|
ĐỊNH MỆNH và Ý CHÍ TỰ DO Đỗ Trân Duy Có lẽ không lộng ngôn khi nói rằng một số không nhỏ Kitô hữu Việt tin có số trời. Niềm tin này ẩn trong vô thức bắt nguồn từ tín ngưỡng dân gian về luật nhân quả. Qua thời gian nó lồng vào niềm tin “Chúa Quan Phòng” một cách êm ái tự nhiên. Họ tin có số mệnh vì “một sợi tóc trên đầu rơi xuống cũng do Chúa định.” Cũng có nhiều Kitô hữu không tin vào số mệnh nhưng lại bị vướng mắc trong vài sự kiện được nêu ra trong Thánh Kinh. Chẳng hạn việc Giuđa phản bội. Vì Đức Giêsu đã nói trước những gì xảy ra, nên họ phân vân: “Phải chăng biến cố Giuđa nằm trong chương trình cứu độ đã tiền định? Phải chăng Giuđa chỉ là nạn nhân của một định mệnh?” Thuyết Định Mệnh và Khoa Học Thông thường đại chúng tin rằng định mệnh là một khái niệm thuần túy siêu hình. Thực ra nó có căn gốc khoa học. Một thời các triết gia theo trường phái định mệnh đã triệt để dùng thành quả khoa học để luận về quyền lực của định mệnh. Trong khoa học ý thức định mệnh được biểu lộ qua thuyết xác định (determinism), tức luật nhân quả (cause and effect). Luật này cho phép người ta căn cứ vào tác động của “nguyên nhân khởi đầu” để tiên đoán những gì sẽ xảy ra. Một thực nghiệm có tính cách giáo khoa là đường đi của trái bi da. Với một lực tác động định trước (nhân), khoa học gia có thể vẽ đường đi của trái bi da trên một bản tọa độ. Họ tính được chính xác tốc độ của trái bi lúc đi, sẽ tới điểm nào, và sẽ dội ngược lại ra sao (quả). Ngày nay khoa học gia hoài nghi về giá trị của thuyết xác định vì tính cách lý tưởng của nó. Thuyết xác định chỉ đúng khi giả thiết là không có gì bất thường xảy ra. Trong thí dụ trái bi da nêu trên, nếu lực tác động khởi đầu sai một chút, nếu điểm tiếp xúc lệch một chút, nếu trái bi bị méo một chút, nếu chân bàn nghiêng một chút, nếu mặt bàn hư rách một chút, và nếu trong khi đang di chuyển trái banh bị một trở ngại nào đó…mọi tiên đoán sẽ sai hết. Nói khác đi, luôn luôn có sự hiện diện của một tiềm lực bất định làm thay đổi thành quả đã tiên đoán. Thành Tố Không Gian, Thời Gian, và Vận Tốc Tiềm lực làm sai lạc sự tiền định đã được vật lý học hiện đại nhận diện. Vì thuyết định mệnh có căn gốc khoa học, nên chúng ta phải khởi đi từ kiến thức khoa học để luận về số mệnh. Giả dụ có số mệnh, nó bắt buộc phải được nâng đỡ bởi không gian và thời gian. Nếu không có không gian những sự kiện của nhân quả sẽ nằm ở đâu? Nếu không có thời gian làm gì có quá khứ, hiện tại, và tương lai. Không và thời là cái nền bền chặt bất biến để lịch sử giải bày. Không gian của chúng ta có 3 chiều gồm chiều trước-sau, chiều phải-trái, và chiều cao-thấp. Darren Levanian đưa ra trường hợp nếu ta đi vào thế giới của những người sống trong không gian 2 chiều. Vì họ không có chiều thứ 3 (chiều cao-thấp) nên khi ta từ trên cao bước xuống trước mặt họ, họ thấy ta tự nhiên hiện ra. Họ rú lên “Phép lạ! Phép lạ!” Nếu ta từ trên cao nói cho họ biết những gì ta thấy và sẽ xảy ra quanh họ, họ sẽ cho ta là thần thánh và sẽ tin là có số mệnh. Họ không biết ta chỉ là một kẻ tầm thường trong số hằng tỷ người thuộc không gian 3 chiều. Việc ta vừa làm chẳng có gì đáng cho ai ngạc nhiên. Cũng tương tự, chúng ta với tầm nhìn hạn hẹp đóng khung trong không gian 3 chiều, chúng ta tin vũ trụ chỉ có vậy và không thể thay đổi. Đùng một cái, năm 1905 Einstein khám phá ra không gian và thời gian có thay đổi. Chúng co giãn tùy theo vị trí và tốc độ di chuyển của người quan sát. Einstein trình bày khám phá của ông qua thuyết tương đối (theory of general relativity). Từ đó không gian và thời gian trở thành những phạm trù có giá trị tương đối và người ta có thể bàn cãi về chúng. Einstein cho biết nếu có người di chuyển với tốc độ bằng nửa vận tốc ánh sáng, thời gian của hắn sẽ dài hơn thời gian của chúng ta 15%. Thời gian cứ vậy dãn ra theo gia số của tốc độ. Nếu hắn có tốc độ bằng 99.9999% tốc độ ánh sáng, 1 giây của hắn sẽ bằng 6.2 giờ đồng hồ của chúng ta. Nếu hắn có một tốc độ đủ lớn, 1 giây của hắn sẽ dài bằng cả một đời người của chúng ta. Qua bài toán này bạn có thể nói bạn không hiểu gì cả vì nó vô lý. Sự cảm nhận qua lý lẽ không giúp gì trong vấn đề này. Luật tương đối là một sự kiện rất tự nhiên đang xảy ra trong vũ trụ bất kể ta có hiểu hay không. Bạn hãy để cái máy đo phóng xạ Geiger bên cạnh. Bạn sẽ thấy nó chạy tí tách liên tục bởi vì phóng xạ vũ trụ kích động nó. Nhưng làm sao những hạt muons (nguyên tử phóng xạ), có đời sống rất ngắn (1/106 giây) lại có thể đi qua bầu khí quyển bảo vệ trái đất dầy đến 20 km, để kích động máy đo Geiger. Câu trả lời nằm trong vận tốc của nó. Vì nó di chuyển gần bằng tốc độ ánh sáng, nên thời gian kéo dài ra. Thời gian này dư thừa để nó đi qua bầu khí quyển. Tuy nhiên ở vị trí muons, thời gian không thay đổi nhưng không gian 20 km đã co ngắn lại như sát bên. Khi Viên Đạn Tachyons Đi Nhanh Hơn Vật Tốc Ánh Sáng Chúng ta nhìn thấy một vật là nhờ ánh sáng mang hình ảnh của nó đến con mắt của chúng ta. Để có thể quan sát sự việc đang xảy ra một cách trung thực, tất cả mọi vật phải có tốc độ nhỏ thua tốc độ của ánh sáng. Ngay thuyết tương đối của Einstein cũng xác định vận tốc ánh sáng là giới hạn không thể vượt qua. Như vậy vận tốc cũng là một thành tố cấu tạo nên không gian sống của chúng ta. Thêm vào thành tố thời gian, thế giới của chúng ta nằm trong không gian 4 chiều. Vào thế kỷ 21 một số nhà vật lý học đưa ra một danh xưng mới, đó là hạt tachyons (tiếng Hy Lạp có nghĩa là vận tốc). Tachyons di chuyển nhanh gấp đôi vận tốc ánh sáng. Điều gì sẽ xảy ra. Việc xảy ra là trật tự thời gian trong “không gian của giới hạn vận tốc ánh sáng” bị đảo ngược. Khoa học gia cho biết nếu ta ngồi trong một phi thuyền tachyons, ta sẽ đi lùi từ tương lai trở về quá khứ. Để hình dung khái niệm này họ đưa ra thí dụ viên đạn tachyons. Thí dụ có một khẩu súng bắn bằng viên đạn tachyons. Khi ánh sáng mang hình ảnh viên đạn vọt ra khỏi nòng súng chưa kịp đến mắt ta thì viên đạn đã nổ ở mục tiêu rồi, vì nó đi nhanh gấp đôi vận tốc ánh sáng. Nếu ta di chuyển cùng chiều với viên đạn với vận tốc bằng 80% vận tốc ánh sáng, ta sẽ thấy viên đạn đi thụt lùi. Ta thấy nó nổ tung ở đích rồi bay giật lùi trong không gian chui trở vào nòng súng. Như vậy mắt ta thấy kết quả trước khi thấy nguyên nhân. Nếu ta nói ra những gì ta thấy, người nghe sẽ tin là có số mệnh. Đến đây bạn lại có thể nói điều này vô lý. Không có gì sai trong bài tính này vì không gian từ ta đến đích bao giờ cũng ngắn hơn khoảng cách từ ta đến khẩu súng. Dĩ nhiên ta phải thấy những gì gần ta trước, rồi mới thấy những vật ở xa. Đàng khác thời gian từ ta tới đích bắn thì ngắn, nhưng từ ta tới khẩu súng thì dài lê thê (dài hơn 60% thời gian bình thường)[1]. Không Gian Và Thời Gian Trong Lỗ Đen Và Lỗ Giun Chúng ta đều biết mỗi hành tinh có một sức hút riêng tùy theo khối lượng của nó. Chẳng hạn trái đất có sức hút mạnh hơn ở mặt trăng. Một khối đá nặng cả 100 ký trên mặt đất nhưng lại nhẹ như viên gạch trên mặt trăng. Hai trong những khám phá kỳ lạ của thế kỷ 20 là: 1) ánh sáng bị sức hút của hành tinh nên bị bẻ cong. 2) Thời gian bị kéo dãn trong môi trường có sức hút mạnh. Ảnh hưởng sức hút của hành tinh giúp chúng ta hiểu về hiện tượng lỗ đen (black holes). Vào thập niên 40 các nhà vật lý học nhận ra có những vùng tàng hình trong không gian. Năm 1969 nhà vật lý học John Wheeler đặt tên cho nó là black hole. Các vật lý gia giải thích rằng đó là một hành tinh nhỏ nhưng có sức hút rất mãnh liệt. Thể tích và không gian của nó bị sức hút của chính nó làm co rút lại. Những phân tử, nguyên tử, quantum, hầu như không còn khoảng trống để di chuyển. Những nguyên tử hydrogen không thể di chuyển nên nhập vào nhau tạo nên nguyên tử heliums. Sự ma sát của chúng tạo ra một sức nóng khủng khiếp làm helium bùng cháy và cả hành tinh bùng cháy. Tuy nhiên ánh sáng của hành tinh lại bị chính nó hút chặt. Vì ánh sáng không thoát được ra ngoài nên không ai nhìn thấy hành tinh ấy. Nó là một lỗ đen nơi đó thời gian (ánh sáng) bị ngưng đọng. Lỗ đen có một cửa trổ vào không gian của chúng ta nhưng cái đáy hố của nó không ai biết nó đi về đâu và ra sao. Nếu ta rơi vào lỗ đen, ta sẽ bị nó hút mất tích và ném ta vào một vũ trụ khác, nơi ta vô phương trở lại không gian cũ. Vào thập niên 50, khoa học gia khám phá ra hiện tượng chiếc cầu không gian. Năm 1969 lại cũng ông John Wheeler đặt cho nó cái tên là wormhole (lỗ giun). Gọi là lỗ giun vì nó là một đường ống có hai cửa giống như cái hang của con giun đất. Một cách dễ hình dung, nó tương tự như hai lỗ đen nối đuôi nhau. Lỗ giun là chiếc cầu nối liền hai tầng không gian khác nhau. Cái đáng nói là hai miệng của nó nằm ở hai thế giới có “chiều không gian” và “thời gian” khác nhau. Như ta đã biết thời gian trong lỗ đen ngưng đọng, nếu ta đi vào lỗ giun, ta tha hồ thong dong đi ngược lại quá khứ rồi trở về hiện tại. Giáo sư Stephen Hawking, Đại Học Cambridge, cho biết lỗ giun là lối đi tắt vượt không gian và thời gian. Chẳng hạn có một lỗ giun nối liền trái đất và hành tinh Alpha (cách trái đất 20 triệu triệu dặm). Ta có thể mang tin tức thế vận hội của trái đất đến báo cáo với quốc hội Alpha rồi trở về trái đất vào thời điểm trước khi thế vận hội khai mạc. Đây là một sự kiện vật lý học và toán học rất đứng đắn nhưng nó vẫn mãi mãi là một truyện hoang đường. Thiên nhiên của chúng ta không để truyện đó xảy ra vì thiên nhiên biết cách bảo vệ trật tự của nó. Thứ nhất khoa học chưa đủ trình độ mở cửa lỗ giun. Thứ hai nếu có vào đó được thân xác con người sẽ vỡ tan tành vì bị co rút đến nhỏ hơn hạt bụi (trở thành 10-33 thể tích hiện có). Hiện Tượng Hoang Đường Của Hạt Quantum Tự Do Quantum (lượng tử) là những hạt năng lượng nhỏ nhất cấu tạo nên một nguyên tử. Trong thế giới vi mô (microscopic world) của quantum luật vật lý Newton không còn giá trị nữa. Quantum hoạt động và biến đổi vô lường như đang di chuyển trong những lỗ giun, nơi có những không gian sau những không gian. Một số nhà toán học tính ra trong thế giới vi mô này không gian có từ 10 tới 26 chiều. Thật khó tưởng tượng không gian 10 chiều như thế nào. Trong không gian đó có nhiều lối tắt di chuyển mà người trong không gian 4 chiều như chúng ta sẽ thấy những hiện tượng xảy ra là những phép lạ. Không ai thấy hạt quantum di chuyển, người ta đành nói là nó nhảy, bởi vì nó chợt biến mất ở chỗ này và chợt xuất hiện ở chỗ kia mà không có nguyên nhân tác động. Với tốc độ và trong những chiều không gian lạ, nó có thể xuất hiện ở 2 hay nhiều nơi khác nhau cùng một lúc. Khoa học không thể đo lường tốc độ của nó và cũng không thể biết nó sẽ nhảy về đâu. Mỗi lần họ lập một thí nghiệm là họ lại có những kết quả khác nhau. Có thể nói quantum hoàn toàn tự do không bị ràng buộc bởi bất cứ định luật nào của vũ trụ 4 chiều. Từ nghiên cứu về quantum, nhà vật lý Đức Wener Heisenberg đưa ra nguyên lý bất định (uncertainty principle). Ông cho rằng mặc dù có một nguyên nhân rất chính xác khởi đầu tác động trên một vật, con người cũng vô phương tiên đoán kết quả tương lai của nó sẽ ra sao. Khi cho một luồng gió thổi vào một lá cờ, mặc dù biết rõ sức gió, nhưng ai có thể tiên đoán ngọn cờ sẽ bay phất phới theo dạng nào. Đến đây chúng ta đã thấy tại sao thuyết bất định phá vỡ thuyết xác định. Nó cho thấy từ một nguyên nhân đơn thuần, con người chỉ có thể phỏng đoán nhiều đáp số có thể xảy ra trong tương lai, nhưng không thể xác quyết là sẽ thế nào. Suy ra trong mọi tầng cấp, thực tại được tạo dựng bởi những diễn tiến có thể xác định và không thể xác định. Thật là sai lầm khi tin rằng vũ trụ tiến triển theo một trật tự thẳng (linear system). Trên thực tế không gian 4 chiều của chúng ta không phải là không gian duy nhất trong vũ trụ. Khi không gian, vận tốc, và thời gian (không-vận-thời) vượt qua một ngưỡng (threshold), vũ trụ lập tức biến đổi. Trong vũ trụ có những không gian xen kẽ trong những không gian. Ở nơi không gian có nhiều hơn 4 chiều, liên hệ nhân quả không còn nữa. Theo giáo sư Trịnh Xuân Thuận, dạy tại viện Đại Học Virginia, cái đập cánh của con bướm ở bên Úc có thể gây ra cơn cuồng phong đầy sấm chớp ở Nữu Ước. Ai có thể dùng luật nhân quả để hiểu tại sao có máu chảy ra từ mắt của một bức tượng gỗ, mà lại chỉ có ở tượng Đức Mẹ. Nói cách khác, không hề có cái gì có thể áp đặt trước để gọi là số mệnh. Chúng ta không cần đi xa hơn trong kiến thức vật lý học. Những khái niệm vừa trình bày đủ để chúng ta thoát ly khỏi ý niệm cổ điển về không-vận-thời. Cho đến nay con người chưa vượt ra khỏi không gian 4 chiều, nhưng con người ý thức rằng họ phải từ bỏ quan niệm về một không-vận-thời tuyệt đối cứng ngắc. Vượt thời gian không còn là những gì bí ẩn hay hoang đường. Từ đó tầm nhìn của chúng ta vượt ra khỏi thành kiến của quan niệm số mệnh. Thiên Chúa Giáo Và Sự Tiền Định Khái niệm “định mệnh” và “tiền định” bị lạc điệu trong nhận thức khoa học, chúng lại càng bị đổi nghĩa trong ánh sáng đức tin của Thiên Chúa giáo. Thiên Chúa giáo dạy rằng Thiên Chúa có sẵn mục tiêu cho vũ trụ là đưa vạn vật tới mức trọn hảo và cho con người sống với Thiên Chúa trên thiên đàng. Mục tiêu tối cùng (ultimate destine) này chính là sự tiền định của Thiên Chúa. Vì con người không thể tự mình đạt mục tiêu, nên con người cần sự trợ giúp của Thiên Chúa. Sự trợ giúp này được gọi là sự quan phòng của Thiên Chúa (divine providence). Sự quan phòng là sự nâng đỡ trong yêu thương. Khái niệm về mục tiêu và sự quan phòng thường được nhiều người diễn dịch lệch lạc như là một định mệnh. Thực ra mục tiêu chỉ là lời hứa của Thiên Chúa và sự quan phòng chỉ là lời mời gọi hợp tác hướng về một viễn tượng huy hoàng. Mục tiêu “trở nên hoàn hảo để về sống cùng Chúa” là cái đích để hướng tới chứ không phải là một áp chế. Thiên Chúa muốn con người, trong ý chí tự do, cộng tác với Người để hoàn tất công trình sáng tạo. Chấp nhận cùng đích này hay không là tùy ở con người (GLCG# 302, 306, 311). Thiên Chúa là Đấng “chỉ đứng ngoài cửa mà gõ” để kêu gọi (Kh 3:20). Người không áp đặt một định mệnh trên vai chúng ta. Khi mẹ Têrêsa cứu những người cùng khổ nằm hấp hối bên cống rãnh trong thành Calcutta bên Ấn Độ, một số tôn giáo địa phương đã phản đối. Họ cho rằng tu sĩ Têrêsa đã đã can thiệp vào nghiệp của luật nhân quả. Hành động của bà chỉ khiến nỗi bất hạnh của nạn nhân phải chịu dài thêm, vì nghiệp chưa được trả. Họ phủ nhận giá trị bác ái trong công việc mẹ Têrêsa đã làm. Đáp số của bài toán số mệnh chỉ có vậy. Nó là sự tê liệt thảm hại của kiếp người. Hiển nhiên trên thế gian không ai có số mệnh kỳ lạ bị mù từ bẩm sinh bỗng sáng mắt, đang liệt chợt đứng dậy bước đi, và như Lazarô đã chết 4 ngày bỗng sống lại. Khi Đức Giêsu làm phép lạ cứu những kẻ khốn cùng, Người phủ nhận số phận hẩm hiu áp đặt trên họ. Việc làm của Người mang tính chất cứu độ và phổ biến tin mừng. Đó là lời kêu gọi con người phải phá bỏ quyền lực thế gian, biến đổi mọi chiều kích nô lệ, để đi tới mục tiêu là có một cuộc sống mới trong tình yêu của Thiên Chúa. Đức Giêsu đã chứng minh, qua việc làm của Người, trong tình yêu của Thiên Chúa, sự xấu xa, bất hạnh, và ngay cả sự chết cũng không có tác dụng quyết định trên con người. Đối với những ai không vượt ra khỏi chữ “tiền định”, tâm họ bị vướng mắc trong sự tranh chấp của liên hệ nhân quả. Họ không ý thức rằng nếu có thể nói theo luật nhân quả thì Thiên Chúa mới là nguyên nhân khởi đầu (the first cause) của mọi nguyên nhân. Bởi vì nếu không có Thiên Chúa tác động, vũ trụ vạn vật sẽ tan biến ra hư vô. Nhưng, như nguyên lý bất định đã nói, con người không thể chắc chắn xác quyết một sự gì. Con người lại càng không thể dùng luật này thuyết kia để biết được thành quả sáng tạo vĩ đại và phong phú của nguyên nhân khởi đầu. Bởi vì Thiên Chúa hoàn toàn làm chủ ý định của Người. Con Người Là Sinh Vật Tự Do Tốt nhất chúng ta hãy học hỏi khái niệm tiền định và sự quan phòng của Thiên Chúa qua những biến cố được ghi trong Thánh Kinh. Có thể nói nôm na quyền “lựa chọn” là biểu hiệu của ý chí tự do. Trước hết chúng ta thấy Thiên Chúa tiền định chương trình cứu độ và Đức Maria giữ một vai trò quan trọng trong chương trình ấy. Nhưng rõ ràng Đức Mẹ không phải là “nạn nhân” của một định mệnh. Thiên Chúa phái Tổng Lãnh Thiên Thần Gabriel tới hỏi ý Đức Mẹ trước khi Mầu Nhiệm Nhập Thế được thành lập. Trả lời “xin vâng” hay “xin không” là tùy ở Đức Mẹ. Rồi chúng ta cũng thấy Đức Giêsu với thân phận là một người phàm. Người không được che chở, nhưng bị cám dỗ, bị thử thách, bị dằn vặt, bị sợ hãi, và bị đau khổ. Tất cả những khó khăn này đều được Đức Giêsu chống trả trong điều kiện giới hạn của một người phàm. Đây là chỗ chúng ta nhận ra sự tự do của Đức Giêsu vì Người đã chọn không dùng quyền phép Thiên Chúa tự che chở mình. Khi bị đói, Satan bảo người hóa đá thành bánh Người đã từ chối. Sự lựa chọn con đường phải đi của Đức Giêsu, kể cả chịu chết, hoàn toàn từ ý chí tự do. Chính vì vậy mà Đức Giêsu đã biểu lộ được vinh quanh của Chúa Cha. Những người tin vào số mệnh cho rằng họ tìm thấy nhiều dấu vết tiền định theo nghĩa đen trong Thánh Kinh. Biến cố Giuđa chẳng hạn, họ tin rằng nhờ có Giuđa mới có cuộc chịu nạn. Vì vậy Giuđa chỉ là nạn nhân của số mệnh. Lối nhận định này quá đơn giản và thành kiến vì nó phủ nhận những sự kiện lịch sử. Thánh Kinh cho chúng ta thấy Đức Giêsu không hề chấp nhận hành động của Giuđa. Trong bữa tiệc ly, Người đã cảnh báo nhiều lần về sự sai lầm của hắn (Mat 26:21-25). Giuđa trước sau bỏ ngoài tai lời thức tỉnh của Người. Cuối cùng Đức Giêsu đành phải thở dài than, “Thà hắn đừng sinh ra còn hơn” (Mt 26:24). Nếu Giuđa là công cụ của cái gọi là số mệnh, Đức Giêsu đã không phản ứng như thế. Người cũng đã từng nói với các môn đồ: “Anh em không phải là đầy tớ, nhưng là bạn hữu” (Ga 15:15). Thiên Chúa không coi con người là những kẻ đầy tớ chỉ biết cúi đầu làm theo lệnh của chủ, nhưng là bạn đồng hành cùng hợp tác. Có lần Đức Giêsu tiết lộ tương lai của Phêrô: “Khi về già, ngươi sẽ dang tay ra, người khác sẽ thắt lưng cho và kéo ngươi đến nơi mình không muốn.” (Ga 21:18-19). Người ám chỉ sau này phêrô sẽ phải bị tử nạn đóng đinh. Không những nói về tương lai Đức Giêsu cũng nói về quá khứ. Có lần Người đã khiến bà Samari hết hồn khi nói ra cái bí ẩn của đời bà, “Chị đã sống với 5 đời chồng mà người hiện tại chẳng phải là chồng” (Ga 4:18). Lần khác Người làm Nathanaên kinh ngạc, “Trước khi Philíp gọi anh, tôi đã thấy anh dưới cây vả rồi.” (Ga 1:48-50). Ngoài những lời tiên tri còn có những sấm ngôn như: “Các ông hãy phá đền thờ này đi, tôi sẽ xây lại trong ba ngày.” (Ga:19). Những ngôn ngữ kể trên không thể hiểu theo lối suy tư theo khoa học tự nhiên, hay theo lối thuần lý, hoặc theo lối số mệnh thần bí. Ngôn ngữ tiên tri mang ý nghĩa rất sâu xa vì nằm trong chủ đề Immanuel (Thiên Chúa ở cùng chúng ta). Chúng là những “dấu lạ” xác định Đức Giêsu là Đấng Immanuel, Đấng toàn giác, Người thấy rõ mọi sự. Chủ đề này thánh sử Gioan trân trọng đặt ở đoạn mở đầu sách Phúc Âm: “Người ở giữa thế gian, thế gian bởi Người dựng nên, nhưng thế gian chẳng nhận biết Người.” (Ga 1:10). Thánh Kinh diễn tả Thiên Chúa với những thuộc tính: toàn giác, toàn năng, và hằng có khắp mọi nơi. Nếu chuyển nhận thức này qua ngôn ngữ khoa học ta phải nói Thiên Chúa là Đấng sinh hoạt trong không gian muôn chiều. Việc nhìn rõ quá khứ và tương lai chẳng có gì khó khăn đối với Thiên Chúa. Đàng khác thánh Tôma Aquinas cho biết mặc dù vinh quang của Thiên Chúa biểu lộ trong không gian và thời gian, nhưng Thiên Chúa ở ngoài không gian và thời gian. Đối với Thiên Chúa không gian và thời gian không có trôi chảy nhưng nằm nguyên một khối toàn thể. Thời gian đối với Thiên Chúa chỉ là hiện tại. Quá khứ tương lai đều phơi bày trước mặt Thiên Chúa và Người nhìn thấy mọi sự cùng một lúc. Người nhìn thấy rõ từng sợi tóc trên đầu chúng ta rơi xuống. Nếu khoa học đã chứng minh sự di chuyển qua lại giữa quá khứ và tương lai là một sự kiện đúng (true). Hiện tại con người chưa làm được vì chưa đủ khả năng, nhưng Thiên Chúa không bị giới hạn bởi sự hạn hẹp này. Tóm lại trong giáo lý Thiên Chúa giáo không có cái gọi là định mệnh. Tuy nhiên vì sự hạn hẹp của văn tự, đôi khi trong kinh điển có những chữ “định mệnh” và “tiền định.” Ta phải hiểu định mệnh được dùng để nói về sự xếp đặt của “Chúa Quan Phòng” và “tiền định” được dùng để chỉ chiều hướng đi tới mục tiêu “cùng đích.” Đặt ra mục tiêu là dẫn ra một viễn ảnh toàn phúc. Đặt ra sự quan phòng là ban một tiến trình kết hợp trong yêu thương. Theo Hồng Y Avery Dulles, con người là tuyệt tác phẩm phản chiếu vinh quang Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa vẫn để một phần chưa hoàn tất để chia sẻ sự sáng tạo với con người. Thiên Chúa mời con người tự do tự hoàn tất phẩm giá của mình. Có tự do nhưng không có Thiên Chúa, con người chỉ biết sống trong những ảo ảnh ích kỷ. Đời sống sẽ trở thành vô nghĩa. Qua sự quan phòng của Thiên Chúa, Ngôi Lời nhập thế để hướng dẫn chúng ta hướng vế mục đích của đời sống. Vì vậy tự do, mục tiêu, và sự quan phòng của Thiên Chúa luôn luôn cần phải có● |