiểm điểm lại một năm qua. Tôi đã nhiều tuổi rồi, nghĩ mình nên kiểm điểm lại hành trình đi tìm Chúa. Chúa Ba Ngôi. Ngôi Ba, đó là khi tôi biết có Ngài trong cuộc đời này, nhưng sự hiện diện ấy tôi ít quan tâm. Ngôi Hai, đó là khi tôi bắt đầu trò chuyện với Ngài, như một người bạn, như một người anh và rồi như một người Cha. Ngôi Một, đó là khi Ngài làm chủ đời tôi. “Tôi sống, nhưng không phải là tôi sống, nhưng là Ngài sống trong tôi.” I. Thiên Chúa Ngôi Ba. Ngài Hiện Hữu Thưở ấu thơ, tôi đã được nghe nói về ông Trời, như một ông vua ở trên thiên đình, có văn võ bá quan như ông vua dưới trần thế, có thần mưa, thần gió và ông thiên lôi có lưỡi tầm sét, chuyên đi bắt trẻ con hay khóc, trẻ con hư, trẻ con không chịu ăn cơm. Ông Trời xét xử mọi người, ai tốt thì Ông thưởng, ai xấu thì Ông phạt, ai cầu xin thì Ông cứu giúp. Rồi lên trung học, trường tôi ở cạnh ngôi nhà thờ lớn, mỗi khi đi học sớm hay có giờ nghỉ, tôi thích và ngồi trong giáo đường yên tịnh ấy. Chỉ có mình tôi trong khoảng trống rộng lớn ấy, tôi tha hồ để tâm trí bay bổng theo hình ảnh đức Mẹ từ bi, các ông thánh đẹp đẽ. Tôi rất sợ cái người nào đó bị chết, bị đóng đinh trên thập giá. Chắc người ấy phải bị một cái tội gì ghê gớm lắm, người ta treo lên để răn đe những người muốn phạm tội. Mà có tội thì mang chém đầu, hay xử bắn, chứ ai lại treo lên như thế nhỉ. Mà thôi, chuông vào học đã vang lên rồi, tôi phải trở vào lớp. Tôi thấy Ngài mà tôi không gặp Ngài, anh chàng thu thuế nào đó còn may mắn hơn tôi. Ngài ở lại đó, yên lặng, Ngài chờ tôi, kiên nhẫn. Khi lên đại học, bắt đầu làm quen với triết học, tôi bắt đầu suy nghĩ về cuộc đời: cuộc sống là cái gì nhỉ? Con người là cái gì nhỉ? Tôi là ai nhỉ? Sinh ra để là gì nhỉ? Các triết gia nói rằng có trời đất, nghĩa là phải có một đấng nào đó đã làm ra nó, đó là Đấng Tạo Hoá. Trời đất thật tốt đẹp, bốn mùa đều xinh tươi, vận hành thật nhịp nhàng, chứng tỏ Đấng Tạo Hoá tài giỏi vô cùng, có thể gọi Ngài là Đấng Vạn Năng. Nhưng hình như sau khi tạo lập ra cái trời đất này, ông ấy đã bỏ đi đâu rồi? Hay là ông ấy đã chết? Chứ có ai nghe nói gặp lại ông ấy đâu? Ông ấy bỏ đi rồi, hay đã chết rồi, thì còn có gì đáng quan tâm nữa đâu. Mình cứ biết lo phần mình đi cho rồi. Vậy là Ngài vẫn hiện hữu bên tôi, như một người xa lạ, một người chẳng dính dáng gì đến đời tôi. Giá như mà không có Ngài, thì trời đất vẫn là trời đất, và tôi vẫn là tôi. Tôi an tâm, không cần suy nghĩ, tìm kiếm nữa.
II. Thiên Chúa Ngôi Hai. Tôi Gặp Ngài Rồi khi ra tiếp xúc với cuộc sống ngoài đời, tôi thất vọng. Cuộc sống không như trong sách vở mà nhà trường dạy cho tôi. Sách vở dạy tôi yêu thương, mà tôi chỉ gặp ganh ghét, sách vở dạy giúp đỡ nhau, tôi chỉ thấy người ta chà đạp nhau, hãm hại nhau, thù hận nhau. Trong sách vở thì toàn Trời Phật, thần tiên mà ngoài đời thì toàn ma quỷ. Tôi chán nản. Mỗi khi có dịp nào đi qua một ngôi giáo đường yên lặng, tôi lại cảm thấy cần phải vào đấy để “nghĩ đời mà chán cho đời.” Rồi tự nhiên tôi cảm thấy muốn tâm sự với một ai đó. Đầu tiên tôi nói chuyện với Mẹ, mẹ tôi mất sớm, cha tôi bận công việc làm ăn có khi nào chuyện trò với con cái đâu. Riêng Mẹ thì luôn đứng đó, sáng ngời trong ngôi giáo đường yên lặng và u tối. Giáo đường u tối như cuộc đời, hình ảnh Mẹ sáng ngời như ngọn đuốc soi đường. Tôi đến với Mẹ, tôi kể cho Mẹ nghe về những chuyện buồn bực trong cuộc sống, những thất vọng, đúng hơn là trút vào lòng Mẹ những đau khổ, buồn giận của tôi. Mẹ yên lặng nghe. Kể cho Mẹ xong, tôi cảm thấy trong lòng nhẹ nhàng, chắc chắn là Mẹ đã nghe tôi, chắc chắn là Mẹ sẽ không kể lại cho ai, không thêm bớt để mà thù ghét tôi. Nói chuyện với Mẹ xong, tôi quay lại với cái con người bị đóng đinh trên thập giá. Ừ nhỉ, hoá ra còn có người phải khổ hơn mình nữa. Tại sao thế nhỉ? Tôi muốn tìm hiểu về Người ấy. Tôi tìm thấy Ngài trong Kinh Thánh. Tôi được nghe kể về Ngài, được nghe Ngài nói và rồi tôi cảm thấy được hoà mình vào những người đương thời với Ngài, cũng những bất công, ganh ghét, thù hận, âm mưu, hãm hại. Ngài không còn xa lạ với tôi nữa. Tôi nghe tiếng gõ cửa, tôi mở ra, và Ngài đã vào nhà tôi, một người khách mới quen nhưng coi bộ tin tưởng được. Thế là tôi bắt đầu nói chuyện với Ngài. Phải thú thực là lúc đầu tôi chỉ nói chuyện với Ngài những khi có chuyện buồn bực, khi một người bạn làm hại tôi, khi cấp trên la rầy tôi, khi mọi chuyện xảy ra không đúng ý muốn của tôi. Còn ngược lại, sau những cuộc vui chơi với bạn bè, những thành công tốt đẹp, thì tôi lại quên Ngài. Cũng phải thôi, vui tươi thì giữ lại còn buồn bực mới đem ra chia sẻ chứ (cục muối mới cắn đôi, chứ cục đường thì lủm hết!) Vậy mà Ngài không bao giờ hờn dỗi cả, vẫn lắng nghe. Mỗi lần nghe xong, Ngài lại ngước mắt nhìn lên như muốn nói: “Cha ơi, hãy xót thương cho con người đau khổ này, xin cứu vớt linh hồn này.” Rồi, lạy Chúa, bỗng nhiên tôi nghe được lời Ngài, vang lên từ toà giảng, từ những bài đọc mà tôi đã được nghe khi mở đầu các thánh lễ: “Hãy tha thứ cho nhau như Cha đã tha thứ chúng con, hãy thương yêu nhau như Thầy đã thương yêu anh em.” Thương đến điên khùng, đến chịu chết thay cho người khác, đến độ chết nhục nhã nhất, chết như một tử tội. Một sức mạnh dồn tôi tới chân tường, không còn cách nào khác, tôi phải thốt lên, “Lạy Chúa, con yêu Chúa, con yêu các anh em con, con yêu những người Chúa đã gửi đến cho con, dù họ ghét bỏ con, hãm hại con.” Giáo đường vẫn im lặng, từ xa lắm, vẫn có tiếng xe cộc cạch chạy qua chạy lại. Dòng đời vẫn chảy. Đúng chỉ là một giấc mơ, một giấc mơ thật khủng khiếp, một giấc mơ đã làm thay đổi tâm hồn tôi: tâm hồn tôi bỗng nhẹ nhàng. Tôi đã chuyển gánh nặng tội lỗi của các bạn tôi lên vai Ngài, và Ngài đã nhận lấy. Cái thánh giá mà tôi đang phải vác đây có nghĩa gì đâu so với cái thánh giá mà Ngài đã nhận từ Cha. So với những đau khổ mà Ngài đã chịu đựng, thì tôi vẫn là một người quá sung suớng. Lúc đầu, Ngài yên lặng đứng trong bóng tối, chờ tôi tìm đến. Thấy Ngài tin tưởng được, chịu nghe tôi nói và cho tôi những lời khuyên hữu ích, tôi tìm đến Ngài nhiều hơn, tất cả những khi tôi có thì giờ rảnh rỗi. Không những kể chuyện buồn, mà còn cả chuyện vui nữa. Hoá ra Ngài không chỉ chia sẻ vớ tôi những lúc buồn mà có Ngài, niềm vui của tôi được trọn vẹn hơn. Một quà tặng vốn đã là quý hoá rồi, nếu nghĩ thêm rằng đó là quà tặng của người mình yêu, thì quà tặng ấy trở nên vô giá. Tôi chỉ cần nghĩ rằng những giờ phút vui sống bên bạn bè, là những giờ phút Ngài gửi đến cho tôi, là tôi muốn quỳ ngay xuống mà: Lạy Chúa, xin cảm tạ Ngài.
III. Thiên Chúa Ngôi Một. Ngài là Chủ Đời Tôi Càng trút nỗi buồn và niềm vui qua cho Ngài, tôi càng cảm thấy nhẹ nhàng, yêu đời. Đầu tiên còn suy nghĩ, còn tính toán, khi nào bí lắm mới cầu cứu đến Ngài. Nhưng về sau, không biết là vì lười biếng hay vì quá tin tưởng, mà bất cứ chuyện gì tôi đều ‘kính chuyển’ đến Ngài hết. Vẫn âm thầm, vẫn lặng lẽ, người khách lạ đã trở thành người bạn và thành người chủ của tôi. Tôi chỉ còn một ước vọng là được biết ý muốn của Ngài để tuân phục, vâng phục đến mức thảm hại: chỉ lo không làm đúng ý của Ngài. Ngài sẽ không trách tôi, nhưng tôi biết là Ngài sẽ buồn, mà nếu người yêu của mình buồn thì chắc là mình phải khóc thôi. Khi con người tự biết là mình bất toàn, thì sẽ để dành một chỗ cao nhất trong lòng mình cho một hình tượng nào đó. Người nào yêu thì dành chỗ đó cho người yêu, người nào say mê lý tưởng nào thì sẽ để chỗ đó cho thần tượng của mình. Nhưng rồi người yêu nào cũng chỉ là người, thần tượng nào rồi cũng sụp đổ. Vậy muốn chắc ăn nhất, tôi dành chỗ ấy cho Ngài, một người yêu không bao giờ phản bội, một thần tượng không bao giờ sụp đổ. Ngài đứng đó, nơi cao nhất trong tâm hồn tôi. Trước đây, tôi còn cầu nguyện, nghĩa là còn nói chuyện với Ngài, còn muốn nghe Ngài nói. Bây giờ thi không cần nữa. Tôi chỉ cần bỏ qua những lo lắng của riêng tư, những ước muốn của cá nhân tôi, là Ngài đã xâm chiếm toàn thể suy nghĩ và hành động của tôi. Trước khi trút hơi thở cuối cùng trên núi Sọ, Ngài kêu lên: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Cách đây 8 năm, tôi đã chịu phép Thanh Tẩy, nghĩa là đã chết và đã được sống lại cùng với Ngài, nhưng đến hôm nay, tôi mới có thể kêu lên: “Lạy Chúa, con xin phó thác đời sống của con trong tay Ngài.” Bạn thương yêu ơi, Chúa vẫn hằng ở cùng chúng ta, Giáng Sinh chỉ là dịp để chúng ta suy niệm về mầu nhiệm ấy. Chắc là bạn đang dọn dẹp nhà cửa và tâm hồn để đón Chúa. Bạn thử hỏi lòng mình đi, Chúa là khách lạ, hay người bạn, hay là người Chủ? Tôi chẳng có gì để khuyên bạn cả, vì tất cả đều là ý Chúa. Nhưng nếu quả thực Chúa đã là chủ cuộc đời của bạn, thì tôi xin chúc mừng bạn. Xin chúc Bạn cùng gia quyến một mùa Giáng Sinh vui vẻ và tràn đầy ơn Chúa. Mùa Giáng Sinh 1995●
Cantique de Noël - O HOLY NIGHT - Đêm Thánh
Phạm Hoàng NghịChuyện kể về ca khúc “O Holy Night” khởi đầu ở nước Pháp, nhưng sau đã tràn ra khắp thế giới. Ca khúc thật giản dị này, phát khởi do lời yêu cầu của một linh mục, sau này đã trở thành một trong những ca khúc Giáng Sinh được ưa chuộng nhất mà còn đánh dấu một cuộc cách mạng kỹ thuật đã mãi mãi thay đổi phương thức truyền đạt âm nhạc đến quảng đại quần chúng. Vào năm 1847, Placide Cappeau de Roquemaure là một ủy viên thương chính phụ trách về rượu tại một tỉnh nhỏ nước Pháp. Ông ít đi lễ lạy tại nhà thờ nhưng lại có tài làm thơ. Và ông rất đỗi ngạc nhiên khi được cha chính xứ nhờ ông sáng tác một bài thơ để đọc trong thánh lễ Giáng Sinh. Tuy vậy, nhà thi sĩ cũng rất hân hạnh được thi thố tài năng cho giáo xứ. Trên chiếc xe ngựa lọc cọc lăn bánh trên con đường gồ ghề bụi bặm dẫn đến thủ đô Pháp quốc, Cappeau suy nghĩ về lời yêu cầu của vị linh mục. Bài thơ sắp sáng tác dĩ nhiên phải là một bài thơ đạo, trọng điểm là lễ Giáng Sinh, và dựa vào Thánh kinh. Ông đã dùng Phúc âm thánh Luca làm chỉ dẫn. Cappeau tưởng tượng ông đang chứng kiến việc Chúa hài đồng sinh hạ tại Belem. Ý nghĩ được hiện diện trong đêm cực thánh đó đã gây thi hứng cho ông sáng tác, và khi chiếc xe tới Paris thì ông đã hoàn thành bài thơ “Cantique de Noel” (Bài Ca Lễ Giáng Sinh). Hứng khởi với sáng tác của mình, ông quyết định đó không chỉ đơn thuần là một bài thơ mà còn phải là một ca khúc đuợc một nhạc sĩ tài ba phổ nhạc. Không có năng khiếu về âm nhạc, Cappeau tìm đến bạn mình là Adolphe Charles Adams để nhờ giúp. Adolphe sinh năm 1803, lớn hơn Cappeau 5 tuổi, là con một nhạc sĩ cổ điển thời danh và đã học tại nhạc viện Paris. Tới năm 1829 Adolphe đã hoàn thành nhạc kịch Pierre et Catherine. Tiếp theo sau thành công đó là Richard en Palestine, rồi đến các vũ khúc ballet viết cho các nhạc kịch Faust, la Fille du Danube, La Jolie Fille de Gand. Tài năng và danh tiếng lan rộng, ông đã được yêu cầu soạn hòa âm cho các giàn nhạc và vũ ballet trên khắp thế giới. Vậy mà bài thơ người bạn Cappeau trao cho ông lại là một thử thách khác xa những đơn đặt hàng đến từ Luân đôn, Bá linh hay St. Petersburg. Nghiên cứu bài thơ Cantique de Noël, Adolphe thấy toàn lời ca triển dương tinh thần Giáng sinh của Đấng Cứu thế. Là người gốc Do Thái, ông thấy những lời đó ca tụng một ngày lễ mà ông không mừng, một con người mà ông không nhận là con của Thượng đế. Nhưng thúc đẩy nhiều hơn bởi tình bạn với Cappeau, ông mau mắn và ân cần làm việc, cố gắng kết hợp những dòng nhạc với lời thơ đẹp của Cappeau và sau cùng hoàn thành một tác phẩm hài lòng cả nhà thi sĩ và vị linh mục chính xứ. Ba tuần lễ sau đó tác phẩm được trình bày trong thánh lễ nửa đêm Giáng Sinh. Cả ông thi sĩ lẫn nhà soạn nhạc đã không ngờ trước được những gì sẽ xẩy ra sau đêm đó. Khởi đầu, ca khúc đã được đón tiếp nồng nhiệt tại các giáo đường ở nước Pháp trong tất cả các nghi thức của ngày lễ Giáng Sinh. Nhưng khi Cappeau từ bỏ giáo hội để gia nhập phong trào xã hội, và các nhà chức trách trong giáo hội khám phá ra rằng Adolphe là một người Do thái, thì nhạc bản này - lúc đó đã lớn mạnh và trở thành bài ca Giáng sinh đuợc ưa chuộng nhất tại Pháp - lại đột nhiên bị giáo hội phủ nhận. Giới cầm quyền Giáo hội nước Pháp lúc đó tuyên bố rằng bản “Cantique de Noël” không thích hợp trong các nghi lễ tại giáo đường vì không có phong vị thánh nhạc và lời ca “hoàn toàn thiếu tinh thần tôn giáo.” Tuy giáo hội cố chôn bản nhạc, vậy mà giáo dân Pháp vẫn tiếp tục hát, và một thập niên sau, một nhà văn Mỹ đã đưa ca khúc này ra trước một thính giả mới nơi cách nước Pháp cả nửa vòng trái đất. Sanh ngày 13 tháng 5 năm 1813 tại Boston, John Sullivan Dwight đã tốt nghiệp trường đại học Harvard và trường Thần học. Ông trở thành mục sư giáo phái Unitarian tại Northampton, tiểu bang Massachusetts, nhưng do một nguyên nhân nào đó cứ mỗi lần giảng thuyết trước đám đông là ông trở bệnh. Bất hạnh này làm ông cứ phải giam mình trong nhà, không dám xuất hiện trước quần chúng và do đó không thể làm nhiệm vụ mục sư được. Là người rất thông minh và có tài, Dwight phải tìm cách khác để thi thố tài năng. Ông dùng khả năng viết lách để thành lập tờ báo chuyên về âm nhạc Dwight's Journal of Music. Suốt ba thập niên ông lặng lẽ làm việc, phê bình và đánh giá các nhạc bản một cách cẩn trọng. Tuy ông không xuất hiện được trước đám đông, nhưng một số các nhạc sĩ có tài và những người ưa chuộng âm nhạc vùng đông bắc nước Mỹ đã thích thú những bài viết có uy tín của ông. Trong lúc tìm kiếm các ca khúc mới để thẩm định, ông đọc đuợc “Cantique de Noël” nói trên bằng Pháp văn, và ông cảm thấy yêu mến ngay lời ca của bản nhạc này. Ông không chỉ thấy phải giới thiệu bản nhạc Giáng sinh tuyệt diệu này cho thính giả Mỹ mà còn cảm nhận trong thâm tâm rằng bài ca còn đi xa hơn câu chuyện Giáng Sinh của Chúa nữa. Là một người có tinh thần giải phóng rất cao, ông bày tỏ mạnh mẽ quan điểm của mình bằng những câu trong bài ca: “Quả thực, Người dạy ta yêu nhau. Luật của Người là tình thương, và Tin mừng của Người là hoà bình. Xích xiềng sẽ bị bẻ gẫy vì nô lệ là anh em ta, và nhờ danh Người sẽ thôi không còn áp bức.” Bản văn thể hiện trung thực quan điểm của ông về chế độ nô lệ ở miền Nam lúc đó. Người viết lời ca tin rằng Chúa đến để giải thoát mọi người và trong bản nhạc này mọi người thấy rõ thực tại đó. Giữ ý chính của nguyên tác, Dwight phiên dịch lời ca một cách tài hoa ra Anh ngữ, đem in trong báo của ông và xuất bản trong mấy cuốn sách âm nhạc thời đó. Bản nhạc mau chóng được quần chúng Mỹ ưa chuộng, đặc biệt là ở miền Bắc trong thời kỳ Nội chiến. Trở lại nước Pháp, mặc dầu bản nhạc “Cantique de Noël” bị cấm hát trong các nhà thờ gần hai thập niên, nhiều người vẫn hát tại nhà. Có một truyền thuyết kể rằng vào đêm trước lễ Giáng sinh năm 1871, giữa trận chiến ác liệt giữa quân đội Đức và Pháp trong chiến tranh Pháp-Phổ, một binh sĩ Pháp bỗng dưng nhảy ra khỏi hầm trú ẩn lầy lội. Binh sĩ cả hai bên nhìn chằm chằm vào anh chàng có vẻ điên khùng này. Tay không mang vũ khí, anh đứng ngang nhiên ngước mặt nhìn trời cất cao giọng hát những câu mở đầu của bản Cantique de Noel: “Minuit, chrétiens, C'est l'heure solennelle Où l'Homme Dieu descendit jusqu'à nous” (“Nửa đêm rồi, hỡi người giáo hữu. Đây là giờ trọng thể Con Chúa xuống trần đến với chúng ta”). Đến lúc đó thì một anh lính bộ binh người Đức trèo ra khỏi nơi trú ẩn và hát đáp lại: “Vom Himmel hoch, da komm'ich her. Ich bring'euch gute neue Mar, Der guten Mar bring'ich so viel. Davon ich sing'n und sagen will.” Đó là phần mở đầu ca khúc “Ta Từ Trời Xuống Thế” của Martin Luther. Chuyện kể rằng sau đó trận chiến ngưng lại 24 giờ đồng hồ cho binh sĩ hai bên cùng tạm thời hoà hoãn để mừng ngày lễ Giáng Sinh. Có lẽ câu chuyện này phần nào thúc đẩy giáo hội Pháp chấp nhận bản Cantique de Noel được xứng đáng hát lên trong các nghi lễ tôn giáo như trước. Vào ngày trước lễ Giáng sinh năm 1906, Adams người thi sĩ sáng tác bài thơ thì đã chết từ lâu, còn nhạc sĩ Cappeau và dịch giả Dwight thì đã già cả. Hôm đó, Reginald Fessenden, một giáo sư đại học Pittsburgh 33 tuổi và trước kia là chuyên viên hoá học phụ tá cho nhà bác học Mỹ Thomas Edison, đã thực hiện một chuyện mà từ lâu vẫn tưởng không thể làm được. Xử dụng một loại máy phát điện mới, Fessenden nói vào chiếc máy khuyếch đại và đó là lần đầu tiên trong lịch sử, tiếng nói của con người được truyền đi trên làn sóng không gian. “Và xảy ra trong những ngày ấy, có lệnh của hoàng đế Xê-da, là mọi người phải được kiểm tra”, ông cất cao giọng đọc thật rõ ràng, hy vọng tiếng nói truyền đi tới một địa điểm xa ông đã ước định trong thí nghiệm. Các chuyên viên vô tuyến trên các tàu biển và tại các toà báo thật ngạc nhiên và sững sờ khi thấy các làn sóng xung động thường ngày họ nhận được bằng mã số phát ra trên mấy chiếc loa nhỏ xíu bỗng nhiên bị ngưng lại và giọng nói của vị giáo sư phát ra khi ông đọc đoạn Tin mừng nói trên trong sách thánh Luca. Một số người lúc đó tưởng chừng là một phép lạ khi nghe đuợc, lần đầu tiên tiếng nói con người đuợc chuyển thành làn sóng điện và truyền đi đến một nơi xa. Một số người khác tưởng chừng họ nghe được tiếng nói của thiên thần. Fessenden có lẽ không biết được những cảm giác sững sờ ông gây ra trên các tàu biển và văn phòng báo chí vào lúc đó, ông không biết sự kiện nhiều người chạy vội đến máy vô tuyến để lắng nghe những âm thanh tưởng chừng như phép lạ đó. Thế nên, sau khi đọc xong đoạn Tin mừng, Fessenden nâng chiếc vĩ cầm của ông lên và chơi bản “O Holy Night”, bản nhạc đầu tiên được truyền đi trên làn sóng vô tuyến. Bản nhạc chấm dứt và buổi truyền thanh kết thúc. Vậy là âm nhạc đã tìm được một phương tiện mới để tràn lan khắp thế giới. ********** Từ buổi được hát lên lần đầu trong thánh lễ Giáng Sinh tại ngôi thánh đường nhỏ bé năm 1847, đến nay bản nhạc “O Holy Night” đã được hát lên hàng triệu lần tại các thánh đường trên khắp thế giới. Và từ buổi một nhóm người ít ỏi được nghe phát thanh lần đầu trên làn sóng vô tuyến, bản nhạc đã trở thành một trong những bài thánh ca được thu thanh và được trình diễn nhiều lần nhất trong kỹ nghệ âm nhạc. Tổng số đĩa nhạc do nhiều ban nhạc trình bày đã lên đến hàng chục triệu. Bản nhạc này, xuất phát do lời yêu cầu của một linh mục không tên tuổi, viết ra bởi một thi sĩ sau này lìa bỏ giáo hội, phổ nhạc bởi một người Do thái, và được mang đến quần chúng Mỹ vừa như một công cụ để soi chiếu tội ác của chế độ nô lệ vừa để tường thuật lễ Giáng sinh của Chúa, đã lớn mạnh để trở thành một trong những ca khúc đẹp tuyệt vời của mùa Giáng sinh.
1. Sau đây là lời ca của bản nhạc O HOLY NIGHT (bằng Anh ngữ): Oh holy night! The stars are brightly shining It is the night of the dear Savior's birth! Long lay the world in sin and error pining Till he appear'd and the soul felt its worth. A thrill of hope the weary world rejoices, For yonder breaks a new and glorious morn! Fall on your knees. Oh hear the angel voices. Oh night divine. Oh night when Christ was born Oh night divine. Oh night divine! Led by the light of Faith serenely beaming, With glowing hearts by His cradle we stand So led by light of a star sweetly gleaming, Here come the wise men from Orient land The King of Kings lay thus in lowly manger, In all our trials born to be our friend. Truly He taught us to love one another, His law is love and His gospel is peace. Chains shall He break for the slave is our brother, And in His name all oppression shall cease. Sweet hymns of joy in grateful chorus raise we, Let all within us praise His holy name.
2. Nguyên bản Pháp ngữ (do Gs Trần Duy Nhiên cung cấp): Minuit, Chrétiens! Paroles: Placide Cappeau de Roquemaure. Musique: Adolphe Adam 1847 Minuit! Chrétiens, c'est l'heure solennelle. Où l'homme Dieu descendit jusqu'à nous, Pour effacer la tache originelle Et de son père arrêter le courroux: Le monde entier tressaille d'espérance A cette nuit qui lui donne un sauveur. Peuple, à genoux attends ta délivrance, Noël! Noël! Voici le Rédempteur! Noël! Noël! Voici le Rédempteur! De notre foi que la lumière ardente, Nous guide tous au berceau de l'enfant Comme autrefois, une étoile brillante. Y conduisit les chefs de l'Orient Le Roi des Rois naît dans une humble crèche, Puissants du jour fiers de votre grandeur, A votre orgueil c'est de là qu'un Dieu prêche, Courbez vos fronts devant le Rédempteur! Courbez vos fronts devant le Rédempteur! Le Rédempteur a brisé toute entrave, La terre est libre et le ciel est ouvert Il voit un frère où n'était qu'un esclave L'amour unit ceux qu'enchaînait le fer, Qui lui dira notre reconnaissance? C'est pour nous tous qu'il naît, qu'il souffre et meurt: Peuple, debout! Chante ta délivrance, Noël! Noël! Chantons le Rédempteur! Noël! Noël! Chantons le Rédempteur! Ghi chú: Có điều ngạc nhiên là trong lời nguyên thủy này của Placide Cappeau de Roquemaure thì không thấy có câu nào khiến John Sullivan Dwight có thể dịch với nội dung như bài trên: “Quả thực, Người dạy ta yêu nhau. Luật của Người là tình thương, và Tin mừng của Người là hoà bình. Xích xiềng sẽ bị bẻ gẫy vì nô lệ là anh em ta, và nhờ danh Người sẽ thôi không còn áp bức.” Tạm dịch như sau: Đấng Cứu thế đã bẻ gãy mọi xích xiềng, Đất đã tự do và trời đã rộng mở, Ngài nhìn ra anh em mình nơi một người nô lệ, Tình yêu nối kết những ai bị xích xiềng, Ai nói được với Ngài lòng biết ơn của chúng ta? Vì tất cả chúng ta mà Ngài sinh ra, chịu đau khổ và chết đi: Dân Chúa Hỡi, hãy đứng lên, hát mừng sự giải thoát của ngươi. Noel, noel, ta hãy hát khen Đấng Cứu Độ. (Trần Duy Nhiên)●
Pierre Charles, SJ - Phạm Minh Thiện dịch (Calceao te caligas tuas) (Mets tes souliers) Có những đôi giầy nho nhỏ dịp lễ Giáng Sinh mà ngày xưa người ta thường nhắc tới trong những bài tình ca rất dễ thương, và đôi khi, các chú bé con bây giờ còn đặt trong lò sưởi ; nhưng, lạy Chúa, những chiếc giầy, đối với con, thì quá tầm thường, và con không thấy cám dỗ để tìm cảm hứng cho lời cầu nguyện của con nơi các tiệm đóng giầy. Thật ra, con không muốn nói điều gì có thể làm mích lòng những ông thợ chữa vá giầy. Nghề của họ thì rất đáng kính trọng; và mỗi khi con đi ngang trước các cửa hiệu của họ, con nhìn họ với một lòng đầy thiện cảm, Nhưng phải chăng có một cái gì bất kính, hay ít nhất là một điều bất nhã, mà tối hôm nay, cầm trong tay chiếc giầy lấm đất của con mà tìm nơi nó một bài học về sự cao cả kitô giáo và về sự thanh cao cho đời sống tâm linh! Nhung chiếc giầy của con, khi nào con không mang chúng, thì con xếp chúng dưới giường ngủ của con. Nhưng tại sao Chúa muốn con đi tìm nơi chúng, và cố gắng tìm nơi chúng những ý nghĩa cao cả và những lời khuyên khích để sống nhân đức? Người ta không hề nói đến giầy dép trong những lúc trò chuyện có tính tao nhã. Làm như thế là thiếu lịch sự ; thô tục là đàng khác; là thiếu giáo dục, như người ta thường nói. Và con thì không muốn lời cầu nguyện của con thiếu tế nhị, và con muốn có thái độ “đứng đắn” nữa, và nhất là khi cầu nguyện cùng Chúa. Thế nhưng, tại sau chiếc giầy hèn hạ này lại thu hút con? Phải chăng là ơn thánh Chúa đã dẫn con đến với nó, như đến một người bạn già mà lâu nay, trong sự vô ý thức đầy kiêu hãnh của con, con đã xem thường nó, vì nó không thể nói cho con nghe nỗi lòng bí ẩn của nó? Lạy Chúa, vì hiện giờ không ai thấy chúng ta, và Chúa con đang ở gần nhau, con muốn thử một cảm nghiệm, và con sẽ suy niệm, cầu nguyện từ chiếc giầy của con. Nó sẽ không kể cho con nghe những chuyện gì lạ lùng. Nó không có một mặc khải nào để chia sẻ với con và làm con sửng sốt. Nhưng khi nhìn đến nó, những chân lý rất đơn giản đối với con, giờ này, lại mang sắc thái của những hồi ức đã lãng quên từ lâu rồi. Ông Gioan Tẩy Giả, khi loan báo cho đám đông dân chúng về Chúa như là Ðấng Cứu Thế, đã nói đến đôi giầy Chúa đang mang, phải, về đôi giầy của Chúa, mà ông nghĩ ông không xứng đáng để cởi dây; và là chính Chúa Thánh Thần đã khởi hứng cho ông những lời có tính ngôn sứ này. Cởi dây giầy: thì điều này, lạy Chúa, con làm hằng ngày, mà không ngờ rằng trong cử chỉ khiêm hạ ấy, lại có những phản ánh về Tin Mừng, và nhắc nhở đến việc Chúa ngự đến. Các chiếc giầy! nhưng khi ông Môsê đang chăn giữ đàn cừu cho ông bố vợ của mình ở đất Madian, và khi ông muốn đến gần bụi gai kỳ diệu đang bốc cháy mà không tàn, Kinh Thánh đã nói cho chúng con nghe rằng, chính Thiên Chúa đã truyền lệnh cho ông phải cởi giầy ra : solve calceamentum de pedibus tuis, vì đất ông đang đạp trên là đất thánh. Thiên Chúa đã quan tâm đến những đôi giầy; và sự khinh mạn của anh chàng thi sĩ dõm là con đã ngăn cản con lấy đôi giầy làm đề tài cho lời cầu nguyện của con! Khi tông đồ Phêrô của Chúa đang bị xiềng hai chân (catenis duabus), trong nhà tù của Hêrôđê tại Giêrusalem, được một thiên thần đến thúc một cú vào cạnh sườn (percussis latere Petri) có lẽ ông Phêrô hơi ngạc nhiên nghe thiên sứ ra lệnh cho ông nhân danh Chúa, là hãy xỏ giầy của ông vào chân: calcea te caligas tuas. Và khi Chúa sai các môn đệ của Chúa đi mọi nẻo đường xứ Palestin, Chúa đã quy định hành trang của các ông và Chúa đã nói đến các đôi giầy. Tại sao con lại để các chiếc giầy qua một bên trong những khi con cầu nguyện? Những đề tài trừu tượng mà con đã vật lộn với chúng để suy nghĩ, có được sự hùng hồn bình dị của một chiếc giầy đã từng rong rủi trên đường với con, đã hao mòn như con và vì con, và nó là món quà mà Sự Quan phòng của Chúa đã ban cho con chăng? Vì chiếc giầy là đến từ Chúa, nên nó cũng có thể hiến dâng lại cho Chúa. Lạy Chúa, con dâng nó lên Chúa, khi nghĩ đến hàng ngàn hàng vạn anh em con đã đi chân không trên mọi nẻo đường của trái đất chúng con đang sống, trên cát sỏi, trên núi đá, trong sình lầy hay trong ruộng lúa; khi con nghĩ đến hàng ngàn, hàng vạn người hành hương, xưa kia đã khấn hứa đi không mang giầy, đến tận những thánh địa xa xôi, trong tay chỉ có chiếc gậy, để xin được ơn tha thứ tội lỗi của họ. Giầy là đồ trần tục, là vật tầm thường? Nhưng con nghĩ trong sách Nghi thức Rô-ma, có một kinh riêng cho những chiếc giầy khi vị giám mục xỏ vào trước khi hành lễ. Một giáo sĩ quỳ hai gối, nâng cuốn sách mở ra, trong khi vị giám mục ngồi trên tòa ở cung thánh, và người ta trịnh trọng xỏ giầy vào chân ngài. Và ngày Thứ Sáu Thánh, khi thờ kính Thánh Giá, các vị chủ sự cởi giầy ra trước khi quỳ xuống để hôn những vết thương của Ðấng Cứu Thế. Và con còn nhớ bài thánh ca này của thời Trung cổ, trong ấy người ta nhắc đến Mẹ của Ngôi Lời nhập thể, như là chiếc thang mà chính Thiên Chúa đã dùng để bước xuống “sau khi đã mang giầy vào” vì con đường mà Người phải rong ruổi trên thế giới này có dấu hiệu là rất cam go và khó nhọc. Haec est scala qua descendit Calceata deitas... Lạy Chúa, đời sống nội tâm của con đã tục hóa lúc nào mà con không hay. Thay vì đưa ý nghĩ về Chúa, kỷ niệm về Chúa, sự hiện diện của Chúa hòa vào tất cả những sự vật hiện diện chung quanh con, và nó làm nền tảng cho cuộc sống của con, thì con lại quen lờn mà xem chúng như những thực tại phàm tục. Con có cao vọng lướt thoáng trên chúng, quên chúng đi, để đi tìm tìm kiếm Chúa, ở một nơi xa xôi nào đó, trong những ý tưởng. Nhưng con đã đánh mất hết từng cơ hội một để gặp Chúa mà Sự Quan Phòng của Chúa đã ban cho con, suốt đọc đường đời của con và theo chuỗi thời giờ Chúa cho con sống. Nếu con có lòng khiêm hạ hơn, trung thực hơn, ít sống theo thói đời thường tình hơn, và ít cao ngạo hơn, thì lời kinh của con sẽ không chỉ là việc làm của lý trí và có tính triết học; lúc ấy lời kinh ấy chiếm lĩnh chính những quan năng của con cách hồn nhiên, bắt lấy được mọi khả năng xúc cảm của con, mọi sức quyến rũ của con, mọi điều làm con khoái trá mà hòa nhịp đời con theo cảnh sắc hài hòa của tạo thành của Chúa. Ngày xưa, trong Giáo Hội của Chúa, nhiều nhân vật rất đạo đức đã bàn cãi rất nhiều về những chiếc giầy, và những Dòng tu rất đáng kính đã chia rẽ nhau vì những Dòng này muốn giữ tục lệ đi giầy, còn những Dòng khác thì muốn đi chân không. Quả là những tranh cãi lớn lao chung quanh một vật rất tầm thường. Tối nay, lạy Chúa, chiếc giầy của con chỉ khơi lên nơi con lòng biết ơn, và với tất cả tấm lòng của con, để nhớ đến Chúa, con muốn hôn nó cách nhẹ nhàng như là một di vật thánh● (còn tiếp) Trích La Prière de toutes les choses, trg 81-85 (Cầu nguyện từ mọi sự vật)
NGƯỜI ĐẠO SĨ THỨ I Một buổi tối trong mùa Giáng Sinh, một cậu bé độ sáu bảy tuổi đứng trước một cửa hàng. Cậu bé không mang giày và quần áo thì tơi tả. Một phụ nữ trẻ đi ngang qua, nhìn thấy em và đọc được ước mơ trong đôi mắt của em. Cô nắm tay em đưa vào cửa hàng. Cô mua cho em một đôi giày và một bộ đồ mới. Khi ra lại ngoài đường, người phụ nữ nói với em: “Bây giờ cháu có thể về nhà và sống những ngày Lễ Giáng Sinh thật vui nhé!” Em bé nhìn lên hỏi cô: “Cô ơi! Cô có phải là Chúa không?” Người phụ nữ mỉm cười nói: “Không em à. Cô chỉ là một trong những người con của Chúa thôi!” Cậu bé thốt lên: “Em biết ngay mà! Em biết là cô có họ hàng với Chúa mà!” Dan Clark (Are you God?)
NGƯỜI ĐẠO SĨ THỨ II Một cậu bé từng mong gặp được Chúa. Cậu nghĩ rằng đường đến gặp Chúa hẳn là xa, nên cậu bỏ vào ba-lô nhiều hộp bánh, vài lon nước ngọt và bắt đầu lên đường. Khi cậu đi được vài ô nhà, cậu thấy một bà lão. Bà ngồi trên ghế đá công viên nhìn những con chim bồ câu đang vui đùa. Cậu bé đến ngồi cạnh bà và mở ba-lô ra. Cậu định lấy một lon nước ngọt để uống, nhưng khi thấy bà lão có vẻ đói, cậu tặng bà vài chiếc bánh. Bà nhận lấy và mỉm cười với cậu. Nụ cười bà thật tươi nên cậu muốn nhìn thấy một lần nữa, vì thế cậu tặng thêm bà lon nước ngọt. Bà lại mỉm cười và cậu bé cảm thấy sung sướng. Họ ngồi cạnh nhau suốt buổi chiều mà chẳng nói với nhau một lời. Khi hoàng hôn xuống, cậu bé thấm mệt nên muốn về nhà. Cậu đứng đậy bước đi vài bước, rồi bỗng quay mặt chạy lại cạnh bà lão, ôm hôn bà. Bà mỉm cười với cậu với khuôn mặt rạng rỡ hơn bao giờ hết. Về đến nhà, mẹ cậu ngạc nhiên vì thấy cậu thật vui. Bà hỏi: “Cái gì hôm nay làm con vui như thế?” Cậu đáp: “Con đã ăn trưa với Chúa.” Mẹ cậu chưa kỉp phản ứng thì cậu đã nói thêm: “Mẹ biết không? Chúa có một nụ cười dễ thương nhất trên đời!” Trong khi đó bà lão cũng về đến nhà, gương mặt rạng rỡ niềm vui. Con của bà ngạc nhiên nhìn gương mặt tươi rói của bà. Cô hỏi: “Mẹ ơi, điều gì hôm nay làm mẹ vui như thế?” Bà đáp: “Mẹ đã ăn bánh với Chúa ngoài công viên!” Người con chưa kịp phản ứng gì thì bà nói tiếp: “Con biết không? Chúa trẻ hơn là mẹ nghĩ nhiều!” Julie A. Manhan (An Afternoon in the Park)
NGƯỜI ĐẠO SĨ THỨ III Thoạt nhìn, bà ta cũng giống như bất cứ một bà lão nào khác. Bước đi chậm chạp trên tuyết, một mình, xơ xác, đầu cúi gục. Những người qua lại trên hè phố đông người ngoảnh mặt đi, ít ra là bà cũng nhắc họ rằng đau khổ không hề tạm dừng trong mùa Giáng Sinh Một đôi vợ chồng trẻ, cười cười nói nói, tay ôm đầy quà Giáng Sinh, không để ý đến bà lão kia. Một người mẹ hối hả đưa hai đứa con về thăm bà ngoại. Họ cũng không để ý đến bà. Một mục sư chững chạc bước đi, tay phải cầm chặt quyển Kinh Thánh, như một chiến sĩ cầm vũ khí. Nhưng đầu óc ông đang nghĩ đến những sự trên trời, nên ông cũng không màng lưu ý đến bà. Nếu những người ấy lưu ý, hẳn họ thấy rằng bà lão không mang giày. Bà đi chân không trên tuyết và nước đá. Hai bàn tay bà nắm chặt vào cổ áo đứt nút để che cho khỏi gió. Bà đừng lại và đứng lom khom ở trạm xe buýt. Đầu bà quấn một chiếc khăn màu đỏ xanh. Bà đứng chờ xe buýt để đi vào trung tâm thành phố. Một người đàn ông lịch lãm, tay cầm chiếc cặp da, đứng cạnh bà, nhưng không quá gần. Biết đâu bà chẳng mang một bệnh truyền nhiễm. Một em thiếu nhi cũng chờ xe buýt. Em nhìn đi nhìn lại chân của bà lão, nhưng không nói tiếng nào. Xe buýt đến và bà lão chậm chạp, khó khăn bước lên. Bà ngồi trên ghế ngang cạnh người lái xe. Người đàn ông và cậu bé đi vội xuống phía dưới. Người đàn ông ngồi cùng ghế với bà lắc lư khó chịu và xoay mấy ngón tay. “Cái bà già!” ông nghĩ thế! Người lái xe nhìn thấy chân không của bà, bèn nghĩ: “dân vùng này càng ngày càng nghèo thêm. Tôi ghét nhìn cảnh này, tôi sẽ thích hơn ngày nào họ cho tôi lái tuyến đường Đại Học.” Một cậu bé chỉ vào bà lão. ”Mẹ ơi! Nhìn kìa, bà già kia đi chân không” Người mẹ bối rồi nắm tay con kéo xuống: “Andrew! Đừng chỉ tay về người khác. Như vậy là không lịch sự.” Rồi bà nhìn ra cửa sổ. “Bà này hẳn có con lớn chứ!” một phụ nữ mặc áo lông cừu thốt lên. “Con bà chắc phải xấu hổ vì bà!” Phụ nữ này cảm thấy hãnh diện vì cô chăm sóc mẹ mình đàng hoàng. Một cô giáo ngồi ở giữa xe siết chặt gói quà trên đùi mình. Cô nói với người bạn ngồi bên cạnh: “Chẳng phải là mình đã trả đủ thuế để lo cho những trường hợp này sao?” Cô bạn trả lời “Đấy là sai lầm quản trị của phe Cộng Hòa; họ ăn cắp của người nghèo để cung cấp cho người giàu”. Một ông tóc muối tiêu can thiệp: “Không phải đâu! Đấy là do phe Dân Chủ. Các chương trình an sinh xã hội của phe Dân Chủ biến người ta thành kẻ lười biếng và cầm tù người ta trong cái nghèo!” Một cậu sinh viên ăn mặc bảnh bao lên tiếng: “Người ta phải học cách tiết kiệm! Nếu bà già này biết tiết kiệm từ hồi còn trẻ, thì bây giờ bà đâu khổ đến thế. Lỗi là do bà ta thôi!” Tất cả những người ấy cảm thấy tự hào vì mình đã phân tích tình huống thật sắc sảo. Tuy nhiên, một thương gia có lòng cảm thấy xúc phạm vì sự thờ ơ của các người cùng xe với mình. Ông mở ví rút ra một tờ 20 đô-la nhăn nheo. Ông khẳng khái bước lên và đặt tờ giấy bạc trong bàn tay run run của bà lão. “Bà ơi, tặng bà để mua giày nè.” Bà lão gật đầu cám ơn. Người thương gia lui về ghế ngồi, hài lòng vì thấy rằng mình là một người biết biến lòng trắc ẩn thành hành động. Một nữ Kitô hữu nhìn thấy mọi sự. Cô bắt cầu cầu nguyện thinh lặng. “Lạy Chúa, con không có tiền. Con không thể nào giúp được bà ấy. Nhưng lạy Chúa, con có thể dâng lên Chúa những nhu cầu của con người. Con biết Chúa đầy lòng yêu thương. Chúa làm được những điều bất khả. Xin Chúa hãy tỏ hiện vinh quang Người trên bà lão này. Xin cho đôi giày rơi xuống từ trời như man-na xưa, để cho bà lão này có được đôi giày mừng Giáng Sinh.” Và người phụ nữ cảm thấy mình biết sống đời cầu nguyện. Đến trạm tiếp theo, một cậu thanh niên lên xe. Cậu mặc một chiếc áo gió màu xanh, thắt một khăn choàng màu nâu quanh cổ, đầu đội chiết mũ xám che phủ đôi tai. Một sợi dây nghe nhạc chạy luồn dưới nón vào tai nối liền với một máy nghe walkman. Cậu lắc lư thân mình theo điệu nhạc mà chỉ một mình cậu nghe. Cậu trả tiền vé rồi buông người xuống đối diện với bà lão. Nhìn thấy đôi chân không của bà, cậu ngưng lắc lư. Cậu thẳng người bất động.Cậu đưa mắt nhìn chân bà rồi nhìn chân mình. Cậu mang một đôi giày hiệu, đắt giá, mới toanh. Hẳn cậu đã phải đề dành khá lâu với đồng lương ít ỏi để mua đôi giày ấy. Bạn bè trong nhóm chắc sẽ cho rắng cậu rất ‘bảnh’ khi mang đôi giày này. Cậu cúi mình xuống, tháo dây giày. Cậu cởi đôi giày mới, cởi đôi vớ đang mang rồi quỳ xuống dưới chân bà lão. “Má ơi! Con thấy má không có giày. Còn con thì có đây!” Dịu dàng, anh nhè nhẹ nâng đôi chân khẳng khiu của bà lão lên. Anh mang vớ và giày của anh vào chân bà. Bà lão gật đầu cám ơn. Xe buýt dừng lại ở một trạm kế tiếp. Cậu thanh niên xuống xe. Hành khách trên xe chồm theo nhìn cậu ta bước đi chân không trên tuyết. Một người hỏi: “Anh ta là ai vậy hả?” Một người khác đáp: “Chắc là một ngôn sứ!” Người khác lên tiếng: “Hẳn là một ông thánh” Có người hô to lên: “Xem kìa! Có ánh hào quang trên đầu anh ta” Người nữ Kitô hữu bảo: “Anh ta chắc là Con Chúa.” Nhưng cậu bé từng chỉ tay vào bà lão lại nói: “Không phải đâu mẹ ơi! Con nhìn kỹ anh ấy rồi... Anh ấy chỉ là một người thôi!”● Earnest Thompson (Only A Man)
Thanh Thanh Tonight – it feels like every desolate winter’s night, It is bitterly cold, one yearns for the hearth’s warmth, curling up under a warm blanket on a cozy mattress, watching a timeless romantic movie, soaring with the stirrings of sonorous strings, tasting the fiery spiced liquor, sniffing the cigar’s aroma, savoring the creamy sweetness of a cake.
No one cares about the never ending, pointless war, a mother shedding bitter tears over the loss of her adolescent son, a wife burying her husband’s corpse that cold, bleak evening her grief-torn heart tormented by their daughter’s plaintive voice asking, “Where is daddy?”
No one cares about the tsunami that came on that Christmas day, Distant memories becoming hazy and soon forgotten, one hears no rippling waves once the boat has sailed through not unlike the war thirty years past, now silent and forgotten.
The Prince of Peace has made his home in this world but yet, where is peace and goodwill to be found? why is poverty even around? and anger, hatred and animosity still abound?
The manger has no room for a stranger Where should the homeless go to seek rest and shelter? Are they condemned to wander aimlessly with the chilly wind for company their unfed bellies going hungry?
The manger glows brightly in every parish church, Christmas trees soar upward in hotels everywhere, Does anyone remember the multitudes separated from their homeland, A “beautiful home” lost – who still pines for or reminisces?
By the manger, Gathering hordes murmur approvingly: beautiful pine trees, bright and sparkling lights, lovely ornaments and decorations…
Yet, the real Christmas Gift lies within their gaze, beckoning them, inviting them to open it. Perhaps this Christmas some might do so, allowing the Gift to touch their lives once more●
MÓN QUÀ CHƯA MỞ…
Đêm nay cũng như mọi đêm, Trời se lạnh, ai cũng muốn về nhà sớm, Trùm chăn ấm, nằm nệm êm Mắt theo dõi phim truyện truyền hình Tai thả hồn theo tiếng nhạc du dương Chút nồng cay của rượu, của thuốc thơm Thêm vị ngọt của bánh vừa chín tới.
Chẳng ai muốn biết đến chiến tranh còn dang dở, Có người mẹ khóc con bỏ mình tuổi chưa đến đôi mươi Hay người vợ vừa chôn chồng trong buổi chiều giá lạnh Tủi thân ôm con gái còn bé tí cứ hỏi ba đâu?
Chẳng ai muốn biết bão tsunami ngày nào còn dấu vết Hay đã là quá khứ xa xôi – không nhắc lại làm gì thuyền qua sông lâu rồi không còn nghe tiếng sóng chiến tranh hơn ba mươi năm trước giờ chẳng còn dư âm.
Thế giới đã bình yên chưa? Vua Hoà Bình đã đến bên nhà rồi Mà vẫn còn người đói, thù hận chất chồng như ngày nào...
Chẳng còn hang bò lừa để trú thân, Người vô phước không nơi nương náu Chỉ nghe tiếng gió của bầu trời đêm lạnh lẽo Bụng cồn cào chẳng bước được nhịp đôi.
Máng cỏ nhà thờ rực sáng đẹp biết bao, Khách sạn cao tầng có cây thông cao vút Nào ai hay có lắm kẻ xa nhà Quê hương diệu vợi – không còn ai…
Bên máng cỏ, Người ta trầm trồ: cây thông đẹp quá Đèn sáng choang, tượng đúc khéo là… Nhưng món quà Giáng Sinh chẳng ai buồn mở Hài Nhi Giê-su mãi không lớn bao giờ Cứ nằm trong máng cỏ rào kẽm gai Của tấm lòng chai đá hận thù nhiều thành kiến.
Món-Quà-Hài-Nhi ơi sao thân thương chi lạ, Mời gọi người mở ra đón nhận Chúa vào đời Tay đan tay cho tình yêu nối dài - lớn mãi
Để Giáng Sinh này sẽ vẫn như hôm nao Lửa tình yêu - một lần nữa - cháy lên trong lòng người lữ thứ● ¶ 932. Mẹ Maria nghèo khó, không tiền không bạc, có lúc không nhà cửa, không ghế bàn, Mẹ không biết giảng, nhưng Mẹ có món quà quý nhất để cho các mục đồng ở Bêlem, ba vị đạo sĩ phương đông, Simêon và Anna ở đền thánh…Mẹ đã thinh lặng cho họ Chúa Giêsu, món quà mà chỉ Mẹ có, món quà ấy giảng thay cho Mẹ, vì đó là Ngôi Lời. 934. Lòng con rộng bao la, nhưng túi con có giới hạn, chỉ có một món quà con còn có thể cho luôn, một quà tặng thỏa lòng con, một quà tặng quý không ai có thể mua nổi, một quà tặng tốt không gì sánh bằng: hãy cho họ Chúa Giêsu như Mẹ Maria.
XIN CHÚC TỤNG ĐẤNG TÌNH YÊU TỰ HUỶ Trần Duy Nhiên
Con có thể kính Ngài nơi cao trọng và trang hoàng với những thứ xa hoa Thế nhưng con đặt Chúa trên sàn nhà để chúc tụng Đấng Tình Yêu Tự Hủy
Vợ chồng con quỳ bên Ngài, thờ lạy Như mục đồng nơi hang đá Bê lem Đến với Ngài lặng lẽ giữa màn đêm Bàn tay trắng và cõi lòng trống rỗng Chúa là Đấng làm đầy mọi khoảng trống Xin tái sinh trong máu huyết chúng con Để mai này, tràn ngập Chúa trong lòng Chúng con tỏa Tình Yêu cho nhân thế...
CHÚA LẠI NHẬP THỂ TRONG HÌNH HÀI BẠN Trần Duy Nhiên Chúa Giêsu đã nhập thể một lần nghĩa là Ngài còn tiếp tục nhập thể mãi trong lịch sử cứu độ. Thế nhưng ngày nay, ngài không mang lấy hình hài của riêng mình mà mang lấy hình hài của Kitô hữu. Nếu Mùa Giáng Sinh này, Ngài nhập thể lại trong hình hài bạn, thì Ngài sẽ làm gỉ? Đó là câu hỏi đặt ra cho mỗi người. Và sau đây là câu hỏi được đặt ra cho một cô gái đang suy nghĩ về ơn gọi tận hiến của mình.
Hoa Cái gì? Thảo nói cái gì? Thảo Mình quyết định đi tu. Hoa Thảo đùa đấy à? Thảo Không, mình nói chuyện nghiêm túc đấy. Hoa Nhưng tại sao bỗng dưng Thảo lại có ý định kỳ quặt đó? Thảo Sáng nay, khi các chị đọc lời khấn, mình bỗng cảm thấy rằng cuộc sống mình chỉ là những múa may quay cuồng vô nghĩa nếu không tận hiến cho Chúa. Hoa Thảo ý thức về cuộc đời tận hiến thì mình hiểu. Nhưng tại sao Thảo lại quyết định đi tu? Thảo Nếu không đi tu thì làm sao sống đời tận hiến? Hoa Ơ kìa ! Chúa Yêsu có đi tu đâu? Đức Mẹ có đi tu đâu? Thế mà ai dám nói rằng Chúa Yêsu và Đức Mẹ không sống đời tận hiến? Thảo Mình không phải là Chúa Kitô, cũng chẳng phải là Đức Mẹ. Chước cám dỗ về tội kiêu ngạo và giả hình nguy hiểm nhất là tưởng rằng mình đủ sức để hành động như Chúa Yêsu và Đức Mẹ, trong khi mình chỉ là một kẻ yếu đuối, tội lỗi, một con người chẳng ra gì. Hoa Nhưng dù sao đi nữa, nếu Thảo đi tu là Thảo phản bội. Thảo Phản bội anh Phương à? Không đâu Hoa. Mình sẽ yêu anh Phương với tình yêu mà Chúa Yêsu đã yêu thương Maria và Matta: một tình yêu trọn vẹn nhưng vô vị lợi. Hoa Không ! Mình muốn nói là Thảo phản bội Chúa Kitô cơ. Thảo Hoa nói gì mình không hiểu. Làm sao đi tu mà lại phản bội Chúa Kitô? Hoa Hiện nay, Ngài đặt Thảo làm y tá trong bệnh viện và đó là nơi mà Ngài muốn Thảo tận hiến cho Ngài. Ngài đang quằn quại trên các giường bệnh, vậy mà Thảo muốn bỏ rơi Ngài mà đi tu. Mình đã từng sống gần các xơ. Mình biết rằng càc xơ chỉ thao thức một điều là phục vụ những người cùng khổ. Vì vậy mình không đi tu, mình làm y tá. Thảo Nhưng phục vụ với tư cách là một công nhân, và phục vụ với tư cách là một nữ tu thì khác hẳn chứ. Hoa có để ý đến một người thường đến khoa ngoại để thăm nuôi không? Chị ấy không có một thân nhân nào cả. Đó là một nữ tu dùng mọi giờ rảnh của mình đến phục vụ không công cho những người không ai chăm sóc và không thể tự lo liệu về những nhu cầu vệ sinh tối thiểu. Mình nhìn chị ấy mà tự hỏi: Đến bao giờ mình mới phục vụ như thế? Phục vụ không lương bổng, không giấy khen, không danh hiệu... Phục vụ không một phần thưởng nào ngoài việc biết rằng mình đang phục vụ Chúa Kitô. Thế thôi. Hoa Có ai cấm Thảo phục vụ trong tinh thần đó đâu? Ngược lại nếu Thảo đi tu là Thảo bỏ lở cơ hội và tự trói buộc mình vào luật lệ Nhà Dòng, vào luật lệ xã hội. Chắc gì Nhà Dòng cho phép Thảo tiếp tục phục vụ ở bệnh viện? Chắc gì bệnh viện nhận một người đã từng bỏ việc? Thảo Điều đó có gì là quan trọng đâu? Đã là một nữ tu, thì phục ai, phục vụ ở đâu cũng là phục vụ cho Ngài cơ mà. Hoa Đức Kitô cần Thảo sống cuộc đời của Thảo. Đức Kitô chỉ giáng trần một lần, chỉ đau khổ 33 năm, chỉ chết có một cách. Nhưng Ngài cần tận hiến đủ mọi cách, đau khổ đủ mọi cách, yêu thương đủ mọi cách. Ngài chưa thể yêu thương như một người vợ, một người mẹ. Ngài chưa thể lo âu vì cuộc sống khó khăn của một đôi vợ chồng công nhân viên... Nếu Thảo muốn tận hiến cho Ngài, Thảo hãy tận hiến cho bác sĩ Phương, tận hiến cho con cái mình, tận hiến cho các bệnh nhân... và chia sẻ cuộc sống bấp bênh của hằng triệu người đang chạy ăn từng bữa trên đất nước này. Thảo Nhưng còn những cái ngoài dự kiến chứ? Có thể một trở ngại nào đó khiến anh Phương và mình không đi đến hôn nhân, và thế là viễn ảnh tận hiến của Hoa biến thành mây khói. Hoa Đúng. Chuyện gì cũng có thể xảy ra. Mình không cầu mong điều ấy, nhưng giả sử Thảo không lập gia đình và sẽ suốt đời sống độc thân thì đó cũng là một con đường Chúa cắt đặt riêng cho Thảo. Sống độc thân và hiến tế đời mình giữa trần thế, cũng là một ơn gọi đặc biệt của nhiều người nữ trong thời đại này. Nếu Thảo ý thức đó là ơn gọi, một ơn gọi cũng cao trọng như ơn gọi hôn nhân hay ơn gọi tu trì, thì thay vì chua chát cam phận, Thảo sẽ phấn khởi bình an. Thảo Hoa đừng có nói lý thuyết. Hãy nhìn vào thực tế đi. Hãy nhìn bao nhiêu ngưới vợ, người mẹ, bao nhiêu phụ nữ sống độc thân chung quanh mình. Hoa trả lời xem: Họ có được cái phấn khởi bình an của các nữ tu không? Hay ngược lại? Hoa Đó là một thực tế đau lòng. Nhưng lỗi tại ai? Trong mỗi thánh lễ, chúng ta xác tín: “Thật là chính đáng và công bình được cảm tạ tôn vinh Chúa mọi lúc, mọi nơi...” Thế thì có lúc nào, có nơi nào quá thấp hèn, quá trần tục khiến chúng ta không thể tôn vinh Chúa được? Ngược lại là đàng khác. Thảo hãy nhìn lịch sử Giáo Hội: Một bà mẹ Mônica đã trở thành nữ thánh. Thảo hãy nhìn xem dấu hiệu của thời đại: Chị Chiara Lubich đã và đang châm ngọn lửa Thánh Linh thành một phong trào tràn lan mặt đất. Họ là những người vợ, người mẹ, những người sống độc thân giữa đời, và họ không hề thiếu phấn khởi bình an. Điều đau lòng không phải vì Chúa coi nhẹ người giáo dân. Điều đau lòng là khi một người có ơn gọi tu trì thì bỏ ra 5 năm, 7 năm, 10 năm để suy tư, cầu nguyện, xác định và chuẩn bị đáp trả ơn gọi của mình. Thế nhưng khi một người được ơn gọi trở nên vợ, chồng, cha, mẹ, hoặc sống độc thân giữa đời, thì không buồn bỏ ra 7 ngày, thậm chí 7 giờ để chuẩn bị đáp trả ân sủng đó. Thảo thấy không... Thảo Thôi ! Thôi ! Hoa đừng nói nữa. Hoa Không ! Mình không thể không nói được. 30 năm Công Đồng rồi. 30 năm trời Giáo Hội và hàng giáo phẩm không ngừng kêu gào đến chức vụ “tư tế, tiên tri và vương đế” của người giáo dân. Thế mà chúng ta, những người giáo dân, chúng ta vẫn thấy mình là loại Kitô hữu hạng phế phẩm, những người sống cuộc đời quá trần tục - Vâng, trần trụi và tục tằn - Chúng ta vẫn mang cái não trạng của thời trung cổ. Chúng ta không ý thức nỗi rằng chúng ta được kêu gọi, được sai đi... Vấn đề không phải là sai đi đâu, làm cái gì... vấn đề là chúng ta được chính Thiên Chúa sai đi. Chúng ta đánh giá sai ơn gọi của mình đồng thời đánh mất niềm vui cùng lòng tự hào. Nhưng đã đến lúc Thảo phải ý thức ơn gọi đích thực của mình. Nếu Đức Kitô muốn nhập thể lại trong hình hài của Thảo ngày hôm nay, trong lòng xã hội này, liệu Ngài muốn Thảo sống giữa thế gian hay sống trong tu viện? Thảo Mình có cảm giác là Hoa lý sự cùn, cốt để thuyết phục mình từ bỏ ơn gọi. Hoa Nếu Thảo cho rằng mình lý sự cùn thì thôi vậy. Mình để Thảo suy nghĩ một mình. Có điều , vì tình bạn trong Chúa Kitô, mình nhắc Thảo điều này: Có những người chỉ có thể tận hiến bằng con đường tu trì... Nhưng còn Thảo? Thảo đi tu để làm chi? Phải chăng là để một người yêu đau khổ? Để bỏ rơi những bệnh nhân đang cần tới mình, để trốn tránh những lo toan vật chất khắc nghiệt, để trao lại bề trên nhiệm vụ quyết định công việc thay mình, để tự ru ngủ trong bộ tu phục, trong những giờ cầu nguyện và tự đánh lừa bằng cách nói rằng mình sống đời tận hiến? Chúa đã dạy: “ Hãy thức tỉnh. Hãy theo ta. Hãy ra đi”. Chưa bao giờ Ngài dạy: “Hãy ngủ yên. hãy chạy trốn. Hãy đi tu”. Thôi, mình về đây... (Hoa vào) Thảo Không. Không. Lạy Chúa, Chúa biết đó... Hoa sai rồi ! Đi tu không bao giờ là chạy trốn. Nhưng lạy Chúa, con phải tận hiến cho Chúa ở đâu? Ở tu viện? Ở ngoài đời? Con đang đứng trước ngã ba đường. Con phải làm gì? Lạy Chúa. Chúa muốn con làm gì?● Trích kịch bản: Trước Ngã Ba Đuờng
Maranatha sưu tầm Hằng năm, cứ đến Giáng Sinh, Hài Nhi Giê-su thường đi một vòng rảo qua khắp các làng mạc và đô thị để tặng quà cũng như nhận quà và phân phát cho những ai cần đến. Năm nay, tại một đô thị nọ, Ngài đang cần một món quà không dễ tìm ra: đó là một quả tim lành mạnh để thay thế quả tim của một người bệnh đang hấp hối. Bệnh nhân có quả tim gần như ngừng đập này là một nhân vật nổi tiếng trong cả nước: đó là bộ trưởng tài chính! Tất cả các bác sĩ trong nước đều bó tay. Cuối cùng, họ mới chạy đến với Hài Nhi Giê-su, vì tin tưởng rằng ít ra trong đêm Giáng Sinh, Ngài sẽ làm một phép lạ. Nhưng Hài Nhi Giêsu trả lời với các bác sĩ: “Không phải Ta là người phải làm phép lạ, nhưng chính là lòng quảng đại của một người dâng hiến quả tim của mình.” Tin tưởng ở lòng người, Hài Nhi Giê-su đã đến gõ cửa nhà của thân nhân, bạn hữu của vị bộ trưởng. Họ đang mừng lễ Giáng Sinh: cây Giáng Sinh của họ đầy những hoa đèn và quà tặng, bàn ăn của họ đầy những thịt rượu và của ngon vật lạ. Họ đang ăn uống say sưa... Vừa thấy Hài Nhi đứng trước nhà, họ tưởng Ngài là một cậu bé vô lại đến phá đám, cho nên đã tống khứ Ngài đi càng sớm càng tốt. Hài Nhi Giê-su buồn bã bỏ đi... Nhưng Ngài vẫn chưa thất vọng về tình người. Lần này, Ngài đến gõ cửa nhà của những người thân cận vị bộ trưởng. Họ là những người đã từng bán đứng lương tâm, chối bỏ phẩm giá của mình để tìm kiếm lạy lục một chút cặn bã của vinh hoa, lợi lộc phù phiếm. Hài Nhi Giê-su nghĩ thầm ít ra đây cũng là dịp để họ tỏ lòng biết ơn đối với ông bộ trưởng. Nhưng tất cả đều lắc đầu từ chối, trái tim của họ đang hướng đến người sẽ lên thay thế ông bộ trưởng trong những ngày gần đây. Hài Nhi Giê-su lại tiếp tục đi gõ cửa từng nhà, nhưng ai cũng đang bận bịu với cuộc vui đêm Giáng Sinh. Ngài đi, đi mãi trong đêm, để rồi mệt lả không còn lê bước nữa. Ngài ngồi xuống bên vệ đường ven đô thị. Ngài đang miên man nghĩ đến tình người thì bỗng dưới ánh đèn đường mờ ảo, một bóng đen thất thểu tiến lại gần Ngài. Con người này xem chừng như không biết lễ Giáng Sinh là gì. Quần áo bẩn thỉu, dáng đi ngập ngừng. Trên vai của anh đeo lủng lẳng một chiếc đàn vĩ cầm cũ kỹ. Ðó là tất cả vốn liếng của một anh chàng lãng tử. Vừa thấy em bé ngồi tiu nghỉu bên vệ đường, anh dừng lại, lấy chiếc đàn ra và dạo lên những khúc nhạc du dương, trầm buồn. Bản nhạc bỗng mang lại hy vọng cho Hài Nhi. Trên môi Ngài, một nụ cười bé thơ cũng vừa hé mở. Con người lang thang phiêu bạt này, con người không có lấy một mái nhà để nương náu, không có được một ngày lễ trong cuộc sống, không biết được đêm nay là đêm Giáng Sinh: vậy mà con người ấy có được một trái tim quảng đại sẵn sàng dâng hiến! Hài Nhi Giêsu đến nắm tay anh, đưa anh vào bệnh viện. Tại đây, với nụ cười tươi nở trên môi, anh để cho các bác sĩ khoét lồng ngực của anh để lấy quả tim quảng đại của anh và đặt vào chỗ của quả tim đang thoi thóp của ông bộ trưởng tài chính. Cuộc ghép tim vừa chấm dứt, thì mọi người đã có thể chứng kiến được phép lạ. Ông bộ trưởng với quả tim quảng đại và yêu đời của người lãng tử đứng dậy khỏi giường và bắt đầu ca hát. Ông đã ném đi quả tim chỉ biết rung động vì tiền của, để thay thế bằng quả tim quảng đại biết ca hát, và sẵn sàng tự hiến cho người●
Nguyễn Hưng “Có một người đi từ thành Jerusalem tới thành Jericho... “ ( Lc. 10, 26-37)
Ông buồn lắm! Sang tới đất nước này, lòng ông càng trĩu nặng. Ông đã tính không đi. Người ta bảo, sang bên đây buồn, nhất là những người già như ông. Nhưng đám con ông nó nghĩ khác: “Bố cứ đi! Sang bên ấy người ta sống được mình sống được.” Vả lại, cứ ở nhà, chưa chắc chúng con có lo được cho bố không. Bố bỏ chúng con ra đi, chúng con cũng buồn, nhưng .. cái ‘nhưng’ ngập ngừng ấy ông hiểu. Ông có rứt áo ra đi thì con cháu ông mới có miếng ăn. Khổ thì ông không sợ, đời ông đã quen vất vả, trong tù còn khổ hơn nhiều, nhưng nghĩ lại thương những đứa con. Lòng ông quay quắt khi nhìn chúng lao đao, vất vả. Ông muốn làm một điều gì cho con cháu. Giá ông còn trẻ! Ừ! Giá ông còn trẻ! Biết mình già yếu, sang đây ông chẳng quản nề việc gì. Người ta kiếm cho ông chân quét dọn trong công ty. Tạ ơn Chúa! Được cái những người làm việc quanh ông hầu hết là người quen biết trong xứ đạo cả. Điều này cũng làm ông đôi chút an lòng. Đã bao giờ ông đi làm cho Mỹ đâu! Với lại, ông chỉ sợ người ta nói mình không hiểu thì ai người ta mướn. Tất cả mọi sự là do Chúa sắp đặt. Lòng ông càng tin tưởng. Giờ thì ông chuyên tâm làm việc để lo cho con cháu. Thư chúng nó gởi sang. Từ ngày có tiền ông tích góp gởi về, những đứa cháu của ông đã được đi học, đàn con ông đỡ vất vả phần nào. Ông cầu xin Chúa cho ông sức khỏe. Ừ! Xin Chúa cho ông sức khỏe, vì hồi này ông cảm thấy yếu lắm. Phần vì tuổi già, phần vì mặc cảm, ông ít giao thiệp. Nhiều người rủ ông đi đây đó hay gia nhập đoàn thể, ông thường từ chối. Còn lòng dạ nào mà đi đâu khi con cháu ông còn đói khổ ở quê nhà. Một đồng tiền cóp nhặt là cả tấm lòng muốn gởi về. Không! Ông không còn trẻ, không còn thời gian cho bản thân, mục đích ông sang đất nước này là cứu con cháu ông thoát khỏi cái đói nghèo. Vào làm việc trong hãng, ông cần mẫn như một con ong. Biết mình yếu sức, lại sợ mất việc nên ông càng chăm chỉ. Trong khi tay làm việc, lòng ông luôn cầu xin Chúa giúp đỡ. Chính lòng tin đó đã nâng đỡ ông rất nhiều. Ông tin rằng Chúa đã nghe lời ông cầu, đã ban cho ông cơ hội này nên ông phải nắm bắt lấy. Vả lại, Cha xứ vẫn giảng rằng, khi đi làm phải làm xứng với đồng tiền mình lãnh. Đó là luật công bằng. Nhiều người biết chuyện cho là ông thật thà, nhưng cũng có người ác ý lại nghĩ là ông ma le, muốn lấy điểm! Lời qua tiếng lại đôi khi ông cũng có nghe, nhưng mặc! Biết chia xẻ cùng ai. Cũng có đôi lần muốn vơi tâm sự, ông lân la góp chuyện trong giờ 'break-time' nhưng ông không thể hòa nhập được. Họ toàn khoe khoang nhà to, xe đẹp, quen ông này, cha kia. Để tỏ ra lão luyện, họ dạy nhau cách ăn gian giờ, cách mánh khóe trốn việc, họ chê bôi nói xấu nhau: ngu không biết ăn cắp, không biết giả vờ v.v.. Một thân một mình, ông chả quan tâm giá nhà lên hay xuống. Không biết lái xe nên ông cũng chẳng biết xe cộ tốt xấu làm sao. Được đồng nào lo cho con cháu cả. Vài năm nữa chết nằm xuống đấy, mua nhà, mua xe ai hưởng ? Có người dậy khôn ông khai bệnh để ăn tiền chính phủ, nhưng ông cảm thấy không ngay thẳng. Họ chê ông dốt, nhưng thôi kệ! Thà ông dốt trước mặt Chúa. ''Được lời lãi cả thế gian, chết mất linh hồn nào được ích gì?'' Dưới mắt mọi người ông thuộc loại lẩm cẩm, ra vào như một bóng ma chả ai quan tâm. Bởi thế, trong giờ nghỉ, ông thường tách riêng một mình, lẩm nhẩm đọc kinh. Hôm nay ông mệt quá. Cơn bệnh vẫn còn váng vất. Ông đã phải nằm liệt ba ngày rồi, chưa khỏi, nhưng ông không dám nghỉ thêm, sợ mất việc. Tất cả con cháu đều trông vào ông. Không! Ông phải đi làm. Mồ hôi lấm tấm trên trán, ướt thấm lạnh lưng. Miệng ông đắng ngắt. Dựa lưng vào tường, quên luôn gà-men cháo mang theo. Như một luồng điện, ông giật mình: ''Giêsu Maria.'' Ông quên mất. Người xếp dặn, phải đồ mấy thùng rác trước giờ ăn trưa hôm nay vì có khách tới thăm công ty. Ông loạng choạng đứng dậy, đầu óc quay cuồng, choáng váng. Thùng rác có vẻ nặng hơn mọi ngày. Dùng hết sức ông lôi nó lên. “Lạy Chúa tôi! Nặng quá!” Hai ba lần gắng sức, nhưng vẫn không nổi. Ông vừa tính nhờ người giúp một tay, chợt nghe: - Kệ bà ông ấy! Giờ nghỉ mà. - Mẹ! Lão ấy lấy điểm. - Ngu thấy mẹ! Tội đ.. gì. Những tiếng nói chê bai văng vẳng bên tai, lòng ông tê tái. Ông không muốn nghe nữa. Vừa mệt vừa buồn, ông đã tính bỏ cuộc nhưng còn con ông, cháu ông. Hình ảnh những đứa con gân guốc, dãi dầu mưa gió, những gương mặt rạng rỡ cháu ông có miếng cơm vào bụng hiện ra trong mắt ông. Lạy Chúa xin giúp con! Ông lại ghì sức nâng lên. Bỗng thùng rác nhẹ tênh tuột khỏi vai. Một tiếng nói nhẹ nhàng sau lưng: - Bác Hai để con giúp. Chàng thanh niên giúp ông đổ xong mấy thùng rác còn dặn thêm: - Lần sau bác nói con nghen! Đừng làm một mình bịnh chết. Đưa tay vuốt mồ hôi trên trán, cảm động quá, vừa cầu nguyện, Chúa đã nghe lời. Ông nói: - Chú tốt quá! Mình là người có đạo, Chúa dạy.. . - Dạ!! Nhưng... cháu là người ngoại, bác à!.. Ông thẫn thờ bước đi, văng vẳng bên tai, lời Phúc Âm hôm nào ''Có một người đi từ thành Jerusalem tới thành Jericho...'' Vậy ai là anh em ngươi?● Nguồn: ViệtBáo Online
TÂM TÌNH CÙNG BẠN ĐỌC
nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng góp của: Phạm Hùng Sơn – CVK, Sứ Mệnh Giáo Dân, Tâm Linh Vào Đời, Giáo Xứ Việt Nam – Stuttgart, Nguyễn Tiến Đức, Lm. Vũ Xuân Hạnh, Lm. GB Trần Văn Nhũ, Nguyễn Văn Khoa, Huỳnh Phương, Mai Nguyễn, Jerome Nguyễn Văn Ngô, Trần Ngọc Báu - Thụy Sĩ, Vân Hà, Nguyễn Thế Bài, Bồ Câu Trắng, Bùi Minh Huy, Trần Duy Nhiên, Phan Vy Linh, Thanh Thanh, Trầm Tĩnh Nguyện, Thanh Tuyền Viện Mến Thánh Giá Đà Lạt, Antôn Lê Ngọc Thanh, CSsR, Trung Tâm Truyền Giáo Cheoreo-Tolui, Têrêsa Alfonso Phạm Thuỳ Chi, Hoàng Luật, O.Cist, Paul Phạm Duy Đạt, Nguyễn Minh Dương, Khanh Thuỷ, Thuỳ Hương, Joseph Nguyễn Văn Huy, Lm. Bùi Thượng Lưu, Khánh Linh, Tập San Ngày Mới Paris, Theresa Thục Lê,.. Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích lệ của Quý cộng tác viên và độc giả dành cho Maranatha, đặc biệt đã gửi thiệp và những lời chúc lễ Giáng Sinh và Năm Mới 2007. Nguyện xin Chúa chúc lành cho tất cả quý vị. Trân trọng, MARANATHA
THƯ BẠN ĐỌC
v Chúc Mừng Đại Gia Đình MARANATHA một lễ và cả Mùa Giáng Sinh 2006 và Năm Mới 2007 chan hoà hồng phúc của Chúa Giáng Trần, an khang thịnh vượng và hạnh phúc dư tràn. Lm. GB Trần Văn Nhũ. Cám ơn cha đã gủi lời chúc lễ cho Marantha. Cũng nguyện chúc cha va giáo xứ Công Lý được muôn ơn lành và bình an, niềm vui của Chuá Hài Đồng. Cũng cầu chúc việc xây dựng giáo đường được sớm hoàn tất. v Xin kính gửi MARANATHA VietNam. Tôi là Nguyễn Văn Khoa, hiện đang ở giáo xứ Châu Nam, Bùi Môn, giáo phận Sài gòn. Nay tôi muốn đăng ký xin nhận các bài của quý báo. Nguyện xin ân sủng Chúa đổ tràn cho quý báo. Xin chân thành cám ơn. Nguyễn Văn Khoa. Hân hạnh được gửi báo phục vụ Anh. Đã ghi tên và địa chỉ vào danh sách gửi báo. v Kính thưa Quý Ban Biên Tập Maranatha, Con cám ơn quý báo đã gởi báo cho con trong thời gian qua, nay con muốn thay đổi địa chỉ email mới…Xin chân thành cám ơn. Huỳnh Phương. Cám ơn Bạn đã báo tin về địa chỉ mới. Danh sách đã cập nhật. v Xin chào Maranatha, trước đây, tôi đã được đọc Maranatha do một người bạn gởi đến, nay xin quý vị gởi báo cho tôi theo địa chỉ này. Nguyện xin Thiên Chúa đổ tràn hồng ân xuống nơi quý vị. Mai Nguyễn. Cám ơn Chị đã đón nhận Maranatha và có lời nguyện chúc cho báo. Báo sẽ được gửi về trực tiếp địa chỉ của Chị. v Kính chào Quí Vị, Nguyện xin Chúa ban muôn phúc lành cho quí vị, để quí vị phục vụ tốt cho hết thảy mọi người. Tôi hiện ở vùng sâu vùng xa, muốn nhận được những tờ báo của quý vị, hầu trau dồi những kiến thức còn rất hạn hẹp của tôi. Rất mong được sự đáp ứng nhiệt tình của quí vị. Jerome Nguyễn Văn Ngô. Tên và địa chỉ của Bạn đã được ghi vào danh sách gửi báo và hy vọng đóng góp được chút gì trong đời sống đức tin. v Kính xin quí vị từ nay trở đi, vui lòng dùng địa chỉ mới để gởi bài vở, Lý do: địa chỉ cũ bị “rác” xâm nhập mỗi ngày quá nhiều…Chân thành cám ơn. Trần Ngọc Báu, Thụy Sĩ. Cám ơn Anh đã tin cho biết địa chỉ mới, đã điều chỉnh trong danh sách gửi báo. Xin chúc lễ và cầu cho nhau. v Xin quí vị vui lòng cho tài liệu về Lễ Rửa Tội tức Baptism để chúng tôi tham khảo với nhau trong lớp học Bible. Xin cám ơn. Vân Hà. Tài liệu này sẽ được đăng trong số báo sắp đến về phép rửa. Cầu chúc lớp học gặt được nhiều hoa trái. v Đề nghị gởi báo cho email…Chân thành cám ơn. Phan Vy Linh. Cám ơn Bạn đã giới thiệu thân hữu nhận báo. Đã ghi danh. v Xin kính gửi bản tin Zenit. Kính chúc một Mùa Vọng tràn đầy ơn thánh. Trầm Tĩnh Nguyện. Cám ơn Anh đã quan tâm giới thiệu và gửi bản tin về Giáo Hội. Nguyện xin Chúa chúc lành. v Kính thưa Ban Biên Tập Tuần Báo Manaratha, Chúng con xin kính chúc Quý Vị được muôn vàn hồng ân Chúa trong Mùa Vọng này, cùng với nhiều Ơn Thánh của Chúa Hài Nhi trong Mùa Giáng Sinh, và một Năm Mới Hạnh Phúc, Bình An trong Tình Thương Quan Phòng của Thiên Chúa. Kính thưa Quý Vị, trước đây chúng con vẫn nhận được báo đều đặn, nhưng vì sau một thời gian máy bị trục trặc, chúng con không nhận được nữa. Bây giờ chúng con đã có địa chỉ mới đây, kính xin Quý Vị tiếp tục chia sẻ món ăn tinh thần quý hoá này cho chúng con theo địa chỉ mới này. Nguyện xin Chúa chúc lành cho Quý Vị, cho những công việc mà Chúa trao phó cho Quý Vị trong cánh đồng Truyền Giáo, và nâng đỡ tất cả những người thân yêu của Quý Vị. Kính chúc, Thanh Tuyền Viện Mến Thánh Giá Đà Lạt. Xin cám ơn những lời chúc tốt đẹp của Quý Chị và cám ơn đã báo tin địa chỉ mới. Sẽ gửi báo khi phát hành. v Kính chúc MỘT MÙA GIÁNG SINH CÓ CHÚA & MỘT NĂM MỚI CÓ NHAU. Xin tiếp tục cầu nguyện và nâng hỗ trợ anh chị em Jarai, nhất là trẻ em Jarai. Trân trọng, Antôn Lê Ngọc Thanh, CSsR, Trung Tâm Truyền Giáo Cheoreo-Tolui. Cám ơn lời chúc của cha và mong được như thế luôn. Nguyện xin Chúa chúc lành cho Trung Tâm để truyền rao Tin Mừng cho anh chị em ở đó. Mong quý độc giả liên lạc với cha Thanh và giúp cho Trung Tâm Truyền Giáo này. v Các anh chị Ban Biên Tập Báo Điện Tử Maranatha kính mến, Em là Têrêsa Alfonso Phạm Thuỳ Chi, Giáo Xứ Thái Hà, Dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội. Em phục vụ tập san Lời Thiên Chúa Hằng Sống. Ngày hôm qua em nhận được thư của độc giả hỏi về các bài dịch của cha Gioan DonBosco Phạm Minh Thiện CSsR đăng trên www.maranatha-vietnam.net nhưng không thấy có đăng, hay là cha Minh Thiện không gửi đến www.maranatha-vietnam.net ạ? Xin các anh chị giúp cho độc giả tìm đọc được bài của cha Minh Thiện với ạ. Xin các anh chị hồi âm sớm giúp em. Em xin chân thành cám ơn. Xin các anh chị có thể giúp em một việc với nhé, em xin được nhận báo Maranatha về địa chỉ của em để tập san LTCHS cũng được thực hiện như của Maranatha làm báo “địa phương.” Kính chúc các anh chi BBT/ BĐT Maranatha luôn mạnh khoẻ và hạnh phúc. Em Têrêsa Alfonso Phạm Thuỳ Chi. Cám ơn Bạn đã liên lạc, giới thiệu tập san Lời Thiên Chúa Hằng Sống. Tập san rất dễ thương và cảm phục Bạn đã thực hiện được tờ báo như thế để đóng góp vào vườn hoa truyền thông Công Giáo. Hân hạnh được gửi báo Maranatha để chúng ta cùng chia sẻ và học hỏi lẫn nhau. Bài vở của cha Phạm Minh Thiện sẽ được đăng dần cho những số và chủ đề phù hợp. Thùy Chi đón đọc nhé. Nguyện xin Chúa chúc lành cho công việc tốt lành của Thuỳ Chi. v Nhân dịp Giáng Sinh về, xin chúc quý vị trong báo MARANATHA được nhiều sức khoẻ, nhiều ơn lành của Chúa Hài Đồng để tiếp tục phục vụ quý độc giả. Cám ơn báo Maranatha trong năm qua đã gửi cho tôi những bài báo rất thú vị và bổ ích. Xin Chúa chúc lành cho quý vị. Hoàng Luật, O.Cist. Cám ơn cha đã quan tâm và gửi lời chúc lễ. Xin cha tiếp tục cầu nguyện và giới thiệu Maranatha cho thân hữu. Nguyện xin Chúa chúc lành cho cha và những công việc mục vụ. v Lại một mùa Giáng Sinh lại về và chuẩn bị đón mừng một năm mới sắp đến. Con kính chúc Quý Cha, Quý Ban Biên Tập được nhiều Hồng Ân của Chúa Giêsu Hài Đồng và một năm mới với những Hồng Ân mới. Nhân đây con cũng cám ơn Quý Ban Biên Tập đã gửi bài cho con trong suốt một năm qua. Con kính chào, Paul Phạm Duy Đạt. Cám ơn Anh đã đón nhận báo và có lời chúc lễ Giáng Sinh và Năm Mới. Xin tiếp tục cầu nguyện cho nhau. v Tôi là Lm. Nguyễn Minh Dương, Qua Maranatha tôi muốn được nhận các số báo. Xin quý bạn chấp nhận và gửi cho tôi. Xin chân thành cám ơn. Chúc quý bạn một mùa Giáng Sinh An Lành. Nguyễn Minh Dương. Cám ơn cha đã ghi danh nhận báo và gửi lời chúc. Sẽ gửi Maranatha mỗi khi phát hành về địa chỉ của cha. v Kính chúc quý cha và toàn thể quí vị Ban Biên Tập Điện Báo Maranatha tràn đầy Ân Sủng, Tình Yêu và Bình An của Chúa Giêsu Hài Đồng trong Mùa Giáng Sinh 2006. Khanh Thuỷ. Cám ơn tấm thiệp điện tử rất mỹ thuật của Bạn dành cho Maranatha với lời chúc ý nghĩa. Cầu chúc Bạn cũng được như thế để làm đẹp cuộc đời. v Trong Niềm Vui đón mừng Chúa Cứu Thế Giáng Sinh để cứu nhân độ thế, Nguyệt San Dân Chúa Châu Âu xin thành tâm nguyện chúc Giáng Sinh 2006 và Năm Mới 2007 tràn đầy khang an và hồng ân của Chúa Cứu Thế Giáng Sinh. Lm. Bùi Thượng Lưu. Cám ơn cha và Nguyệt San Dân Chúa đã gửi lời chúc lễ. Cũng nguyện xin Ân Sủng của Chúa Hài Đồng luôn ở cùng cha và toàn ban Biên Tập để báo càng ngày càng phong phú để phục vụ Dân Ngài. v Với tất cả lòng quý mến và tri ân, con xin kính chúc Ban Biên Tập và các Cộng Tác Viên của MARANATHA tràn đầy niềm vui, hạnh phúc và ơn thánh của Chúa Hài Đồng trong Mùa Giáng Sinh và Năm Mới. Thuỳ Hương. Cũng cầu xin Chúa Hài Đồng ban cho Thùy Hương luôn hạnh phúc vì được tràn đầy ơn thánh của Chúa Hài Đồng v Kính chào quý ban biên tập điện tử Maranatha. Xin kính chúc quý vị một Mùa Giáng Sinh an lành và một Năm Mới hạnh phúc vui tuơi trong Chúa. Xin Chúa Hài Đồng và gia đình Thánh Gia ban xuống trên quí vi nhiều hồng ân để tiếp tục phục vụ độc giả. Cũng xin chân thành cám ơn đã gửi báo. Các bài viết trên báo đã giúp tôi rất nhiều trong công việc mục vụ của mình. Xin Chúa chúc lành cho quý vị. Thân ái, Joseph Nguyễn Văn Huy. Tạ ơn Chúa vì Maranatha có thể đóng góp chút gì trong công việc mục vụ của cha. Cầu xin Chúa luôn đồng hành và nâng đỡ cha trong sứ vụ được giao phó. v Kính chúc quý thi-văn-nhạc-nghệ-sĩ, độc giả và thân hữu vui đón Lễ Giáng Sinh an bình, phúc lộc. Năm Mới 2007 mạnh khoẻ, vạn sự như ý. Tập San Ngày Mới Paris. Cám ơn Ban Biên Tập đã chúc lễ. Cầu chúc báo càng tốt đẹp hơn trong Năm Mới. v Kính gởi BBT Báo MARANATHA, rất cám ơn đã gởi báo cho người thân của tôi. Riêng tôi thì lại chưa nhận được. Xin Quý Vị vui lòng gởi cho tôi theo địa chỉ E-mail trên. Xin Thiên Chúa trả công bội hậu cho Quý Vị và gia đình. Therese Thục Lê. Tên và danh sách của Chị đã có trong danh sách gửi báo. Lý do có rhể vì hộp thư hotmail thường gặp trục trặc khi nhận. Hộp thư yaho hoặc gmail thuận tiện hơn, nếu được xin Chị xem lại hộp thư và địa chỉ của mình.
Trang Nhà (website) http://www.maranatha-vietnam.net Thư từ, ý kiến, xin gửi về maranatha@saintly.com Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về |