|
THIÊN CHÚA BA NGÔI Lương Hữu Định LTS: Giáo Sư Tiến Sĩ Lương Hữu Định nguyên là một Phật tử thuần thành. Ông đã tìm hiểu đức tin Công Giáo và theo học nhiều năm trước khi quyết định tin nhận Chúa Giêsu và gia nhập Giáo Hội Công Giáo. Ông có nhiều đóng góp cho Giáo Hội và Xã Hội qua các bài viết về Tôn Giáo, Xã Hội và giảng dạy về Kinh Tế, cũng như chia sẻ cho giới trẻ về những thao thức tâm linh, đức tin và thân phận con người trong các sinh hoạt tại giáo phận Sàigòn. Ông qua đời trong sự thương tiếc của nhiều bạn hữu và sinh viên. Bài viết này được Ông gửi tặng người bạn phương xa. Maranatha xin trích đăng như một nén hương tưởng nhớ Ông trong dịp lễ giỗ lần thứ 10. Mỗi cuối năm, khi dọn mình để đón Chúa Giáng Sinh, chúng ta thường tự kiểm điểm lại một năm qua. Tôi đã nhiều tuổi rồi, nghĩ mình nên kiểm điểm lại hành trình đi tìm Chúa. Chúa Ba Ngôi. Ngôi Ba, đó là khi tôi biết có Ngài trong cuộc đời này, nhưng sự hiện diện ấy tôi ít quan tâm. Ngôi Hai, đó là khi tôi bắt đầu trò chuyện với Ngài, như một người bạn, như một người anh và rồi như một người Cha. Ngôi Một, đó là khi Ngài làm chủ đời tôi. “Tôi sống, nhưng không phải là tôi sống, nhưng là Ngài sống trong tôi.”
I. Thiên Chúa Ngôi Ba. Ngài Hiện Hữu Thưở ấu thơ, tôi đã được nghe nói về ông Trời, như một ông vua ở trên thiên đình, có văn võ bá quan như ông vua dưới trần thế, có thần mưa, thần gió và ông thiên lôi có lưỡi tầm sét, chuyên đi bắt trẻ con hay khóc, trẻ con hư, trẻ con không chịu ăn cơm. Ông Trời xét xử mọi người, ai tốt thì Ông thưởng, ai xấu thì Ông phạt, ai cầu xin thì Ông cứu giúp. Rồi lên trung học, trường tôi ở cạnh ngôi nhà thờ lớn, mỗi khi đi học sớm hay có giờ nghỉ, tôi thích và ngồi trong giáo đường yên tịnh ấy. Chỉ có mình tôi trong khoảng trống rộng lớn ấy, tôi tha hồ để tâm trí bay bổng theo hình ảnh đức Mẹ từ bi, các ông thánh đẹp đẽ. Tôi rất sợ cái người nào đó bị chết, bị đóng đinh trên thập giá. Chắc người ấy phải bị một cái tội gì ghê gớm lắm, người ta treo lên để răn đe những người muốn phạm tội. Mà có tội thì mang chém đầu, hay xử bắn, chứ ai lại treo lên như thế nhỉ. Mà thôi, chuông vào học đã vang lên rồi, tôi phải trở vào lớp. Tôi thấy Ngài mà tôi không gặp Ngài, anh chàng thu thuế nào đó còn may mắn hơn tôi. Ngài ở lại đó, yên lặng, Ngài chờ tôi, kiên nhẫn. Khi lên đại học, bắt đầu làm quen với triết học, tôi bắt đầu suy nghĩ về cuộc đời: cuộc sống là cái gì nhỉ? Con người là cái gì nhỉ? Tôi là ai nhỉ? Sinh ra để là gì nhỉ? Các triết gia nói rằng có trời đất, nghĩa là phải có một đấng nào đó đã làm ra nó, đó là Đấng Tạo Hoá. Trời đất thật tốt đẹp, bốn mùa đều xinh tươi, vận hành thật nhịp nhàng, chứng tỏ Đấng Tạo Hoá tài giỏi vô cùng, có thể gọi Ngài là Đấng Vạn Năng. Nhưng hình như sau khi tạo lập ra cái trời đất này, ông ấy đã bỏ đi đâu rồi? Hay là ông ấy đã chết? Chứ có ai nghe nói gặp lại ông ấy đâu? Ông ấy bỏ đi rồi, hay đã chết rồi, thì còn có gì đáng quan tâm nữa đâu. Mình cứ biết lo phần mình đi cho rồi. Vậy là Ngài vẫn hiện hữu bên tôi, như một người xa lạ, một người chẳng dính dáng gì đến đời tôi. Giá như mà không có Ngài, thì trời đất vẫn là trời đất, và tôi vẫn là tôi. Tôi an tâm, không cần suy nghĩ, tìm kiếm nữa.
II. Thiên Chúa Ngôi Hai. Tôi Gặp Ngài Rồi khi ra tiếp xúc với cuộc sống ngoài đời, tôi thất vọng. Cuộc sống không như trong sách vở mà nhà trường dạy cho tôi. Sách vở dạy tôi yêu thương, mà tôi chỉ gặp ganh ghét, sách vở dạy giúp đỡ nhau, tôi chỉ thấy người ta chà đạp nhau, hãm hại nhau, thù hận nhau. Trong sách vở thì toàn Trời Phật, thần tiên mà ngoài đời thì toàn ma quỷ. Tôi chán nản. Mỗi khi có dịp nào đi qua một ngôi giáo đường yên lặng, tôi lại cảm thấy cần phải vào đấy để “nghĩ đời mà chán cho đời.” Rồi tự nhiên tôi cảm thấy muốn tâm sự với một ai đó. Đầu tiên tôi nói chuyện với Mẹ, mẹ tôi mất sớm, cha tôi bận công việc làm ăn có khi nào chuyện trò với con cái đâu. Riêng Mẹ thì luôn đứng đó, sáng ngời trong ngôi giáo đường yên lặng và u tối. Giáo đường u tối như cuộc đời, hình ảnh Mẹ sáng ngời như ngọn đuốc soi đường. Tôi đến với Mẹ, tôi kể cho Mẹ nghe về những chuyện buồn bực trong cuộc sống, những thất vọng, đúng hơn là trút vào lòng Mẹ những đau khổ, buồn giận của tôi. Mẹ yên lặng nghe. Kể cho Mẹ xong, tôi cảm thấy trong lòng nhẹ nhàng, chắc chắn là Mẹ đã nghe tôi, chắc chắn là Mẹ sẽ không kể lại cho ai, không thêm bớt để mà thù ghét tôi. Nói chuyện với Mẹ xong, tôi quay lại với cái con người bị đóng đinh trên thập giá. Ừ nhỉ, hoá ra còn có người phải khổ hơn mình nữa. Tại sao thế nhỉ? Tôi muốn tìm hiểu về Người ấy. Tôi tìm thấy Ngài trong Kinh Thánh. Tôi được nghe kể về Ngài, được nghe Ngài nói và rồi tôi cảm thấy được hoà mình vào những người đương thời với Ngài, cũng những bất công, ganh ghét, thù hận, âm mưu, hãm hại. Ngài không còn xa lạ với tôi nữa. Tôi nghe tiếng gõ cửa, tôi mở ra, và Ngài đã vào nhà tôi, một người khách mới quen nhưng coi bộ tin tưởng được. Thế là tôi bắt đầu nói chuyện với Ngài. Phải thú thực là lúc đầu tôi chỉ nói chuyện với Ngài những khi có chuyện buồn bực, khi một người bạn làm hại tôi, khi cấp trên la rầy tôi, khi mọi chuyện xảy ra không đúng ý muốn của tôi. Còn ngược lại, sau những cuộc vui chơi với bạn bè, những thành công tốt đẹp, thì tôi lại quên Ngài. Cũng phải thôi, vui tươi thì giữ lại còn buồn bực mới đem ra chia sẻ chứ (cục muối mới cắn đôi, chứ cục đường thì lủm hết!) Vậy mà Ngài không bao giờ hờn dỗi cả, vẫn lắng nghe. Mỗi lần nghe xong, Ngài lại ngước mắt nhìn lên như muốn nói: “Cha ơi, hãy xót thương cho con người đau khổ này, xin cứu vớt linh hồn này.” Rồi, lạy Chúa, bỗng nhiên tôi nghe được lời Ngài, vang lên từ toà giảng, từ những bài đọc mà tôi đã được nghe khi mở đầu các thánh lễ: “Hãy tha thứ cho nhau như Cha đã tha thứ chúng con, hãy thương yêu nhau như Thầy đã thương yêu anh em.” Thương đến điên khùng, đến chịu chết thay cho người khác, đến độ chết nhục nhã nhất, chết như một tử tội. Một sức mạnh dồn tôi tới chân tường, không còn cách nào khác, tôi phải thốt lên, “Lạy Chúa, con yêu Chúa, con yêu các anh em con, con yêu những người Chúa đã gửi đến cho con, dù họ ghét bỏ con, hãm hại con.” Giáo đường vẫn im lặng, từ xa lắm, vẫn có tiếng xe cộc cạch chạy qua chạy lại. Dòng đời vẫn chảy. Đúng chỉ là một giấc mơ, một giấc mơ thật khủng khiếp, một giấc mơ đã làm thay đổi tâm hồn tôi: tâm hồn tôi bỗng nhẹ nhàng. Tôi đã chuyển gánh nặng tội lỗi của các bạn tôi lên vai Ngài, và Ngài đã nhận lấy. Cái thánh giá mà tôi đang phải vác đây có nghĩa gì đâu so với cái thánh giá mà Ngài đã nhận từ Cha. So với những đau khổ mà Ngài đã chịu đựng, thì tôi vẫn là một người quá sung suớng. Lúc đầu, Ngài yên lặng đứng trong bóng tối, chờ tôi tìm đến. Thấy Ngài tin tưởng được, chịu nghe tôi nói và cho tôi những lời khuyên hữu ích, tôi tìm đến Ngài nhiều hơn, tất cả những khi tôi có thì giờ rảnh rỗi. Không những kể chuyện buồn, mà còn cả chuyện vui nữa. Hoá ra Ngài không chỉ chia sẻ vớ tôi những lúc buồn mà có Ngài, niềm vui của tôi được trọn vẹn hơn. Một quà tặng vốn đã là quý hoá rồi, nếu nghĩ thêm rằng đó là quà tặng của người mình yêu, thì quà tặng ấy trở nên vô giá. Tôi chỉ cần nghĩ rằng những giờ phút vui sống bên bạn bè, là những giờ phút Ngài gửi đến cho tôi, là tôi muốn quỳ ngay xuống mà: Lạy Chúa, xin cảm tạ Ngài.
III. Thiên Chúa Ngôi Một. Ngài là Chủ Đời Tôi Càng trút nỗi buồn và niềm vui qua cho Ngài, tôi càng cảm thấy nhẹ nhàng, yêu đời. Đầu tiên còn suy nghĩ, còn tính toán, khi nào bí lắm mới cầu cứu đến Ngài. Nhưng về sau, không biết là vì lười biếng hay vì quá tin tưởng, mà bất cứ chuyện gì tôi đều ‘kính chuyển’ đến Ngài hết. Vẫn âm thầm, vẫn lặng lẽ, người khách lạ đã trở thành người bạn và thành người chủ của tôi. Tôi chỉ còn một ước vọng là được biết ý muốn của Ngài để tuân phục, vâng phục đến mức thảm hại: chỉ lo không làm đúng ý của Ngài. Ngài sẽ không trách tôi, nhưng tôi biết là Ngài sẽ buồn, mà nếu người yêu của mình buồn thì chắc là mình phải khóc thôi. Khi con người tự biết là mình bất toàn, thì sẽ để dành một chỗ cao nhất trong lòng mình cho một hình tượng nào đó. Người nào yêu thì dành chỗ đó cho người yêu, người nào say mê lý tưởng nào thì sẽ để chỗ đó cho thần tượng của mình. Nhưng rồi người yêu nào cũng chỉ là người, thần tượng nào rồi cũng sụp đổ. Vậy muốn chắc ăn nhất, tôi dành chỗ ấy cho Ngài, một người yêu không bao giờ phản bội, một thần tượng không bao giờ sụp đổ. Ngài đứng đó, nơi cao nhất trong tâm hồn tôi. Trước đây, tôi còn cầu nguyện, nghĩa là còn nói chuyện với Ngài, còn muốn nghe Ngài nói. Bây giờ thi không cần nữa. Tôi chỉ cần bỏ qua những lo lắng của riêng tư, những ước muốn của cá nhân tôi, là Ngài đã xâm chiếm toàn thể suy nghĩ và hành động của tôi. Trước khi trút hơi thở cuối cùng trên núi Sọ, Ngài kêu lên: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Cách đây 8 năm, tôi đã chịu phép Thanh Tẩy, nghĩa là đã chết và đã được sống lại cùng với Ngài, nhưng đến hôm nay, tôi mới có thể kêu lên: “Lạy Chúa, con xin phó thác đời sống của con trong tay Ngài.” Bạn thương yêu ơi, Chúa vẫn hằng ở cùng chúng ta, Giáng Sinh chỉ là dịp để chúng ta suy niệm về mầu nhiệm ấy. Chắc là bạn đang dọn dẹp nhà cửa và tâm hồn để đón Chúa. Bạn thử hỏi lòng mình đi, Chúa là khách lạ, hay người bạn, hay là người Chủ? Tôi chẳng có gì để khuyên bạn cả, vì tất cả đều là ý Chúa. Nhưng nếu quả thực Chúa đã là chủ cuộc đời của bạn, thì tôi xin chúc mừng bạn. Xin chúc Bạn cùng gia quyến một mùa Giáng Sinh vui vẻ và tràn đầy ơn Chúa. Mùa Giáng Sinh 1995● |