Số 92, Ngày 23-12-2006

MỤC LỤC

Thư Tòa Soạn -

Thời Điểm Rương Đựng Chẳng Hề Vơi - Lm. Trần Cao Tường 

Một Vài Ý Nghĩa về Lễ Chúa Giáng Sinh Khánh Linh

Mỗi Người Là Một Món Quà G.B. Nintermann – Lê Văn Lộc dịch

Thiên Chúa Ba Ngôi  Lương Hữu Định

Cantique De Noel – O Holy Night – Ôi Đêm Thánh Phạm Hoàng Nghị

Hãy Mang Giầy Vào –  Pierre Charles, SJ - Phạm Minh Thiện dịch

Những Món Quà Của Ba Đạo Sĩ Maranatha

The Unopened Gift  - Món Quà Chưa Mở Thanh Thanh

Xin Chúc Tụng Đấng Tình Yêu Tự Huỷ - Thơ - Trần Duy Nhiên

Chúa Lại Nhập Thể Trong Hình Hài Của Bạn Trần Duy Nhiên

Phép Lạ Giáng Sinh Maranatha sưu tầm

Ai Là Anh Em Tôi?   Nguyễn Hưng

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc - Thư Bạn Đọc

Chúc Mừng Giáng Sinh! Merry Christmas! Happy Christmas!  Joyeux Noël! Frohliche Weihnachten! Buon Natale! Feliz Navidad!  Feliz Natal! Boas Festas! Prettige Kerstdagen! Zalig Kerstfeest! Glaedelig Jul! God Jul! Natale Hilare! Καλά Χριστούγεννα!

 

Thư Tòa Soạn

 

 Kính thưa Quý độc giả,

Đêm Đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời...

Bài hát Giáng Sinh này đã ghi khắc một hình ảnh quen thuộc trong tâm tình mọi người Công giáo Việt Nam; và trong đêm Noel thì hầu hết mọi người Công giáo trên thế giới đều thấy hiện lên trong trí óc mình một Chúa Hài Nhi run rẩy giữa đêm đông giá lạnh.

Thế nhưng thực tế thì không đúng như vậy. Sách Talmud cho biết rằng người Do Thái đưa cừu ra đồng cỏ từ tháng 3 và đến tháng 11 là trễ nhất thì phải lùa về trại, vì không thể để đàn cừu ngoài trời mưa. Sách Etra (Esdrad 10, 9.13) nhắc đến những cơn mưa tầm tã vào tháng 9. Bài tường thuật duy nhất trong bốn sách Phúc Âm cho biết rằng, đêm Chúa Giáng Sinh, những người chăn chiên đang ở ngoài đồng cỏ (Lc 2, 8). Như thế Chúa Giêsu không thể nào sinh vào một ‘đêm đông’ cả, mà trễ nhất là vào Mùa Thu. Tuy nhiên các sách Phúc Âm không xác định Chúa giáng sinh ngày nào.

Vào thế kỷ thứ I trước công nguyên, Rôma mừng lễ Mithra, thần ánh sáng. Vào thời ấy, ngày 25 tháng 12 là đông chí, nghĩa là ngày mà thần Mithra - thần ánh sáng - bắt đầu chiến thắng bóng tối, và người ta dâng lên thần một con bò mộng. Thời Giáo Hội sơ khai, Kitô hữu không mừng lễ Giáng Sinh. Bắt đầu thế kỷ thứ II thì Giáo Hội mới truy tìm ngày sinh của Chúa Giêsu, mà Phúc Âm không hề nhắc đến. Vì Phúc Âm im lặng nên Giáo hội chọn ngày đông chí để cho thấy rằng Chúa Kitô mới đích thực là Ánh Sáng đến xua đuổi bóng đêm của Tử Thần, và như thế Giáo Hội đặt lễ Chúa Giáng Sinh vào ngày 25-12 để thánh hóa một ngày lễ ngoại giáo. Khoảng năm 330, hoàng đế Constantinô xác định lễ Giáng Sinh vào ngày này, nhưng đến năm 353 thì Giáo Hoàng Liberiô mới chính thức thiết lập lễ Giáng Sinh tại Rôma.

Như vậy, Chúa Giêsu đã không ra đời trong một đêm đông lịch sử! Tuy nhiên, hình ảnh của đêm đông vẫn còn ý nghĩa trên bình diện biểu trưng. Quả thật như vậy, trong một thế giới mà con người bắt đầu cảm thấy giá lạnh trong tâm hồn, khi không còn có một ngọn lửa nào sưởi ấm được lòng người, thì Hài Nhi Giêsu đã đến giữa mùa đông giá lạnh ấy để đem ngọn lửa tình yêu sưởi ấm con người. Và ngọn lửa yêu thương đã dần dần lan rộng trên mọi vùng đất theo dòng thời gian, để rồi mãi mãi khơi lại hơi ấm cho những tâm hồn giá lạnh.

Cậu bé yếu ớt và bất lực ở Bêlem là hình ảnh nghịch lý của tình yêu. Trong xã hội, trong gia đình hiện nay, những ‘người lớn’ đối xử với nhau bằng ‘quyền lợi và nghĩa vụ’ hơn là vì ‘yêu thưong vô vị lợi.’ Và vì thế mà biết bao gia đình tan vỡ. Vậy mà giữa cái thế giới đang nghiêng ngả này, những người bất lực nhất lại làm nên điều trọng đại.

Chuyện về một đôi vợ chồng trí thức trẻ có học vị cao, đời sống đức tin khá vững vàng. Nhưng rồi đến một ngày, họ thấy rằng không thể tiếp tục chia sẻ cuộc sống với nhau được. Dù ly dị là biện pháp mà anh chị em trong cộng đoàn Công giáo không đồng tình, hai người buộc lòng phải chia tay để sống trung thực với lòng mình: tình yêu đã không hiện diện trong đời sống hôn nhân của họ, và kéo dài tình trang gượng ép là một điều giả hình mà lương tâm họ không cho phép. Tuy thế, họ không cắt đứt liên lạc vì còn đứa con. Hai người phải thay phiên chăm sóc con, kết quả những năm chung sống. Chính vì tình thương dành cho người con, và bài học gặt hái được là giúp cha mẹ có cơ hội nhìn sâu hơn về nhân vị con người, ý nghĩa đời sống, giá trị của hôn nhân và tình yêu. Sau đó, hai người đã suy nghĩ lại và ý thức được rằng cuộc sống hôn nhân quá khứ, họ chỉ quan tâm đến bản thân, nghề nghiệp và công việc của mình, mà dành rất ít thời gian cho gia đình cũng như lưu tâm đến nhu cầu của người phối ngẫu. Khi chăm sóc đứa con thơ, chính người con bé bỏng yếu đuối đã dạy cho cặp vợ chồng biết nhìn nhau qua cặp mắt của con mình, biết nhẫn nại để lắng nghe những tiếng nói của tình yêu, để chấp nhận nhau, và họ tái khám phá tấm lòng của nhau nhờ khi chăm sóc người con bé bỏng ấy. Tình yêu không tính toán của người con đã khiến cho cặp vợ chồng đã ly dị đang quay lại với nhau để chia sẻ tình yêu trong một cuộc sống mà họ từng bỏ dở. Thật là một câu chuyện Giáng Sinh ý nghĩa, ít nhất là đối với đôi vợ chồng này.

Câu chuyện hàn gắn này kể ra cũng hi hữu trong thời đại hôm nay, khi con số thống kê về ly dị càng ngày càng gia tăng, không chỉ ở các xã hội Tây phương, mà còn lan rộng đến các gia đình tại Việt Nam, nơi có nền văn hoá gìn giữ và trân trọng truyền thống gia đình. Nhưng có một câu chuyện càng hi hữu hơn nữa mà ai cũng biết nhưng rất nhiều người không còn buồn đế ý. Đấy là câu chuyện của Hài Nhi Giêsu, đến trần gian trong tư thế khó nghèo nhất để nối kết đất với trời. Cuộc tình duyên giữa Thiên Chúa và con người đã hầu như vô phương hàn gắn, thế mà con trẻ bất lực ấy đã làm nên một kỳ công có một không hai.

Và biến cố Giáng Sinh đấy đã chạm đến lòng những đạo sĩ phương đông, để họ vượt bao nhiêu dặm đường đến tặng quà cho Hài Nhi giáng thế. Quà tặng của họ trở thành một truyền thống ngày càng lan rộng. Khởi đầu là những món quà Giáng Sinh mà cha mẹ tặng cho con cái mình, rồi dần dần lan ra toàn xã hội, để các thành viên trong gia đình tặng quà cho nhau và tặng quà cho thân hữu gần xa. Dần dần, người ta quên đi món quà quí giá nhất trong lễ Giáng Sinh ấy là chính Hài Nhi Thiên Chúa. Tất cả những quà khác của con người tặng nhau chỉ là biểu hiện của tình yêu thương lẫn nhau, còn Hài Nhi Giêsu thì chính là Tình Yêu đã trở thành xác thịt, và đem lại ý nghĩa cho mọi tình yêu khác trên đời.

Đấng có thể trao ban tất cả đã trở thành một em bé bất lực để van xin tất cả. Và đó là cái nghịch lý tình yêu mà hai ngàn năm qua con người cũng chưa thấu hiểu. Thiên Chúa ban cho loài người món quà vĩ đại nhất qua một Hài Nhi có vẻ như cần đến những món quà của con người. Chúa đã dạy cho mỗi một người con Chúa hiểu rằng món quà lớn nhất mà mình có thể tặng cho một ai là tặng bản thân mình, không chỉ là mồ hôi và công sức, mà phải trao tặng cả đến thế giá, danh dự, địa vị mình: món quà nào không thể hiện được sự trao ban chính mình thì đó chỉ còn là một mánh khoé của thế gian, dù cho món quà ấy được gói ghém trong chiếc áo mỹ từ nào.  

Vì thế, chủ đề số báo Giáng sinh năm nay là Quà Tặng, và Maranatha 92 xin gửi đến quý độc giả những bài viết liên quan nhiều khía cạnh khác nhau của quà tặng, để rồi qua đó, chúng ta biết đón nhận lại món quà Giáng Sinh quí giá nhất, mà vì quá quen thuộc ta không còn tha thiết đón nhận một cách hết lòng. Để rồi mỗi người đều biết đón nhận Món Quà Hài Nhi Giêsu, khi đó chúng ta sẽ trở thành quà tặng cho nhau, cho cuộc đời. Và để khỏi lơ đễnh bỏ qua Món Quà Vô Giá đó, chúng ta cùng nhau chân thành khấn nguyện, đặc biệt trong mùa Giáng Sinh này:  Marana tha, lạy Chúa Giê-su, xin ngự đến!

 

EMMANUEL: THIÊN CHÚA Ở CÙNG CHÚNG TA!

NGUYỆN XIN CHUÁ GIÊ-SU HÀI ĐỒNG TUÔN ĐỔ TRÀN ĐẦY ÂN SỦNG, BÌNH AN

VÀ NIỀM VUI ĐÍCH THỰC CỦA NGÀI XUỐNG TRÊN

QUÝ CỘNG TÁC VIÊN VÀ ĐỘC GIẢ THÂN YÊU


THỜI ĐIỂM RƯƠNG ĐỰNG CHẲNG HỀ VƠI

  Lm. Trần Cao Tường

Bên các nước Âu Mỹ vào dịp lễ Giáng Sinh, việc chọn quà và tặng quà quả là một dịch vụ kham khổ, đôi khi trở thành một gánh nặng phải làm cho xong như một thủ tục chẳng đặng đừng. Các bãi đậu xe rộng bao la của những thương xá thường không còn một chỗ trống vào những cuối tuần trước ngày lễ. Thì mỗi người thân cũng phải có một món quà chứ! Mua về nhà lại phải cẩn thận gói lại và để dưới gốc cây Giáng Sinh có đèn chớp chớp. Đúng đêm lễ mới có nghi thức mở quà, mà phải mở trước mặt mọi người với lời cám ơn rối rít, dù có thích hay không. Giấy gói tháo ra một đống. Nhẩm trong bụng thì đã mất khá bộn tiền mà quà thì chả mấy khi vừa ý. Cái cần thì lại không được, mà cái được thì lại xếp xó, chật cả cửa nhà…

 Cái nỗi cực tâm nhất của việc mua quà cho trẻ em bên xứ Âu Mỹ là món quà phải là đồ mắc tiền!  Đồ chơi phải là của Toys R Us. Quần áo  phải có nhãn hiệu nổi tiếng như Polo hay Tommy Hilfiger. Giầy phải là Nike, Adidas v.v. Không có chuyện của ít lòng nhiều. Chẳng cần phải quí cái tấm lòng hay cái tâm nguyện nào cả. Quà rẻ tiền có nghĩa là lòng thương ít. Lì xì một phong thư đỏ với một đồng tiền mới tượng trưng để lấy hên là chuyện cổ tích. Đứa trẻ nhận được phong thư đỏ cũng theo thói Mỹ là mở ngay ra trước mặt mình, và có đứa đã tuyên bố một cách thẳng thừng chả phải kiêng dè gì cả: chỉ có một đô la thôi à!

 

CHÚ BÉ ĐÁNH TRỐNG

 Chả bù cho chú bé nghèo đánh trống qua một bài hát rất phổ thông trong mùa Giáng Sinh. Chú bé không có tiền mua sắm quà cáp gì cho người mình thương cả. Chú chỉ có một cái trống nhỏ trống trơn. Chú biết đánh trống nên chú đã đánh lên một bài trống làm quà tặng. Quí hóa và cảm động lắm chứ.

 Cứ đến mùa tặng quà là tôi nhớ đến một câu truyện về một cặp sắp cưới nhà nghèo. Gần đến ngày lễ mà chẳng đào đâu ra tiền mua quà tặng nhau. Anh chàng rất thương nàng nên nghĩ bụng đi bán quách cái đồng hồ của mình để mua cho nàng một cái kẹp tóc đồi mồi. Vì nàng có mái tóc dài thật đẹp nhưng cứ bị lòa xòa hoài mỗi khi làm việc; vả lại cái đồng hồ đã đứt dây từ lâu cứ phải bỏ vào túi rất bất tiện. Đang khi đó thì cô nàng lại nghĩ ra cách tặng quà cho chàng: mái tóc dài của mình để cũng vô tích sự; đẹp thì cũng đẹp đấy, chi bằng cắt bán quách đi để lấy tiền mua cho chàng cái dây đồng hồ. Tội chàng quá đi, cái đồng hồ đứt dây từ lâu mà không sao mua được cái dây khác mà thay!

 Thế là cả hai cùng giữ bí mật, đợi đến gần ngày lễ mới lẳng lặng đi thi hành kế hoạch. Cô nàng soi gương lần cuối kiểu thơ Nguyễn Tất Nhiên:

Em hãy đứng trước gương làm dáng

Tự khen mình đẹp quá, đi em.

Lỡ mai kia mốt nọ theo chồng,

Còn đôi  chút luyến lưu thời con gái.

 Rồi nàng cắn răng cắt mái tóc dài bán đi để mua được cái dây đồng hồ. Anh chàng thì đành lòng bán cái đồng hồ quí để mua cho nàng cái kẹp tóc đồi mồi cho thêm duyên dáng. Hai món quà được gói lại cẩn thận. Đúng giờ phút linh thiêng thì mới đưa tặng nhau.

 Cô nàng nhận được cái kẹp tóc đồi mồi rất sang thì mái tóc dài của mình không còn nữa. Anh chàng nhận được cái dây đồng hồ thì cái đồng hồ của mình đã bán đi mất rồi! Cả hai món quà đều không còn dùng được, nhưng quả là cả hai món quà đều đắc ý nhất, có sức lay động con tim nhất. Và dĩ  nhiên là có cảnh sụt sùi cảm động. Tình thương dâng lên ngút ngàn.

MÓN QUÀ QUÍ NHẤT

Mẹ Têrêsa đã có lần định nghĩa tình yêu là cho đi tới mức cảm thấy đau. Cặp sắp cưới trên đây đã thể hiện điều đó. Cũng như chính Mẹ và các nữ tu dòng Bác Ái đã sống ngay giữa những người bị bỏ rơi nhất của xã hội ở Calcutta, dùng ngay những đồ do những người cùi làm ra. Những đồ này không ai dám mua thì các nữ tu mua về dùng.

 Quà tặng như vậy mới có sức làm lay động con tim, tạo dựng tình thương, chứ không phải là những thứ mua sắm mắc tiền vào những dịp lễ hiện nay. Đức Maria đã tặng cho nhân loại chính người con của mình. Đó là món quà quí nhất, mắc giá nhất. Món quà đã làm cho một Gioan dù còn nằm trong bụng mẹ cũng nhảy mừng reo vui.

Đức Chúa Trời thương yêu nhân loại đến nỗi đã trao tặng chính người Con duy nhất. Đó là cách sắm quà đúng nhất, vì tình thương là trao tặng cho tới mức cảm thấy đau. Những mua sắm quà tặng trong nhà lúc này đang nhằm mục đích gì nhỉ? Tìm tạo dựng tình thương hay chỉ đổ thêm vào lòng ham hố đua đòi càng ngày càng thêm bất mãn?

PHÚT CẢM NHẬN QUÀ TẶNG

Và món quà nào năm nay tôi nhận được đắc ý nhất? Lời thiên thần (chứ không phải ông già Noel) đi cho quà các mục đồng giữa đêm đen thanh vắng:

"Ta mang đến cho các người một tin vui lớn, cũng là tin vui cho mọi người: hôm nay Chúa Kitô, Đấng Cứu Thoát, đã giáng sinh cho các người."

Quà đấy chứ còn chờ quà nào khác. Hãy lãnh nhận và cho nhau thứ quà quí nhất và đắc ý nhất năm nay là chính Đức Kitô, như Đức Mẹ đã tặng quà cho bà Eligiabét. Chú bé trong bụng mẹ mừng quá bèn nhảy lên là vậy…

Tôi muốn phóng dịch bài Quà Tặng từ cuốn ”Tiên Tri” (The Prophet) của nhà tiên tri thời đại là Kahlil Gibran, cuốn sách bán chạy nhất thế kỷ, chỉ sau cuốn Kinh Thánh:

 

Quà Tặng

Khi bạn cho những cái bạn đang có, thì quà tặng của bạn thật nhỏ nhoi.

Chỉ khi bạn cho chính mình bạn, thì quà tặng mới trở nên đích thực.

Vì của cải là gì, nếu không phải là những gì mình lo tích trữ sợ rằng ngày mai sẽ cần đến.

Và ngày mai, ngày mai sẽ trao ban cái gì cho con chó quá tinh khôn

đem giấu những khúc xương dưới cát,

đang khi cùng đoàn người lữ hành đi về thành thánh?

Và cái gì sợ sẽ phải cần đến, nếu không phải là chính điều cứ thèm khát mãi?

Khi mà giếng của bạn đầy nước mà bạn vẫn còn khát,

thì cơn khát này không khủng khiếp lắm sao,

và không có gì có thể làm cho bạn hết khát được!

Có những người chỉ cho đi một chút xíu những cái họ có, và họ cho đi để lấy tiếng,

thì cái ẩn ý này làm cho quà tặng của họ mất hết giá trị.

Và có những người chẳng có bao nhiêu mà cho đi tất cả.

Đó mới là những người tin vào cuộc đời,

vì cuộc đời thật sung túc,

và rương đựng chẳng hề vơi.

Có những người cho đi với niềm vui, thì niềm vui chính là phần thưởng.

 Và có những người cho đi với hy sinh, thì hy sinh đó là phép rửa.

Lại có những người cho đi mà không cần để ý tới hy sinh hay tìm niềm vui,

mà cũng chẳng cho đi vì nhân đức.

Họ cho đi vì trong thung lũng, cây trầm đang thở hương vào không gian diệu vợi.

Qua bàn tay của những người như thế, Thiên Chúa đang tiếp tục vỗ về.  

Và từ sau khóe mắt họ, Người mỉm cười trên mặt đất.

Cho khi được xin thì cao đẹp,

nhưng cho mà chỉ cần hiểu ý chứ không cần phải được xin, thì cao đẹp hơn nhiều.

Đi tìm người sẽ mở rộng tay đón nhận thì vui hơn là chính việc cho đi.

Và có phải chính bạn đang muốn giữ lại không nhỉ?

Mọi sự bạn đang có một ngày kia sẽ phải cho đi.

Vì thế, hãy cho đi hôm nay,

thì mùa ban tặng sẽ là của bạn,

chứ không phải là những người thừa kế bạn.

Bạn thường nói: tôi sẽ cho, nhưng chỉ cho những người xứng đáng.

Cây trái trong vườn chẳng nói vậy. Súc vật ngoài đồng cũng chẳng nói vậy.

Chúng cho đi thì chúng mới sống, vì giữ lại là chết.

Vì chắc chắn ai đã xứng đáng lãnh nhận ngày và đêm,

thì cũng xứng đáng lãnh nhận bất cứ gì từ bạn.

Và ai đã xứng đáng uống nước từ nguồn suối bao la của cuộc đời,

thì cũng xứng đáng múc đầy ly từ dòng suối nhỏ của bạn.

Vì thực ra thì cuộc đời mới trao ban cho cuộc đời.

 Đang khi bạn tưởng là người trao ban thì lại chỉ là người làm chứng mà thôi.

Và bạn là người lãnh nhận. Tất cả các bạn chỉ là người lãnh nhận,

mà không cần phải biết ơn,

kẻo rồi bạn lại tạo ra cái ách đè trên bạn và trên người cho.

Tốt hơn là bạn hãy vươn lên cùng với người cho

mang theo quà tặng như mang theo đôi cánh.

Vì quá để ý tới mang ơn, tức là đã hồ nghi lòng rộng lượng

của Đấng đã nhận Đất làm Mẹ và nhận Chúa là Cha.

Tin Vui Thời Điểm - trích tác phẩm Nhịp Múa Sông Thanh, Thời Điểm xuất bản.

MỘT VÀI Ý NGHĨA VỀ LỄ Chúa Giáng Sinh

Khánh Linh

Dưới thời đế quốc Rô-ma, người ta mừng sinh nhật các nhà lãnh đạo, nên các Ki-tô hữu cũng muốn mừng sinh nhật Chúa của mình. Tuy nhiên, việc mừng lễ như thế ngay từ ban đầu không phải được mọi người chấp nhận. Các giáo phụ như I-rê-nê và Tê-tu-li-ô thậm chí bỏ không kể ngày Giáng Sinh nằm trong các lễ đạo. Riêng O-ri-gen còn cho rằng theo Kinh Thánh, chỉ có người tội lỗi mới mừng ngày sinh của mình. Và Ac-nô-bi-ô còn chế diễu về ngày sinh nhật của các thần thánh: đã là Chúa rồi mà còn có ngày sinh nhật? Nhưng theo thời gian, Giáo Hội phương Đông mừng ngày sinh của Chúa vào mùng 6 tháng Giêng, mở đầu niên lịch theo mặt trời, còn ngày lễ Hiển Linh thì để mừng lễ Chúa chịu phép Rửa. Đến khi lễ Hiển Linh du nhập vào phương Tây, thì lại để mừng việc Chúa tỏ mình cho Ba Vua. Vào năm 330, Giáo Hội Rô-ma lấy ngày 25 tháng 12 làm ngày sinh của Chúa. Đến thế kỷ thứ năm, thì tập quán này của Giáo Hội Rô-ma trở thành phổ quát, và giữ lại mừng hai ngày 25 tháng 12 cho Giáng Sinh và 6 tháng Giêng cho Hiển Linh.

Có người nghĩ rằng Giáo Hội chọn ngày 25 tháng 12 làm ngày sinh của Chúa Ki-tô vì muốn tín hữu quên đi ngày lễ Thần Mặt Trời (Natale solis invicti) mà Hoàng Đế Ao-rê-li-ô đã đặt ra để mừng thần Ê-mê-sa của người Sy-ri. Nhưng cũng có ý kiến khác cho rằng việc chọn ngày 25 tháng 12 làm ngày sinh nhật của Chúa vì theo truyền thống, Giáo Hội đã từng mừng Lễ Truyền Tin và Tử Nạn của Chúa vào ngày 25 tháng 3.

Theo phụng vụ Rô-ma, có tất cả ba thánh lễ Giáng Sinh được cử hành vào ba thời điểm khác nhau: Lễ Nửa Đêm (missa in nocte), Lễ Rạng Đông (missa in aurora), và Lễ Ban Ngày (missa in die). Phúc Âm công bố trong  3 thánh lễ này cũng khác: Lễ Nửa Đêm là việc Truyền Tin (Lc 2:1-14), Lễ Rạng Đông thì kể lại việc mục đồng đến viếng thăm Chúa (Lc 2:15-20), và Lễ Ban Ngày nói về việc Nhập Thể (Ga 1:1-18). Ba thánh lễ được cho là biểu tượng 3 lần sinh của Chúa Giê-su: (1) sinh ra tự muôn đời, từ Chúa Cha, (2) sinh ra trong lịch sử, qua Đức Mẹ Maria, và (3)sinh ra trong tâm hồn con người, vào trong lòng của từng tín hữu.

Chung quanh Lễ Giáng Sinh và Mùa Vọng có một số phong tục tập quán đã hình thành. Mùa Vọng thì có việc thắp nến và làm vòng hoa bắt nguồn tại Đức quốc từ thế kỷ 16; việc chuẩn bị máng cỏ từ Pháp; hoạt cảnh tìm chỗ cho Chúa sinh (phát xuất từ Herbergesuchen của Đức quốc và Posada của Tây Ban Nha). Còn trong Mùa Giáng Sinh thì có hát thánh ca (Carols); làm hang đá hay máng cỏ (theo câu chuyện thánh Phan-xi-cô A-si-di làm hang đá cho Hài Nhi Giê-su); thắp nến đèn Giáng Sinh, cây thông (cũng phát xuất từ nước Đức). Rồi có những lễ nghi đã tục hóa hoàn toàn như gửi thiệp, tặng quà, và ăn uống vui chơi trong dịp lễ.

Người Thanh Giáo (Puritans) đã bãi bỏ hoàn toàn lễ Giáng Sinh vì cho rằng nó đã bị thế tục hoá. Vào năm 1642, họ cấm không có lễ nghi trong nhà thờ cũng như mừng lễ của công chúng trong ngày 25 tháng 12. Vào năm 1647, Quốc hội Anh đã chính thức ra lệnh hủy bỏ ngày lễ Giáng Sinh cũng như những ngày lễ khác. Mặc dù bị dân chúng phản đối, luật này vẫn được thi hành nghiêm nhặt. Mãi đến năm 1660, khi chế độ quân chủ được phục hồi, lễ Giáng Sinh mới được mừng trở lại, cũng như mừng lại việc ông già Noel. Tại các thuộc địa của Mỹ lúc bấy giờ, chuyện ông Sinter Klass của người Hoà Lan đã biến thành ông già Santa Claus, và việc thăm viếng của Thánh Ni-cô-la vào ngày 5 tháng 12 đã được dời vào đêm 24 tháng 12. Vì người Thanh Giáo ghét các ngày lễ cũng như các giám mục, nên hình tượng của ông già Noel Santa Claus đã được biến đổi cho giống thần Thor của người Bắc Âu hơn là giống thánh Ni-cô-la của thế kỷ thứ tư.

Ngày nay, người ta muốn tục hoá ngày lễ Chúa Giáng Sinh, vì có quá nhiều tôn giáo không tin vào Chúa Cứu Thế. Thay vì câu Merry Christmas đã có truyền thống lâu đời, nhiều tổ chức phi tôn giáo hay có gốc từ Ki-tô giáo, muốn tỏ ra tổ chức của mình khách quan, không thiên vị đạo nào, đã sử dụng câu chúc Happy Holidays trong dịp lễ Giáng Sinh. Người Công Giáo cũng như những người tin vào Chúa Giê-su không nên vô tình làm mất ý nghĩa ngày lễ cũng như căn tính của niềm tin mình, nên cần ý thức khi tổ chức lễ mừng trong dịp này, chẳng hạn không nên quá lưu ý đến việc vui chơi phung phí, cũng như không nên mua và gửi những tấm thiệp chỉ có câu chúc chung chung mừng lễ, mà không hề nhắc đến một biến cố trọng đại là việc Thiên Chúa là Ngôi Hai nhập thể, mang thân phận con người vì yêu thương chúng ta. Chính Chúa Giê-su là món quà Giáng Sinh lớn lao nhất mà chúng ta đón nhận, và qua việc đón nhận này, chúng ta cũng sẽ là món quà cho Chúa và cho tha nhân. Mà món quà nào cũng chỉ có ý nghĩa khi được cho đi, đón nhận, mở ra và chia sẻ. Chúa Giê-su đã là món quà trao ban cho chúng ta nhận lãnh, và như thế mầu nhiệm Thiên Chúa làm người mới thật có ý nghĩa cho người tín hữu. Merry Christmas – Mừng Chúa Giáng Sinh – Emmanuel - Joyeux Noël         

                                                                                                                                     Trở về mục lục >>

 MỖI NGƯỜI LÀ MỘT Món Quà

 

G.B. Nintermann – Lê Văn Lộc dịch

Lạy Cha, con muốn rằng những người Cha đã ban cho con, thì con ở đâu, họ cũng ở đấy với con. (Ga 17, 24a).

Tôi xin chia sẻ ý nguyện ấy của Chúa Giê-su: những người Chúa ban cho tôi, tôi muốn rằng tôi ở đâu, họ cũng ở đó với tôi…Tha nhân là những món quà Chúa tặng cho tôi. Một số mới nhìn qua, tôi thấy ngay rất hấp dẫn. Một số lại được gói bằng loại giấy tầm thường, một số khác là những bưu kiện bị rách nát. Đôi khi có những gói được gửi đặc biệt. Có những gói bọc sơ sài, lại có những gói thật vuông vắn, có giây buộc cẩn thận…Nhưng phải nói ngay rằng: bao bì bên ngoài đâu đã phải là quà tặng, vậy mà lại rất dễ gây hiểu lầm. Ta thường bật cười khi thấy trẻ em lầm tưởng quà tặng là cái bao giấy lộng lẫy mà không để ý đến bên trong…Cũng có đôi khi ta phải nhờ người khác mở giúp một thùng quà. Có lẽ phải chịu đau mấy đầu ngón tay để gỡ nút buộc giây chứ? Lại còn hồi hộp sợ thùng quà đã bị ai đó lén mở trước, tráo đổi hay lấy mất món quà…Biết đâu là gửi cho người khác chứ không phải cho ta thì sao?

Tôi là một Con Người. Vậy tôi cũng là một Món Quà. Trước hết là món quà cho chính tôi, do Thiên Chúa Cha ban tặng. Vậy tôi đã xem kỹ nội dung quà tặng đó chưa hay còn e ngại? Lẽ nào nội dung lại khác với điều tôi mong ước sao? Có lẽ tôi chưa bao giờ nghĩ rằng tôi nhận được món quà là chính bản thân tôi. Mà đã là quà của Thiên Chúa Cha thì nhất định phải tuyệt vời vô cùng. Tâm lý con người ta là rất thích được nhận quà của những người thân thiết, thì tất nhiên tôi phải trân trọng hết sức đối với quà tặng của Thiên Chúa. Vậy mà món quà ấy lại chính là tôi, cốt ý để tôi đem trao lại cho người khác. Tôi có chấp nhận nổi ý muốn ấy của Thiên Chúa không? Một người là quà tặng cho người khác ư ? Mà thường thì người khác lại chỉ chú ý đến cái vẻ bề ngoài mà không hề thưởng thức nội dung bên trong, như vậy tôi có đồng ý không?

Bất cứ cuộc gặp gỡ nào cũng là một dịp để trao tặng quà. Nhưng nếu nhận mà không biết tặng ai thì chưa phải là quà tặng đúng nghĩa vì thiếu mất mối liên hệ giữa người cho và người nhận. Như vậy, yêu thương phải là mối tương quan giữa những con người biết chấp nhận bản ngã của nhau. Quả vậy, nhưng món quà của Thiên Chúa Cha chính là của người này đem trao cho người khác, cho anh em đồng loại.

Một người bạn đúng là một món quà không chỉ riêng cho tôi mà còn cho người khác, thông qua chính tôi. Vì thế, khi tôi chiếm hữu một người bạn thì tôi đã huỷ diệt tính chất Quà Tặng của người bạn ấy. Khi tôi dành riêng người bạn ấy cho bản thân tôi, chính lúc đó tôi đánh mất người bạn. Ngược lại, sẵn sàng trao tặng người bạn thân của mình cho người khác, chính là tôi đã giữ được người ấy cho tôi.

Người ta quả là những món quà Nhận Được hoặc Đem Cho, chẳng khác gì Chúa Giê-su. Như thế, yêu thương chính là một lời đáp trả của những con-người-quà-tặng dâng lên Thiên Chúa Cha, là Đấng đã ban tặng...Yêu thương chính là Nhiệm tích Thánh Thể, là Kinh Nguyện Tạ Ơn...

                                                                                                                                     Trở về mục lục >>

THIÊN CHÚA BA NGÔI

Lương Hữu Định

LTS: Giáo Sư Tiến Sĩ Lương Hữu Định nguyên là một Phật tử thuần thành. Ông đã tìm hiểu đức tin Công Giáo và theo học nhiều năm trước khi quyết định tin nhận Chúa Giêsu và gia nhập Giáo Hội Công Giáo. Ông có nhiều đóng góp cho Giáo Hội và Xã Hội qua các bài viết về Tôn Giáo, Xã Hội và giảng dạy về Kinh Tế, cũng như chia sẻ cho giới trẻ về những thao thức tâm linh, đức tin và thân phận con người trong các sinh hoạt tại giáo phận Sàigòn. Ông qua đời trong sự thương tiếc của nhiều bạn hữu và sinh viên. Bài viết này được Ông gửi tặng người bạn phương xa. Maranatha xin trích đăng như một nén hương tưởng nhớ Ông trong dịp lễ giỗ lần thứ 10.

Mỗi cuối năm, khi dọn mình để đón Chúa Giáng Sinh, chúng ta thường tự kiểm điểm lại một năm qua. Tôi đã nhiều tuổi rồi, nghĩ mình nên kiểm điểm lại hành trình đi tìm Chúa.

Chúa Ba Ngôi. Ngôi Ba, đó là khi tôi biết có Ngài trong cuộc đời này, nhưng sự hiện diện ấy tôi ít quan tâm. Ngôi Hai, đó là khi tôi bắt đầu trò chuyện với Ngài, như một người bạn, như một người anh và rồi như một người Cha. Ngôi Một, đó là khi Ngài làm chủ đời tôi. “Tôi sống, nhưng không phải là tôi sống, nhưng là Ngài sống trong tôi.” 

I. Thiên Chúa Ngôi Ba. Ngài Hiện Hữu

Thưở ấu thơ, tôi đã được nghe nói về ông Trời, như một ông vua ở trên thiên đình, có văn võ bá quan như ông vua dưới trần thế, có thần mưa, thần gió và ông thiên lôi có lưỡi tầm sét, chuyên đi bắt trẻ con hay khóc, trẻ con hư, trẻ con không chịu ăn cơm. Ông Trời xét xử mọi người, ai tốt thì Ông thưởng, ai xấu thì Ông phạt, ai cầu xin thì Ông cứu giúp.

Rồi lên trung học, trường tôi ở cạnh ngôi nhà thờ lớn, mỗi khi đi học sớm hay có giờ nghỉ, tôi thích và ngồi trong giáo đường yên tịnh ấy. Chỉ có mình tôi trong khoảng trống rộng lớn ấy, tôi tha hồ để tâm trí bay bổng theo hình ảnh đức Mẹ từ bi, các ông thánh đẹp đẽ. Tôi rất sợ cái người nào đó bị chết, bị đóng đinh trên thập giá. Chắc người ấy phải bị một cái tội gì ghê gớm lắm, người ta treo lên để răn đe những người muốn phạm tội. Mà có tội thì mang chém đầu, hay xử bắn, chứ ai lại treo lên như thế nhỉ. Mà thôi, chuông vào học đã vang lên rồi, tôi phải trở vào lớp. Tôi thấy Ngài mà tôi không gặp Ngài, anh chàng thu thuế nào đó còn may mắn hơn tôi. Ngài ở lại đó, yên lặng, Ngài chờ tôi, kiên nhẫn.

Khi lên đại học, bắt đầu làm quen với triết học, tôi bắt đầu suy nghĩ về cuộc đời: cuộc sống là cái gì nhỉ? Con người là cái gì nhỉ? Tôi là ai nhỉ? Sinh ra để là gì nhỉ? Các triết gia nói rằng có trời đất, nghĩa là phải có một đấng nào đó đã làm ra nó, đó là Đấng Tạo Hoá. Trời đất thật tốt đẹp, bốn mùa đều xinh tươi, vận hành thật nhịp nhàng, chứng tỏ Đấng Tạo Hoá tài giỏi vô cùng, có thể gọi Ngài là Đấng Vạn Năng. Nhưng hình như sau khi tạo lập ra cái trời đất này, ông ấy đã bỏ đi đâu rồi? Hay là ông ấy đã chết? Chứ có ai nghe nói gặp lại ông ấy đâu? Ông ấy bỏ đi rồi, hay đã chết rồi, thì còn có gì đáng quan tâm nữa đâu. Mình cứ biết lo phần mình đi cho rồi.

Vậy là Ngài vẫn hiện hữu bên tôi, như một người xa lạ, một người chẳng dính dáng gì đến đời tôi. Giá như mà không có Ngài, thì trời đất vẫn là trời đất, và tôi vẫn là tôi. Tôi an tâm, không cần suy nghĩ, tìm kiếm nữa.

 

II. Thiên Chúa Ngôi Hai. Tôi Gặp Ngài

Rồi khi ra tiếp xúc với cuộc sống ngoài đời, tôi thất vọng. Cuộc sống không như trong sách vở mà nhà trường dạy cho tôi. Sách vở dạy tôi yêu thương, mà tôi chỉ gặp ganh ghét, sách vở dạy giúp đỡ nhau, tôi chỉ thấy người ta chà đạp nhau, hãm hại nhau, thù hận nhau. Trong sách vở thì toàn Trời Phật, thần tiên mà ngoài đời thì toàn ma quỷ. Tôi chán nản. Mỗi khi có dịp nào đi qua một ngôi giáo đường yên lặng, tôi lại cảm thấy cần phải vào đấy để “nghĩ đời mà chán cho đời.”

Rồi tự nhiên tôi cảm thấy muốn tâm sự với một ai đó. Đầu tiên tôi nói chuyện với Mẹ, mẹ tôi mất sớm, cha tôi bận công việc làm ăn có khi nào chuyện trò với con cái đâu. Riêng Mẹ thì luôn đứng đó, sáng ngời trong ngôi giáo đường yên lặng và u tối. Giáo đường u tối như cuộc đời, hình ảnh Mẹ sáng ngời như ngọn đuốc soi đường. Tôi đến với Mẹ, tôi kể cho Mẹ nghe về những chuyện buồn bực trong cuộc sống, những thất vọng, đúng hơn là trút vào lòng Mẹ những đau khổ, buồn giận của tôi. Mẹ yên lặng nghe. Kể cho Mẹ xong, tôi cảm thấy trong lòng nhẹ nhàng, chắc chắn là Mẹ đã nghe tôi, chắc chắn là Mẹ sẽ không kể lại cho ai, không thêm bớt để mà thù ghét tôi.

Nói chuyện với Mẹ xong, tôi quay lại với cái con người bị đóng đinh trên thập giá. Ừ nhỉ, hoá ra còn có người phải khổ hơn mình nữa. Tại sao thế nhỉ? Tôi muốn tìm hiểu về Người ấy. Tôi tìm thấy Ngài trong Kinh Thánh. Tôi được nghe kể về Ngài, được nghe Ngài nói và rồi tôi cảm thấy được hoà mình vào những người đương thời với Ngài, cũng những bất công, ganh ghét, thù hận, âm mưu, hãm hại. Ngài không còn xa lạ với tôi nữa. Tôi nghe tiếng gõ cửa, tôi mở ra, và Ngài đã vào nhà tôi, một người khách mới quen nhưng coi bộ tin tưởng được. Thế là tôi bắt đầu nói chuyện với Ngài.

Phải thú thực là lúc đầu tôi chỉ nói chuyện với Ngài những khi có chuyện buồn bực, khi một người bạn làm hại tôi, khi cấp trên la rầy tôi, khi mọi chuyện xảy ra không đúng ý muốn của tôi. Còn ngược lại, sau những cuộc vui chơi với bạn bè, những thành công tốt đẹp, thì tôi lại quên Ngài. Cũng phải thôi, vui tươi thì giữ lại còn buồn bực mới đem ra chia sẻ chứ (cục muối mới cắn đôi, chứ cục đường thì lủm hết!)

Vậy mà Ngài không bao giờ hờn dỗi cả, vẫn lắng nghe. Mỗi lần nghe xong, Ngài lại ngước mắt nhìn lên như muốn nói: “Cha ơi, hãy xót thương cho con người đau khổ này, xin cứu vớt linh hồn này.” Rồi, lạy Chúa, bỗng nhiên tôi nghe được lời Ngài, vang lên từ toà giảng, từ những bài đọc mà tôi đã được nghe khi mở đầu các thánh lễ: “Hãy tha thứ cho nhau như Cha đã tha thứ chúng con, hãy thương yêu nhau như Thầy đã thương yêu anh em.” Thương đến điên khùng, đến chịu chết thay cho người khác, đến độ chết nhục nhã nhất, chết như một tử tội. Một sức mạnh dồn tôi tới chân tường, không còn cách nào khác, tôi phải thốt lên, “Lạy Chúa, con yêu Chúa, con yêu các anh em con, con yêu những người Chúa đã gửi đến cho con, dù họ ghét bỏ con, hãm hại con.” Giáo đường vẫn im lặng, từ xa lắm, vẫn có tiếng xe cộc cạch chạy qua chạy lại. Dòng đời vẫn chảy. Đúng chỉ là một giấc mơ, một giấc mơ thật khủng khiếp, một giấc mơ đã làm thay đổi tâm hồn tôi: tâm hồn tôi bỗng nhẹ nhàng. Tôi đã chuyển gánh nặng tội lỗi của các bạn tôi lên vai Ngài, và Ngài đã nhận lấy. Cái thánh giá mà tôi đang phải vác đây có nghĩa gì đâu so với cái thánh giá mà Ngài đã nhận từ Cha. So với những đau khổ mà Ngài đã chịu đựng, thì tôi vẫn là một người quá sung suớng.

Lúc đầu, Ngài yên lặng đứng trong bóng tối, chờ tôi tìm đến. Thấy Ngài tin tưởng được, chịu nghe tôi nói và cho tôi những lời khuyên hữu ích, tôi tìm đến Ngài nhiều hơn, tất cả những khi tôi có thì giờ rảnh rỗi. Không những kể chuyện buồn, mà còn cả chuyện vui nữa. Hoá ra Ngài không chỉ chia sẻ vớ tôi những lúc buồn mà có Ngài, niềm vui của tôi được trọn vẹn hơn. Một quà tặng vốn đã là quý hoá rồi, nếu nghĩ thêm rằng đó là quà tặng của người mình yêu, thì quà tặng ấy trở nên vô giá. Tôi chỉ cần nghĩ rằng những giờ phút vui sống bên bạn bè, là những giờ phút Ngài gửi đến cho tôi, là tôi muốn quỳ ngay xuống mà: Lạy Chúa, xin cảm tạ Ngài.

 

III. Thiên Chúa Ngôi Một. Ngài là Chủ Đời Tôi

Càng trút nỗi buồn và niềm vui qua cho Ngài, tôi càng cảm thấy nhẹ nhàng, yêu đời. Đầu tiên còn suy nghĩ, còn tính toán, khi nào bí lắm mới cầu cứu đến Ngài. Nhưng về sau, không biết là vì lười biếng hay vì quá tin tưởng, mà bất cứ chuyện gì tôi đều ‘kính chuyển’ đến Ngài hết. Vẫn âm thầm, vẫn lặng lẽ, người khách lạ đã trở thành người bạn và thành người chủ của tôi. Tôi chỉ còn một ước vọng là được biết ý muốn của Ngài để tuân phục, vâng phục đến mức thảm hại: chỉ lo không làm đúng ý của Ngài. Ngài sẽ không trách tôi, nhưng tôi biết là Ngài sẽ buồn, mà nếu người yêu của mình buồn thì chắc là mình phải khóc thôi.

Khi con người tự biết là mình bất toàn, thì sẽ để dành một chỗ cao nhất trong lòng mình cho một hình tượng nào đó. Người nào yêu thì dành chỗ đó cho người yêu, người nào say mê lý tưởng nào thì sẽ để chỗ đó cho thần tượng của mình. Nhưng rồi người yêu nào cũng chỉ là người, thần tượng nào rồi cũng sụp đổ. Vậy muốn chắc ăn nhất, tôi dành chỗ ấy cho Ngài, một người yêu không bao giờ phản bội, một thần tượng không bao giờ sụp đổ.

Ngài đứng đó, nơi cao nhất trong tâm hồn tôi. Trước đây, tôi còn cầu nguyện, nghĩa là còn nói chuyện với Ngài, còn muốn nghe Ngài nói. Bây giờ thi không cần nữa. Tôi chỉ cần bỏ qua những lo lắng của riêng tư, những ước muốn của cá nhân tôi, là Ngài đã xâm chiếm toàn thể suy nghĩ và hành động của tôi.

Trước khi trút hơi thở cuối cùng trên núi Sọ, Ngài kêu lên: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Cách đây 8 năm, tôi đã chịu phép Thanh Tẩy, nghĩa là đã chết và đã được sống lại cùng với Ngài, nhưng đến hôm nay, tôi mới có thể kêu lên: “Lạy Chúa, con xin phó thác đời sống của con trong tay Ngài.”

Bạn thương yêu ơi, Chúa vẫn hằng ở cùng chúng ta, Giáng Sinh chỉ là dịp để chúng ta suy niệm về mầu nhiệm ấy. Chắc là bạn đang dọn dẹp nhà cửa và tâm hồn để đón Chúa. Bạn thử hỏi lòng mình đi, Chúa là khách lạ, hay người bạn, hay là người Chủ? Tôi chẳng có gì để khuyên bạn cả, vì tất cả đều là ý Chúa. Nhưng nếu quả thực Chúa đã là chủ cuộc đời của bạn, thì tôi xin chúc mừng bạn. Xin chúc Bạn cùng gia quyến một mùa Giáng Sinh vui vẻ và tràn đầy ơn Chúa.  Mùa Giáng Sinh 1995●                                    

                                                                                                                                     Trở về mục lục >>

Cantique de Noël - O HOLY NIGHT - Đêm Thánh

 

Phạm Hoàng Nghị 

Chuyện kể về ca khúc “O Holy Night” khởi đầu ở nước Pháp, nhưng sau đã tràn ra khắp thế giới. Ca khúc thật giản dị này, phát khởi do lời yêu cầu của một linh mục, sau này đã trở thành một trong những ca khúc Giáng Sinh được ưa chuộng nhất mà còn đánh dấu một cuộc cách mạng kỹ thuật đã mãi mãi thay đổi phương thức truyền đạt âm nhạc đến quảng đại quần chúng.

Vào năm 1847, Placide Cappeau de Roquemaure là một ủy viên thương chính phụ trách về rượu tại một tỉnh nhỏ nước Pháp. Ông ít đi lễ lạy tại nhà thờ nhưng lại có tài làm thơ. Và ông rất đỗi ngạc nhiên khi được cha chính xứ nhờ ông sáng tác một bài thơ để đọc trong thánh lễ Giáng Sinh. Tuy vậy, nhà thi sĩ cũng rất hân hạnh được thi thố tài năng cho giáo xứ.

Trên chiếc xe ngựa lọc cọc lăn bánh trên con đường gồ ghề bụi bặm dẫn đến thủ đô Pháp quốc, Cappeau suy nghĩ về lời yêu cầu của vị linh mục. Bài thơ sắp sáng tác dĩ nhiên phải là một bài thơ đạo, trọng điểm là lễ Giáng Sinh, và dựa vào Thánh kinh. Ông đã dùng Phúc âm thánh Luca làm chỉ dẫn. Cappeau tưởng tượng ông đang chứng kiến việc Chúa hài đồng sinh hạ tại Belem. Ý nghĩ được hiện diện trong đêm cực thánh đó đã gây thi hứng cho ông sáng tác, và khi chiếc xe tới Paris thì ông đã hoàn thành bài thơ “Cantique de Noel” (Bài Ca Lễ Giáng Sinh).

Hứng khởi với sáng tác của mình, ông quyết định đó không chỉ đơn thuần là một bài thơ mà còn phải là một ca khúc đuợc một nhạc sĩ tài ba phổ nhạc. Không có năng khiếu về âm nhạc, Cappeau tìm đến bạn mình là Adolphe Charles Adams để nhờ giúp.

Adolphe sinh năm 1803, lớn hơn Cappeau 5 tuổi, là con một nhạc sĩ cổ điển thời danh và đã học tại nhạc viện Paris. Tới năm 1829 Adolphe đã hoàn thành nhạc kịch Pierre et Catherine. Tiếp theo sau thành công đó là Richard en Palestine, rồi đến các vũ khúc ballet viết cho các nhạc kịch Faust, la Fille du Danube, La Jolie Fille de Gand. Tài năng và danh tiếng lan rộng, ông đã được yêu cầu soạn hòa âm cho các giàn nhạc và vũ ballet trên khắp thế giới. Vậy mà bài thơ người bạn Cappeau trao cho ông lại là một thử thách khác xa những đơn đặt hàng đến từ Luân đôn, Bá linh hay St. Petersburg.

Nghiên cứu bài thơ Cantique de Noël, Adolphe thấy toàn lời ca triển dương tinh thần Giáng sinh của Đấng Cứu thế. Là người gốc Do Thái, ông thấy những lời đó ca tụng một ngày lễ mà ông không mừng, một con người mà ông không nhận là con của Thượng đế. Nhưng thúc đẩy nhiều hơn bởi tình bạn với Cappeau, ông mau mắn và ân cần làm việc, cố gắng kết hợp những dòng nhạc với lời thơ đẹp của Cappeau và sau cùng hoàn thành một tác phẩm hài lòng cả nhà thi sĩ và vị linh mục chính xứ. Ba tuần lễ sau đó tác phẩm được trình bày trong thánh lễ nửa đêm Giáng Sinh. Cả ông thi sĩ lẫn nhà soạn nhạc đã không ngờ trước được những gì sẽ xẩy ra sau đêm đó.

Khởi đầu, ca khúc đã được đón tiếp nồng nhiệt tại các giáo đường ở nước Pháp trong tất cả các nghi thức của ngày lễ Giáng Sinh. Nhưng khi Cappeau từ bỏ giáo hội để gia nhập phong trào xã hội, và các nhà chức trách trong giáo hội khám phá ra rằng Adolphe là một người Do thái, thì nhạc bản này - lúc đó đã lớn mạnh và trở thành bài ca Giáng sinh đuợc ưa chuộng nhất tại Pháp - lại đột nhiên bị giáo hội phủ nhận. Giới cầm quyền Giáo hội nước Pháp lúc đó tuyên bố rằng bản “Cantique de Noël” không thích hợp trong các nghi lễ tại giáo đường vì không có phong vị thánh nhạc và lời ca “hoàn toàn thiếu tinh thần tôn giáo.” Tuy giáo hội cố chôn bản nhạc, vậy mà giáo dân Pháp vẫn tiếp tục hát, và một thập niên sau, một nhà văn Mỹ đã đưa ca khúc này ra trước một thính giả mới nơi cách nước Pháp cả nửa vòng trái đất.

Sanh ngày 13 tháng 5 năm 1813 tại Boston, John Sullivan Dwight đã tốt nghiệp trường đại học Harvard và trường Thần học. Ông trở thành mục sư giáo phái Unitarian tại Northampton, tiểu bang Massachusetts, nhưng do một nguyên nhân nào đó cứ mỗi lần giảng thuyết trước đám đông là ông trở bệnh. Bất hạnh này làm ông cứ phải giam mình trong nhà, không dám xuất hiện trước quần chúng và do đó không thể làm nhiệm vụ mục sư được.

Là người rất thông minh và có tài, Dwight phải tìm cách khác để thi thố tài năng. Ông dùng khả năng viết lách để thành lập tờ báo chuyên về âm nhạc Dwight's Journal of Music. Suốt ba thập niên ông lặng lẽ làm việc, phê bình và đánh giá các nhạc bản một cách cẩn trọng. Tuy ông không xuất hiện được trước đám đông, nhưng một số các nhạc sĩ có tài và những người ưa chuộng âm nhạc vùng đông bắc nước Mỹ đã thích thú những bài viết có uy tín của ông. Trong lúc tìm kiếm các ca khúc mới để thẩm định, ông đọc đuợc “Cantique de Noël” nói trên bằng Pháp văn, và ông cảm thấy yêu mến ngay lời ca của bản nhạc này.

Ông không chỉ thấy phải giới thiệu bản nhạc Giáng sinh tuyệt diệu này cho thính giả Mỹ mà còn cảm nhận trong thâm tâm rằng bài ca còn đi xa hơn câu chuyện Giáng Sinh của Chúa nữa. Là một người có tinh thần giải phóng rất cao, ông bày tỏ mạnh mẽ quan điểm của mình bằng những câu trong bài ca: “Quả thực, Người dạy ta yêu nhau. Luật của Người là tình thương, và Tin mừng của Người là hoà bình. Xích xiềng sẽ bị bẻ gẫy vì nô lệ là anh em ta, và nhờ danh Người sẽ thôi không còn áp bức.” Bản văn thể hiện trung thực quan điểm của ông về chế độ nô lệ ở miền Nam lúc đó. Người viết lời ca tin rằng Chúa đến để giải thoát mọi người và trong bản nhạc này mọi người thấy rõ thực tại đó.

Giữ ý chính của nguyên tác, Dwight phiên dịch lời ca một cách tài hoa ra Anh ngữ, đem in trong báo của ông và xuất bản trong mấy cuốn sách âm nhạc thời đó. Bản nhạc mau chóng được quần chúng Mỹ ưa chuộng, đặc biệt là ở miền Bắc trong thời kỳ Nội chiến.

Trở lại nước Pháp, mặc dầu bản nhạc “Cantique de Noël” bị cấm hát trong các nhà thờ gần hai thập niên, nhiều người vẫn hát tại nhà. Có một truyền thuyết kể rằng vào đêm trước lễ Giáng sinh năm 1871, giữa trận chiến ác liệt giữa quân đội Đức và Pháp trong chiến tranh Pháp-Phổ, một binh sĩ Pháp bỗng dưng nhảy ra khỏi hầm trú ẩn lầy lội. Binh sĩ cả hai bên nhìn chằm chằm vào anh chàng có vẻ điên khùng này. Tay không mang vũ khí, anh đứng ngang nhiên ngước mặt nhìn trời cất cao giọng hát những câu mở đầu của bản Cantique de Noel: “Minuit, chrétiens, C'est l'heure solennelle Où l'Homme Dieu descendit jusqu'à nous” (“Nửa đêm rồi, hỡi người giáo hữu. Đây là giờ trọng thể Con Chúa xuống trần đến với chúng ta”). Đến lúc đó thì một anh lính bộ binh người Đức trèo ra khỏi nơi trú ẩn và hát đáp lại: “Vom Himmel hoch, da komm'ich her. Ich bring'euch gute neue Mar, Der guten Mar bring'ich so viel. Davon ich sing'n und sagen will.” Đó là phần mở đầu ca khúc “Ta Từ Trời Xuống Thế” của Martin Luther. Chuyện kể rằng sau đó trận chiến ngưng lại 24 giờ đồng hồ cho binh sĩ hai bên cùng tạm thời hoà hoãn để mừng ngày lễ Giáng Sinh. Có lẽ câu chuyện này phần nào thúc đẩy giáo hội Pháp chấp nhận bản Cantique de Noel được xứng đáng hát lên trong các nghi lễ tôn giáo như trước.

Vào ngày trước lễ Giáng sinh năm 1906, Adams người thi sĩ sáng tác bài thơ thì đã chết từ lâu, còn nhạc sĩ Cappeau và dịch giả Dwight thì đã già cả. Hôm đó, Reginald Fessenden, một giáo sư đại học Pittsburgh 33 tuổi và trước kia là chuyên viên hoá học phụ tá cho nhà bác học Mỹ Thomas Edison, đã thực hiện một chuyện mà từ lâu vẫn tưởng không thể làm được. Xử dụng một loại máy phát điện mới, Fessenden nói vào chiếc máy khuyếch đại và đó là lần đầu tiên trong lịch sử, tiếng nói của con người được truyền đi trên làn sóng không gian. “Và xảy ra trong những ngày ấy, có lệnh của hoàng đế Xê-da, là mọi người phải được kiểm tra”, ông cất cao giọng đọc thật rõ ràng, hy vọng tiếng nói truyền đi tới một địa điểm xa ông đã ước định trong thí nghiệm.

Các chuyên viên vô tuyến trên các tàu biển và tại các toà báo thật ngạc nhiên và sững sờ khi thấy các làn sóng xung động thường ngày họ nhận được bằng mã số phát ra trên mấy chiếc loa nhỏ xíu bỗng nhiên bị ngưng lại và giọng nói của vị giáo sư phát ra khi ông đọc đoạn Tin mừng nói trên trong sách thánh Luca. Một số người lúc đó tưởng chừng là một phép lạ khi nghe đuợc, lần đầu tiên tiếng nói con người đuợc chuyển thành làn sóng điện và truyền đi đến một nơi xa. Một số người khác tưởng chừng họ nghe được tiếng nói của thiên thần.

Fessenden có lẽ không biết được những cảm giác sững sờ ông gây ra trên các tàu biển và văn phòng báo chí vào lúc đó, ông không biết sự kiện nhiều người chạy vội đến máy vô tuyến để lắng nghe những âm thanh tưởng chừng như phép lạ đó. Thế nên, sau khi đọc xong đoạn Tin mừng, Fessenden nâng chiếc vĩ cầm của ông lên và chơi bản “O Holy Night”, bản nhạc đầu tiên được truyền đi trên làn sóng vô tuyến. Bản nhạc chấm dứt và buổi truyền thanh kết thúc. Vậy là âm nhạc đã tìm được một phương tiện mới để tràn lan khắp thế giới.

**********

Từ buổi được hát lên lần đầu trong thánh lễ Giáng Sinh tại ngôi thánh đường nhỏ bé năm 1847, đến nay bản nhạc “O Holy Night” đã được hát lên hàng triệu lần tại các thánh đường trên khắp thế giới. Và từ buổi một nhóm người ít ỏi được nghe phát thanh lần đầu trên làn sóng vô tuyến, bản nhạc đã trở thành một trong những bài thánh ca được thu thanh và được trình diễn nhiều lần nhất trong kỹ nghệ âm nhạc. Tổng số đĩa nhạc do nhiều ban nhạc trình bày đã lên đến hàng chục triệu.

Bản nhạc này, xuất phát do lời yêu cầu của một linh mục không tên tuổi, viết ra bởi một thi sĩ sau này lìa bỏ giáo hội, phổ nhạc bởi một người Do thái, và được mang đến quần chúng Mỹ vừa như một công cụ để soi chiếu tội ác của chế độ nô lệ vừa để tường thuật lễ Giáng sinh của Chúa, đã lớn mạnh để trở thành một trong những ca khúc đẹp tuyệt vời của mùa Giáng sinh.

 

1.       Sau đây là lời ca của bản nhạc O HOLY NIGHT (bằng Anh ngữ):

Oh holy night! The stars are brightly shining

It is the night of the dear Savior's birth! Long lay the world in sin and error pining

Till he appear'd and the soul felt its worth.

A thrill of hope the weary world rejoices, For yonder breaks a new and glorious morn!

Fall on your knees. Oh hear the angel voices. Oh night divine. Oh night when Christ was born

Oh night divine. Oh night divine!

Led by the light of Faith serenely beaming,  With glowing hearts by His cradle we stand

So led by light of a star sweetly gleaming, Here come the wise men from Orient land