Có Nên HỌc TiẾng La-tinh?

Nguyễn Xuân Bách

Trước đây, báo Maranatha có đăng bài của tác giả Thái Ân về vấn đề đặt câu hỏi có nên học tiếng La-tinh hay không, và tác giả trả lời rằng nên học tiếng La-tinh lắm, vì nhiều lý do…Tuy nhiên, trên thực tế thì hiện nay đâu có mấy ai học một “tử ngữ”. Mấy thứ tiếng “sinh ngữ” như Hy Lạp, Do Thái mà còn chẳng mấy ai học, dù biết rằng muốn thông thạo về Kinh Thánh thì ít nhất phải học biết mấy thứ tiếng này, chứ đừng mong những “cổ ngữ” xa xưa.

Người dân Việt ngày nay đa số chỉ học Anh ngữ hay Pháp ngữ, và lợi ích của việc học các ngoại ngữ thông dụng thì ai cũng biết rõ, có lẽ không cần bàn cãi. Tuy nhiên, các bạn có biết rằng có đến một nửa từ vựng của Anh ngữ bắt nguồn từ La tinh không? Câu chuyện là như thế này, vào năm 1066, William và đoàn quân thiện chiến Normans của ông xâm lăng nước Anh. Người Normans nói tiếng Pháp, mà Pháp ngữ thì bắt nguồn từ La tinh, cho nên xâm lược đất đai đã biến thành xâm lược văn hoá. Người Norman nói tiếng Pháp đã góp phần tăng gia sản từ vựng La tinh trong Anh ngữ. Tiếng Anh phổ thông thì gọi là Anglo-Saxon, còn muốn dùng chữ mang vẻ quý phái, triết học, thơ ca thì phải có gốc La tinh mới là đúng kiểu (giống như tiếng Nôm và tiếng Hán của chúng ta). Thế nên học Anh ngữ đúng cách thì cần phải biết gốc La tinh, vì trong các ngành nghề chuyên môn như Y khoa, Luật khoa và các khoa học cơ bản, các từ vựng căn bản hay được sáng chế sau này đều phần lớn dựa vào La tinh hay có gốc La ngữ.

Có lẽ phần đông chúng ta ai cũng biết trong quá trình lịch sử, người La mã có xung đột với người Hy lạp. Về sức mạnh quân sự thì La mã đứng đầu, nhưng về mặt văn hoá nghệ thuật thì người Hy lạp vượt xa La mã. Khi tiếp xúc với người Hy lạp, người La mã đã khám phá một kho tàng về nghệ thuật, văn chương, âm nhạc, khoa học và triết học, cũng như đã học hỏi được tinh thần ham học hỏi, khao khát hiểu biết của người Hy lạp. Thế nên chẳng mấy chốc sau khi chinh phục thế giới, con em La mã lũ lượt đến thủ đô Athens và các trung tâm lớn của Hy lạp để hoàn thiện kiến thức văn hoá. Đồng thời, các thi sĩ, nghệ sĩ, nhà hùng biện và triết gia Hy lạp đổ xô đến La mã để mở trường, dạy học. Vì thế mà chúng ta có nền văn hoá La-Hy là thế.

Như vậy thì việc học La tinh chưa xong, ta đã phải nói chuyện học tiếng Hy lạp nữa hay sao? Xin thưa đừng vội vã. Bài viết này chỉ muốn nhấn mạnh thêm về việc học tiếng La tinh. Mà khổ nỗi không phải ai cũng thích học, hay có cơ hội học, hay có khả năng học La ngữ, nên chúng ta chỉ bàn tới vai trò của các vị chức sắc trong Giáo Hội, câu hỏi đặt ra là, “các cha, các tu sĩ, các chủng sinh có nên học tiếng La tinh không?”

Nhiều người vẫn nghĩ rằng sau công đồng Vatican II, việc học La ngữ đã bị loại bỏ trong các chủng viện vì “không cần thiết”. Hoàn toàn sai lầm. Giáo luật điều 249 nói rõ ràng, chủng sinh không những học để biết sơ lược La ngữ, mà còn phải “sed etiam linguam latiman bene calleant” (nhưng nên biết tường tận). Linh mục Daniel Gallagher, giáo sư thần học và La ngữ tại Đại chủng viện Thánh Tâm ở Michigan, Hoa Kỳ, tác giả bài báo Apolgia pro Munere Suo (Biện Hộ Cho Việc Làm Của Mình) mà chúng tôi dựa theo để viết bài này, cho rằng nếu chủng sinh nào mà không hiểu được mấy câu La ngữ dùng ở trên thì rất đáng đặt câu hỏi là liệu có nên truyền chức linh mục cho ứng sinh này không?!!!

Có người cho rằng đặt câu hỏi như thế là quá đáng, vì họ nêu ra trường hợp của cha thánh Gioan Maria Vianney, một linh mục rất yếu về La ngữ, mà đã được làm linh mục, và thành một linh mục thánh thiện thì sao? Ad primum sic proceditur (vì thế, chúng ta bàn đến điều đầu tiên - một câu quen thuộc trong bộ Tổng Luận Thần Học Summa Theologiae của thánh Tôma Aquina), người ta cứ tưởng là thánh Gioan Maria Vianney tuy dở tiếng La tinh nhưng vẫn được làm linh mục. Sed contra (Trái lại), Respondeo dicendum quod (tôi xin trả lời rằng) cha sở họ đạo Ars thực ra phải là gương học La ngữ, vì tuy cha gặp khó khăn trong thời gian tu học, nhưng đã chứng tỏ sự cố gắng và cuối cùng đã hiểu biết La tinh đủ để được làm linh mục. Phong chức linh mục cho Vianney không phải là ngoại lệ, nhưng là vì cha đã kiên trì học hỏi để có đủ kiến thức cần thiết cho sứ vụ linh mục.

Tuy có giáo phận và chủng viện muốn không thực hiện điều 249 của Giáo luật, vì nhiều lý do không dạy La tinh cho chủng sinh, nhưng theo thiển ý các chủng sinh rất nên học La ngữ. Tại sao vậy? Câu trả lời thông dụng là vì La tinh là ngôn ngữ chính thức của Giáo hội Công Giáo. Này nhé, chính đức Giáo hoàng Bênedictô XVI nhắc nhở điều này khi ngài giảng bài đầu tiên Latine (bằng tiếng La tinh). Rồi hồng y Angelo Scola mở đầu Tổng Công Nghị Giám Mục lần thứ 11 bằng việc đọc bài relatio ante disceptationem (diễn văn trước khi thảo luận) cũng bằng La ngữ. Các thông điệp, tông thư và văn kiện ngoại giao của Toà Thánh đều viết bằng La ngữ. Nghi thức Trừ Quỷ cũng được đọc bằng La tinh. Trong cuộc phỏng vấn vào ngày 27 tháng 11 năm 2005, Giám mục Andrea Gemma của thành phố Napoli, nước Ý một peritus (chuyên gia) về trừ quỷ có cho biết, khi ngài nói với quỷ bằng La tinh, thì nó cũng trả lời ngài bằng La tinh, mặc dù nó rất sợ và ghét tiếng này.

Tại Giáo triều Roma cũng như ở những nơi góc nào đó trên hành tinh này, vẫn còn có người nói tiếng La tinh. Trong diễn văn cho các hội viên hiệp hội La Tinh tại Roma vào ngày 28 tháng 11 năm 2005, Đức Giáo Hoàng Benedictô XVI khuyến khích các nhà giáo không những gìn giữ thesaurus (kho tàng) từ vựng văn chương La ngữ, mà còn tìm cách thức dạy dỗ mới lạ để truyền đạt lại, đặc biệt inter iuniores (cho người trẻ). Học trò La tinh thường ví von các bài học La ngữ giống như công thức đại số. Nhưng thực ra, đó chỉ là một ngôn ngữ, không phải là một mật mã bí ẩn nào. Mà vì tiếng La tinh tổ chức chặt chẽ, rõ ràng nên học La ngữ vừa như là học khoa học, mà cũng là học một môn nghệ thuật. Cứ hình dung học La tinh như nghiên cứu Âm nhạc của J.S Bach, với hệ thống điều hoà rất chân phương, cân đối. Tuy ngày nay ta có hệ thống ngũ cung, vô cung nhưng không ai trong giới âm nhạc là không khâm phục thưởng thức những toccata và tấu khúc (fugue) của nhạc sĩ thiên tài Johann Sebastian Bach. La tinh cũng thế, tuy ta có các thứ tiếng ngôn ngữ mới lạ để học hỏi (như tiếng Nhật, tiếng Tàu, tiếng Đại hàn), nhưng không vì thế mà quên đi vẻ đẹp ngôn ngữ triết học, hùng biện và tôn giáo của La ngữ.

Ngoài ra, cũng còn nhiều lý do để học La ngữ, không kể đến việc bị bắt học theo Giáo luật. Học La tinh để con người được “nhân bản” hơn. Tác giả Eramus và Thomas More đều biết rằng litterae bonae (môn nhân văn – hay văn chương) làm con người từ thô thiển trở nên quý phái, tốt đẹp, giống như viên đá được mài dũa thành viên ngọc quý. Học La ngữ phải có kỷ luật và quyết tâm thì mới mong giỏi và nắm vững ngôn ngữ này. Tóm lại, có môn học hay nghề nghiệp nào lại không đòi hỏi người muốn giỏi phải quyết tâm rèn luyện và kỷ luật tuân theo? Đó là thước đo và phân biệt giữa “biết” và “giỏi”, giống như văn hào Buffon đã nói, “thiên tài chỉ là một sự kiên nhẫn lâu dài.” Chăm chỉ học tập, trau dồi suy tư thì mới có thể học các môn triết học, thần học lên cao được, là đòi hỏi của các bậc “làm thầy” thiên hạ. Học La tinh có thể giúp tập đức tính tốt đẹp này.

Không những quá trình học La ngữ giúp con người nên tốt đẹp, mà cả nội dung các bài học La tinh cũng mở rộng kiến thức và tâm hồn. Ai đọc những bài hùng biện tha thiết đầy cảm xúc của Cicero bày tỏ lòng trung thành tuyệt đối với nước Cộng Hoà chống lại Catalina mà không bồi hồi? Đọc những tác phẩm của thánh Augustine để thấy phân tích tâm lý thực sâu xa, hay thiên tài hùng biện của Đức Gregorio vĩ đại? Đó là chưa nói đến những suy tư thần học sâu sắc trong các tác giả này. Phải công nhận rằng khi làm mục vụ, ít có chủng sinh linh mục nào sẽ phải dùng La tinh hàng ngày, tuy nhiên, việc học tiếng La tinh sẽ giúp người chủng sinh linh mục tương lai áp dụng cách thức đã học trong công tác mục vụ. Họ có thể phân tích, lý luận, và chọn lựa giải quyết trong các tình huống khó khăn tưởng như tối mò không dò tìm ra giải đáp, như đã từng phân tích, lý luận và tìm ý nghĩa khi học các tác giả cổ điển La ngữ. Họ sẽ biết trình bày vấn đề minh bạch, khúc triết và mang lại hiệu quả, chứ không như nhiều cha bây giờ, giảng xong không biết mình đã nói gì, khi giáo dân hỏi thêm, không biết phân tích rõ ràng giúp người tín hữu. Trường hợp này giống như một thầy giáo dạy học, sau một bài giảng khó, học sinh hỏi cho ra lẽ, thầy đã lầm bầm nói nhỏ, “thầy còn không biết thầy nói gì, làm sao giúp các em muốn biết thêm được?” Giáo dục nói chung, học La ngữ nói riêng, đã làm con người eruditus (thông thái – ex: thoát khỏi, rudis: ngu dốt, thô thiển).

Nói thế nhưng không tránh khỏi vẫn còn nhiều kẻ hoài nghi, những người rudentes (suy nghĩa từ chữ ở trên) đã phát biểu thẳng thừng: “Thời này mà dạy mấy thứ cổ ngữ đó làm chi cho mất thời giờ, hãy dạy các chủng sinh cho biết làm mục vụ, cho họ va chạm thế giới thực tế thì tốt hơn.” Thật không có gì lầm lẫn hơn là những nhận định trên đây. Có lẽ họ nghĩ rằng dạy chủng sinh tiếng La tinh sẽ làm cho họ trở về thời tiền Vatican II, nghĩa là mặc áo thụng đen, đội mũ rế, và quay lưng về phía giáo dân khi dâng lễ…Thật ra thì trong Giáo Hội cũng có những vị đại bảo thủ, và cũng có không ít người cực đoan hết mức. Không may cho Giáo Hội Hoa Kỳ, vì quá phân hoá nên cả phe cực hữu cũng như cực tả đã làm giảm tầm quan trọng của tiếng La tinh, coi đó chỉ là một biểu tượng ý thức hệ, chứ không xem đó là một ngôn ngữ tuyệt vời đáng được tôn trọng. Khi tranh luận ồn ào, người ta dễ dàng quên đi La tinh là cầu nối hiện tại với sự khôn ngoan thông thái vĩnh cửu của cha ông, của người tin Chúa hay các học giả không biết Chúa Kitô, cũng như quên rằng La tinh giúp nâng tâm hồn và trí tuệ của chúng ta.

Cũng có lúc ta gặp được một vài chủng sinh muốn học La ngữ chỉ để đọc được sách lễ Pius V khi làm lễ (xin độc giả đừng lo, những chủng sinh nào chỉ muốn đọc – phát âm được tiếng La tinh nhằm dâng lễ thì sẽ không được nhận sứ vụ linh mục, theo Giáo luật 249). Nhưng cũng có khi có chủng sinh mê La tinh đến nỗi chỉ muốn đọc những vần thơ tình tứ ướt át của Ovid và Catullus (mấy cậu này cũng khỏi chịu chức, lý do quý vị độc giả hẳn biết). Chủng sinh được đào tạo đầy đủ về La ngữ hẳn phải đọc được các văn bản phụng vụ căn bản, các sách Giáo Phụ, văn kiện Công Đồng, và paenitet mihi (xin lỗi) Giáo luật!

Tại Hoa Kỳ, nhiều người cho rằng có nhiều ngôn ngữ khác đã thay vị trí của La ngữ trong công tác mục vụ. Chẳng hạn như biết tiếng Tây Ban Nha, hay tiếng Việt thì có thể làm mục vụ cho người Mễ, người Việt. Có chừng 40 phần trăm người Công Giáo Hoa Kỳ nói tiếng Tây Ban Nha, và đa số linh mục tại Hoa Kỳ chẳng chóng thì chày cũng phải làm mục vụ cho sắc dân này. Thế thì tại sao không học luôn cả 2 thứ tiếng? Này nhé, Giáo luật điều 249 không những bảo phải học La tinh cho rành, mà còn muốn chủng sinh rành ngôn ngữ để làm mục vụ. Giáo Hội là người mẹ luôn muốn con mình giỏi giang, có khả năng làm việc tông đồ nên yêu cầu như thế thì cũng không có gì quá đáng. Các linh mục tương lai là những người đầy lý tưởng, nhiệt huyết muốn hiến thân phục vụ thì xá gì mấy chuyện ngôn ngữ lẻ tẻ. Mà đã học được La tinh thì học thêm Tây Ban Nha hay Pháp Ngữ thì cũng như tập nhảy sào rồi nhảy cao vậy thôi mà. Ăn chay kiêng thịt hãm mình làm tuần thánh còn hy sinh được, huống chi việc học tập cho giỏi để phục vụ, phải coi đó là bậc thang rèn luyện nhân cách cũng như nên thánh, bắt chước thánh Gioan Maria Vianney vậy.

Tuy vậy cũng có chủng sinh cho rằng các cha, thầy giáo dạy môn gì thì đề cao môn đó thôi (không dám nói Giáo Hội thiếu thực tế), chứ thiếu gì môn học cần thiết hơn là La tinh. Hơn nữa, tuy khuyến khích chủng sinh trước khi học thần học cần có kiến thức La ngữ cho vững vàng, cũng cho rằng La tinh là nền tảng chứ không phải là cấu trúc trong chương trình đào tạo. Thật ra, nếu nền tảng mà không vững, thì cơ cấu trên nền tảng đó cũng sụp đổ dễ dàng như xây nhà trên cát, dụ ngôn trong Phúc Âm Chúa Giêsu đã dạy (Mt 7, 26). Kinh nghiệm mục vụ giảng dạy cho thấy rằng những người trổi vượt trong khoa Thần học không hẳn là những người thông thái nhất, mà là những người đã mài trí khôn mình trên viên đá mài La ngữ. Cha giáo Gallagher đã chứng kiến nhiều chủng sinh sau khi học La ngữ đến nơi đến chốn đã có nhận thức thay đổi sâu xa, và sẵn sàng đối phó với những cam go thử thách, và đã thành công.

Các vị linh mục cao niên thường nhớ lại ngày xưa, nhiều bạn chủng sinh đã phải cuốn gói ra về vì học lực, nhất là vì không vượt được trở ngại La ngữ. Hồi đó có lẽ khó khăn hơn bây giờ, nhưng không phải vì thế, đặc biệt là do việc thiếu ơn gọi linh mục, mà sẵn sàng truyền chức cho bất cứ ai, miễn là anh ta chỉ đọc được chữ đỏ. Nhu cầu cần thiết, nhưng không phải vì thế mà “thượng vàng hạ cám” đều nhận tất. Ứng sinh cho chức linh mục phải có những đức tính nhân bản tích cực, có hiểu biết trí tuệ, có đời sống tâm linh đạo đức mà người tín hữu mong chờ để giúp cộng đoàn sống thánh thiện theo đường lối của Chúa muốn. La ngữ đóng vai trò không thể thiếu trong việc đào tạo con người linh mục như thế, như mong ước của các nghị phụ Công Đồng Vatican II, trong sắc lệnh Optatam Totius, được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II làm rõ nét hơn trong tông thư Pastores Dabo Vobis.

Uớc mong bài viết này có giúp cho các chủng sinh tương lai nhìn thấy giá trị của việc học La ngữ, chứ cứ nhìn ra xã hội bên ngoài, khi mà tác phẩm Da Vinci Code bán chạy như tôm tươi, còn sách dạy La ngữ thì tìm mỏi mắt không hề thấy trên thị trường, thì người viết có phần hơi hoang mang nghi ngờ, phải thốt lên như các cụ ngày xưa:

Sách vở ích gì cho buổi ấy…

Tuy vậy, thời buổi khoa học kỹ thuật internet nổ bùng, ai muốn học La ngữ thì cứ vào trang www.textkit.com thì tha hồ học La ngữ và Hy lạp bằng những tác phẩm cho download tự do. Còn nhiều trang khác nữa mà ta không thể kể cho hết, chỉ có điều đa số sách giáo khoa này viết bằng Anh ngữ. Thì đã sao nhỉ? Học thêm tiếng Anh cho hiện đại, đó mới là con người bắt cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, giữa kinh điển và thực tế, xứng đáng là chủng sinh, linh mục của thế kỷ 21 vậy   

Trở về Muc Lục