Số 94, Ngày 31-05-2007

MỤC LỤC

Thư Tòa Soạn

Hội FIAT Gs. Nguyễn Đăng Trúc

Tìm Hiểu Mối Tương Quan Trong Đạo Khổng Dưới Ánh Sáng của Ba Ngôi Hoàng Linh, OFM

Mừng Kính Lễ Thánh Tâm Maranatha sưu tầm

Kỳ Diệu  Đỗ Trân Duy

Đóng Góp Cho Giáo Hội Tại Việt Nam - Vấn Đề Nghịch Lý Vũ Thanh

Mười Điều Tâm Niệm Sống Hàng Ngày của Chân Phước Giáo Hoàng Gioan XXIII

Con Đường Ra Đi…Trần Duy Nhiên

Hai Mươi Bốn Cái Ghế Lớn –  Pierre Charles, SJ - Phạm Minh Thiện dịch

Tạ Ơn Chúa và Cám Ơn Em…

Cậu Bé Dưới Bóng Cây Sưu Tầm

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc - Thư Bạn Đọc

       Thư Tòa Soạn

 Kính thưa Quý độc giả,

Mùa Xuân đang qua đi, và mùa Hè sắp đến. Biết bao dời đổi biến thay trong những ngày tháng qua...Tình hình thế giới, đất nước, Giáo Hội nhiều biến chuyển với những điều nghịch lý, đáng buồn, xót xa cho thân phận con người. Nổi cộm hơn là tin của cậu sinh viên trường đại học bách khoa tại tiểu bang Virginia - Hoa Kỳ, đem súng vào khuôn viên trường bắn xối xả vào các lớp học, làm thiệt mạng 30 người. Tin tức truyền nhanh đi khắp thế giới làm biết bao người bàng hoàng sợ hãi, nhiều câu hỏi được đặt ra và trách cứ cậu sinh viên người Đại Hàn kia. Chuyện một em bé tiểu học 10 tuổi tại một xã nhỏ ở Việt nam bị nhà trường đưa ra công an thẩm vấn vì nghi ngờ lấy tiền của lớp, đã làm em mất trí và hoảng loạn. Rồi gần đây, một cô giáo cho các học sinh trong lớp tuần tự tát vào mặt của một bạn vì đã để quên sổ thi đua…Theo tin tức thế giới và thống kê gần đây, tuy Nam Hàn và Nhật Bản là hai quốc gia có trình độ khoa học kỹ thuật rất cao, kinh tế phát triển đáng nể phục, nhưng con số người tự tử vì chán đời và trầm cảm lại cao hơn nhiều quốc gia khác. Phần đông phụ nữ Á Châu đang sinh sống tại nuớc ngoài cũng bị rơi vào tâm trạng buồn thảm đáng kể. Các nhà tâm lý cho rằng đó là do nhân vị con người bị coi thường hoặc quên lãng. Vì thiếu sự quan tâm, chia sẻ, con người thời nay không tìm thấy sự cảm thông và đón nhận của những người chung quanh. Hậu quả khó tránh khỏi là những chuyện đau lòng đáng tiếc đã và tiếp tục xảy ra vì những lý do trên.

Trong khi đó, Giáo Hội quê nhà và hải ngoại đang rộn ràng mùa lễ đón nhận sứ vụ linh mục và phó tế, rước lễ lần đầu và thêm sức…Nhưng niềm vui không thể làm quên đi việc tượng Đức Mẹ Sầu Bi tại Ninh Bình bị đập phá, rồi những điều đau lòng vì dân chủ và tự do tín ngưỡng tại quê nhà bị đàn áp.

Giữa những điều đã và đang xảy ra đây đó, Maranatha đã lặng im, vắng bóng trong Mùa Chay, Mùa Phục Sinh, những ngày đầu tháng Hoa, tháng dâng kính Mẹ, cũng là dịp Maranatha tròn Ba tuổi…Lời chân thành tạ lỗi xin gửi đến quý độc giả và các cộng tác viên thân thương. Cũng trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu xa đến những tình cảm thăm hỏi độc giả và bạn hữu dành cho Maranatha. Sự quan tâm này làm ấm lòng trước những thử thách. Ngay từ những ngày đầu, Maranatha đã luôn âm thầm hiện diện, nay lại vắng bóng trong thời gian dài, nhưng vẫn còn đó những linh mục, nam nữ tu sĩ, anh chị em tín hữu vẫn thư từ thăm hỏi và đợi chờ… Niềm xúc động với lòng biết ơn dâng trào niềm cảm mến tạ ơn Cha trên trời đã thương chúc lành cho Maranatha có những người bạn luôn trung thành với trang báo nhỏ bé đơn sơ này. Đây hẳn là ân sủng tự trời cao. Lòng cảm thông và đón nhận của quý độc giả và bạn hữu thân thương là niềm vui và an ủi lớn lao cho Maranatha kiên trì và tiếp tục. Không thể phụ lòng độc giả nữa. Maranatha đang trở về đây. Trở về với lời tạ lỗi, với tâm tình biết ơn và xin quý vị tiếp tục kiên nhẫn với Maranatha. Trở về để thưa với nhau rằng, Maranatha uớc ao được phát hành thường xuyên hơn, dù hoàn cảnh chưa hẳn đã dễ dàng. Xin cầu nguyện cho Maranatha và mong quý cộng tác viên tiếp tục gửi bài để Maranatha được tiếp tục phục vụ độc giả thân yêu.

Trong tâm tình tạ ơn nhân dịp tròn 3 tuổi, Maranatha dâng lên Chúa và Mẹ Maria lời tạ ơn. Mẹ là Đấng bảo trợ và là gương mẫu cho các tín hữu. Mẹ là người tín hữu tuyệt vời vì đã sống trọn vẹn lời “Xin Vâng” trước những đòi hỏi của Thiên Chúa. Chính vì thế, Maranatha trân trọng giới thiệu Hội FIAT, như một món quà gửi tặng quý độc giả trong những ngày cuối tháng Hoa. Cũng trong dịp mừng Lễ Mẹ Thăm Viếng hôm nay, xin chia sẻ niềm vui với Quý Chị trong các Hội Dòng, Tu Hội theo linh đạo của Mẹ và cũng là của chúng ta khi thưa với Mẹ rằng:  

 Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ dạy con biết thưa với Chúa “Xin Vâng” trong mỗi giây phút đời con.

Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ dạy con biết thưa với Chúa “Cám Ơn” trong mỗi giây phút đời con.

Cùng với Mẹ, chúng ta cám ơn Chúa trong mỗi phút giây của cuộc đời vì biết bao ơn lành đã nhận được và ân sủng để chia sẻ. Câu hỏi đặt ra rằng chúng ta có sẵn sàng quan tâm, chia sẻ những nỗi đau tinh thần, thiếu thốn vật chất cho anh chị em, những người cùng khốn khổ đau? Thế giới này sẽ bớt bi thảm, sẽ đẹp tươi hơn khi mỗi người trong chúng ta ý thức hướng về tha nhân như Mẹ trong tâm tình Thăm Viếng người chị họ Elizabeth. 

Phát hành trong dịp hướng về Lễ Chúa Ba Ngôi, Maranatha 94 xin giới thiệu một thần học gia Việt Nam trẻ tuổi viết về đề tài này khi nhìn về Khổng giáo. Cũng nhân dịp phái đoàn Việt Nam đang tham dự Hội Nghị Truyền Thông Xã Hội lần thứ VI của Liên Hội Ðồng Giám Mục Á Châu tại Bangkok, Thái Lan từ ngày 28 tháng 5 đến ngày 02 tháng 6 năm nay, xin gửi đến quý độc giả những thao thức của một độc giả chia sẻ trước những vấn đề đau lòng hiện nay liên quan đến truyền thông và Giáo Hội Việt Nam.

Tháng Sáu cũng đang trở về, tháng dành kính Thánh Tâm Chúa và các giáo xứ, cộng đoàn cũng bắt đầu chuẩn bị mừng kính. Trước những đảo điên và thử thách của cuộc sống và thế giới, ước gì chúng ta cầu cho nhau sống lời mời gọi của Thánh Tâm Chúa Giêsu, Đấng đã tự hủy mình đi (Ph 2, 5-11) và học cùng Trái Tim Rất Thánh điều căn bản “hiền lành và khiêm nhường” (Mt 11, 29) trong lời nói, việc làm và cùng nhau thiết tha nguyện xin: Maranatha, lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến!

                                                                                                                       

HỘI FIAT

Giáo sư Nguyễn Đăng Trúc gìới thiệu

  1. Hội FIAT là gì?

1.       Là một lời kêu mời

2.       Là kết quả của một cuộc gặp gỡ

3.       Là một linh đạo

4.       Là một cuộc dấn thân cho Phúc Âm

 

  1. Hội FIAT cống hiến một phương sống đời sống siêu nhiên

1.       Chuỗi hạt FIAT

2.       Các  «nhóm cầu nguyện»

3.       Một lối thực thi cuộc sống siêu nhiên

4.       Tĩnh tâm noi theo mẫu Nhà Hội Tiệc Ly

5.       Phổ biến tài liệu đào tạo kitô hữu

 

  1. Hội FIAT tổ chức như thế nào?

1.       Thắt chặt tình huynh đệ

2.       Những hình thức phục vụ

 

A.     Hội FIAT là gì?

1.      Là một lời kêu mời

FIAT là tên một hiệp hội công giáo, nhưng trước hết đó là lời kêu mời mọi kitô hữu đi sâu hơn vào lời « xin vâng » của Trinh Nữ Maria để tham gia công cuộc Cứu Chuộc của Chúa. FIAT cũng là lời mời gọi chúng ta đi vào Nhà Hội ‘Tiệc Ly’ với Mẹ Maria và với các Thánh Tông Đồ, cùng nhau cầu nguyện đợi chờ ơn Chúa Thánh Thần ban xuống. Cuối cùng FIAT là một lời mời gọi chúng ta đi vào mầu nhiệm của Giáo hội «là Bí tích, dấu chỉ và khí cụ của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất toàn thể nhân loại » (HC Giáo hội LG I).

2.      Là kết quả của một cuộc gặp gỡ

Hội FIAT thành hình nhờ cuộc gặp gỡ giữa giám mục Suenens và bà Vêrônica O’Brien năm 1947. Từ năm 1940, Bà Vêrônica đã mang sứ mênh thành lập Đạo Binh Đức Mẹ ở Pháp và tại các nước khác ở Âu châu. Đức cha Suenens, bấy giờ làm giám mục phụ tá của giáo phận Malines-Bruxelles, nước Bỉ, đã tìm cách liên lạc vời bà về chuyện nầy.

Sau đó, một nhóm anh chị em có nhiều quốc tịch khác nhau sinh hoạt tông đồ cùng một đường lối siêu nhiên qui tụ chung quanh hai vị. Nhóm nầy tập chú vào cuộc sống cầu nguyện và sinh hoạt dấn thân phục vụ Giáo hội. Các thành viên trong nhóm cũng là thành viên then chốt trong các hiệp hội đang hiện hữu trong đường hướng và hy vọng mà Công Đồng Vaticanô II khai triển.

Vào năm 1981, trong một cuộc tĩnh tâm tại Paray-le-Monial, Pháp, nhóm nầy cảm thấy mình được kêu gọi để đi sâu hơn vào lời ‘FIAT = XIN VÂNG’ của Trinh Nữ Maria, và ý thức mình được Mẹ Maria gọi để khám phá ơn gọi riêng của mình trong lòng Giáo hội. Thể theo lời đề nghị của Bà Vêrônica, cả nhóm dành một thời gian dài để tìm hiểu ý muốn của Chúa.

Năm 1982, ‘nhóm FIAT’ khai sinh, nhưng chưa thành cơ cấu; tháng chín năm 1984, ‘nhóm FIAT’ bừng lên sinh lực truyền giáo qua Chuỗi Hạt FIAT.

Ngày 16 tháng 7 năm 1987, lễ Đức Mẹ Núi Carmêlô, Hội FIAT được chính thức thành lập với điều lệ nội qui theo đúng các thủ tục pháp lý.

3.      Là một linh đạo

Đức tin kitô giáo thể hiện một cuộc sống siêu nhiên phong phú vô tận và có thể mang nhiều sắc thái rất đa dạng. Qua gia sản thiêng liêng rất quí giá mà những vị sáng lập để lại, chúng ta thấy được linh đạo của Hội FIAT nơi những mối tương liên nối kết giữa Chúa Thánh Thần, Đức Trinh Nữ Maria và Chúa Giêsu Kitô.

Thật thế, chính Chúa Thánh Thần và Mẹ Maria đã sinh Con Thiên Chúa trong thế gian, và hôm nay đang dẫn đưa chúng ta đến với Ngài, là Đức Giêsu-Kitô, Đấng được Chúa Cha gửi đến.

Chúng ta đã được rửa trong Chúa Kitô để trở thành con cái của một Cha chung trên Trời, và chúng ta là con của Giáo hội.

Giáo hội ấy là Thân thể mầu nhiệm của Chúa Kitô; Chúa Thánh Thần ở trong Giáo Hội ấy; và Đức Maria là kiểu mẫu và là Mẹ của Giáo hội. Hội FIAT muốn yêu mến và muốn phục vụ Giáo hội nầy.

Linh đạo của Hội FIAT vừa dựa trên nền tảng sự sống Ba Ngôi Thiên Chúa, vừa hiệp thông với Mẹ Maria và vừa gắn liền với Giáo hội.

Nhờ thế mà Hội FIAT nằm trong nguồn ân sủng Chúa ban qua Công Đồng Vaticanô II. Công đồng nhắc lại ý nghĩa của bí tích rửa tội trong nước và trong Chúa Thánh Thần như một lời kêu gọi mọi người nên thánh, và nhấn mạnh vai trò đặc biệt của những tín hữu giáo dân trong sứ mệnh của Giáo Hội, đề việc rao truyền Phúc Âm đổi mới các gia đình và toàn thể cuộc sống xã hội.

Trong Tông thư về Buổi Bình Minh Của Đệ Tam Thiên Niên, Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II khích lệ kitô hữu hãy ‘làm cho Đức Kitô rạng sáng trong cuộc sống của mình.” Và trong Tông thư về Chuỗi Mân Côi của Trinh Nữ Maria ngày 16 tháng 10 năm 2002, ngài đề nghị chúng ta «cùng với Mẹ Maria chiêm ngắm Chúa Kitô.» Và như thế chúng ta được nhắc nhở để ý thức vai trò nền tảng của Mẹ Maria trong bước đường kết hợp với Chúa Kitô và trao truyền Tin Mừng.

Do đó, tất cả sức năng động của Hội FIAT bắt nguồn từ lời ‘XIN VÂNG’ của Mẹ Maria, lời xin vâng trong buổi Truyền Tin được Mẹ sống trọn vẹn trong suốt cuộc đời của Mẹ cho đến chân Thánh Giá; và lời ấy Mẹ chia sẻ với các thánh Tông Đồ tại nhà Hội ‘Tiệc Ly’ đón chờ Chúa Thánh Thần.

Lời ‘FIAT= XIN VÂNG’ của Mẹ Maria nhắc ta nhớ đến lời xin vâng của Con Mẹ «Lạy Cha, xin ý cha được thực hiện», và đồng hành với lời xin vâng của Giáo hội dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.

Lời ‘FIAT= XIN VÂNG’ ấy là 5 tảng đá gốc làm nền xây dựng nên Hội FIAT:

-          một đời sống cầu nguyện tích cực được Thánh Thể dưỡng nuôi

-          một mối hiệp thông khắng khít với Chúa Giêsu và Mẹ Maria trong tình thương yêu trìu mến của Chúa Cha

-          một tấm lòng khiêm tốn sẳn sàng rộng mở đón nhận Chúa Thánh Thần

-          một tình yêu con thảo đối với Giáo hội

-          và nhiệt tình rao truyển Phúc Âm. « Caritas Christi urget nos »[1].

Thực ra, Hội FIAT không bày vẽ thêm điều gì. Nó tiếp nhận mọi điều nơi Giáo Hội và muốn cổ súy tất cả những điều ấy trong cuộc sống Giáo Hội.

4.      Là một cuộc dấn thân cho Phúc Âm

Cuốn sách làm gia sản mà hồng y Suenens để lại, phản ảnh linh đạo FIAT một cách đầy đủ hơn cả là cuốn Kitô hữu trước thềm thời đại mới[2]. Cuốn sách trình bày một nền thần học về Chúa Ba Ngôi, một bước tiếp cận với lời « FIAT= XIN VÂNG » của Mẹ Maria, và một lời kêu gọi rao truyền Phúc Âm. Và sau đó, sách kết thúc với một mẫu kinh dấn thân cho Phúc Âm.

Chúng ta đọc thấy trong đó lời kêu gọi trước hết hãy để cho Phúc Âm thấm vào chính mình và đào tạo bản thân mình, bằng việc cầu nguyện và cuộc sống phụng vụ và bí tích của Giáo hội, để cho toàn bộ đời mình trở thành một chứng tá mọi ngày của Tình Yêu Chúa.

Qua lời nói dạy của các mục tử, Giáo hội khích lệ chúng ta ‘hãy tiến xa hơn’, noi gương các thánh đi trước chúng ta để nhờ ánh sáng Chúa Thánh Thần chúng ta can đảm đề nghị công khai đức tin chúng ta cho những người đang mong chờ, và đang tìm kiếm một ý nghĩa cho đời sống của họ. Chúng ta loan truyền Chúa Kitô là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống.

Nhưng, cuộc sống kitô hữu chúng ta có thể trọn vẹn và chân thực hay không, nếu tình yêu thương chúng ta không ưu tiên hướng đến những người nghèo khổ nhất, nếu chúng ta không dấn thân liên đới với họ để thực thi hòa bình và công lý, là những điều kiện cần thiết cho việc phát triển công bằng và bền vững của nhân loại ? Nhất là khi đức tin chúng ta giúp chúng ta khám phá ra rằng chúng ta là những người nghèo ở giữa những người nghèo, như Chúa Giêsu đã tự đồng hóa chính Ngài với họ (Xem Mt 25, 34-40).

Trong nhãn quan ấy, Hội FIAT muốn đáp trả lời kêu gọi của Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II khi ngài nói với các bạn trẻ tụ họp tại St. Jacques de Compostelle năm 1992 trong Ngày Giới Trẻ Thế Giới (J.M.J.) : « Chúng ta hãy lên đường với Mẹ Maria, chúng ta hãy dấn thân bước theo Chúa Kitô, Ngài là đường đem lại sự thật và sự sống. Làm như thế, chúng ta sẽ là những kẻ loan báo Tin Mừng trong công Cuộc Rao Truyền Phúc Âm Mới và là những thợ xây cho một Nền Văn Minh Tình Yêu… ... »

 

B.   Hội FIAT cống hiến một phương sống đời sống siêu nhiên

Trong những năm tháng vừa qua, Hội FIAT đã nhận nhưng không, và hưởng được một số những phương tiện cụ thể (đa biệt và bổ sung) phát sinh từ linh đạo riêng của mình, cũng như do sự trông chờ của nhiều Kitô hữu và truyền thống sinh động của Giáo Hội.

1- Chuỗi hạt FIAT

Đây là món quà mà Hội FIAT cống hiến cho Giáo Hội, qua trung gian của bà Vêrônica O’Brien: đêm mồng 7 rạng ngày mồng  8 tháng 9 năm 1984, ngày lễ sinh nhật Đức Trinh Nữ Maria, trong lúc cầu nguyện, bà đã tiếp nhận chuỗi FIAT như một ơn đặc biệt Chúa ban. Tiếp đó, người ta thêm vào mẫu tượng ảnh tóm lược linh đạo FIAT. Hồng y Suenens làm ra lời kinh đọc trước khi lần chuỗi FIAT, gọi là lời kinh FIAT. Kinh cầu xin Chúa Thánh Thần nầy cũng có thể dùng để đọc trước khi lần hạt Chuỗi Mân Côi truyền thống.

Chuỗi FIAT giúp chúng ta mỗi ngày sống lại những mầu nhiệm chính của cuộc sống Chúa Giêsu. Nên chuỗi ấy gồm có ba mầu nhiệm vui, ba mầu nhiệm sáng, ba mầu nhiệm thương, ba mầu nhiệm mừng. Ở mỗi mầu nhiệm chúng ta đọc ba kinh Kính Mừng và một lời kinh Sáng Danh, tiếp đó là lời kinh Amen. Sau khi lần chuỗi, có một vài lời nguyện và một câu hát nhắc lại lời « FIAT= XIN VÂNG » của Mẹ Maria và lời kinh cảm tạ của Mẹ trong kinh Magnificat.

Đức hồng y Danneels đã chuẩn nhận và đã cổ súy chuỗi FIAT bằng những hàng chữ nầy: « Ước gì tràng chuỗi nhỏ Fiat có thể đi vào trong các gia đình, để các gia đình trở thành như những buổi tụ họp cầu nguyện của các Tông đồ, quây quần bên Trinh Nữ Maria, hầu đón nhận Chúa Thánh Thần hiện xuống. »

Qua kinh nghiệm, nhiều người đã làm chứng rằng: không những chuỗi FIAT giúp cho các gia đình cùng nhau cầu nguyện, làm tăng cường mối liên kết, hiệp nhất với nhau, nhưng nó cũng giúp cho các gia đình sống đức tin kitô giáo «bằng lời nói và bằng cả việc làm.

2- Các «nhóm cầu nguyện»

Hội FIAT muốn cổ võ việc cầu nguyện và sống cuộc sống siêu nhiên trong khuôn khổ gia đình và trong nhóm. Thật thế, ta không thể là một kitô hữu sống cô đơn một mình. Nếu chúng ta muốn đức tin chúng ta lớn lên, thì chúng ta phải chia sẻ đức tin ấy với người khác. Chính Chúa đã dạy chúng ta: «Ờ đâu có hai hoặc ba người tụ họp với nhau nhân danh ta, thì ta ở giữa họ.» (Mt 18, 20).

Hội FIAT đề nghị một hướng đi như thế qua hình thức các nhóm nhỏ. Chúng được gọi là « các nhóm cầu nguyện », noi theo ‘Nhóm cầu nguyện tại Nhà Hội Tiệc Ly’ nơi các thánh Tông Đồ qui tụ chung quanh Mẹ Maria chờ đợi Chúa Thánh Thần đến theo lời Chúa hứa.

Các «nhóm cầu nguyện» thường được khai sinh từ việc khám phá chuỗi FIAT lần hạt chung với nhau.

Nơi đây, người ta chia sẻ hai chiều kích cuộc sống, gọi là ‘ad intra= nội tâm’ và ‘ad extra= thực thi bằng hành động’, nhằm khích lệ nhau tăng tiến cuộc sống thiêng liêng, đồng thời dấn thân thức hiện lời dạy Phúc Âm bằng hành động cụ thể.

Những cuộc gặp nhau của các «nhóm cầu nguyện» thường là hằng tháng hoặc từng hai tháng, và được tổ chức trong tinh thần cầu nguyện.

3- Một lối thực thi cuộc sống siêu nhiên

Nhằm giúp chúng ta lớn lên làm người kitô hữu, một ơn lãnh nhận từ bí tích rửa tội, Hội FIAT đề nghị một chương trình sống cá nhân đơn sơ qua một vài cử chỉ căn bản của cuộc sống siêu nhiên.

Con đường thực thi cuộc sống siêu nhiên nầy gồm một vài lời khuyên khác nhau mà Giáo Hội thường nhắc nhở; mỗi người thực thi theo sức của mình tùy hoàn cảnh cá nhân và do ơn gọi của Chúa.

Mỗi ngày

-              Khi thức dậy làm dấu Thánh giá, và cùng với Mẹ Maria, người đầy tớ khiêm hạ của Chúa, chúng ta dâng lên Chúa ngày sống chúng ta.

-              Đọc sách thiêng liêng rút từ Lời Chúa trong phụng vụ của ngày liên hệ, hoặc gương một vị thánh như phương thế dễ dàng và hữu hiệu để tự đào tạo Kitô giáo cho chính mình.

-              Một thời điểm cầu nguyện trong ngày (như trước và sau bữa ăn, Kinh nhật tụng, kinh truyền tin ...)

-              Lần chuỗi hằng ngày (nếu được thì đọc chung trong gia đình, cùng với bạn bè  ...)

Định kỳ

-              Dự thánh lễ chủ nhật, và nếu có thể thì lễ trong tuần.

-              Tĩnh tâm hằng năm.

-              Cố thu xếp để tham dự cách nầy hay cách khác một buổi đào tạo Kitô giáo, tùy nhu cầu mỗi người.

-              Cần đến với bí tích hòa giải thường đều.

-              Tham gia những sinh hoạt do Giáo hội địa phương tổ chức nhằm rao truyền Phúc Âm.

4. Tĩnh tâm «noi theo mẫu Nhà Hội Tiệc Ly»

Kitô hữu ở trong các hội đoàn, nhóm cầu nguyện, chia sẻ, rao truyền Phúc Âm hoặc ngay người bình thường càng ngày càng thấy cần có được thời gian tĩnh tâm dài hơn.

Hội FIAT cố gắng giúp cho nhiều người biết về những sáng kiến như thế trong cuộc sống của Giáo hội. Và ngay Hội FIAT cũng đề nghị một lối tĩnh tâm hằng năm gọi là tĩnh tâm « noi theo mẫu Nhà Hội Tiệc Ly ».

Tĩnh tâm «noi theo mẫu Nhà Hội Tiệc Ly» mời gọi chúng ta cùng với Mẹ Maria đi sâu và Lời Chúa và mở lòng đón nhận ơn Chúa Thánh Thần. Đây là kinh nghiệm mà hồng y Suenens gọi là kinh nghiệm Biến Cố Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, «một ơn huệ ban cho toàn dân Chúa. Tất cả chúng ta khiêm tốn cầu xin ơn ấy với một đức tin thành khẩn trong lời cầu nguyện của chúng ta, vì chúng ta ý thức răéng Chúa Thánh Thần luôn hiện xuống không ngừng trên chúng ta ».[3]

5.  Phổ biến tài liệu đào tạo Kitô hữu

Hội FIAT phổ biến những tài liệu về suy tư thần học, mục vụ và thiêng liêng, đặc biệt là những sách của hồng y Suenens, mà mục đích chính là cổ suý công cuộc rao truyền Phúc Âm.

Các tài liệu được phổ biến khắp năm châu. Những tài liệu đặc loại nói đến linh đạo của Hội FIAT thu gọn trong ba cuốn dưới một bộ sách gọi là Thánh Thần, hơi thở sống động của Giáo hội.[4]

Hồng y Suenens cũng viết một số loại sách bỏ túi, những sách kinh và cổ suý sống đạo, những tài liệu nầy rất có ích trong việc hướng dẫn cuộc sống siêu nhiên.

 

  1. Hội FIAT tổ chức như thế nào?

 

            1. Thắt chặt tình huynh đệ

Như chúng ta lưu ý ngay từ lúc đầu, Hội FIAT trước tiên không nhằm xây dựng một cơ cấu tổ chức bên ngoài. Sức sống của nó dựa vào lòng tin của chúng ta vào Chúa, sự gắn bó của chúng ta với Giáo hội và việc thực thi cuộc sống siêu nhiên.

Hội FIAT nhằm nâng đỡ nỗ lực của mỗi người, nối kết tình huynh đệ giữa những người tham gia và làm cho mọi người trong đó được hứng khởi.

Những mối liên kết ấy được thắt chặt do Nhóm Huynh Đệ FIAT, Những người cầu nguyện của Hội FIAT Thân hữu FIAT.

Nhóm Huynh Đệ FIAT

Nhóm nầy qui tụ những anh chị em muốn tham gia tích cực vào sinh hoạt Hội FIAT, ở cấp địa phận, liên địa phận hoặc quốc tế.

Tuy rằng việc dấn thân vào Nhóm Huynh Đệ FIAT cần có thời gian, nhưng việc dấn thân nầy mở rộng cho bất cứ thành viên của một hội đoàn, phong trào, cộng đoàn hoặc dòng tu nào bất kỳ. Nó cũng không làm vương vấn, trở ngại gì cho việc dấn thân mục vụ trong một giáo xứ  hoặc trong một địa phận.

Trên bình diện quốc tế, con số các thành viên của Nhóm Huynh Đệ FIAT được qui định là 120 người. Nhữnh anh chị nào muốn trở thành thành viên của Nhóm Huynh Đệ FIAT có thể liên lạc với Trung Tâm điều hợp của Hội FIAT.

Những người cầu nguyện của Hội FIAT

Nhiều người hằng ngày cầu nguyện qua chuỗi FIAT, và qua thư từ, điện thoại hoặc có lúc gặp trực tiếp đã chia sẻ với chúng tôi sức sống siêu nhiên mà họ cảm nghiệm. Trong số những anh chị em nầy, cũng có người già lão, yếu đau hoặc tàn tật đang quên nội khổ đau của mình và cầu nguyện cho những ai đang gặp khốn khổ.

Cuộc sống cầu nguyện của họ nâng đỡ và hỗ trợ cho Hội FIAT được phổ biến khắp thế giới. Chuỗi kinh FIAT hàm ngụ lời cầu nguyện cho Giáo hội và cho thế giới. Trong tập sách nhỏ Giới thiệu chuỗi FIAT[5], hồng y Suenens nhấn mạnh khía cạnh quan trọng nầy: nới rộng chân trời của cuộc sống cầu nguyện của chúng ta, chứ đừng quá tập chú lời cầu nguyện trong khuôn khổ riêng của mình.

Những người nào muốn có những hỗ trợ về chuỗi, sách ... liên quan và muốn hiệp thông vào mối tương liên cầu nguyện của Hội FIAT, có thể viết thư về Trung Tâm điều hợp của Hội FIAT. Những người tham gia cầu nguyện là nguồn sinh lực không thể thiếu của công cuộc rao truyền Phúc Âm.

Thân hữu FIAT

Hội FIAT được nhiều người trong năm châu hỗ trợ và nâng đỡ. Họ giúp chuyển dịch, phổ biến các tài liệu trong nhiều quốc gia hoặc có khi còn giúp phương tiện tài chánh. Hội FIAT thiết yếu được tài trợ nhờ tặng dữ của thân hữu và những số tiền thu được qua việc bán các tài liệu.

Những thân hữu và những ai hợp tác với Hội FIAT không bị ràng buộc gì với Hội nầy về mặt tài chánh. Tuy nhiên, hai lần trong mỗi năm - gần lễ Truyền Tin và lễ sinh nhật Đức Mẹ – Hội FIAT kêu gọi tất cả thân hữu giúp đỡ theo sức mình, nhằm giúp cho Hội FIAT có đủ phương tiện điều hành công việc của Hội. Tất cả những thân hữu của Hội FIAT đều nhận tờ liên lạc định kỳ Newsletter FIAT, nếu họ muốn.

Những người hợp tác bên ngoài

Càng ngày càng có những gặp gỡ, tiếp xúc giữa Hội FIAT vơói nhiều phong trào, hội đoàn, dòng tu khác nhau. Những mối liên lạc càng ngày càng đậm đà hơn và dấy lên nhiều sáng kiến, chẳng hạn những cuộc tổ chức đào tạo chung. Và Hội FIAT đã gặt hái nhiều thành quả tích cực; giữa các hội đoàn, các nhóm ..., người ta quí mến nhau hơn, thân thiện hơn và sinh hoạt của mỗi người, mỗi nhóm được vững mạnh hơn.

2.  Những hình thức phục vụ

Liên lạc định kỳ Newsletter FIAT

Ngoài một tài liệu làm nền, Liên lạc định kỳ Newsletter FIAT ghi lại những tin tức, chia sẻ mà bạn bè Hội FIAT khắp nơi trên thế giới gửi về. Ba tháng một lần, Liên lạc định kỳ Newsletter FIAT, nối kết cụ thể các sinh hoạt, giúp chia sẻ những kinh nghiệm cuộc sống thiêng liêng và mục vụ của Hội FIAT.

Những tài liệu chuyên đề

Tài liệu chúng ta đang đọc đây là một tài liệu chuyên đề cống hiến một cái nhìn khái quát về Hội FIAT.

Nhưng muốn hiểu sâu hơn năng lực bên trong của Hội FIAT, cần phải khai triển rõ hơn linh đạo, những khía cạnh chuyên biệt, sức năng động và những mẫu gương cuộc sống thiêng liêng của các vị sáng lập. Những đề tài như thế được trình bày trong nhiều tài liệu chuyên biệt khác nhau, giúp cho người đọc dễ khám phá những hình thái khác nhau của Hội FIAT. Đây là danh sách các đề mục:

N.1 Những nền tảng thiêng liêng của Hội FIAT.

N.2 Những vị sáng lập chính.

N.3 Hội FIAT, một lối thực thi cuộc sống siêu nhiên : đào tạo, cầu nguyện, dấn thân.

N.4 Hội FIAT, một lối thực thi cuộc sống siêu nhiên: các nhóm cầu nguyện.

N.5 Hội FIAT, một lối thực thi cuộc sống siêu nhiên: sống hiệp nhất với Chúa.

N.6 Gia đình, niềm hy vọng cho thế giới.

N.7 Phổ biến Hội FIAT trên thế giới.

Những ngày hội của Hội FIAT

Hai ngày hội thường niên trong vùng qui tụ những người Thân hữu Hội FIAT được tổ chức vào khoảng 25 tháng 3 và 8 tháng 9. Chúng nhằm ba mục tiêu: - gặp gỡ nhau trong tình huynh đệ những người tham gia cách nầy hay cách khác cho Hội  FIAT; - sống một ngày chia sẻ về cuộc sống thiêng liêng và về sinh hoạt tông đồ; - giúp cho những người được mời biết về Hội FIAT.

Gặp gỡ quốc tế những thân hữu của Hội FIAT

Trong tinh thần gặp gỡ để phục vụ Giáo hội và đi sâu hơn vào cuộc sống thiêng liêng, Ngày gặp gỡ quốc tế được tổ chức 4 năm một lần. Cuộc gặp gỡ đầu tiên tổ chức tại Banneux (Bỉ) năm 1999. Lần thứ hai tại Nevers (Pháp) năm 2003.

Trung tâm điều hợp Hội FIAT

Trung tâm điều hợp Hội FIAT còn gọi là Văn phòng thường trực quốc tế ở trong lãnh thổ tổng địa phận Malines-Bruxelles, Bỉ, và nằm trong khuôn khổ trách nhiệm mục vụ của Tổng địa phận nầy.

Về mặt hành chánh, Hội FIAT có qui chế pháp lý của một hiệp hội sinh hoạt vô vị lợi (a.s.b.l.) và trụ sở đặt tại địa chỉ ghi dưới đây.

Đại Hội của Hội FIAT gồm những thành viên của Nhóm huynh đệ FIAT hoặc những thân hữu FIAT đến từ nhiều quốc gia khác nhau. Trong số đó có một hoặc nhiều linh mục cũng như vị đại biểu của tổng giáo phận Malines-Bruxelles.

Đại Hội họp hai lần mỗi năm: - tam cá nguyệt chót trong năm nhằm thảo luận và quyết định chương trình và ngân sách cho năm tới, - và tam cá nguyệt đầu để đánh giá tiến trình sinh hoạt và xét lại sổ sách tài chánh trong năm vừa qua.

Nếu có nhu cầu, Hội FIAT có thể lập ra những chi nhánh vùng trong nhiều quốc gia khác nhau với sự đồng ý của Trung tâm điều hợp Hội FIAT.

 

ChuỖi FIAT: MỘt lỐi sỐng đỨC tin cùng vỚi MẸ Maria

Chuỗi FIAT hoàn toàn nằm trong khuôn khổ của lời kêu mời của giáo hoàng Gioan-Phaolô II qua Tông thư Chuỗi Mân Côi của Trinh Nữ Maria (16/10/2002). Tông thư nầy nhấn mạnh rằng lần chuỗi giúp chúng ta chiêm ngắm khuôn mặt Chúa Kitô để nên giống Ngài, khi chúng ta cùng với Mẹ Maria suy gẫm những mầu nhiệm đời Ngài. Đức giáo hoàng nhắc lại rằng Mẹ Maria không phải Con Đường – Chúa Kitô là Đường! – nhưng Mẹ chỉ cho chúng ta Con Đường (số 16).

Chuỗi FIAT vừa cổ điển vừa mới mẻ. Chuỗi giúp chúng ta suy gẫm hằng ngày những mầu nhiệm chính của chuỗi Mân Côi, và nhấn mạnh đến khía cạnh phúc âm khi cầu kinh. Nó giúp cho việc cầu nguyện trong gia đình được dễ dàng, và đóng góp vào nỗ lực canh tân công cuộc rao truyền Phúc Âm. Nó mời gọi chúng ta bước từng bước trong hành trình của cuộc sống siêu nhiên, dẫn lối cho chúng ta hiểu rõ hơn – hoặc tìm lại – lý lịch Kitô hữu của chúng ta, và đây là điều kiện tiên quyết để thực hiện bất cứ công cuộc rao truyền Phúc Âm nào.

Lúc khởi sự lần chuỗi, chúng ta xin Chúa Thánh Thần giúp chúng ta cầu nguyện và hành động để trung thành với phép rửa của chúng ta. Lời cầu nguyện nầy ‘thức tỉnh’ kitô hữu và kêu mời họ lắng nghe Chúa Thánh Thần để trở thành nhân chứng của Chúa Kitô trong suốt cuộc sống của mình.

Hồng y Danneels cổ súy chuỗi nầy: «Ước gì chuỗi nhỏ FIAT có thể đi vào trong các gia đình, để các gia đình trở thành như những buổi tụ họp cầu nguyện của các Tông Đồ, quây quần bên Trinh Nữ Maria, hầu đón nhận Chúa Thánh Thần hiện xuống » (8/12/1984).

Hồng y Suenens trình bày cho chúng ta biết về nguồn gốc cũng như nội dung thần học, mục vụ và linh đạo của chuỗi FIAT trong một cuốn sách nhỏ tựa đề Trình bày về chuỗi FIAT.

 

Để lần chuỗi FIAT, xin đi tuần tự từng số

Nhân danh Cha,và Con (1) và Thánh Thần. Amen.

Lạy Chúa Thánh Thần (2) Xin giúp chúng con, hiệp thông với Mẹ Maria, sống lại các mầu nhiệm Vui ,Sáng, Thương, Mừng của Chúa Giêsu. Amen.

Xin cho chúng con

- được đức tin của Phép Rửa linh hoạt

- được Thánh Thể dưỡng nuôi,

- được ơn Thánh Thần đổi mới,

Đề chúng con trở thành

- nhân chứng trung kiên của Chúa Kitô và

- của Tình Yêu từ Thánh tâm Ngài,

- bằng lời nói và việc làm,

- mọi nơi và mọi lúc. Amen

Chúng ta hãy cầu nguyện cho: Giáo Hội...., thế giới...., theo ý chúng ta...,

Lạy Cha chúng con…

Mỗi mầu nhiệm gồm: ba Kinh Kính Mừng và một Kinh Sáng Danh.

Các mầu nhiệm Vui (Hạt Xanh)

- Đức Mẹ sinh ra (3)

- Thiên thần truyền tin cho Đức Mẹ (4)

- Chúa Giêsu sinh ra (5)

Các mầu nhiệm Sáng (Hạt Trắng)

- Chúa Giêsu chịu Phép Rửa (6)

- Chúa Giêsu dự tiệc cưới Cana (7)

- Chúa Giêsu lập Phép Thánh Thể (8)

Các mầu nhiệm Thương (Hạt Đỏ)

- Chúa Giêsu chịu khổ nạn (9)

- Chúa Giêsu vác Thánh giá (10)

- Chúa Giêsu chịu đóng đinh vào Thánh giá (11)

Các mầu nhiệm Mừng (Hạt Vàng)

- Chúa Giêsu sống lại (12)

- Chúa Thánh Thần Hiện Xuống (13)

- Đức Mẹ được đưa lên trời (14)

Những lời cầu kết thúc (15)

Thánh Giuse, Đấng bảo vệ gia đình Chúa, Xin bảo vệ chúng con.

Tổng lãnh Thiên thần Micae, Xin cứu chúng con khỏi quyền lực sự dữ.

Các Thiên thần và các Thánh, Cầu cho chúng con

 

Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ dạy con biết thưa với Chúa “Xin Vâng” trong mỗi giây phút đời con.

Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ dạy con biết thưa với Chúa “Cám ơn” trong mỗi giây phút đời con.

 

Địa chỉ Trung Tâm để liên lạc địa chỉ về chuỗi FIAT và tập sách nhỏ Trình bày về chuỗi FIAT.

Association FIAT

Kard. Sterckxlaan, 29

B 1860 – Oppem-Meise (België)

Fax: (0)2 269 77 51

e-mail: associationfiat@skynet.be

 Trở về mục lục >>

Tìm hiỂu các mỐi Tương Quan trong ĐẠo KhỔng

dưỚi ánh sáng cỦa Tương Quan Ba Ngôi

 
Hoàng Linh, O.F.M.
LTS:  Tu sĩ Hoàng Linh thuộc Dòng Anh Em Hèn Mọn (Phan-xi-cô), tốt nghiệp Tiến sĩ Thần Học tại Đại học 
Fordham University, New York, Hoa Kỳ với Luận Án mang tựa đề: Creating New Spiritual Homes: Vietnamese 
Refugees Negotiating American and Catholic Identities. Hiện nay thầy là giáo sư tại Siena College và được mời
 thuyết trình tại nhiều nơi. Xin trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả Maranatha bài nghiên cứu về các mối tương 
quan trong đạo Khổng dưới ánh sáng của mầu nhiệm Ba Ngôi.  

 

Mặc dù từ lâu đạo Khổng (còn gọi là Nho giáo) đã không còn được giảng dạy tại Việt Nam, nhưng Khổng giáo vẫn có những ảnh hưởng sâu đậm trên quan niệm của người Việt Nam về văn hóa của họ. Trong bài, một số nét đặc trưng của Khổng Giáo sẽ được đem ra phân tích, so sánh và đối chiếu với mầu nhiệm Ba Ngôi. Bài thuyết trình này muốn nói lên rằng giáo huấn truyền thống của đạo Khổng về các mối tương quan gia đình cần được xem xét dưới ánh sáng của mầu nhiệm Ba Ngôi.

Các mối Tương Quan theo cái nhìn của Khổng Giáo và người Á Đông

Không phải mọi người Á đông đều được lớn lên hay được giáo dục trong hệ thống Khổng giáo, nhưng phần lớn họ đều mang trong mình những giá trị “Á Đông” giống như những giáo huấn của đạo Khổng. Căn tính này thường được gán cho mọi người châu Á. Tính chất Khổng giáo này là gì, hay đúng hơn chúng ta có thể bàn về việc xây dựng căn tính trong một bối cảnh Á đông hay không? Tôi tin rằng tốt hơn chúng ta nên bàn về sự hài hòa, một yếu tố quan trọng đối với những người Á châu chịu ảnh hưởng tinh thần Khổng giáo.

Tiến trình tạo nên sự hài hòa không giống như tiến trình uốn đúc nên căn tính, nhưng đúng hơn nó khác biệt hẳn căn tính. Ý tôi muốn nói là căn tính thường nhằm sao chép lại điều người ta đã có hay đã quen, trong khi sống hòa hợp với người khác là tạo ra một điều gì khác. Tiến trình tạo ra hòa hợp là nhằm tạo nên và biến đổi theo một cách thức mới với sự tôn trọng những căng thẳng do khác biệt và xung khắc gây nên. Trong khi sự hài hòa thấm nhập vào trong mọi mức độ và chiều kích của giáo huấn Khổng giáo, nó được đề cập chủ yếu trong bối cảnh của mối tương quan giữa Trời (Thiên) và người (Nhân). Mối tương quan hài hòa này dựa vào việc giải quyết những khác biệt gây nên xung khắc giữa tâm trí (Trí) và thân xác (Hình), giữa một (Độc) và nhiều (Đa), giữa những nguyên tắc của Trời (Thiên lý) và cách hành xử của người (Nhân xử).Cách thức thể hiện của mối tương quan giữa Thần Linh và con người thúc đẩy tất cả những mối tương quan dựa trên sự hài hòa khác.

Có năm mối tương quan chính trong học thuyết Khổng giáo về các mối tương quan: Vua-Dân (Thần-Tôi), Cha-Con (Phu-Tử), Chồng-Vợ (Phu-Phụ), Anh-Em (Huynh-Đệ), và mối tương quan giữa người già với người trẻ (Trưởng-Ấu). Có ba mối tương quan liên hệ tới đời sống gia đình: Cha-Con, Chồng-Vợ, và Anh-Em hoặc Chị-Em.

Chúng ta có thể hiểu về nền văn hóa chịu ảnh hưởng Khổng giáo rõ nhất là qua gia đình. Điều này có thể được diễn tả qua tam tài gồm Cha là đấng ngự trên trời, mẹ là đất và con cái chính là loài người. Cách sắp theo thứ bậc cha, mẹ và con cái nói lên trật tự căn bản nhất trong gia đình người Việt. Quan điểm của người Việt cũng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của hình ảnh gia đình trong mầu nhiệm Ba Ngôi. Hình ảnh gia đình trong mầu nhiêm Ba Ngôi đã bắt nguồn từ truyền thống Do Thái và Ki Tô giáo. Gia đình được xem như là cơ cấu quan trọng nhất của xã hội. Giáo huấn Khổng giáo đã đặc biệt nhấn mạnh đến hình thức tam cương của gia đình như là chìa khóa đem lại sự phát triển của con người và sự ổn định của xã hội. Cuộc sống gia đình quan trọng cho đời sống đến nỗi ai cũng phải lập gia đình và sinh con, tốt hơn là con trai, để có một cuộc sống gia đình trọn vẹn. Không chỉ có người sống độc thân mới được coi là bất toàn, nhưng gia đình không có con cũng được xem như là thiếu sót. Vì thế, gia đình lý tưởng phải gồm có tam cương --- cha, mẹ và, con cái.

Mối tương quan giữa chồng và vợ có thể được xem như nền tảng cho các mối tương quan khác trong gia đình người Mỹ, nhưng ở Việt Nam nó không những chỉ là thứ yếu mà còn tùy thuộc vào mối tương quan cha - con. Mối tương quan Phu - Tử  là nền tảng cho các mối tương quan khác của con người. Mối tương quan này đặt cơ sở trên lòng hiếu thảo. Con cái vâng phục cha mình là nền tảng cho mọi đức hạnh trong văn hóa của người Việt Nam.

Một trong những tục lệ thể hiện lòng hiếu thảo trên là nghi lễ Thờ Cúng Tổ Tiên (lễ Gia Tiên), bởi vì theo truyền thống Khổng giáo, chỉ có người con trai trưởng trong gia đình mới đứng ra chủ sự lễ Gia Tiên.  Phụ nữ cũng có thể tham gia vào nghi lễ này bằng việc chuẩn bị ẩm thực, trang hoàng bàn thờ, và trông nom con cái. Điều này phản ảnh rõ ràng hơn tính chất gia trưởng của gia đình người Việt.

Người ta tin rằng hương hồn tổ tiên vẫn sống trong thế giới này và chứng kiến mọi suy nghĩ, hành động của con cháu, nâng đỡ chúng trong mọi hoàn cảnh, ngay cả hiện về báo mộng cho con cháu biết trước những hiểm họa sắp sửa xảy ra. Mỗi năm vào ngày giỗ, người con trai trưởng có bổn phận đứng ra tổ chức lễ giỗ. Mức độ long trọng của buổi lễ giỗ tùy thuộc vào cấp bậc trong gia đình của người quá cố và khoảng cách thời gian giữa ngày qua đời và ngày lễ giỗ.

Qua lòng hiếu thảo, tất cả con cái, nam cũng nhu nữ, cũng hiểu rằng phú quý, giàu sang, hạnh phúc, và đặc biệt là sự thuận hòa mà họ đang hưởng là nhờ bởi nhân đức và việc lành của tổ tiên. Những công quả này được xem như một thứ di sản vững chắc và có giá trị giống như đất đai hay nhà cửa, và người con trưởng thành, đến lượt mình, cũng mong làm được như thế cho thế hệ tiếp theo. Ngược lại, sự nghèo khổ, đau khổ và bất hạnh được xem như hậu quả của những việc gian ác mà tổ tiên đã làm trong quá khứ.Vì thế người ta có bổn phận phải đền bù để tránh cho thế hệ tiếp theo phải gánh chịu đau khổ và nghèo nàn. Lòng hiếu thảo, ân nghiã, công đức, và những đòi hỏi của chúng phải được nhắm tới không chỉ cha mẹ và tổ tiên mà còn tới cả thân tộc, bạn hữu, cấp trên, làng nước, thủ lãnh, cộng đồng, và quốc gia.

Những tập tục này cũng xem sự hài hòa như là kết quả trọng yếu trong việc duy trì các mối tương quan xã hội và gia đình. Khả năng biến hóa và triển nở cũng xảy ra nơi các tương quan này. Khổng giáo đặt niềm tin tưởng lạc quan vào vận mệnh con người bằng cách xây dựng các mối tương quan. Hy vọng điều này có thể đưa con người hòa hợp với vũ trụ rộng lớn hơn hầu thiết lập một cái nền vững chắc cho khả năng xảy ra sự biến hóa và triển nở trong cuộc sống thường ngày.

Linh Mục Peter Phan Đình Cho đề nghị một cách vắn gọn rằng mầu nhiệm Ba Ngôi có thể rất có ích cho một nền thần học Việt-Mỹ, khi liên hệ thần học Ba Ngôi với triết lý Tam Tài của người Việt Nam, một triết lý sử dụng tam tài Thiên, Địa, Nhân (Trời, Đất và Người). Chúa Cha tương ứng với Trời, Chúa Con với người, và Chúa Thánh Thần với đất.  Ba ngôi liên hệ với nhau và tùy thuộc vào nhau. Điều này đã được bàn đến trong chương hai nên đã đủ, chỉ cần vắn tắt nhấn mạnh vai trò mỗi Đấng: Chúa Cha tác sinh qua công trình tạo dựng; Chúa Con hòa hợp hòa giải qua công cuộc cứu độ của Ngài, và Chúa Thánh Thần dưỡng nuôi bằng ơn thánh hóa. Thuyết Tam Tài thực sự bắt nguồn từ cái tinh tuý của sự hiểu biết thông thường của người Á châu về tất cả mọi hiện tượng  của vũ trụ trong đó tam tài Thiên, Địa, Nhân là tổng hợp của tất cả mọi sự.

 Jung Young Lee – một người Mỹ gốc Đại hàn – là người đáng tin cậy trong việc hội thảo về thuyết Tam tài của người Á đông bởi vì ông có sức hiểu biết của một nhà thần học Kitô giáo cũng như của một học giả về Lão giáo. Ông xử dụng khuôn mẫu các mối tương quan gia đình và dân tộc của người Á châu để bàn về mầu nhiệm Ba Ngôi.

Tam Tài: Thiên, Địa, Nhân là nét đặc biệt chính yếu của lối suy tư triết lý truyền thống của người Á châu, và nó đã được tháp nhập và phát triển trong cái được gọi là khái niệm Đông Á về mầu nhiệm Ba Ngôi. Khái niệm Đông Á về mầu nhiệm Ba Ngôi có thể được hình thành từ triết học Trung Hoa , và đặc biệt từ Hsi Ming or Western Inscription lấy từ Kinh Dịch. Hsi Ming luận bàn về mối tương tác (?) giữa các tam trụ. Trụ đầu tiên được gọi là Ch’ien (nghĩa là nguyên lý sáng tạo hay là Trời) liên hệ với trụ thứ hai được gọi là K’un ( nghĩa là nguyên lý tiếp thu hay là đất), đến lượt minh san sinh những tam trụ khác biểu thị mọi vật khác trong thế giới. Ch’ien and K’un là những con đường đến với mọi vật, chúng được phản ảnh trong quan niệm phổ thông về  Âm Dương của người Á châu. Khi đối chiếu Kinh Dịch với quan niệm Âm Dương, Jung young Lee ủng hộ quan điểm cho rằng quan niệm Âm Dương mới được hình thành của người Á châu mang tính chất Ba Ngôi một cách tự nhiên bởi nó tháp nhập những yếu tố bao hàm lẫn nhau và tương quan lẫn nhau rất dễ thấy ở trong cái nhìn mầu nhiệm Ba Ngôi. 

Nếu mọi vật trên thế giới có thể được mô tả theo biểu tượng Âm Dương, thì mọi sự xảy ra trên thế giới đều được coi như là một hành vi mang tính chất Ba Ngôi. Ý tưởng này khởi sự với khái niệm Đông Á về Ba Ngôi: Thiên, Địa, Nhân.

Quan niệm có tính biểu tượng và bao hàm về Âm Dương rất là quan trọng trong đạo Lão và cung cấp một cách hieu có tính phổ quát hay bao gồm cả vũ trụ về mầu nhiệm Ba Ngôi. Biểu tượng Âm Dương của Đông Á có tính chất bao hàm. Đây là một biểu tượng có kết cục mở ra và cho thấy một mối tương quan bổ sung lẫn nhau. Âm và Dương liên hệ với nhau vì chúng bao hàm lẫn nhau và ở trong nhau. Ở trong có nghĩa là hòa quyện với nhau đến độ không thể tách rời nhau. Hay đúng hơn, không thể nào hình dung Âm mà không có Dương. Vì thế quan niệm biểu tượng Âm Dương cũng là quan niệm Ba Ngôi bởi vì chữ “và.” Đó là chữ nối liền hai chữ Âm và Dương như là hai biểu tượng bổ sung cho nhau và có liên hệ với nhau. Người ta cũng nhận ra tính chất bao hàm này trong mối tương quan của Chúa Cha với Chúa Con khi Đức Giêsu nói: Hãy tin rằng tôi ở trong Cha và Cha ở trong tôi” (Gioan 14:11). Như thế Thiên Chúa được thể hiện qua Chúa Con và cùng tương giao qua Chúa Thánh Thần, tạo thành một mối tương quan bao hàm.

Cũng có một thứ luật đảo ngược trong chuyển động của Âm Dương: khi một vật/người đi lên tới tột đỉnh thì nó sẽ bắt đầu đi xuống để cho vật/người khác đi lên; cũng như khi một vật/người đã xuống tới mức thấp nhất, thì phải đi lên để cho vật/người khác đi xuống. Sự hòa điệu hay quân bình luôn có trong vu trụ là do Đạo (Đường). Đạo là nguyên lý hay nguồn lực biến chuyển thứ ba duy trì cho hai cực Âm và Dương ở trong trạng thái hài hòa.

Trong quan niệm Âm Dương, mọi sự đều phải chịu sự tác động của một lực chuyển dịch. Chuyển dịch là yếu tố then chốt thứ ba của tương quan Âm Dương. Ví mọi sự đều tương giao với nhau, chuyển dịch nơi vật này sẽ kéo theo sự chuyển dịch nơi những vật khác. Âm và Dương là những biểu tượng của một tiến trình chuyển dịch. Mọi tương quan Âm Dương dựa trên chuyển dịch nhiều hơn là hữu thể. Chuyển dịch có tính chất nền tảng (căn bản) hơn là hữu thể. Chuyển dịch là một tiến trình tạo sinh. Cũng giống như một hữu thể sống động không thể hiện hữu nếu không có tạo sinh xảy ra trước, chuyển dịch cũng mang đến một tiến trình có tính cách tiến hóa và đó là phần bên trong của chuyển dịch. Khi Âm và Dương ở trong tiến trình chuyển dịch, chúng sinh sản ra nhau để hoàn tất tiến trình chuyển dịch, và một khi hoàn tất, một tiến trình mới lại bắt đầu. Gia đình minh họa một cách rõ ràng nhất tiến trình này. Trong gia đình người Việt, người chồng và người vợ là nền tảng của gia đình, nhưng họ cần có con cái để hoàn thành gia đình. Một gia đình không con cái là một gia đình bất toàn. Cũng giống như việc sinh sản con cái hoàn tất mối tương quan giữa chồng và vợ, thì tiến trình chuyển dịch cũng cần đến việc sinh sản.

Cơ may tháp nhập một viễn tượng thần học vào trong hiện trạng của cộng đồng Công Giáo Việt nam tại Hoa Kỳ qua học thuyết về mầu nhiệm Ba Ngôi rất hữu ích và cần thiết để hiểu được cái căn tính  được “thỏa thuận” của những người công giáo Mỹ gốc Việt. Nó cũng khá xác đáng đặc biệt dưới ánh sáng mà quá trình phát triển của học thuyết Ba Ngôi đã được “thỏa thuận” trong suốt lịch sử Giáo hội.

Khoảng cách thể hiện nơi sự sắp xếp theo thứ tự phẩm trật, địa vị và chức vụ --- đó là một sự phân định khác biệt (bị ảnh hưởng bởi năm loại quan hệ theo đạo Khổng) bất bình đẳng. Gia đình và cộng đồng người Việt bị phân biệt về mọi phương diện của cuộc sống, những khác biệt và bất bình đẳng không hàm ý có một số cấp độ kém giá trị. Người trẻ khác với người lớn tuổi, nhưng người trẻ không bị hạ giá. Cũng như không phải người già là cao giá hơn người trẻ, cho dù họ được kính trọng hơn. Cả hai nhóm đều là thành phần của cộng đồng; chính toàn thể cộng đồng là cái đưọc đánh giá. Quan trọng hơn, thành phần của mọi lứa tuổi được đánh giá không phải theo tuổi  tác mà theo cách ứng xử của họ. Lối hành xử của mọi người phải phù hợp với địa vị của mình trong xã hội. Hành động một cách lập dị sẽ bị cộng đồng lên án. Đối với người Việt chịu ảnh hưởng bởi tinh thần Khổng giáo, người ta nên cư xử tương xứng với vị trí của mình, dù già hay trẻ, giàu hay nghèo, gia giáo hay thất học. Mọi loại người đều có phép cư xử riêng. Mỗi người đều được người khác nhận biết qua cách hành động của họ; đó là một loại luật bất thành văn trong xã hội Việt nam. Nếu cư xử một cách phù hợp, thì sẽ không bị người khác dòm ngó và vì thế sẽ giữ được sự hài hòa. Đối với người Việt, giữ đúng vai trò của mình trong cách xử thế trong chỗ trang trọng cũng như nơi thân mật là một điều rất quan trọng.

Ngoài việc xử dụng những mối quan hệ thân tộc cho những người Công Giáo Mỹ gốc Việt là những người nằm trong một hệ thống gia đình, còn có đòi buộc trung thành với gia đình --- đó là niềm kỳ vọng đã làm nên gia đình truyền thống. Truyền thống gia đình được hình thành bởi ba giá trị và tập tục cơ bản đã đâm rễ sâu nơi bản chất người Việt: lòng hiếu thảo (hiếu), món nợ ân tình hay lòng biết ơn (ơn), đức hạnh (đức). Lòng hiếu thảo là giá trị được nhấn mạnh rất nhiều, bao gồm bổn phận và nghĩa vụ của con cái đối với cha mẹ. Nó ràng buộc con cái, trai cũng như gái, vào trong một mối tương quan không thể phá vỡ của ơn nghĩa mà con cái không bao giờ có thể trả hết. Qua những chuyện kể dân gian, bài hát, châm ngôn, truyện thần thoại và chuyện gia đình, ngay từ khi mới sinh ra, người Việt đã được dạy dỗ về lòng hy sinh mà cha mẹ đã gánh chịu để dạy dỗ con cái nên người. Con cái ngày nay là thành quả của những hy sinh mà cha mẹ và tổ tiên đã vất vả hy sinh từ nhiều thế hệ trưóc. Truyền thống này đang được tiếp tục nơi phần lớn các gia đình người Mỹ gốc Việt. Dưới nhiều hình thức, con cái cảm thấy mắc nợ đối với những hy sinh vất vả mà cha mẹ đã dành cho mình.

Tuy nhiên, đã có một sự thay đổi trong chuyển động của gia đình từ khi người ta sống đời tị nạn. Rõ ràng là gia đình đã bị phân tán trong biến cố di tản vượt biên, bước đầu định cư, và những nỗ lực tiếp theo để thích ứng với hoàn cảnh mới tại nước Mỹ. Những tục lệ và giá trị trước đây diễn tả gia đình Việt nam --- thờ cúng tổ tiên, hiếu thảo, vâng phục, trung thành, ưu tiên coi trọng nhà tổ tiên, và đại gia đình với mối tương quan hệ hàng thẳng nội tộc (patrilineal) và quan hệ vòng ngoài (hàng ngang) ngoại tộc (patrilocal) --- tất cả đang gặp khó khăn. Mối dây dùng để liên kết mỗi thành viên của toàn bộ gia đình lại với nhau đã yếu đi, với sự ưu tiên dành cho những thành viên có mối quan hệ trực tiếp (chồng và vợ, cha mẹ và con cái và ông bà), trong khi tổ tiên lùi lại xa hơn về quá khứ trong ký ức gia đình. Giữa vợ chồng đã có những sự căng thẳng (khi người chồng mất việc thì vị trí là chủ gia đình cũng bị lung lay). Dù cho uy quyền của cha me đang còn mạnh, nhưng đã có sự căng thẳng giữa các thế hệ (vì con cái thích nghi nhanh hơn cha mẹ của chúng).

Vai trò làm cha làm mẹ của ngưòi Mỹ gốc Việt đã chuyển từ chỗ xa cách con cái tới chỗ dấn thân đối thoại với con cái nhiều hơn.  Khả năng xử dụng tiếng Anh của con cái tốt hơn, khiến chúng tiếp cận mau hơn với nền văn hóa và giúp chúng tìm được bảo đảm vật chất mà không cần sự giúp đỡ của cha mẹ. Do đó chúng ở trong vị thế có thể tự tìm cho mình người phối ngẫu hơn là chờ cha mẹ tìm cho mình. Có vẻ như con cái đã bớt thờ cúng tổ tiên vì phần mộ của họ ở Việt nam. Bây giờ cha mẹ tự hỏi đâu là vai trò của mình trong chiều hướng biến chuyển của gia đình. Tất cả các thành viên trong gia đình ngày nay đảm đuơng nhiều vai trò khác với những vai trò đã được định đạt theo truyền thống. Mọi quan tâm chăm sóc cha mẹ già cũng như khái niệm liên quan đến danh dự gia đình vẫn đang còn là trọng tâm của hệ thống giá trị của người Việt, nhưng cách hiểu ngày xưa về những giá trị đó đã bị bóp méo, những kỳ vọng không còn mãnh liệt như trước, một khi gia đình thích ứng với những đòi hỏi của nền văn hóa mới. Những vấn đề này đang tiếp tục được tự giải quyết một khi người Mỹ gốc Việt thương lượng vị trí của cá nhân với gia đình và với cộng đồng rộng lớn hơn.

Đối với người Công giáo Mỹ gốc Việt, điều quan trọng phải nhớ trong lối trình bày học thuyết Ba Ngôi này là họ đã có những lần chịu đựng đau khổ dưới những chế độ chuyên chế và thối nát ở quê nhà và bị đô hộ dưới ách thống trị ngoại bang.  Họ cũng chưa sẵn sàng để làm quen với tiến trình dân chủ tại nước Mỹ và vì thế họ mang trong lòng một nỗi ngờ vực đối với loại chính quyền này. Tình trạng bất bình thường này giải thích phần nào cho sự kiện mâu thuẫn là trong khi họ tranh đấu cho những quyền lợi tự do mà hiến pháp nước Mỹ bảo đảm, thì ngược lại, bằng mọi cách họ lại đàn áp mọi ý kiến, lời nói hay hành động có lợi cho chính thể hiện thời Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt nam. Nhiều người đã chống đối việc bình thường hóa bang giao giữa Hoa Kỳ và Việt nam.

Những nghĩa vụ và lòng vâng phục của con cái là những nghĩa vụ phải có đối với cha mẹ và tổ tiên. Trong mối tương quan này, vị thế của chúng khác với vị thế của cha mẹ nhưng điều này không làm giảm đi phẩm giá làm người của chúng. Hơn nữa, bằng bản năng của mình, con cái phải nhận biết những nghĩa vụ của bổn phận làm con, bởi vì những nghĩa vụ này không được giảng dạy một cách trực tiếp. Tương tự như thế, lòng vâng phục mà Chúa Kitô đã thể hiện trong tương quan Ba ngôi tạo ra một nét quen thuộc cho người Công giáo Mỹ gốc Việt đặc biệt là khi mối tương quan hỗ tương không có nghĩa là giảm thiểu trách nhiệm của mọi người trong tương quan Ba Ngôi. Mối tương quan hỗ tương rất cần thiết để tạo ra tương quan Ba Ngôi nay lại nhấn mạnh như cầu liên đới với nhau để làm triển nở một tương quan hài hòa mới. Hơn nữa, bầu khí dân chủ của Giáo hội Hoa Kỳ đã khích lệ sự tham gia của giáo dân. Nhưng giáo dân được giới hạn trong những vai trò mà họ đã thể hiện trọn vẹn trong Giáo hội.

Khi sự hòa hợp bao hàm ý nghĩa mạnh mẽ về việc giữ cho được bản chất của con người và chuyển dịch, thì việc luận bàn về đau khổ có thể hiểu đúng hơn dưới khía cạnh quan trọng của chuyển dịch. Đau khổ vừa là một sự chịu đựng vừa là một phương tiện để biến đổi trong Ba Ngôi. Bởi vì chuyển dịch là yếu tố thứ ba của Âm và Dương, nên mọi đau khổ đều bao hàm chuyển dịch vì nguồn gốc của đau khổ là chuyển dịch. Mỗi khi chuyển dịch xảy ra, con người sẽ phải chịu một lối đau khổ nào đó. Nỗi thống khổ của tình yêu Thiên Chúa trong Ba Ngôi có tính cách biến đổi. Nỗi đau khổ của lòng hiếu thảo nhắc người ta nhớ sự chuyển dịch không ngừng trong cuộc sống con người.

Sự biến đổi của đau khổ trong mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi của Kitô giáo là một lãnh vực trong đó đau khổ bắt nguồn từ chuyển dịch có thể được rập khuôn lại. Chính nỗi đau khổ trong tình yêu cứu độ mà người Công giáo Mỹ gốc Việt có khuynh hướng mặc cho kinh nghiệm tị nạn của họ một ý nghĩa. Kinh nghiệm đau thương của người tị nạn quá bi thảm đến độ nhiều người không thể nào tham gia cùng với những người khác trong đất nước họ mới định cư. Cũng chính những kinh nghiệm đau thương này của nhiều người tị nạn Việt nam tại Hoa Kỳ đã hạn chế khả năng hội nhập hay thích nghi của họ. Sự chuyển đổi liên tục và mãnh liệt mà nhiều người đã phải gánh chịu trong cuộc đời của họ có thể được phản ảnh qua một Thiên Chúa toàn năng và siêu nghiệm, Thiên Chúa của tình yêu. Bởi đó, đau khổ bắt nguồn từ chuyển dịch cũng có thể là đau khổ trong tình yêu cứu độ của Thiên Chúa●        

 Trở về mục lục >>

MỪNG KÍNH LỄ Thánh Tâm

Maranatha sưu tầm

Tháng sáu hàng năm được Giáo Hội dành kính để mừng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, là Lễ mà các tín hữu Công giáo thường đặc biệt yêu mến và cổ vũ.  Lòng sùng kính này mặc dù được chính thức thực hành và có cơ sở thần học bắt đầu từ thế kỷ 18, nhưng thực ra đã bắt nguồn từ thời Trung Cổ. Lễ kính Thánh Tâm dường như bắt nguồn từ việc tôn kính “Nương Long Chúa.” Hai bản chuyên luận của Thánh Bonaventure ‘Vitis mystica’ (trước đây cho là của thánh Bernard) và ‘De ligno vitae’ bàn về việc tôn kính này. Các trích đoạn của bản chuyên luận được đưa vào Kinh Nguyện của ngày lễ, và việc tôn kính dường như được phong phú hóa thêm nhờ những thị kiến của thánh Mechtild của Hackeborn (từ trần năm 1299) và thánh Gertrude (từ trần khoảng năm 1302), cả hai đều thuộc tu viện Helfta. Nhưng việc sùng kính chỉ giới hạn giữa một số nhỏ các vị thánh và nhà huyền bí, ví dụ như Julian của Norwich và thánh Frances của Roma. Vào thế kỷ 16 trở đi, một hướng đi mới cho việc tôn kính này xuất hiện, mở rộng từ thị kiến của các nhà huyền bí thành tập quán tu tập của các nhà khổ tu. Sau đó, các tu sĩ dòng Tên tại Pháp và thánh Francis de Sales với dòng Đức Mẹ Đi Viếng  nhiệt thành cổ võ cho việc tôn kính này,. Hai dòng này đã hợp tác để đem Thánh Tâm Chúa chính thức đi vào mạch sống Giáo Hội. Tuy nhiên, thánh Gioan Eudes mới là người đầu tiên đưa ra những suy tư thần học và nền tảng phụng vụ cho việc tôn kính và mừng lễ. Nhưng những nỗ lực của Ngài không được đáp ứng nhiều mãi cho đến khi những thị kiến (1673 - 1675) của nữ tu dòng Đức Mẹ Đi Viếng tên Margaret Maria Alacoque mới định hình việc tôn kính và có thể thức rõ ràng. Tuy vậy, trong Giáo Hội Công Giáo, việc tôn kính chính thức chỉ được cho phép vào năm 1765, khi Đức Giáo Hoàng Clement XIII chấp thuận có thánh lễ và kinh nguyện cho ngày lễ này. Lễ được tôn kính vào thứ Sáu sau ngày lễ Mình Thánh Chúa Kitô. Vào nằm 1856, Đức Pi-ô IX mở rộng lễ mừng đến Giáo Hội hoàn vũ; năm 1889, Đức Leo XIII nâng lễ lên Lễ Trọng bậc Nhất, và 10 năm sau đó, Ngài trân trọng cung hiến nhân loại cho Thánh Tâm Chúa. Thánh Lễ và kinh nguyện của Lễ này sau đó được Giáo Hoàng Pi-ô Xi nhuận sắc vào năm 1928 khi lễ có thêm tuần bát nhật đặc biệt. Tuần bát nhật bị bỏ vào năm 1960. Năm 1969, lịch phụng vụ Rô-ma nâng lễ này lên bậc trọng.

Đối với tín hữu Việt nam, chúng ta bày tỏ lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa đi kèm với việc chầu Thánh Thể, tuần cửu nhật…và hát những bài ca, câu kinh quen thuộc như: Lạy Thánh Tâm Chúa Giê-su là Vua cai trị mọi loài, xin Thánh Tâm Chúa làm Vua cai trị lòng con suốt đời. Và: Lạy Thánh Tâm Chúa Giê-su hiền lành và khiêm nhường trong lòng, xin uốn lòng chúng con nên giống trái tim Chúa. Những bài hát và câu kinh này đã ăn sâu vào tâm trí và môi miệng của những người tín hữu lâu năm khi đi nhà thờ đọc kinh, nên mỗi lần lập tại chốn xa, làm cho người đọc mang máng một tâm hồn hoài cảm, ý thức thêm bài học Chúa dạy thâm thúy và mang nặng tâm tình của người môn đệ đích thực. Hai chữ “trong lòng” có làm cho một số bạn trẻ hay đùa nói với nhau, Thiên Chúa chỉ dạy khiêm nhường “trong lòng” nên chúng ta có thể “kiêu ngạo bên ngoài”, miễn là trong lòng khiêm nhường là được. Nói đùa chơi như thế, nhưng các bạn trẻ đều ý thức một điều rất quan trọng trong cuộc sống và lời giảng dạy của Chúa Giê-su: Ngài không dạy nhiều, nhưng đi vào thực chất của vấn đề. “Hãy yêu thương nhau, như Thầy yêu thương anh em.” và “Hãy học cùng Thầy, vì Thầy hiền lành và khiêm nhường.” (Ga 13, 34-35 và Mt 11, 29). Việc tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giê-su nhắc nhở đến tình yêu thương vô biên của Chúa cho nhân loại. Chúa Giê-su chính là món quà vô giá mà Thiên Chúa Cha trao ban cho con người, và Chúa Giê-su vừa là món quà, vừa là sứ điệp, và cũng là Đấng Cứu Độ cho con người. Không thể làm gì nếu không có ơn Chúa, và không thể làm gì tốt đẹp nếu không lấy Chúa làm tâm điểm và mục đích cho cuộc đời chúng ta. Người tín hữu muốn xác tín cuộc sống đạo đức của mình phải lấy việc kết hiệp mật thiết với Chúa qua đời sống cầu nguyện và trung thực đối diện với Thiên Chúa

 Trở về mục lục >>

 

 

Ý CẦU NGUYỆN CỦA ĐỨC THÁNH CHA

THÁNG 6 NĂM 2007

Ý Chung: Cầu xin Chúa che chở thuỷ thủ và mọi người hoạt động về hải hành biển cả.

Ý Truyền Giáo: Cầu cho Giáo Hội tại Bắc Phi, qua sự hiện diện và hành động, làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa đến từng cá nhân và mọi chủng tộc.

 

 

KỲ DIỆU

Đỗ Trân Duy

“Các người Do thái đòi hỏi dấu lạ…” (1Cor 1:22).

Cô y tá mang em bé mới sinh đến cho bà mẹ. Bà mở mắt ra nhìn con. Ngay tức thì, hằng chuỗi những biến cố xảy ra. Ánh đèn vàng phản chiếu từ thân thể tinh tuyền của em bé thấm nhập vào con mắt của bà mẹ. Từ em bé có 10,000 tỷ hạt lượng tử ánh sáng (photons) phóng qua không gian với vận tốc 300,000 cây số trong 1 giây đổ xô vào con ngươi của mắt bà mẹ. Trước hết chúng đi ngang qua một lăng kính hình quả trám, trong suốt, gọi là nhãn cầu. Rồi chúng tới một cái vách trong cùng của con mắt gọi là võng mạc.

Tại võng mạc có khoảng 30 triệu phân tử chất đạm đang nằm im ngủ. Khi ánh sáng lùa tới, những chất đạm này choàng thức dậy. Chúng tách rời nhau ra để tung lên hơn 100 triệu tế bào hình que và hình nón. Chúng là những tế bào cảm ứng với màu sắc. Chúng vươn mình nhảy múa tưng bừng lên cao xuống thấp trong một nhịp điệu thần tiên để sao chép lại hình ảnh của em bé. Khuôn mặt và màu sắc của em bé không giản dị. Nó có chỗ lồi lõm và với những màu sắc khác nhau. Chẳng hạn đôi mắt đen lay láy, cái mũi nhỏ nổi bật trong bóng tối, và cái má bầu bĩnh đo đỏ. Những tế bào hình que chỉ có một loại sắc tố. Chúng cảm ứng với những ánh sáng mờ tối và màu sắc lạt. Những tế bào hình nón chia làm 3 nhóm với 3 khả năng khác nhau. Một nhóm cảm ứng vời màu xanh đậm, một nhóm cảm ứng với màu gồm từ vàng tới xanh lá cây, và một nhóm cảm ứng với màu gồm từ cam qua đỏ. Mỗi sắc tố là một tập hợp của 20 nguyên tử carbon, 28 nguyên tử hydrogen, và 1 nguyên tử oxygen. Các nhóm sắc tố phối hợp với nhau bằng những bước luân vũ kỳ diệu để phản ảnh đúng màu sắc và hình dáng của em bé. Đến đây hình ảnh em bé đã hiện rõ trên võng mạc. Thời gian tính từ ánh mắt khởi đầu đến lúc này chỉ có 1/1000 giây.

Tuy nhiên bà mẹ vẫn chưa “nhìn” thấy đứa con của bà, bởi vì hình ảnh này chưa kịp chuyển lên não bộ. Những ánh sáng léo lên trên võng mạc châm lửa vào đầu các nơron thần kinh. Các phân tử bao quanh sợi dây nơron bị kích thích, lập tức chúng đổi bản thể. Chúng tự phân hóa các ion muối để tạo ra một luồng điện tử truyền từ nơron này qua nơron khác. Trong khi di chuyển như vậy các nơron mang theo những dữ kiện của mắt trái và mắt phải tới não bộ. Trước khi đến não bộ các nơron thị giác của 2 mắt giao thoa nhau thành một điểm X. Tới đây chúng ta bị lạc vào mê lộ. Bởi vì có hằng ngàn nơron chằng chịt gắn nối với nhau để chuyển tin đi tới và trở về với một vận tốc nhanh lạnh người. Kinh khủng hơn nữa, tại não bộ con số những sợi nơron lên tới hằng tỷ cái với những hệ thống và chức vụ khác nhau. Sau khoảng 2/1000 giây, hình ảnh em bé được óc của bà mẹ nhận được. Bây giờ bà đã nhìn thấy đứa con của mình trong hình ảnh nổi 3 chiều, đúng kích thước, và đúng màu sắc. Mỗi lần em bé ngó ngoắy các tế bào sắc tố lại nhảy múa để phản ảnh cái hình ảnh mới và diễn trình như trên lại tái diễn.

Em bé quơ tay cất tiếng khóc “oa oa.” Âm thanh này tạo ra những làn sóng rung chuyển bầu không khí. Với khoảng cách 2 thước, âm thanh của tiếng khóc sẽ tới tai bà mẹ sau 1/150 giây. Trong lỗ tai của bà có một tấm màng che kín lỗ tai gọi là màng nhĩ. Tấm màng này rất thanh tao, mỏng chừng 1 millimét, và có dạng như cái mặt trống. Đàng sau màng nhĩ là một cái ống máng hình soắn ốc rất cầu kỳ gọi là ốc tai. Trong ốc tai có chứa một dung dịch. Khi có âm thanh dội vào màng nhĩ, màng rung lên như mặt trống bị đánh. Màng nhĩ sao chép nguyên vẹn hằng chục âm thanh khác nhau, kèm theo những hướng phát của chúng, cùng một lúc mà không bao giờ lẫn lộn. Trong phòng bây giờ có tiếng khóc của em bé, tiếng cười của cô y tá, tiếng nói của thân nhân… tất cả tạo nên một bản hòa tấu với những giai điệu rất phức tạp. Tất cả mọi âm thanh đều được màng nhĩ ghi nhận không sót một chút nào. Khi màng nhĩ rung động, nó làm rung chuyển dung dịch bên trong ốc tai. Dung dịch này sao chép nguyên vẹn và chuyển những rung động ấy lên óc. Óc hoán đổi rung động thành âm thanh nổi, nghĩa là âm thanh có hướng phát ra, có tiếng vang, và với những cường độ to nhỏ khác nhau.

Thế rồi có hai điều huyền bí xảy ra. Bà mẹ ôm lấy con và nói: “Chúa ôi! Con tôi đẹp quá!” Không biết điều gì đã làm cho khối óc biết cảm nghiệm cái đẹp. Cảm nghiệm chân-thiện-mỹ là một chứng nghiệm tinh thần, thuộc chiều sâu, chiều cao, và rất riêng tư. Cho đến nay, với trình độ kỹ thuật cao, toàn thể các khoa học gia trên thế giới, vẫn chưa có ai hiểu được tại sao khối óc lại biết điều này. Ôm con trong lòng, bà mẹ sung sướng và tâm hồn bà rạo rực tình mẫu tử. Tức thì vùng năng lượng bao bọc thân thể bà nóng lên, các vật thể DNA rung lên cực kỳ nhiều đến 78 tỷ chu kỳ (gigahertz) trong 1 giây. Chúng tạo ra luồng năng lượng sống chạy khắp châu thân bà khiến một số tế bào “phấn khởi” được khai sinh. Những tế bào này là vật chất, nhưng điều lạ là chúng hoàn toàn do tinh thần phấn chấn của bà mẹ sáng tạo ra. Mặc dù không hiểu được, nhưng người ta không thể phủ nhận hay hoài nghi về quyền lực của tinh thần. Những tế bào “phấn khởi” đã chứng minh rằng đời sống tinh thần mới là đời sống thật. Quả vậy, năng lượng hân hoan của bà mẹ làm êm dịu cả căn phòng.

Điều còn lại là nhân bản vị của hai mẹ con. Ngay khi tiếng khóc của em bé và tiếng khen của bà mẹ bật ra khỏi miệng, “cái tôi” của họ bỗng hiện diện. Cái tôi, tức cá nhân, là một vật thể trong vũ trụ. Nó vừa là một khối vật chất nên bị chi phối theo luật của không gian và thời gian. Nhưng cùng lúc cái tôi lại là một bản thể tinh thần có ý thức. Khi cái tôi hiện hữu, nó không bao giờ đứng một mình là một vật thể đơn thuần. Nó luôn luôn gắn liền với một nhận thức về một kinh nghiệm nào đó. Người ta chỉ có thể nói: tôi vui, tôi buồn, tôi đói, tôi khóc, tôi cười… Khi không có sự cảm nhận đi kèm, cái tôi không hiện diện. Như vậy cái tôi luôn luôn gắn liền với cá thể độc đáo riêng tư của chính mình. Khả năng tự thức này chỉ có ở con người. Bản chất này chỉ có thể có khi cái tôi có ý chí tự do. Nếu ta không được quyền có cảm nhận riêng tư, bấy giờ cái tôi thuần túy là một vật thể. Nó sẽ chỉ là một xác chết hay một cơ phận phi nhân của một guồng máy vận chuyển theo luật nhân quả.

Con người là thể vật chất siêu nhiên kỳ diệu. Là vật chất nhưng nó có Thiên Chúa là nền tảng của nó. Là siêu việt vì nó có khả năng vượt khỏi vật chất để giãi bày vinh quang Thiên Chúa. Con người là một tuyệt tác phẩm và sự sống của con người là một tặng phẩm kỳ diệu của Thiên Chúa. Mỗi khoảnh khắc đều là dịp cho chúng ta mở mắt nhìn ra ơn quan phòng của Thiên Chúa, không phải chỉ cho sự rỗi của linh hồn, nhưng còn trong từng giây phút của cuộc sống. “Tôi sẽ đi trong hiện diện của Thiên Chúa nơi miền đất nhân sinh.” (TV 116)●     

 Trở về mục lục >>

ĐÓNG GÓP CHO GIÁO HỘI TẠI VIỆT NAM - VẤN ĐỀ NGHỊCH LÝ

Vũ Thanh

Trong những năm gần đây, tín hữu Công giáo Việt Nam trong nước cũng như tại hải ngoại biết được nhiều tin tức về những sinh hoạt tôn giáo, xã hội tại quê nhà cũng như quốc tế và Giáo Hội hoàn vũ, phần lớn nhờ hệ thống internet. Phương tiện truyền thông mới mẻ này rất tiện lợi, vừa nhanh chóng, vừa không tốn kém chi nhiều, mà lại rất hữu hiệu. Thế nhưng, bên cạnh những ích lợi xem chừng không thể phủ nhận, internet lại gây nhiều phiền não không ít cho giới truyền thông chân chính cũng như cho những người đang mong chờ tin vì có những câu chuyện “có ít xít ra nhiều, chuyện không thành có và nguợc lại, chuyện có thành không,” cũng như nhiều vấn đề khác do internet nảy sinh.

Trước một số biến chuyển về chính trị và tôn giáo tại Việt Nam, internet đã được giới truyền thông tận dụng khai thác, và qua một số bài viết, nhiều tác giả đã nêu lên câu hỏi nhức nhối: “Các Giám Mục Việt Nam có hèn nhát hay thoả hiệp?” Sự im lặng của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam trước các vấn đề liên quan đến tự do tôn giáo, tín ngưỡng làm nhiều người e ngại và đặt vấn đề với các bậc lãnh đạo tinh thần. Người ta đọc được trên internet những bài viết, thư ngỏ đặt thẳng vấn đề cụ thể với riêng một số Giám Mục, thậm chí có câu hỏi nặng tính phê phán gay gắt. Xa lộ thông tin bỗng trở nên nặng nề do cách đặt vấn đề, sử dụng ngôn từ và những câu hỏi rất khó trả lời. Trước kia, những loại câu hỏi như thế không hề được công khai đặt ra cho các mục tử, là những bậc làm thầy, làm cha và giữ vai trò hướng dẫn, lãnh đạo trong Giáo hội Công Giáo tại Việt Nam. Người bị hỏi, hoặc nghe đặt câu hỏi, nếu không giữ bình tâm có thể sẽ dễ dàng lên án, quẳng bài báo vào thùng rác, hoặc ấn nút “delete” email đó nếu đọc báo qua hệ thống computer. Tuy nhiên, những người viết thấy không thể đặt câu hỏi cách khác, vì đó chính là nội dung vần đề và câu hỏi lớn không có lời giải đáp, lên án cung cách ứng xử của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam (HĐGMBN) trước những biến chuyển tại quê nhà: chuyện pho tượng Đức Mẹ Sầu Bi tại Ninh Bình bị đập phá; phiên toà bất công kết án linh mục Nguyễn Văn Lý của nhà cầm quyền Việt Nam. Bên cạnh chuyện trong nước là những chuyến đi “mục vụ” và “gây quỹ” của một số Giám Mục Việt nam tại Hoa Kỳ. Xin được chia sẻ phần nào những suy tư trước hai mặt “chống” và “thuận” của các vấn đề nêu trên.

Cho đến nay, phần lớn độc giả sử dụng internet đều biết chuyện cha Lý, một linh mục thuộc giáo phận Huế, đã bị chính quyền cộng sản bắt giam, đưa ra toà xử và kết án 8 năm tù. Trước cha Lý đã có nhiều linh mục Công Giáo bị đưa ra toà, có người thậm chí đã bị xử tử hình (cha Trần Học Hiệu…), một số bị giam giữ và chết trong tù (cha Vũ Đức Khâm…), một số bị quản chế (cha Chân Tín…) và một số bị khống chế, sau đó được thả, thậm chí được cho xuất ngoại (cha Nguyễn Hữu Lễ…) Điều đáng nói ở đây là khi linh mục Lý ra toà, người ta đã chụp được bức hình cha bị một viên công an mặc thường phục bịt miệng không cho ngài phát biểu. Người xem không biết cha nói câu gì mà tên công an ‘giận quá mất khôn’ lấy tay bịt miệng cha Lý trước ống kính truyền hình cũng như các máy quay video bằng điện thoại cầm tay như thế. Bức hình này đã được ghi lại và đưa lên mạng thông tin trên toàn cầu, nơi mà tự do ngôn luận và quyền công dân được đề cao, đã gây tác động rất lớn trong giới báo chí (giống như bức hình tướng Nguyễn Ngọc Loan bắn người đặc công cộng sản ngày nào). Đúng là một tấm hình bằng một ngàn chữ, đã cho thấy một chế độ vô nhân, dã man, đàn áp người dân, coi thường dư luận thế giới.

Câu chuyện tác động đến nhiều lớp nguời, trong và ngoài nước. Có nhiều ý kiến khác nhau trước cách hành xử của HĐGMVN. Một nhóm người, tạm gọi là Phe A thì thắc mắc, tại sao cha Lý là linh mục Công giáo, dưới quyền giám quản của Đức Cha Thể, Tổng Giám Mục Giáo phận Huế, mở rộng ra là linh mục thuộc Giáo Hội Việt Nam, mà sao các vị lãnh đạo trong Giáo Hội, cụ thể là quý Đức Cha, không ai lên tiếng bênh vực cho ngài? Đặc biệt khi nhìn tấm hình cha Lý bị bịt miệng, người ta thấy các đấng bậc cần phải lên tiếng tố giác cộng sản mạnh hơn nữa, vì dù sao đây là người con của mình, của Giáo hội Việt nam. Hơn nữa, đây không chỉ là người con bình thường, mà là một linh mục, là cánh tay nối dài của các Giám Mục, do đó, cha Lý rất đáng được các Giám Mục lên tiếng bênh đỡ... Nhóm người khác, tạm gọi là Phe B thì cho rằng, các Giám Mục Việt nam không thể lên tiếng vì đây là một trường hợp cá biệt. Tuy cha Lý là linh mục Công Giáo, và các Giám Mục, đặc biệt Đức Cha Thể lại “không thể” lên tiếng, vì cha Lý đấu tranh ra “ngoài quỹ đạo”của giáo phận. Khi hoạt động chính trị, và tuyên bố không thể vâng lời đức Giám Mục cai quản giáo phận, cha Lý đã tự đặt mình ra khỏi quyền tài phán xét xử của Đức Cha coi sóc giáo phận. Hơn nữa, khi cộng sản bắt cha Lý, họ đâu có bắt cha vì ngài là linh mục Công Giáo, họ bắt cha vì ngài đã hoạt động chống chính quyền: dám lập đảng phái, kêu gọi không tuân thủ chính sách nhà nước. Đây chỉ là lời bình của hai phe A và B. Nào ai biết các Đức Cha nghĩ gì? Tuy nhiên, bình tâm nhận xét thì phe nào cũng có lý do được coi là chính đáng để biện minh cho cách hành xử mà họ cho là đúng của mình. Đó là chưa kể còn nhiều lý do mà ta không biết đến, hay không thể kể ra vì “không thể nói,”  thêm vào những toan tính do quyền lợi, danh vọng riêng tư mà cả hai bên đều có thể có để muốn các phe khác hành xử theo cung cách của mình. Nói tóm lại, nói hay không nói, nói thế nào, đó chính là vấn đề.

Chuyện kế tiếp là vấn đề ‘xin tiền, gây quỹ’ của các nhà dòng, các linh mục, các Giám Mục Việt nam tại hải ngoại. Phe A cho rằng, các Giám Mục Việt Nam không có lý do để đi hải ngoại xin tiền con chiên Việt nam, dưới danh nghĩa là đi mục vụ. Người Việt tại hải ngoại cũng có nhiều khó khăn và căng thẳng với cuộc sống cơm áo gạo tiền nhưng nào ai biết, vì các Đức Cha khi ra hải ngoại đến đâu cũng được đón rước linh đình, nhìn đâu cũng thấy vật chất đầy đủ, sang giàu; đâu ai biết họ đã phải trả giá thế nào, vất vả ra sao. Thêm vào đó, họ có nghĩa vụ phải đóng góp và xây dựng cho giáo xứ và Giáo Hội địa phương nơi sinh sống. Hơn thế nữa, theo giáo luật, mỗi địa phận có chủ chăn của địa phận đó. Dù các Đức Cha Việt Nam đi thăm dân Chúa là cộng đồng người Việt Nam đang định cư tại hải ngoại, nhưng nay họ thuộc quyền tài phán của địa phương, thì các Đức Cha ở Việt Nam không nên, nhất là lấy lý do làm mục vụ cho kiều bào, và không có quyền dẫm chân lên các Giám Mục địa phương, nếu không thì tình hình sẽ đưa đến những căng thẳng không nên có, nếu không nói là bị nhiều tai tiếng, hoặc chia rẽ trong cộng đồng, gây hậu quả rất xấu. Trái lại, phe B lại cho rằng, các Đức Cha Việt Nam, khi đi thăm người Công giáo Việt Nam tại hải ngoại, đều có quyền xin đóng góp tiền bạc. Lấy ví dụ, một người cha trong gia đình, biết rằng con gái mình (tín hữu Việt Nam) giờ đã lấy chồng (sống tại hải ngoại), nhưng không vì thế mà người cha (Giám Mục trong nước) không thể đi thăm con cái (chu du hải ngoại) được sao? Hơn nữa, đây là vì hoàn cảnh cha mẹ cô gái gặp khó khăn, nên nếu cần đến sự giúp đỡ của con gái và con rể, nhất là khi thấy con mình nay khá giả hơn cha mẹ ở quê nhà, thì đã sao? Dù sao con gái mình cũng có nguồn gốc, bắt rễ từ quê hương Việt Nam ra đi, giờ giúp cha mẹ anh chị em đang gặp khó khăn là điều rất nên làm, nếu không nói là có bồn phận, không được chối từ? Nếu không giúp cho quê hương, thì người dân nói chung và tín hữu nói riêng ở quê nhà còn khốn khó biết bao. Một lần nữa, chúng ta phải đối mặt với hai nan đề: xin tiền/gây quỹ hay không, đó là một vấn đề nữa cho các Giám Mục Việt Nam.

Trước hai vấn đề được nêu trên, chúng ta thấy rõ hơn cái nghịch lý của Giáo Hội, như trong một bài dịch được đăng gần đây bàn về Giáo Hội của linh mục - hồng y Henri de Lubac: Giáo Hội - Một Nghịch Lý. Xin cũng không ổn, mà không xin cũng không được. Nói hay không nói, chọn lựa thế nào cũng là vấn đề nan giải. Điều nghịch lý đầu tiên do chính Chúa Giêsu Kitô gây ra qua cuộc đời, sứ mệnh của Ngài. Chúa là Thiên Chúa toàn năng, tạo dựng muôn loài, mà cuối cùng hiến thân làm người rồi phải chết đau đớn nhục nhã vì loài người do chính mình tạo dựng. Nghịch lý của Giáo Hội, một tổ chức vừa thánh thiêng lại vừa có cơ cấu chặt chẽ như một nhà nước quân chủ số một. Như một tổ chức bao gồm những người chân chính tốt lành, đồng thời không thiếu những kẻ tội lỗi núp bóng tôn giáo để hoạt động cho mục đích tư lợi của mình. Nghịch lý này không phải bắt nguồn gần đây, nhưng đã bắt đầu từ ngày Đấng sáng lập, một mặt tuyên bố “Nước Thiên Chúa ở giữa anh chị em,” (Lc 17,21) nhưng lại cũng trả lời Phi-la-tô, “Nước tôi không thuộc về thế gian này.” (Ga 18, 36a). Ngay Đấng Sáng Lập còn gây nghịch lý qua những lời của mình, thì làm sao những người xem ra “cuồng tín” khi đi theo Ngài, lại có một con đường nào khác: vừa có vẻ dửng dưng thờ ơ vừa sôi sục căm hận trước những biến cố của một chế độ vô nhân gây ra? Cũng như khi nói rằng các linh mục tu sĩ không được hoạt động đảng phái, thì người ta cũng thấy các linh mục tu sĩ ra ứng cử, đi bầu, bỏ phiếu chọn người hoạt động chính trị. Chính hành động bỏ phiếu đã là một cách bày tỏ chính kiến của mình. Lại thêm một nghịch lý trong cách ứng xử của người thời nay.

Như thế, nếu phải nhận định đánh giá một hành động nào của bất cứ ai, nhất là nhận định về cách ứng xử của các đấng bậc nhiều trách nhiệm, không phải là chuyện dễ dàng. Các vị trong nước thường cho rằng, những người ở nước ngoài được tự do, không bị kềm kẹp nên có thể phát bỉểu thoải mái, và phê bình tự do không sợ bị chụp mũ (nhẹ) hay bỏ tù (nặng), hoặc sẽ gặp nhiều khó khăn trong công ăn việc làm và những sinh hoạt. Những người tại hải ngoại khi lên tiếng phê bình không hề biết rằng (hoặc đã từng bị khốn khổ với cộng sản, nhưng nay sống ở nước ngoài lâu ngày nên quên) ngoài việc bị kềm kẹp, các vị đâu biết trong nước với những hạn chế thông tin, kỹ thuật và nhân sự thì làm sao có thể đấu tranh, lên tiếng cách “hùng hồn” và “ngon lành” như quý vị tại hải ngoại được? Nếu lấy tiêu chuẩn ở Hoa kỳ là một đất nước tự do và dân chủ vào bậc nhất hoàn vũ (đôi khi trở nên quá đáng) rồi phê phán các Giám Mục, linh mục Việt Nam thì có phần “xử ức” với người trong nước. Trường hợp này được ví von như người sống tại Mỹ, làm việc nhận lương Mỹ, nhưng ăn tiêu như đang sống tại Việt Nam. Khi lấy tiêu chuẩn và đô-la Mỹ để sử dụng tiêu dùng ở Việt Nam, Việt Kiều (dù là giới lao động) có thể dễ dàng hào phóng và rộng rãi hơn đa số người lao động trong nước. Sở dĩ bên ngoài dễ “ăn to nói lớn” cũng là nhờ có tự do và phần lớn vào internet. Khi việc kiểm duyệt không hề có, đăng bài vở lên các trang web cũng không phải khó khăn gì, thì phê phán ai mà chẳng được? Trước đây, muốn viết một bài báo phê phán người này, nhân vật kia đâu phải là chuyện dễ dàng. Đăng báo thì bị duyệt xét, in ấn phải trả tiền. Mà viết cẩu thả hay chê bai không đúng đâu ai thèm đăng hay nhận in. Nói không đúng còn bị tẩy chay hay kiện tụng. Ngày nay, trên internet ai cũng có thể post bài dễ dàng, đâu có ai kiểm duyệt? Người có thẩm quyền cho phép cũng hầu như không có. Cứ kiếm vài đồng bạn cùng ý hướng, hoặc cá nhân mình cũng có thể tạo được một trang web hay blog riêng, thế là tha hồ đăng bài, phê bình, nhận định và phóng bài mỗi ngày trên internet. Ai không đi cùng đường, không theo cách hành xử mình cho là đúng thì viết bài, đặt vấn đề… và gửi email đến tận hộp thư cho mà đọc. Cứ thế mà gửi thư, nhận định, thư ngỏ đến danh sách vài ngàn địa chỉ email cho thiên hạ đọc chơi…

Trình bày những suy tư như thế không phải để bênh vực các Đức Cha Việt nam, hay phê bình những người lên tiếng đúng đắn. Những người thao thức với quê hương, dân tộc và đạo lý đôi lúc phải đau lòng nói lên tiếng nói bức xúc, vì cho rằng các bậc lãnh đạo tinh thần, tôn giáo bên nhà ít nhiều đã bị “thuần hoá,” bị “mua chuộc.” Nếu các vị lãnh đạo không dám lên tiếng đấu tranh cho công bằng xã hội và tự do, dân chủ tôn giáo thì còn ai dám? Nếu không ai lên tiếng thì làm gì thế giới thấy được sự tàn ác vô luân và phản dân chủ của chính quyền cộng sản? Điều đau lòng là qua những sự kiện trên, một số các trang web mang danh Công Giáo bắt đầu chơi trò tố cáo, bút chiến và hạ “độc thủ” lẫn nhau. Là người Công Giáo, trước những sự kiện trên, ai có thể bình tâm thờ ơ? Đâu rồi tình bác ái, đâu rồi lòng nhân ái, đâu rồi đức khiêm nhường, bài học của Thầy Chí Thánh Giê-su? Rất cần phải lên tiếng, tuy nhiên, cách lên tiếng thế nào là điều quan trọng. Không phải cứ tố cáo, lên án và “ăn miếng trả miếng” với nhau qua những bài viết là giải quyết được mọi sự. Lấy ví dụ việc tổng thống Hoa Kỳ cho quân xâm lược I-rắc. Cho đến nay thì đa số dân chúng Mỹ thấy ông Bush đã sai lầm, và tổng thống Hoa Kỳ đã hành xử theo suy diễn rất chủ quan dựa trên tình báo sai lạc hoặc những mưu tính của giới tài phiệt. Đặc biệt các Giám Mục Hoa Kỳ, mặc dù có tiếng nói và chỗ đứng chính thức của mình (hơn tiếng nói của HĐGMVN đối với chính quyền cộng sản tại Việt Nam), tuy đã nhiều lần phản đối chính sách can thiệp vào I-rắc của Mỹ, thế nhưng khi các ngài lên tiếng có mấy ai nghe hoặc được chính quyền Hoa Kỳ đón nhận? Đâu phải vì thế mà nói rằng các Giám Mục Hoa Kỳ kém quá, không sử dụng đúng đắn vai trò ngôn sứ của mình? Phải hỏi thực sự vai trò ngôn sứ ở đây đã được phát huy thế nào, tác dụng ra sao, và như thế thì có phải hoàn toàn là lỗi của các Giám Mục? Hoa Kỳ hiện nay hợp pháp hoá việc phá thai, tuy Giáo Hội Công Giáo đã nhiều lần chống đối kịch liệt, lên tiếng bảo vệ quyền làm người, nhưng cũng phải bó tay tuân thủ luật pháp Hoa Kỳ. Nghịch lý này đâu dễ giải quyết? Chẳng lẽ dân Công Giáo Hoa Kỳ phải đứng lên tổ chức “thánh chiến” để đòi lại quyền “chống phá thai” mới là đúng đắn?

Trong tổ chức nhà nước hiện nay, có hai cơ chế khác biệt đồng hành song song: cơ chế dân sự và cơ chế tôn giáo. Trong mỗi cơ chế lại chia làm nhiều hình dạng biến thành muôn màu vẻ của một xã hội loài người. Xã hội càng văn minh mở rộng, thì khả năng tiếp nhận những cơ chế khác biệt để sống chung hòa bình càng thể hiện rõ nét. Khi từ chối giúp đỡ cho các Giám Mục, các linh mục để lo cho những người nghèo trong nước vì cho rằng đó là ta gián tiếp nuôi sống chế độ cộng sản, coi chừng chúng ta đang nguỵ biện để trốn tránh nhiệm vụ và lời mời gọi của Tin Mừng. Tuy nhiên, cũng đừng bỏ tiền phí phạm mua danh qua việc dâng cúng để những người quyên góp phá vỡ những công trình lâu đời chỉ để mang tiếng xây dựng nhà Chúa cho có nơi thờ phượng khang trang hơn, nhưng thực ra họ đang lãng phí tiền bạc để xây dựng những cơ sở từ “không thua ai” đến “không giống ai.” Cũng như không phải chỉ vì một vài đấng bậc “không ra gì” mà chúng ta tuyên bố bỏ đạo hay phủ nhận những giá trị cao vời mà biết bao đời cũng như bao nhiêu thánh nhân đã hy sinh cả xương máu để giữ gìn và truyền lại cho thế hệ mai sau. Chia rẽ hay gây mất tình đoàn kết bác ái là chúng ta đang rơi vào bẫy của cộng sản. Không thể nín lặng và cần phải lên tiếng. Hải ngoại càng lớn tiếng tố cáo chế độ phi dân chủ với cộng đồng quốc tế, càng làm cho cộng sản phải e dè về những hành động phản dân chủ, phản dân hại nước của họ. Riêng các đấng bậc phải đi quyên góp: họ như một người cha có trách nhiệm với gia đình phải đi lảm kiếm tiền nuôi nấng con cái, các người cha - Giám Mục – sự cẩn trọng, thiển nghĩ, cũng cần thiết hơn so với những người cha đời trong cung cách ứng xử và thái độ chọn lựa của mình. Công minh mà nhận xét, khi phải đi hải ngoại chìa tay xin tiền, các Giám Mục Việt Nam cũng nhục nhằn lắm. Giống như một người cha trong gia đình đôi khi phải bỏ ý riêng, làm những điều trái ý hay những công việc không hề muốn để có điều kiện chăm sóc, nuôi nấng con cái, các Giám Mục Việt Nam cũng phải đau lòng hy sinh trước những chọn lựa của mình. Tuy vậy, xin các đấng bậc cũng thận trọng đừng để đánh mất dũng khí của con cháu các Thánh Tử Đạo, cũng như đừng “đơn sơ,” “vô ý” hoặc coi thường dư luận vì đã quen với vai trò làm “cha” của mình, rất không phù hợp với cách ứng xử ở một xã hội đề cao dân chủ, tôn trọng tự do cá nhân nhưng tuân thủ ý kiến của đa số. Hành xử không khéo, vô tình các đấng bậc có thể đánh mất vai trò người cha, người lãnh đạo tinh thần trước một thế giới ngày càng tục hoá. Cha mẹ nào cũng cần ý thức rằng mình cũng là con người, cũng có những thiếu sót và nhiều lúc cần nghe những đóng góp của các con đã trưởng thành. Mỗi thời mỗi khác, các Giám Mục không chỉ trả lời trước cộng đoàn dân Chúa, nhưng phải đối đầu một thế lực trần thế ngày càng xa cách Tin Mừng, sự khôn ngoan cần thiết trước những người không chỉ phản Tin Mừng trong lý thuyết, nhưng họ còn căn cứ trên “hiến pháp” phi Kitô giáo, coi đó là luật lệ cao nhất của quốc gia mà họ thuộc về, cũng là điều phải lưu ý. Hơn nữa, các Đức Cha còn phải trả lời trước lương tâm, trước Thiên Chúa là Đấng đã giao phó trách nhiệm bổn phận chăm sóc mục vụ thiêng liêng cho dân của Ngài.

Đàng khác, nếu muốn chê bai hoặc phê phán các Giám Mục Việt Nam là hèn nhát: xin nhẫn nại, và cảm thông với “Cái Vốn” của mình (theo chia sẻ của một người anh em) HĐGMVN và Giáo Hội quê nhà chính là “Căn Nhà và là Cái Vốn Quý của mình” và hơn nữa….hãy nhìn lại mình! Tại sao phải chờ đợi hàng giáo phẩm lên tiếng? Có phải do chúng ta mang một não trạng “giáo hội theo cơ cấu hình tháp” và vẫn bị nó trấn áp trong tư duy của mình? Nếu ta thấy chính quyền cộng sản đàn áp đồng bào anh em ta, thì trong khả năng và hoàn cảnh có thể với những diễn đàn, tiếng nói nhân danh dân chủ, xin cứ việc lên tiếng, tranh đấu cho họ. Tại sao lại đặt vấn đề và đòi hỏi những người chưa hẳn có đồng quan điểm và cung cách đấu tranh với mình? Mà có thể họ cùng quan điểm, nhưng cách hành xử của họ có chiều kích và cách thể hiện khác, vì hoàn cảnh và những giới hạn nhất định của họ, không vì thế mà ta chụp mũ cho họ là hèn nhát, toa rập, hoặc thỏa hiệp với chính quyền vì quyền lợi riêng tư. Những kết án này có quá nặng và sự thực được bao nhiêu? (Tiêu cực có thể có đối với một số phần tử, nhưng không phải vì một vài con người, đấng bậc mà chúng ta lên án tất cả những người đang khổ đau, vất vả chèo chống vì hoàn cảnh trong nước, nơi giáo phận, tại quê hương). Có thể và luôn luôn chúng ta cần nhớ lại để trả lời câu hỏi của Chúa Giêsu, “Ai thấy mình không có tội thì ném hòn đá trước đi?” (Ga 8, 7) trong câu chuyện của người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình. Mà có thể biết đâu đấy, với những bài vở, tổ chức đòi hỏi dân chủ tự do cho quê huơng dân tộc, có chút nào “cái tôi” của mình, của phe/nhóm mình được thổi phồng, đánh bóng đang thấp thoáng hoặc chìm ẩn đàng sau? Cần phải dũng cảm, không được phép thoả hiệp với cái ác, cái xấu, nhưng không nhất thiết phải đi chung một con thuyền, cầm chung một sách lược mới là đấu tranh với sự ác.

Chúng ta cũng cần lưu ý khi phổ biến những bài viết có lời lẽ nặng nề, lên lớp của ta, cũng như những phản hồi vừa mang tính hăm doạ, vừa khinh mạn của các bậc làm “thầy.” Khi trình bày chính kiến của mình về điều mình bức xúc, thường dễ đưa đến dễ ngộ nhận khi đánh giá lẫn nhau. Cuộc chiến không cần thiết này đã làm chia rẽ cộng đồng dân Chúa và làm suy yếu sức mạnh ngôi nhà Giáo Hội mà chính chúng ta đang muốn xây dựng. Có người con nào thấy cha mẹ mình (nếu thật sự có khiếm khuyết hoặc chưa hoàn hảo theo ý của mình!!!) lại công khai gửi Thư Ngỏ và Nhận Định cho bàn dân thiên hạ cùng đọc? Đó có phải là cung cách của người con thật sự quan tâm và yêu thương gia đình, dân tộc, đồng bào mình? Hạ thấp vai trò của cá nhân một vài Giám Mục, hay cả một tập thể Hội đồng Giám Mục Việt nam có phải là sự khôn ngoan? Gia tài của chúng ta không có là bao, đại diện của chúng ta chẳng nhiều sức mạnh, mà chúng ta lại sẵn sàng đốn chân ghế mà chúng ta đang ngồi, phá ngôi nhà chúng ta đang ở? Thế nhưng nỗi đau của những người phải lên tiếng cũng không nhỏ: đang khi họ không tìm ra lời giải đáp cho các câu hỏi phức tạp, lại cứ thấy các đấng bậc thong thả đi đi về về, lễ lạc quyên góp. Gần đây lại có thông cáo đi tìm “linh mục thất lạc” sau khi tham dự lễ Khánh Thánh Nguyện Đường tại Hoa Kỳ!!! Trả lời sao được? Nỗi đau hình như sâu hơn và câu trả lời cho phương cách hành động cho cả hai phía càng khó khăn hơn.

Lời ca của Thánh Phanxicô Assisi vẫn rất thường được cất lên “tìm hiểu biết người, hơn được người hiểu biết” có vang vọng trong tâm mình khi hành động? Cần lắm thay, những khoảnh khắc lắng đọng, bình tâm và cầu nguyện trong khiêm hạ, yêu thương trong hoàn cành phức tạp hiện nay.

Là những tín hữu Công Giáo sống đức tin, chúng ta cầu nguyện xin Chúa Thánh Thần soi sáng hướng dẫn cho những hành động của mình, để tất cả chúng ta nêu được tinh thần bác ái yêu thương mà Thầy Giêsu đã dùng chính cuộc đời Ngài rao truyền giảng dạy. Thiết nghĩ câu châm ngôn từ ngàn xưa vẫn rất thích hợp cho ngày nay: "In necessariis unitas, in non-necessariis (or, dubiis) libertas, in utrisque (or, omnibus) caritas." Trong những điều cần thiết, cần đoàn kết thống nhất, trong những điều không cần thiết (hay nghi ngờ), được tự do hành xử, nhưng trong tất cả, hãy có lòng bác ái yêu thương. Đó nên là phương châm cho hành động sống bác ái của người Công Giáo chúng ta vậy●      

 Trở về mục lục >>

MƯỜI ĐIỀU TÂM NIỆM SỐNG HÀNG NGÀY

CỦA CHÂN PHƯỚC - GIÁO HOÀNG GIOAN XXIII 

LTS: Đức Thánh Cha Gioan XXIII, nay đã là chân phước, là người đã triệu tập Công Đồng Vatican II, mở cánh cửa Giáo Hội ra với thế giới bên ngoài, và đem một sinh khí mới vào sự sống Giáo Hội. Ngài thường suy tư trăn trở về Giáo Hội vì trách nhiệm là Giám Mục Roma và là Giáo Hoàng, nhưng lại rất thực tế sống tinh thần phó thác và chỉ lo hoàn tất bổn phận hàng ngày của mình khi thực thi Mười Điều Tâm Niệm (hay Thập giới) trong cuộc sống. Chuyện kể về Ngài như sau: Tuy lo lắng rất nhiều cho tương lai Giáo Hội vì quá nhiều vấn đề khó khăn luôn đè nặng trên đôi vai, Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII vẫn thường cầu nguyện trước giờ đi ngủ: “Lạy Chúa, Giáo Hội là của Chúa, con chỉ là tôi tớ, mạnh yếu thành đạt là trách nhiệm của Chúa. Con đã làm bổn phận con, giờ này đến giờ con đi ngủ, xin Chúa ban phúc lành cho con.” Nói thế rồi, Ngài đi vào giấc ngủ ngon.

Trong tâm tình hướng về vị mục tử của Giáo Hội được nhiều ngưòi kính mến, xin chia sẻ với độc giả Maranatha Mười Điều Tâm Niệm của Ngài sau đây:

  1. Ngày hôm nay, tôi sẽ sống tích cực trọn vẹn, chứ không tìm cách giải quyết mọi vấn đề của đời mình.

  2. Ngày hôm nay, tôi sẽ chú ý đặc biệt đến dáng vẻ của mình: ăn mặc đơn sơ, không lớn tiếng, lịch sự trong cách ứng xử; tôi sẽ không phê phán ai; tôi cũng sẽ không đòi ai phải ứng xử hoặc kỷ luật ai trừ ra chính con người của mình.

  3. Ngày hôm nay, tôi vui sướng tin chắc rằng tôi được tạo dựng để sống hạnh phúc, không chỉ cho đời sau mà ngay cả từ đời này.

  4. Ngày hôm nay, tôi sẽ sống theo hoàn cảnh của mình, mà không đòi hỏi hoàn cảnh phải phù hợp với những ước muốn của tôi.

  5. Ngày hôm nay, tôi sẽ dành 10 phút để đọc điều gì thật hữu ích, và luôn nhớ rằng lương thực cần cho cuộc sống như thế nào thì đọc điều hữu ích cũng cần thiết để nuôi dưỡng cho linh hồn mình như vậy.

  6. Ngày hôm nay, tôi sẽ làm một điều tốt mà không kể cho ai nghe.

  7. Ngày hôm nay, tôi sẽ làm ít nhất một điều tôi không thích: và nếu tôi bị tổn thương, thì tôi cũng không cho ai biết điều này.

  8. Ngày hôm nay, tôi sẽ hoạch định một chương trình cho riêng tôi: tôi có thể không theo sát được từng chữ, nhưng tôi sẽ có một chương trình như thế. Và tôi sẽ đề phòng hai điều tai hại: cẩu thả và lừng khừng, không dám quyết tâm.

  9. Ngày hôm nay, tôi tin chắc rằng, dù thế nào đi nữa, thì Thiên Chúa vẫn yêu thưong tôi như chỉ có mình tôi trên thế gian này.

  10. Ngày hôm nay, tôi sẽ không sợ hãi gì. Tôi sẽ không ngần ngại thưởng ngoạn vẻ đẹp thiên nhiên và tin tưởng vào lòng nhân ái của con người và cuộc đời.

Thực thế, trong vòng 12 tiếng đồng hồ, tôi chắc chắn có thể làm tốt điều mà tôi nghĩ rằng sẽ thật kinh hoàng nếu phải làm nó suốt cả đời

Trích Nhật Ký Một Tâm Hồn

  Trở về mục lục >>

ĐOẢN KỊCH - CON ĐƯỜNG RA ĐI...

Trần Duy Nhiên

LỜI GIỚI THIỆU: (lời bình) Con đường ra đi để 'làm tỏa lan Đức Kitô khắp nơi' mà Vị Cha chung là Đức tổng giám mục Philiphê Nguyễn Kim Điền đã chỉ bảo, thì 80 năm qua bao nhiêu Chị đi qua. Thế nhưng, không phải lúc nào mọi người cũng bước đi một cách khẳng khái và không ai từng do dự. Nhưng rồi với ơn Chúa và lời dạy dỗ của vị sáng lập và của Đức Cha Philiphê, các Chị vẫn trung thành với ơn gọi của mình. Chúng ta hãy minh họa bằng một biến cố tưởng tượng, để nêu linh đạo của Hội Dòng, nhưng đồng thời cũng như nói lên những đấu tranh nội tâm mà các Chị có thể gặp phải trong 80 năm qua khi đối diện với những lời mời gọi của Chúa trong những giai đoạn cam go. Trong một thời đại mà các thách thức tưởng chừng vượt quá sức con người thì những người con của Hội Dòng Con Mẹ Đi Viếng Huế vẫn được mời gọi để tỏa chiếu Tình Yêu của Chúa, theo gương Đức Mẹ. Chúng ta hãy tưởng tượng một Chị mà ta tạm đặt tên là Thiên Ân. Chị Thiên Ân được sai đi làm chăm sóc cho những người mắc bệnh Sida. Chị trở về nhà Mẹ mong thuyết phục chị Cả thay đổi bài sai cho mình.  Xin nhắc lại: Chị Thiên Ân không hề có trong lịch sử dòng, và biến cố này hoàn toàn không có thật.

 

Mở màn

Chị Cả đang ngồi làm trong văn phòng mình, trên bàn giấy có một điện thoại. Tiếng gõ cửa.

Chị Cả: Mời vào (Thiên Ân vào). À, em Thiên Ân, chị đang đợi em. Em ngồi đi. Tuần vừa qua chị để yên cho em suy nghĩ và cầu nguyện. Em về đây như thế là hơn một tháng rồi em nhỉ?

Thiên Ân: Thưa chị, vâng.

Chị Cả: Đã đến lúc em phải có một quyết định. Em hãy nói chị nghe quyết định của em.

Thiên Ân: Thưa chị, em đã suy nghĩ và cầu nguyện, nhưng em chưa có một quyết định nào cả.

Chị Cả: Nghĩa là em bằng lòng trở về nhiệm sở của mình à?

Thiên Ân: Em chưa có một quyết định là vì thế, em không thể ở lại nhiệm sở.

Chị Cả: Em có nghĩ rằng nếu em không ở lại nơi nhà Dòng cắt đặt cho em thì ơn gọi của em bị sứt mẻ chăng?

Thiên Ân: Thưa chị, em nghĩ rằng nếu em bắt buộc phải chọn lựa, hoặc là đi chăm sóc những bệnh nhân Sida, hoặc là rời nếp sống của một Con Đức Mẹ Đi Viếng, thì đó là bằng chứng em không có ơn kêu gọi, vì em không thể sống tại nhiệm sở hiện tại của mình.

Chị Cả: Không em ạ. Vấn đề không phải là em được ơn gọi hay không được ơn gọi. Vấn đề là em được kêu gọi đến với những người cùng khổ nhất, và nếu em không ưng thuận đến với họ, thì có nghĩa là em phủ nhận ơn gọi.

Thiên Ân: Em không bao giờ muốn phủ nhận ơn gọi. Nhưng làm sao em có thể sống một nơi mà em không thể yêu thương được... và có thể nói là em ghét nữa.

Chị Cả: Em phải yêu thương mọi người mà Chúa chúng ta yêu thương.

Thiên Ân: Nhưng tình thương là một tình cảm tự do. Không ai có thể ép buộc tình cảm của mình.

Chị Cả: Đúng là không ai có thể ép buộc tình cảm của mình. Nhưng một CĐMDV không yêu thương bằng tình cảm của mình, mà yêu thương bằng trái tim của Chúa Kitô, và đó là một trong đường hướng linh đạo của Hội Dòng Chúng Ta. Chúa Kitô đã yêu thương bằng bất cứ giá đào, và đã đổ máu từ Trái Tim mình để trả giá cho tình yêu đó.

Thiên Ân: Em cũng sẵn sàng đổ máu để trả giá, nhưng ở đây không phải là vấn đề đổ máu, mà là phải chấp hành một lệnh không hợp với mình.

Chị Cả: Một trong những nhân đức của người tu sĩ nói chung và của con ĐMDV nói riêng là đức vâng phục. Chúng ta phải thi hành nhân đức ấy trong những việc khó khăn cũng như trong những việc dễ dàng. Phải sẵn sàng đi đến những nơi con ngại ngùng cũng như nơi con ưa thích. Phải thi hành mệnh lệnh không một lời than thở vì nghĩ rằng đấy là thánh ý Chúa, bởi lẽ bề trên con đã quyết định.

Thiên Ân: Thưa chị, chị là bề trên cả của em, tại sao bề trên lại không thể thay đổi quyết định?

Chị Cả: Tai vì chị cũng chỉ là nữ tì của Thiên Chúa. Chị chỉ có quyền truyền lại một mệnh lệnh Thiên Chúa gởi gắm cho em.

Thiên Ân: Nhưng chị có một khối óc để suy nghĩ khi quyết định chứ?

Chị Cả: Dĩ nhiên. Nhưng quyết định bằng đầu gối hơn là khối óc. Chị cầu nguyện nhiều trước khi cố gắng dùng lý trí để tìm hiểu thánh ý Chúa, được thể hiện cụ thế qua ý kiến của hội đồng cố vấn.

Thiên Ân: Nhưng Chúa cũng cho em một lý trí để suy nghĩ, con không có quyền nói lên suy nghĩ của mình sao?

Chị Cả: Một người con của Đức Mẹ tiên vàn là một người muốn sống cuộc sống của Mẹ mình, nghĩa là yêu Chúa hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức lực. Em chỉ có quyền sử dụng lý trí để yêu mến Chúa bằng cách hợp tác với Hội Dòng mà thực thi thánh ý Ngài.

Thiên Ân: Nhưng tại sao Chúa lại muốn em ở một nơi khủng khiếp thế này? Em đã được huấn luyện để sống sạch sẽ, ngăn nắp, tế nhị trong nhà dòng, để rồi được sai đến với những người dơ bẩn, cộc cằn, bệnh hoạn?

Chị Cả: Tại vì Chúa yêu thương em đến độ muốn con thật sự giống Ngài. Từ đời đời Ngài đã ở nơi cao sang vinh hiển, thánh thiện, nhưng Ngài đã chấp nhận sống giữa những người phung hủi và bại liệt, giữa những người tội lỗi, bần cùng và chết đi như một tội nhân bị phỉ nhổ.

Thiên Ân: Tại sao không gởi những chị khác, những người đã quen với nếp sống khốn cùng, còn em thì chưa quen...

Chị Cả: Không phải em chưa quen với khốn cùng đâu. Có lẽ em chưa quen với đức khiêm nhường đấy.

Thiên Ân: Điều em nói thì có ăn nhập gì với đức khiêm nhường đâu. Điều em nói chỉ là phản ứng của cơ thể. Mỗi lần em nghe họ nói dối một cách sống sượng, thì máu em dồn lên mặt. Mỗi lần em thấy những lở loét trên thân thể họ, thì da em nổi gai. Dù em có khiêm nhường đến đâu, thì phản ứng cơ thể vẫn là phản ứng của cơ thể.

Chị Cả: Thì máu em cứ tiếp tục dồn lên mặt, thì da em cứ tiếp tục nổi gai. Nhưng em hãy đến với họ, phục vụ họ, và yêu thương họ.

Thiên Ân: Chị dạy em phải chịu đựng họ sao?

Chị Cả: Vâng, phải chịu đựng họ, như Chúa Kitô đã từng chịu đựng chúng ta.

Thiên Ân: Nhưng chịu đựng thì không thể nào yêu thương được.

Chị Cả: Vâng, chịu đựng thì không thể yêu thương, nhưng yêu thương thì có thể chịu đựng. Vì thế điều tiên quyết là cần phải yêu thương như Chúa Kitô đã yêu.

Thiên Ân: Con không thể yêu thương như Chúa. Không ai có thể yêu thương như Ngài cả.

Chị Cả: Đúng, không ai có thể yêu thương như Chúa, nhưng tất cả chúng ta đều có thể học tập yêu thương từng ngày bằng cách gần gũi với những người mà mình chưa thể yêu thương. Vì đấy là cách duy nhất để yêu mến Chúa. Đó cũng là cách mà nhiều chị trong hội dòng chúng ta đã và đang thực hiện. Một trong các chị lớn mà em biết, đấy là chị Minh An. Suốt hằng chục năm trời chị đã gánh trên vai không biết bao nhiêu là thập giá. Trong những năm 75 - 85, rất nhiều chị em đã từ chối nhiệm sở mình nên chị Minh Anh đã trả giá thay cho họ...Lúc nào chị cũng tươi cười nên không ai biết rằng trái tim của chị kiệt quệ đến nỗi chỉ còn một phần tư lượng máu. Thế mà chị vẫn tiếp tục đến với người khác cho đến khi nằm liệt giường... Giờ đây chị đang ở trong tình trạng chuẩn bị về với Chúa không biết lúc nào, với một nỗi đau trong hình hài mà chỉ một mình chị mới biết. Đấy, em biết rõ đấy! và chị Minh An chỉ là một trong số rất nhiều chị mà em phải noi gương.

Thiên Ân: Điều này quá sức của em, xin chị đừng đòi hỏi em như thế.

Chị Cả: Chị không hề đòi hỏi em, nhưng đấy là đòi hỏi của chính Chúa Kitô đối với tông đồ của Ngài. “Phêrô, con có yêu mến Thầy không? Hãy chăm sóc chiên Thầy.” Ngài đòi hỏi một lần, hai lần, ba lần... Vâng Ngài chỉ đòi hỏi chúng ta yêu thương Ngài, chỉ có vậy thôi.

Thiên Ân: Chắc là em không đủ can đảm đâu chị à.

Chị Cả: Không phải là em không đủ can đảm, nhưng phải chăng em không đủ khó nghèo?

Thiên Ân: Em đã trao tất cả tiền bạc và những gì em có cho nhà dòng rồi.

Chị Cả: Đó là bước căn bản nhưng chỉ là bước đầu. Người khó nghèo thật sự không có một cái gì là 'của mình,' không có một tư tưởng 'của mình,' một ý muốn 'của mình,' một tình cảm 'của mình.' Người nghèo khó là một người hoàn toàn lệ thuộc vào một ai khác. Người Con Đức Mẹ phải hoàn toàn nghèo khó như Đức Mẹ, nghĩa là hoàn toàn lệ thuộc vào Chúa Kitô.

Thiên Ân: Đòi hỏi như thế thì cũng như đòi hỏi phải chết đi.

Chị Cả: Đúng như vậy em à. Thiên Chúa đòi hỏi chúng ta chết đi để Trái Tim của Ngài đập trong lồng ngực chúng ta.

Thiên Ân: Không còn cách nào khác sao chị?

Chị Cả: Không em ạ. Tại vì sống đời sống của Đức Mẹ Đi Viếng không phải là đi làm một cái gì hoặc đi ban phát tình yêu của mình cho một ai. Sống như Đức Mẹ là để cho tình yêu của Chúa Kitô tỏa lan qua mỗi một chúng ta. Khi Đức Mẹ đi viếng bà Ysave, Mẹ không có tham vọng ban phát cho bà chị mình một điều gì. Mẹ đến để phục vụ mà thôi, nhưng chính Chúa Kitô trong lòng Mẹ đã làm cho người con của bà Ysave nhảy mừng trong lòng bà.

Thiên Ân: Con yếu đuối thế này... Vì sao Chúa Kitô đòi hỏi con đến như thế?

Chị Cả: Ngài càng yêu thương ai thì Ngài càng đòi hỏi người ấy. Bởi vì Ngài là Đấng được Chúa Chúa yêu thương vô cùng nên Chúa Cha đã đòi hỏi Ngài đến tuyệt đối. Và ngày nay, khi yêu thương con, Chúa Kitô cũng chọn con vào một dòng mà linh đạo đòi hỏi con phải chia sẻ Thập Giá với Ngài từng ngày từng giờ.

Thiên Ân: Em không thể hiểu được một tình yêu 'bóc lột' như thế... Có lẽ Chúa phải làm phép lạ em mới hiểu.

Chị Cả: Chúa chỉ làm phép lạ để chữa những thương tích trên thân xác, còn những bệnh hoạn về phần hồn thì chỉ có một cách duy nhất là Ngài phải chết đi. Điều chua chát không phải là Ngài chết lại mỗi ngày cho mỗi một linh hồn. Điều chua chát ấy là chúng ta cần phải thấy tận mắt Ngài chết lại, thì mới hiểu được tình yêu của Ngài.

Thiên Ân: Ngài cũng chết lại cho em sao?

Chị Cả: Ngài chưa bao giờ do dự trước giá phải trả cho một linh hồn, và nếu em nhất quyết muốn nhìn tận mắt, thì Ngài sẽ chết lại cho em trong hình hài của một người khác.

Thiên Ân: Làm thế nào Chúa có thể chết lại trong hình hài của một người khác?

(Điện thoại reo, Chị Cả đến nghe: Thế à... thế à!... Chị đặt điện thoại xuống, nhìn lên cao, làm dấu thánh giá và im lặng cầu nguyện vài giây)

Thiên Ân: Thưa chị làm sao Chúa có thể chết lại cho em trong hình hài của một người khác?

Chị Cả: (Rất buồn) Em nghe đây. Ngài đã chết lại trong hình hài của chị Minh An. Điện thoại vừa báo cho chị rằng chị ấy đã tắt thở trong bình an. Chị dâng những đau khổ cuối cùng cho riêng em. Vâng, vì có những người ngại ngùng trên đường phục vụ nên chị đã phục vụ đến xỉu đi trong khi làm việc và ra đi cách đây một giờ. Chị là Chúa Giêsu đó, Ngài đã chết lại cho những người như em và tôi đấy, em thấy không?

Thiên Ân: (Im lặng rồi khóc). Chúa ôi, con đã làm gì? Con đã làm gì? Vì sao Chúa lại phải trả một giá quá đắt như vậy?

Chị Cả: Tại vì Ngài đã yêu thương chọn lựa chúng ta, và vì chúng ta là những người không ra gì nên mãi mãi Ngài phải trả giá cho sự lựa chọn của Ngài.

Thiên Ân: Thưa Chị, em xin Vâng. Em sẽ trở về với nhiệm sở của mình, em sẽ đi đến bất cứ nơi nào Chúa muốn em đi.

Chị Cả: Thế thì tốt. Con sẽ trở nên một bằng chứng rằng tình yêu của Chúa không bao giờ bị gián đoạn. Những người Con Đức Mẹ Đi Viếng có thể chết đi, nhưng luôn có những người con khác tiếp tục cùng đồng hành với Mẹ, đi trên con đường Thánh Giá của Chúa Kitô để đặt Trái Tim đầy ắp Tình Yêu của Ngài vào lòng bao nhiêu con người bất hạnh... Thôi, em hãy chuẩn bị lên đường. Chị phải đến cạnh chị Minh An đây... ●  

 Trở về mục lục >>

HAI MƯƠI BỐN CÁI GHẾ LỚN (SEDILIA VIGINTI QUATUOR)

Pierre Charles SJ, Phạm Minh Thiện dịch

Các giáo sư thường ngồi và, để chỉ rõ điều ấy, khi người ta bổ nhiệm họ vào chức vụ của họ, người ta nói là sẽ giao cho họ một ghế (giảng đàn). Các học sinh cũng ngồi, cũng như các quan tòa cũng ngồi, và cũng như các tín hữu Kitô giáo, khi họ nghe giảng. Không có gì tầm thường hơn là một cái ghế; và có lẽ nó cũng không có gì để gợi ý. Và đôi khi chỉ cần ngồi trong một thánh đường yên tỉnh để cơn buồn ngủ lén lút đến lúc nào ta không hay. Có lần tôi đã cầu nguyện, ngồi trên một cái ghế, nhưng tôi không bao giờ nghĩ lấy cái ghế làm đề tài cho việc cầu nguyện của tôi. Nó không có cái gì để nói với tôi. Nó có đó, với vẻ một chút đần độn của nó, cũng như tất cả những gì là rất khôn ngoan, mà lại im thin thít trong cái bất động ngoan ngoãn của nó.

Ghế phòng khách hay ghế phòng ăn, ghế bành phòng thính nhạc hay ghế bành phòng nha sĩ, tôi chẳng hề tìm thấy một cái gì đặc biệt trang trọng ở các thứ ấy. Và chỉ trong các tuồng kịch lớn người ta mới thấy các hoàng đế Rôma mời các đối tác của mình ngồi xuống trước mặt họ, bằng những lời rất trịnh trọng như thể để bàn tính những chuyện có liên hệ đến thế quân bình của thế giới: “Cinna, xin mời ngồi xuống ghế ...!”

Nhưng lạy Chúa, nếu các chiếc ghế không có gì để kể cho con nghe, thì tại sao Thánh Thần của Chúa lại khăng khăng nói liên lỉ cho con về những chiếc ghế như thế? Tai sao trong kinh Tin Kính, chúng con hát cách đắc thắng rằng Chúa ngự bên hữu Ðức Chúa Cha? Tại sao sách Khải Huyền chỉ cho chúng con thấy cả thiên quốc rộng mênh mông với một chiếc ghế ở giữa, và có một vị ngồi trên ấy: Et ecce sedes posita erat in caelo, et super sedem sedens? Tại sao có các thánh vịnh này với ghế bành thật lớn của Chúa được chuẩn bị từ bao nhiêu thế kỷ: parata sedes tua? Tại sao Chúa đã nói với các môn đệ rằng Chúa sẽ sắp xếp để dành cho các ông một ghế trong nước Chúa : sedebitis et vos, sedebitis super mensam meam; và tại sao Chúa đã tuyên bố với hai con của ông Dêbêđê là chỉ Chúa Cha trên trời mới chỉ cho ai ngồi bên hữu và bên phải của Người...? Phải chăng con không phải vừa rất ngu ngốc lại còn hơi có óc ngoại giáo, mà không thấy một cái gì đáng sùng kính trong một chiếc ghế, nhưng lại hết lòng tôn kính “Ngai của Thánh Phêrô”? Vì người ta đã thay thế một chữ cái, và làm điều đó chỉ trong một ngôn ngữ, vậy thì Ngai của Thánh Phêrô có gì là khác với một ghế thường? Ngai ấy được giữ lại như là một vật thánh ở trong cùng Vương Cung Thánh đường Vatican, và khi đức giáo hoàng tuyên bố như là vị chủ chăn vô ngộ, chúng con nói ngài tuyên bố ex cathedra, nghĩa là ngồi trên một ngai. Và cơ mật viện chỉ là một hội nghị gồm những người ngồi, như từ điển tầm nguyên định nghĩa cho chúng con nghe; và trong sách lễ, thứ bảy sau lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, một đáp ca ngắn dễ thương dạy chúng con biết là, khi năm mươi ngày đã mãn ‘cum complerentur dies Pentecostes’ điều gì đã xảy ra? Là họ đều ngồi chung với nhau: erant omnes pariter sedentes.

Khi Chúa loan báo trong Nhà hội tại Nadarét là lời tiên tri Isaia đã thành tựu và Chúa đã đến thế gian để chữa lành mọi vết thương, thì Chúa đã bắt đầu ngồi xuống; như lúc Chúa ngồi trên thuyền để giảng dạy dân tại Galilê đang tập trung gần bờ nước: sedens docdbat de navicula turbas; như ông Mátthêu đang ngồi tại bàn thu thuế nhỏ và ơn Chúa đã kêu gọi ông để trở nên một tông đồ của Chúa; và như ông Philatô đã ngồi tai Nền Ðá, mà tiếng Hípri goị là Gabbatha để kết án Chúa.

Một chiếc ghế tầm thường phải nhắc cho con nhớ lại tất cả những kỷ niệm ấy liên quan đến Chúa, ít nhất cùng rõ ràng như một thanh kiếm nhắc nhớ lại chiến trận, và ngòi bút nhắc đến người văn sĩ. Chúa là Ngôi Lời sáng tạo muôn loài, Chúa từ ngai vương quốc đã xuống đến với chúng con, và Chúa đã ngồi giữa dân Chúa tại trần gian, như một người giữa họ. Chiếc ghế trong phòng con cũng có thể nhắc cho con nhớ đến những điều kỳ diệu khôn tả này, và nếu con có dư đức khiêm nhường để lắng nghe những bài học dịu dàng này.

Chiếc ghế cũng sẽ nói với con về những bệnh nhân và những người già nua; nói đến tất cả những ai đang nằm bất động trên những ghế dài, hằng giờ, chỉ bị lay động bởi cơn ho khan của họ, mà chiến đấu chống lại những sự hủy hoại vô hình đang tàn phá buồng phổi của họ, hoặc là những người đang băng bột và chờ cho xương lành lại.

Chiếc ghế khiêm tốn cũng nói với con về tất cả những anh chị em của con đang ngồi tại bàn làm việc, trong các trường học, trong các văn phòng, trong các ngân hàng, trong các thư viện, ngay cả trong các xưởng, cần cù làm việc để đảm bảo của ăn hằng ngày cho họ.

Chiếc ghế cũng nói cho con nghe về những tổ tiên, về những ông nội ông ngoại. về tất cả những người già cả đang ngủ gà ngủ gật, trong một góc phòng đóng kín, sống những ngày cuối đời của các cụ mà ngồi vào trũng các ghế bành lớn.

Chiếc ghế cũng nói cho con về tất cả những ai không có một miếng đất để ngồi và nằm nghỉ, và đối với những người ấy, một chiếc ghế là một vật dùng, thuộc loại xa xỉ.

Không có điều gì trong những cảnh này là do tưởng tượng cả. Con không bị say vì những suy nghĩ làm khuynh đảo này; con không lạc lối vào những suy niệm thần bí làm ngây ngất; con không thêu dệt những lý thuyết mới mẻ; nhưng ở bình diện thực tế, cùng với Thiên Chúa làm người như con, con đã nghe tiếng gọi của lòng bác ái đang dâng lên từ những vật rất đơn giản tầm thường.

Nhận lấy hay mời một cái ghế, ngồi một mình hay ngồi chung với bạn bè, đó không phải là những hành động lịch thiệp, hoặc là những thái độ nghỉ ngơi. Tinh thần đức tin phải cho chúng con thấy, dưới dáng vẻ bề ngoài và thông thường, ý nghĩa và giá trị kitô giáo của những cử chỉ khiêm hạ ấy, và cũng cho thấy cách thế nào mà những cử chỉ ấy làm chúng con nên giống Ðấng đã đến sống giữa chúng con, mà con không thấy.

Lạy Chúa, xin thanh tẩy tâm trí con. Ngày xưa, trong hoang địa, Chúa đã làm nước vọt ra từ những tảng đá khô cằn cho dân Chúa đang khát, và họ đã uống, cũng như các gia súc và đàn chiên cừu của họ đã uống. Chiếc ghế tầm thường trong phòng con, và ghế trong thánh đường, và ghế trong phòng đợi hay trong phòng khách, ghế trong các cuộc thăm viếng và trong các bữa ăn, chúng không thể nào trở nên một nguồn cảm hứng kín đáo cho lòng bác ái, và như là một vật thường xuyên nhắc nhở đến biến cố Nhập Thể của Chúa sao? Và thực sự một chiếc ghế có buộc phải trở nên một ngai vua, để con mới nhớ đến sự vinh hiển của Chúa chăng?

La Prière de toutes les choses (trang 68-71) Cầu Nguyện Từ Mọi Sự Vật

             Trở về mục lục >>

TẠ ƠN CHÚA và CÁM ƠN EM… 

Tạ ơn Chúa cho vợ chồng con bình an và hạnh phúc

Tạ ơn Chúa đã cho con một nàng tiên

Cám ơn em đi nhà thờ mỗi ngày 2 lần để cầu nguyện cho vợ chồng mình bình an

Cám ơn em không thích đi shopping

Cám ơn em không mê quần áo thời trang mà vẫn đẹp

Cám ơn em không son môi mà nụ cười vẫn duyên dáng và luôn nói lời dịu ngọt

Cám ơn em không vàng vòng kim cương mà vẫn lịch sự

Cám ơn em chỉ mê đọc Kinh Thánh và hát nhạc Thánh Ca

Cám ơn em luôn ngồi trong xe P.U (pick-up) ve chai của anh

Cám ơn em không bao giờ buồn phiền vì cái nghèo của anh

Cám ơn vòng tay của em đã ru anh ngủ mỗi đêm

Cám ơn em biết làm ra tiền nhưng không xài cho mình mà chỉ lo giúp tha nhân nghèo khó

Cám ơn em nghìn lần, chúng mình đã qua đi cái tuổi 60, anh viết những lời cám ơn này trong lúc đầu óc anh còn minh mẫn.

Vì anh sợ rằng một ngày nào đó anh chỉ nhớ những điều cần quên, nhưng quên đi những điều cần nhớ.

Yêu em nhiều, chúng mình mãi là đôi tình nhân của những ngày cuối tuần…  

Xuân, một con thỏ Strata 111 - Trích Việt Tide số 291, ngày 9 tháng 2 năm 2007     

 Trở về mục lục >>

CẬU BÉ DƯỚI BÓNG CÂY

Sưu tầm

Trong mùa hè giữa năm thứ nhất và năm thứ hai đại học, tôi được mời vào làm phụ trách một trại hè cho học sinh trung học thuộc một trường đại học ở Michigan. Tôi đã từng tham gia rất nhiều hoạt động của trại nên tôi nhận lời ngay lập tức.

Một giờ sau khi tôi bắt đầu ngày đầu tiên ở trại hè, giữa một đám ồn ào hỗn loạn các anh phụ trách và học sinh, tôi nhận ra một cậu bé ở dưới bóng cây. Cậu rất nhỏ bé và gầy guộc. Rõ ràng việc cậu đang mất tự nhiên và xấu hổ rụt rè càng làm cho cậu trở nên yếu đuối, mỏng manh. Chỉ 50 bước gần đó, 200 trại viên đang hăm hở rượt đuổi, chơi đùa, và gặp gỡ lẫn nhau như đã thân nhau từ lâu lắm chứ không phải chỉ mới quen. Nhưng cậu bé dưới bóng cây dường như đang ở một thế giới khác. Vẻ cô đơn đến tột độ của cậu đã làm tôi khựng lại, nhưng nhớ lại lời những anh chị phụ trách lớn tuổi hơn rằng phải chú ý đến các trại viên có vẻ tách biệt ra, thế là tôi bước đến.

Đến gần cậu bé, tôi nói "Chào em, anh tên là Kevin. Anh là một trong các phụ trách ở đây. Anh rất vui được gặp em. Em khỏe không vậy?" Với một giọng nói run run bẽn lẽn, cậu bé cố sức trả lời, "Dạ em bình thường." Tôi nhẹ nhàng hỏi cậu rằng cậu muốn tham gia những sinh hoạt và gặp các bạn bè mới không. Cậu trả lời nhỏ "Dạ không, em không thích lắm."

Tôi có thể cảm nhận được rằng cậu đang ở trong một thế giới hoàn toàn riêng tư. Trại hè quá mới, quá xa lạ đối với cậu. Nhưng bằng cách nào đó, tôi cũng biết rằng cũng không nên ép cậu bé. Cậu không cần một lời cổ vũ, cậu cần một người bạn. Sau một lúc lâu im lặng, câu chuyện của chúng tôi chấm dứt.

Sau bữa trưa ngày thứ hai, tôi hét bể cuống họng để điều khiển cả trại hát. Tất cả trại đều tham gia hăm hở. Ánh mắt tình cờ xuyên qua đám đông ồn ào lộn xộn và thấy hình ảnh cậu bé đó đang ngồi một mình, nhìn ra ngoài cửa sổ. Tôi suýt nữa đã quên mất lời bài hát đang phải hướng dẫn. Khi lại có cơ hội gặp cậu bé, tôi cố thử một lần nữa, với những câu nói hệt như trước "Em có khỏe không? Em có sao không?" Và cậu bé lại trả lời "Dạ vâng, em khỏe. Em chỉ chưa quen thôi." Khi tôi rời nơi cậu bé ngồi, tôi hiểu rằng để cậu bé hòa đồng phải tốn nhiều thời gian và công sức hơn tôi tưởng – dù tôi không biết rằng tôi và cậu bé có thể cởi mở được với nhau hay không nữa.

Vào buổi tối hôm đó khi họp với những người phụ trách của trại, tôi kể ra những điều lo lắng của mình về cậu bé. Tôi giải thích cho các bạn phụ trách ấn tượng của tôi về cậu bé, yêu cầu họ chú ý và dành thêm thời gian cho cậu nếu có dịp.

Những ngày ở trại trôi qua nhanh hơn tôi tưởng. Thật là tiếc, nhưng rồi đêm cuối cùng ở trại cũng đến và tôi đang theo dõi "bữa tiệc chia tay." Các học sinh đang tận hưởng những giây phút cuối cùng của mình với các "bạn tốt nhất" của họ - những người bạn mà có thể họ sẽ chẳng bao giờ gặp lại.

Ngắm nhìn các trại viên cùng nhau chia sẻ những giây phút cuối bên nhau, tôi bất ngờ thấy được một hình ảnh mà sẽ lưu mãi trong cuộc đời tôi. Cậu bé mà từng ngồi một mình dưới gốc cây đó đang làm một điều kỳ diệu. Cậu đang chia xẻ cùng hai cô bé khác những món quà lưu niệm. Tôi nhìn cậu đang có nhưng giây phút thân mật đầy ý nghĩa với những người mà cậu chưa bao giờ gặp chỉ mấy ngày trước đó. Tôi không thể tin nổi đó chính là cậu bé dưới bóng cây.

Vào một đêm tháng 10 năm đó, tiếng chuông điện thoại kéo tôi ra khỏi cuốn sách hóa học. Giọng một người lạ, rất nhẹ nhàng và lịch sự hỏi tôi "Dạ có phải là anh Kevin không ạ?"

"Dạ chính là tôi, xin lỗi ai đầu giây đó ạ?" "Tôi là mẹ của Tom Johnson. Cậu có nhớ Tommy từ trại hè không?" Cậu bé dưới bóng cây! Làm sao tôi có thể quên được? "Dạ cháu nhớ rồi," tôi nói. "Cậu bé rất dễ thương. Bây giờ cậu bé ra sao?"

Lặng đi một hồi lâu, sau đó bà Johnson nói,”Tuần này trên đường từ trường về, Tommy của tôi đã bị một chiếc xe đâm phải… Tommy đã không còn nữa rồi.”

Bàng hoàng, tôi chia buồn cùng bà mẹ.

"Tôi muốn gọi cho cậu," bà ta nói, "bởi vì Tommy nhắc đến cậu nhiều lần. Tôi muốn cậu biết rằng nó đã trở lại trường mùa thu rồi như một con người mới. Nó đã có nhiều bạn mới. Kết quả học tập lên cao. Và nó còn hò hẹn với bạn gái vài lần nữa. Tôi chỉ muốn cám ơn cậu đã làm cho Tom thay đổi như vậy. Những tháng cuối cùng là khoảng thời gian đẹp nhất của cuộc đời nó."

Vào lúc đó tôi đã nghiệm ra: hãy dành sự quan tâm, đồng cảm, sẻ chia với mọi người quanh bạn. Bạn sẽ không thể ngờ được mỗi cử chỉ ần cần, chân thành của bạn có thể sẽ có ý nghĩa với người khác đến như thế nào đâu. Tôi kể lại chuyện này mỗi lần có dịp, và khi tôi kể xong, tôi thôi thúc người khác nhìn ra bên ngoài và tìm cho mình một "cậu bé dưới bóng cây."

  Trở về mục lục >>

TÂM TÌNH CÙNG BẠN ĐỌC

v      Trong thời gian qua, MARANATHA đã nhận được điện thư xin nhận báo, đổi địa chỉ e-mail, giới thiệu thân hữu nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng góp của: Phạm Hùng Sơn – CVK, Sứ Mệnh Giáo Dân, Tâm Linh Vào Đời, Giáo Xứ Việt Nam – Stuttgart, Lm. Vũ Xuân Hạnh, Nguyễn Thế Bài,  Têrêsa Alfonso Phạm Thùy Chi, Đỗ Trân Duy, Lm. Trần Đức Phương, Lm. Nguyễn Hữu An, Lm. Peter Nguyễn Hùng Đức, Lm. Bùi Thượng Lưu – Nguyệt San Dân Chúa Âu Châu, Nguyễn Vũ, Nguyễn Đức Hiệu, Vũ Thái-Hòa, HoanHang, Vũ Hữu Lễ, Cộng Đoàn Martin, Diễm Trang, Nguyễn Duy Khanh, Bồ Câu Trắng, Soeur Marie Michel Lộc, Hiệp Lê, Ánh Nga, Nguyễn Hùng Phong, FSC, Nguyễn Xuyến, Sr. Pauline Trâm, Sr. Christine Mỹ Hạnh RGS - Chúa Chiên Lành, USA, M. Phương, Nguyễn Xuân, Pháp quốc, Nguyễn Kim Khoa, Ngọc Tuấn, Nguyễn Ngọc Xuân, từ Đất Mẹ USA, Tỵ Trần, Nguyễn Văn Diệu, Phan Thủ Đức, Thuận Châu Phan Văn Khải, Anrê Nguyễn văn Phú, Lâm Nguyễn, Têrêsa Bảo Quyên, Sr. Marie Elise, Vũ Thanh, Giuse Trần Đức Liêm, Lm. Vũ Huy Thống, Nhân Xuân, MB Huyền Linh SSS, Phan Thị Hường,  Lê Văn Lâm, Phạm Anh Tuấn, …

Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích lệ của Quý cộng tác viên và độc giả dành cho Maranatha.  Nguyện xin Chúa chúc lành cho tất cả quý vị.

            Trân trọng, MARANATHA

š¶›

THƯ BẠN ĐỌC

 

Xin chia sẻ một vài tâm tình đã nhận được từ cộng tác viên và độc giả gửi về MARANATHA thời gian qua để hiệp thông cầu nguyện cho nhau. Rất tiếc không thể hồi âm sớm hơn và đến từng quý vị. Rất mong thông cảm.

 

v      Con là một Giáo Lý viên dạy Hôn Nhân tại nhà thờ ChínhToà Đức Bà Sàigòn và dạy dự tong thuộc Giáo Xứ Hiển Linh hạt Gia Định. Sau lần đầu tiên đọc được số báo Xuân con thấy hết sức bổ ích cho đời sống đức tin cũng như kiến thức để truyền đạt đức tin. Kinh xin Quý cha và ban biên tập tiếp tục gởi bài cho con. Con tên Nguyễn Đức Hiệu Sinh năm 1954 hiện ở Bình Thạnh Thành Phố HCM. Kính Chúc quý cha và toàn ban Biên Tập bình an trong Chúa Kitô Phục Sinh. Chân thành cám ơn. Nguyễn Đức Hiệu.

v      Xin vui lòng gửi báo cho tôi qua email …Xin cám ơn và chúc mừng Chúa Phục Sinh. HoanHang.

v      Xin đăng ký nhận báo Maranatha. Vũ Hữu Lễ.

v      Xin Chúa và Mẹ Maria ban muôn ơn lành trong Tuần Thánh và Đại Lễ Phục Sinh. www.cdmartin.org

v      Qua người bạn giới thiệu tôi xin đăng ký để được nhận số báo hang tháng. Xin chân thành ghi ơn quí vị. Diễm Trang.

v      Con mong được đọc các tài liệu về Thiên Chúa, xin gởi cho con. Xin Chúa luôn ban mọi ơn lành cho quí Cha và Sơ. Nguyễn Duy Khanh.

v      Anh chị Maranatha kính mến, Anh chị đừng lo ngại khi mình bận rộn nhiều công việc nên phát hành báo không đều. Những độc giả của các anh chị, trong đó có em, cũng rất cảm thông và cầu nguyện nhiều cho các anh chị. Em được đọc Maranatha từ khi em còn chưa lãnh nhận Bí tích Thanh Tẩy. Em thích đọc những bài các anh chị viết và đăng trên báo của các anh chị và nhận thấy anh chị có phần trình bày nội dung và hình thức rất đẹp, rất trang nhã, và em rất thích…Em kính chúc anh chị nhiều niềm vui trong phục vụ. Phạm Thùy Chi.

v      Kính chúc quý Cha và ban biên tập một mùa Xuân mới dồi dào hồng ân Chúa ban. Bồ Câu Trắng.

v      Con xin chân thành cám ơn Ban Biên Tập MARANATHA đã gởi báo hai dịp Giáng Sinh và TẾT, món ăn tinh thần rất sung bổ cho tâm linh, ngon miệng, “hạp khẩu” lắm! Con sẽ giới thiệu, tìm khách hàng…như là sự đóng góp nhỏ của con! Xin được tiếp nhận những số báo sau. Xin Chúa chúc lành cho Ban Biên Tập là những “đầu bếp” khép tay nấu dọn những món đặc sản với hương vị quê hương (hiếm có ở hải ngoại) để chiêu khách Việt Nam ngày càng thêm nhiều, mở rộng Nước Chúa. Soeur Marie Michel Lộc.

v      Tôi muốn nhận báo đăng ký. Xin cám ơn. Hiệp Lê.

v      Xin chào! Con là Maria Đặng Thị Ánh Nga. Con được thầy Joseph Huy giới thiệu cho con về chương trình của Maranatha. Con đọc thấy rất hay và rất bổ ích. Nên hôm nay con gửi thư xin Maranatha gửi bài cho con mỗi tháng theo địa chỉ này. Con xin hết lòng cám ơn. Ánh Nga.

v      Chân thành đa tạ và xin kính chúc Tân Xuân Đinh Hợi hồng ân Thiên Chúa và hăng say phục vụ, loan báo TIN MỪNG CỨU ĐỘ cho muôn người. Lm. Stephanô Bùi Thượng Lưu. Nguyệt San Dân Chúa Âu Châu.

v      Kính thưa Ban Biên Tập báo Maranatha, Maranatha là một tờ báo rất hay, rất có ích cho nhiều người. Nay tôi muốn chia sẻ Niềm Vui và Ân Huệ này cho người thân của tôi. Kính xin Ban Biên Tập vui lòng gởi báo theo địa chỉ sau đây:..Tôi xin chân thành cám ơn Ban Biên Tập báo Maranatha. Kính chào Quý Vị. Nguyễn Hùng Phong, FSC. 

v      Tôi muốn đăng ký nhận báo Maranatha, Nguyễn Xuyến.

v      Xin Kính Chúc Ban Biên Tập Tuần Báo MARANATHA hưởng một Năm Mới Xuân Minh Hợi An Khang, Thịnh Vượng và tràn đầy hồng ân Thiên Chúa. Trong niềm vui của Chúa Xuân, Sr. Pauline Trâm.

v      Xin chúc các linh mục, anh chị em của Maranatha một năm mới nhiều hồng ân, khang an và tiếp tục viết, để “nuôi dưỡng” tinh thần nhiều độc giả Công giáo khắp nơi. Trong năm qua, đã đọc nhiều bài chia sẻ, sưu tầm, nghiên cứu…rất hữu ích của Maranatha. Xin Chúa chúc lành.  Sr. Christine Mỹ Hạnh RGS - Chúa Chiên Lành, USA.

v      Kính chúc chương trình Maranatha năm Đinh Hợi sẽ ngày càng thêm những bài đọc hay trong công việc mục vụ này, để giúp cho thành phần Dân Chúa càng thêm thăng tiến về mặt tu đức và càng yêu mến Giáo Hội, yêu mến Chúa hơn. Kính chúc những thành phần đang hoạt động trong chương trình này được nhiều ơn của Chúa, cho mọi thành viên và cho gia đình của quý vị về mọi mặt.  Rất cám ơn chương trình đã cố gắng làm mọi cách để tôi có thể được đọc những bài như thế này bằng tiếng Việt. Chúc luôn phát triển và bình an trong Chúa và Mẹ Maria cùng Thánh Cả Giuse. M. Phương.

v      Thân mừng ban biên tập, năm Heo xin chúc theo vô số lời mừng phong phú mà chân thành của các "ảo mạng nhân," độc giả của Maranatha đã gửi về toà soạn, nên gọn lời chúc các bạn mọi mong ước thực hiện  như "ý nguyện tâm cầu." Khi đọc bài tản mạn về đề tài Heo, ảo nhân này vội ghi vài cảm nghĩ coi như chia sẻ cảm hứng nhờ Maranatha chuyển tới Vũ quang Hiên (Hiền, Hiển, Hiện, xin lỗi không rõ dấu):

"Năm Heo theo  Heo có sao eo (!);

Ăn rồi nằm ềnh đánh giấc phèo,

Mặc người chật vật hám chạy theo,

Thời gian cắc cớ cứ bay vèo,

An thần hội nhập năm Heo vậy,

Định mệnh ơn Trời cứ vậy theo." Nguyễn Xuân, Pháp quốc.

v      Cám ơn quý vị trong nhóm chủ chương MARANATHA Việt nam. Thiên Chúa sẽ trả công ơn bội hậu cho việc làm nhiềy ý nghĩa của quý vị. Năm mới Đinh Hợi 2007 kính chúc quý vị và gia quyến được nhiều ơn lành, an vui, hạnh phúc và thịnh vượng. Kính, Một độc giả, Nguyễn Kim Khoa

v      Kính gửi Toà Soạn, Tôi đọc thấy những trang báo có nội dung rất hay, tôi cũng muốn có những bài báo để đọc hàng tuần. Xin toà soạn gửi cho tôi những bài báo hàng tuần qua email này. Xin thành thật cám ơn. Kính chúc Toà soạn một năm mới an khang và dồi dào ân lộc Chúa. Ngọc Tuấn.

v      Xin cám ơn và kính chúc Ban Biên Tập, Toàn Thể Cộng Sự Viên và gia quyến đầy tràn niềm vui. nhiều sáng tác, sức khoẻ và hạnh phúc thiên đàng, nhất là luôn là Mùa Xuân trước mặt Chúa.  Nguyễn Ngọc Xuân, từ Đất Mẹ USA.

v      Kính chào Quý Cha chủ nhiệm Maranatha, Con rất vui mừng khi nhận được thư hồi âm của Quý Cha, và nhận được báo Maranatha qua email. Vậy con thành thật cám ơn, và nguyện xin CHÚA MẸ ban nhiều HỒNG ÂN THIÊN CHÚA xuống trên cha chủ nhiệm. Con xin kính chúc một năm mới VẠN SỰ NHƯ Ý, PHƯỚC NHƯ ĐÔNG HẢI, THỒ TỶ NAM SƠN. Kính, Tỵ Trần.

v      Kính gởi Quí Cha và Quí Vị. Con xin được nhận Maranatha vì nó hay quá! Con xin được nhận theo email...Xin cám ơn và kính chúc năm mới bình an hạnh phúc. Nguyễn Văn Diệu

v      Kính gởi Maranatha. Xin Maranatha gởi cho tôi báo điện tử theo địa chỉ…Những bài viết của báo giúp tôi nhiều trong việc sống đạo. Chân thành cám ơn. Phan Thủ Đức.

v      Chúng tôi vừa tìm thấy địa chỉ Quý Báo trên mạng. Rất khao khát muốn đọc. Nếu không trở ngại, xin quý Cha vui lòng gởi Maranatha thường xuyên cho chúng tôi về đ/c: …Xin thành thật cám ơn. Kính thư, Thuận Châu Phan Văn Khải.

v      Kính gởi BBT Báo MARANATHA. Trước đây Tôi vẫn thường nhận được báo do Quý Toà soạn gởi đến số 92 qua Email...Nay địa chỉ trên Tôi không sử dụng nữa, vậy kính mong quý Báo tiếp tục gởi cho Tôi theo địa chỉ Email mới. Xin chân thành cám ơn Quý Báo. Nguyện xin Chúa chúc lành cho các việc làm tốt đẹp của quý Báo. Trân trọng kính chào!  Anrê Nguyễn văn Phú

v      Từ 17 tháng 2 đến nay tôi không được nhận tiếp bất kỳ số báo MARANATHA. Không biết có việc gì trục trặc không? Lâm Nguyễn.

v      Xin Quý Cha vui lòng gởi báo cho con với. Computer của con gặp trục trặc nên không dùng internet thường được, đã vậy mà báo Maranatha cũng mất luôn rồi. Nếu được, xin Quý cha vui lòng gởi báo cho con đọc với. Xin chân thành cám ơn.  Kính, Têrêsa Bảo Quyên

v      Maranatha quý mến! Trong năm qua tôi thường xuyên nhận được báo và tôi rất biết ơn về sự quan tâm này. Tuy nhiên năm nay, sau số báo đầu năm tôi không nhận được số nào cho đến nay. Vì thế, nay tôi viết thư này kính mong Maranatha tiếp tục gởi báo cho tôi.  Điều này rất cần thiết cho đời sống thiêng liêng cũng như cho công tác tông đồ của tôi nơi vùng truyền giáo KonTum này. Tôi chân thành cám ơn và cầu chúc Maranatha nhiều ơn lành của Đức Kitô Đấng tử nạn và phục sinh vinh hiển. Sr. Marie Elise

v      Thưa quí báo, mấy tháng nay máy tôi bị hư, không nhận được Maranatha. Nay máy đã sửa chữa. Xin quí vị vui lòng gửi lại cho tôi. Xin chân thành cám ơn. Giuse Trần Đức Liêm

v      Xin gửi Maranatha tôi địa chỉ…Xin Chúa Kitô Phục Sinh chúc lành công việc của quí vị ban biên tập. Xin cám ơn đã gửi Maranatha. Thân mến, Lm. Vũ Huy Thống.

v      Xin cho lương thực hàng ngày MARANATHA. Chân thành cám ơn. Nhân Xuân.

v      Con xin đăng ký cho chúng con và cho một chị bạn ở tu hội Dies Caritas ở địa chỉ... Con xin cám ơn. MB Huyền Linh SSS.

v      Xin cám ơn cha đã gửi cho con những bài thật hữu ích cho đời sống tâm linh. Xin Chúa chúc phúc cho công việc của cha nhé. Xin gửi về địa chỉ mới của con…Xin cám ơn cha trong Chúa. Phan Thị Hường

v      Lời đầu nguyện xin Ba Ngôi Thiên Chúa chúc lành cho mọi thành viên trong ban biên tập. Không biết vì lý do gì mà sau số báo 93 tôi không có chuyện gì xảy ra. Từ số báo này xin gởi này xin gởi cho tôi theo email mới …Rất mong nhận được của ăn tinh thần mà quý báo gửi đến. Xin kính chào. Lê Văn Lâm

v      Xin cám ơn quí báo đã gửi đến tôi nhiều bài báo hay. Nay nếu được xin gửi cho một người bạn theo địa chỉ là…Phạm Anh Tuấn

Trở về mục lục >>



[1] « Bác Ái Chúa Kitô thúc đẩy chúng ta » (2 Cr 5, 14).

[2] Đã chuyển ra Việt ngữ, do Định Hướng Tùng Thư, Reichstett, Pháp,  xuất bản năm 2000.

[3] Xem Hông y Suenens, Le chrétien au seuil des temps nouveaux  (Kitô hữu trước thềm thời đại mới), Ervelde, Ed. de l’Association FIAT,  1997, tr. 80.

[4] Cả ba cuốn đã được chuyển qua Việt ngữ, được Hội FIAT và Định Hướng Tùng Thư, Reichstett, Pháp xuất bản.

[5] Đã được chuyển qua Việt ngữ, FIAT và Định Hướng xuất bản năm 2007.

 

 

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn

Trở về các số báo