Thư Tòa Soạn
Kính thưa Quý độc giả,
Mùa Xuân đang qua đi,
và mùa Hè sắp đến. Biết bao dời đổi biến thay trong những ngày
tháng qua...Tình hình thế giới, đất nước, Giáo Hội nhiều biến chuyển
với những điều nghịch lý, đáng buồn, xót xa cho thân phận con người.
Nổi cộm hơn là tin của cậu sinh viên trường đại học bách khoa tại
tiểu bang Virginia - Hoa Kỳ, đem súng vào khuôn viên trường bắn xối
xả vào các lớp học, làm thiệt mạng 30 người. Tin tức truyền nhanh đi
khắp thế giới làm biết bao người bàng hoàng sợ hãi, nhiều câu hỏi
được đặt ra và trách cứ cậu sinh viên người Đại Hàn kia. Chuyện
một em bé tiểu học 10 tuổi tại một xã nhỏ ở Việt nam bị nhà trường
đưa ra công an thẩm vấn vì nghi ngờ lấy tiền của lớp, đã làm em
mất trí và hoảng loạn. Rồi gần đây, một cô giáo cho các học sinh
trong lớp tuần tự tát vào mặt của một bạn vì đã để quên sổ thi
đua…Theo tin tức thế giới và thống kê gần đây, tuy Nam Hàn và Nhật
Bản là hai quốc gia có trình độ khoa học kỹ thuật rất cao, kinh tế
phát triển đáng nể phục, nhưng con số người tự tử vì chán đời và
trầm cảm lại cao hơn nhiều quốc gia khác. Phần đông phụ nữ Á Châu
đang sinh sống tại nuớc ngoài cũng bị rơi vào tâm trạng buồn thảm
đáng kể. Các nhà tâm lý cho rằng đó là do nhân vị con người bị
coi thường hoặc quên lãng. Vì thiếu sự quan tâm, chia sẻ, con
người thời nay không tìm thấy sự cảm thông và đón nhận của những
người chung quanh. Hậu quả khó tránh khỏi là những chuyện đau
lòng đáng tiếc đã và tiếp tục xảy ra vì những lý do trên.
Trong khi đó, Giáo Hội
quê nhà và hải ngoại đang rộn ràng mùa lễ đón nhận sứ vụ linh mục và
phó tế, rước lễ lần đầu và thêm sức…Nhưng niềm vui không thể làm
quên đi việc tượng Đức Mẹ Sầu Bi tại Ninh Bình bị đập phá, rồi
những điều đau lòng vì dân chủ và tự do tín ngưỡng tại quê nhà
bị đàn áp.
Giữa những điều đã và
đang xảy ra đây đó,
Maranatha đã
lặng im, vắng bóng trong Mùa Chay, Mùa Phục Sinh, những ngày đầu
tháng Hoa, tháng dâng kính Mẹ, cũng là dịp Maranatha tròn Ba
tuổi…Lời chân thành tạ lỗi xin gửi đến quý độc giả và các cộng tác
viên thân thương. Cũng trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu xa đến
những tình cảm thăm hỏi độc giả và bạn hữu dành cho Maranatha.
Sự quan tâm này làm ấm lòng trước những thử thách. Ngay từ
những ngày đầu, Maranatha đã luôn âm thầm hiện diện, nay lại vắng
bóng trong thời gian dài, nhưng vẫn còn đó những linh mục, nam nữ tu
sĩ, anh chị em tín hữu vẫn thư từ thăm hỏi và đợi chờ… Niềm xúc động
với lòng biết ơn dâng trào niềm cảm mến tạ ơn Cha trên trời đã
thương chúc lành cho Maranatha có những người bạn luôn trung thành
với trang báo nhỏ bé đơn sơ này. Đây hẳn là ân sủng tự trời cao.
Lòng cảm thông và đón nhận của quý độc giả và bạn hữu thân thương là
niềm vui và an ủi lớn lao cho Maranatha kiên trì và tiếp tục. Không
thể phụ lòng độc giả nữa. Maranatha đang trở về đây. Trở về với
lời tạ lỗi, với tâm tình biết ơn và xin quý vị tiếp tục kiên nhẫn
với Maranatha. Trở về để thưa với nhau rằng, Maranatha uớc ao được
phát hành thường xuyên hơn, dù hoàn cảnh chưa hẳn đã dễ dàng.
Xin cầu nguyện cho Maranatha và mong quý cộng tác viên tiếp tục
gửi bài để Maranatha được tiếp tục phục vụ độc giả thân yêu.
Trong tâm tình tạ ơn
nhân dịp tròn 3 tuổi, Maranatha dâng lên Chúa và Mẹ Maria lời tạ
ơn. Mẹ là Đấng bảo trợ và là gương mẫu cho các tín hữu. Mẹ là
người tín hữu tuyệt vời vì đã sống trọn vẹn lời “Xin Vâng” trước
những đòi hỏi của Thiên Chúa. Chính vì thế, Maranatha trân trọng
giới thiệu
Hội FIAT,
như một món quà gửi tặng quý độc giả trong những ngày cuối tháng
Hoa. Cũng trong dịp mừng Lễ Mẹ Thăm Viếng hôm nay, xin chia sẻ niềm
vui với Quý Chị trong các Hội Dòng, Tu Hội theo linh đạo của Mẹ và
cũng là của chúng ta khi thưa với Mẹ rằng:
Lạy
Mẹ Maria, xin Mẹ dạy con biết thưa với Chúa “Xin Vâng” trong mỗi
giây phút đời con.
Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ
dạy con biết thưa với Chúa “Cám Ơn” trong mỗi giây phút đời con.
Cùng với Mẹ, chúng ta
cám ơn Chúa trong mỗi phút giây của cuộc đời vì biết bao ơn lành đã
nhận được và ân sủng để chia sẻ. Câu hỏi đặt ra rằng chúng ta
có sẵn sàng quan tâm, chia sẻ những nỗi đau tinh thần, thiếu thốn
vật chất cho anh chị em, những người cùng khốn khổ đau? Thế giới này
sẽ bớt bi thảm, sẽ đẹp tươi hơn khi mỗi người trong chúng ta ý thức
hướng về tha nhân như Mẹ trong tâm tình Thăm Viếng người chị họ
Elizabeth.
Phát hành trong dịp
hướng về Lễ Chúa Ba Ngôi,
Maranatha 94
xin giới thiệu một thần học gia Việt Nam trẻ tuổi viết về đề tài
này khi nhìn về Khổng giáo. Cũng nhân dịp phái đoàn Việt Nam đang
tham dự Hội Nghị Truyền Thông Xã Hội lần thứ VI của Liên Hội Ðồng
Giám Mục Á Châu tại Bangkok, Thái Lan từ ngày 28 tháng 5 đến ngày 02
tháng 6 năm nay, xin gửi đến quý độc giả những thao thức của một độc
giả chia sẻ trước những vấn đề đau lòng hiện nay liên quan đến
truyền thông và Giáo Hội Việt Nam.
Tháng Sáu cũng đang
trở về, tháng dành kính Thánh Tâm Chúa và các giáo xứ, cộng
đoàn cũng bắt đầu chuẩn bị mừng kính. Trước những đảo điên và
thử thách của cuộc sống và thế giới, ước gì chúng ta cầu cho
nhau sống lời mời gọi của Thánh Tâm Chúa Giêsu, Đấng đã tự hủy mình
đi (Ph 2, 5-11) và học cùng Trái Tim Rất Thánh điều căn bản “hiền
lành và khiêm nhường” (Mt 11, 29) trong lời nói, việc làm và cùng
nhau thiết tha nguyện xin:
Maranatha, lạy Chúa
Giêsu, xin ngự đến!

HỘI FIAT
Giáo sư Nguyễn Đăng Trúc gìới thiệu
-
Hội
FIAT là gì?
1.
Là một lời kêu mời
2.
Là kết quả của một cuộc gặp gỡ
3.
Là một linh đạo
4.
Là một cuộc dấn thân cho Phúc Âm
-
Hội
FIAT cống hiến một phương sống đời sống siêu nhiên
1.
Chuỗi hạt FIAT
2.
Các «nhóm cầu nguyện»
3.
Một lối thực thi cuộc sống siêu nhiên
4.
Tĩnh tâm noi theo mẫu Nhà Hội Tiệc Ly
5.
Phổ biến tài liệu đào tạo kitô hữu
-
Hội
FIAT tổ chức như thế nào?
1.
Thắt chặt tình huynh đệ
2.
Những hình thức phục vụ
A.
Hội FIAT là gì?
1.
Là một lời kêu mời
FIAT là tên
một hiệp hội công giáo, nhưng trước hết đó là lời kêu mời mọi kitô
hữu đi sâu hơn vào lời « xin vâng » của Trinh Nữ Maria để tham gia
công cuộc Cứu Chuộc của Chúa. FIAT cũng là lời mời gọi chúng ta đi
vào Nhà Hội ‘Tiệc Ly’ với Mẹ Maria và với các Thánh Tông Đồ, cùng
nhau cầu nguyện đợi chờ ơn Chúa Thánh Thần ban xuống. Cuối cùng FIAT
là một lời mời gọi chúng ta đi vào mầu nhiệm của Giáo hội «là Bí
tích, dấu chỉ và khí cụ của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và
của sự hiệp nhất toàn thể nhân loại » (HC Giáo hội LG I).
2.
Là kết quả của một cuộc gặp gỡ
Hội FIAT
thành hình nhờ cuộc gặp gỡ giữa giám mục Suenens và bà Vêrônica
O’Brien năm 1947. Từ năm 1940, Bà Vêrônica đã mang sứ mênh thành lập
Đạo Binh Đức Mẹ ở Pháp và tại các nước khác ở Âu châu. Đức cha
Suenens, bấy giờ làm giám mục phụ tá của giáo phận
Malines-Bruxelles, nước Bỉ, đã tìm cách liên lạc vời bà về chuyện
nầy.
Sau đó, một
nhóm anh chị em có nhiều quốc tịch khác nhau sinh hoạt tông đồ cùng
một đường lối siêu nhiên qui tụ chung quanh hai vị. Nhóm nầy tập chú
vào cuộc sống cầu nguyện và sinh hoạt dấn thân phục vụ Giáo hội. Các
thành viên trong nhóm cũng là thành viên then chốt trong các hiệp
hội đang hiện hữu trong đường hướng và hy vọng mà Công Đồng Vaticanô
II khai triển.
Vào năm 1981,
trong một cuộc tĩnh tâm tại Paray-le-Monial, Pháp, nhóm nầy cảm thấy
mình được kêu gọi để đi sâu hơn vào lời ‘FIAT = XIN VÂNG’ của Trinh
Nữ Maria, và ý thức mình được Mẹ Maria gọi để khám phá ơn gọi riêng
của mình trong lòng Giáo hội. Thể theo lời đề nghị của Bà Vêrônica,
cả nhóm dành một thời gian dài để tìm hiểu ý muốn của Chúa.
Năm 1982,
‘nhóm FIAT’ khai sinh, nhưng chưa thành cơ cấu; tháng chín năm 1984,
‘nhóm FIAT’ bừng lên sinh lực truyền giáo qua Chuỗi Hạt FIAT.
Ngày 16 tháng
7 năm 1987, lễ Đức Mẹ Núi Carmêlô, Hội FIAT được chính thức thành
lập với điều lệ nội qui theo đúng các thủ tục pháp lý.
3.
Là một linh đạo
Đức tin kitô
giáo thể hiện một cuộc sống siêu nhiên phong phú vô tận và có thể
mang nhiều sắc thái rất đa dạng. Qua gia sản thiêng liêng rất quí
giá mà những vị sáng lập để lại, chúng ta thấy được linh đạo của Hội
FIAT nơi những mối tương liên nối kết giữa Chúa Thánh Thần, Đức
Trinh Nữ Maria và Chúa Giêsu Kitô.
Thật thế,
chính Chúa Thánh Thần và Mẹ Maria đã sinh Con Thiên Chúa trong thế
gian, và hôm nay đang dẫn đưa chúng ta đến với Ngài, là Đức
Giêsu-Kitô, Đấng được Chúa Cha gửi đến.
Chúng ta đã
được rửa trong Chúa Kitô để trở thành con cái của một Cha chung trên
Trời, và chúng ta là con của Giáo hội.
Giáo hội ấy
là Thân thể mầu nhiệm của Chúa Kitô; Chúa Thánh Thần ở trong Giáo
Hội ấy; và Đức Maria là kiểu mẫu và là Mẹ của Giáo hội. Hội FIAT
muốn yêu mến và muốn phục vụ Giáo hội nầy.
Linh đạo của
Hội FIAT vừa dựa trên nền tảng sự sống Ba Ngôi Thiên Chúa, vừa hiệp
thông với Mẹ Maria và vừa gắn liền với Giáo hội.
Nhờ thế mà
Hội FIAT nằm trong nguồn ân sủng Chúa ban qua Công Đồng Vaticanô II.
Công đồng nhắc lại ý nghĩa của bí tích rửa tội trong nước và trong
Chúa Thánh Thần như một lời kêu gọi mọi người nên thánh, và nhấn
mạnh vai trò đặc biệt của những tín hữu giáo dân trong sứ mệnh của
Giáo Hội, đề việc rao truyền Phúc Âm đổi mới các gia đình và toàn
thể cuộc sống xã hội.
Trong Tông
thư về Buổi Bình Minh Của Đệ Tam Thiên Niên, Giáo Hoàng
Gioan-Phaolô II khích lệ kitô hữu hãy ‘làm cho Đức Kitô rạng sáng
trong cuộc sống của mình.” Và trong Tông thư về Chuỗi Mân Côi của
Trinh Nữ Maria ngày 16 tháng 10 năm 2002, ngài đề nghị chúng ta
«cùng với Mẹ Maria chiêm ngắm Chúa Kitô.» Và như thế chúng ta được
nhắc nhở để ý thức vai trò nền tảng của Mẹ Maria trong bước đường
kết hợp với Chúa Kitô và trao truyền Tin Mừng.
Do đó, tất cả
sức năng động của Hội FIAT bắt nguồn từ lời ‘XIN VÂNG’ của Mẹ Maria,
lời xin vâng trong buổi Truyền Tin được Mẹ sống trọn vẹn trong suốt
cuộc đời của Mẹ cho đến chân Thánh Giá; và lời ấy Mẹ chia sẻ với các
thánh Tông Đồ tại nhà Hội ‘Tiệc Ly’ đón chờ Chúa Thánh Thần.
Lời ‘FIAT=
XIN VÂNG’ của Mẹ Maria nhắc ta nhớ đến lời xin vâng của Con Mẹ «Lạy
Cha, xin ý cha được thực hiện», và đồng hành với lời xin vâng của
Giáo hội dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.
Lời ‘FIAT=
XIN VÂNG’ ấy là 5 tảng đá gốc làm nền xây dựng nên Hội FIAT:
-
một đời sống
cầu nguyện tích cực được Thánh Thể dưỡng nuôi
-
một mối hiệp
thông khắng khít với Chúa Giêsu và Mẹ Maria trong tình thương yêu
trìu mến của Chúa Cha
-
một tấm lòng
khiêm tốn sẳn sàng rộng mở đón nhận Chúa Thánh Thần
-
một tình yêu
con thảo đối với Giáo hội
-
và nhiệt tình
rao truyển Phúc Âm. « Caritas Christi urget nos ».
Thực ra, Hội
FIAT không bày vẽ thêm điều gì. Nó tiếp nhận mọi điều nơi Giáo Hội
và muốn cổ súy tất cả những điều ấy trong cuộc sống Giáo Hội.
4.
Là một cuộc dấn thân cho Phúc Âm
Cuốn sách làm
gia sản mà hồng y Suenens để lại, phản ảnh linh đạo FIAT một cách
đầy đủ hơn cả là cuốn
Kitô hữu
trước thềm thời đại mới.
Cuốn sách trình bày một nền thần học về Chúa Ba Ngôi, một bước tiếp
cận với lời « FIAT= XIN VÂNG » của Mẹ Maria, và một lời kêu gọi rao
truyền Phúc Âm. Và sau đó, sách kết thúc với một mẫu kinh dấn
thân cho Phúc Âm.
Chúng ta đọc
thấy trong đó lời kêu gọi trước hết hãy để cho Phúc Âm thấm vào
chính mình và đào tạo bản thân mình, bằng việc cầu nguyện và cuộc
sống phụng vụ và bí tích của Giáo hội, để cho toàn bộ đời mình trở
thành một chứng tá mọi ngày của Tình Yêu Chúa.
Qua lời nói
dạy của các mục tử, Giáo hội khích lệ chúng ta ‘hãy tiến xa hơn’,
noi gương các thánh đi trước chúng ta để nhờ ánh sáng Chúa Thánh
Thần chúng ta can đảm đề nghị công khai đức tin chúng ta cho những
người đang mong chờ, và đang tìm kiếm một ý nghĩa cho đời sống của
họ. Chúng ta loan truyền Chúa Kitô là Đường, là Sự Thật và là Sự
Sống.
Nhưng, cuộc
sống kitô hữu chúng ta có thể trọn vẹn và chân thực hay không, nếu
tình yêu thương chúng ta không ưu tiên hướng đến những người nghèo
khổ nhất, nếu chúng ta không dấn thân liên đới với họ để thực thi
hòa bình và công lý, là những điều kiện cần thiết cho việc phát
triển công bằng và bền vững của nhân loại ? Nhất là khi đức tin
chúng ta giúp chúng ta khám phá ra rằng chúng ta là những người
nghèo ở giữa những người nghèo, như Chúa Giêsu đã tự đồng hóa chính
Ngài với họ (Xem Mt 25, 34-40).
Trong nhãn
quan ấy, Hội FIAT muốn đáp trả lời kêu gọi của Đức Thánh Cha
Gioan-Phaolô II khi ngài nói với các bạn trẻ tụ họp tại St. Jacques
de Compostelle năm 1992 trong Ngày Giới Trẻ Thế Giới (J.M.J.) : « Chúng
ta hãy lên đường với Mẹ Maria, chúng ta hãy dấn thân bước theo Chúa
Kitô, Ngài là đường đem lại sự thật và sự sống. Làm như thế, chúng
ta sẽ là những kẻ loan báo Tin Mừng trong công Cuộc Rao Truyền Phúc
Âm Mới và là những thợ xây cho một Nền Văn Minh Tình Yêu… ... »
B.
Hội FIAT cống hiến một phương sống đời sống siêu nhiên
Trong những
năm tháng vừa qua, Hội FIAT đã nhận nhưng không, và hưởng được một
số những phương tiện cụ thể (đa biệt và bổ sung) phát sinh từ
linh đạo riêng của mình, cũng như do sự trông chờ của nhiều Kitô hữu
và truyền thống sinh động của Giáo Hội.
1-
Chuỗi hạt FIAT
Đây là món
quà mà Hội FIAT cống hiến cho Giáo Hội, qua trung gian của bà
Vêrônica O’Brien: đêm mồng 7 rạng ngày mồng 8 tháng 9 năm
1984, ngày lễ sinh nhật Đức Trinh Nữ Maria, trong lúc cầu nguyện, bà
đã tiếp nhận chuỗi FIAT như một ơn đặc biệt Chúa ban. Tiếp đó, người
ta thêm vào mẫu tượng ảnh tóm lược linh đạo FIAT. Hồng y Suenens làm
ra lời kinh đọc trước khi lần chuỗi FIAT, gọi là lời kinh FIAT. Kinh
cầu xin Chúa Thánh Thần nầy cũng có thể dùng để đọc trước khi lần
hạt Chuỗi Mân Côi truyền thống.
Chuỗi FIAT
giúp chúng ta mỗi ngày sống lại những mầu nhiệm chính của cuộc sống
Chúa Giêsu. Nên chuỗi ấy gồm có ba mầu nhiệm vui, ba mầu nhiệm sáng,
ba mầu nhiệm thương, ba mầu nhiệm mừng. Ở mỗi mầu nhiệm chúng ta đọc
ba kinh Kính Mừng và một lời kinh Sáng Danh, tiếp đó là lời kinh
Amen. Sau khi lần chuỗi, có một vài lời nguyện và một câu hát nhắc
lại lời « FIAT= XIN VÂNG » của Mẹ Maria và lời kinh cảm tạ của Mẹ
trong kinh Magnificat.
Đức hồng y
Danneels đã chuẩn nhận và đã cổ súy chuỗi FIAT bằng những hàng chữ
nầy: « Ước gì tràng chuỗi nhỏ Fiat có thể đi vào trong các gia
đình, để các gia đình trở thành như những buổi tụ họp cầu nguyện của
các Tông đồ, quây quần bên Trinh Nữ Maria, hầu đón nhận Chúa Thánh
Thần hiện xuống. »
Qua kinh
nghiệm, nhiều người đã làm chứng rằng: không những chuỗi FIAT giúp
cho các gia đình cùng nhau cầu nguyện, làm tăng cường mối liên kết,
hiệp nhất với nhau, nhưng nó cũng giúp cho các gia đình sống đức tin
kitô giáo «bằng lời nói và bằng cả việc làm.
2-
Các «nhóm cầu nguyện»
Hội FIAT muốn
cổ võ việc cầu nguyện và sống cuộc sống siêu nhiên trong khuôn khổ
gia đình và trong nhóm. Thật thế, ta không thể là một kitô hữu sống
cô đơn một mình. Nếu chúng ta muốn đức tin chúng ta lớn lên, thì
chúng ta phải chia sẻ đức tin ấy với người khác. Chính Chúa đã dạy
chúng ta: «Ờ đâu có hai hoặc ba người tụ họp với nhau nhân danh
ta, thì ta ở giữa họ.» (Mt 18, 20).
Hội FIAT đề
nghị một hướng đi như thế qua hình thức các nhóm nhỏ. Chúng được gọi
là « các nhóm cầu nguyện », noi theo ‘Nhóm cầu nguyện tại Nhà
Hội Tiệc Ly’ nơi các thánh Tông Đồ qui tụ chung quanh Mẹ Maria chờ
đợi Chúa Thánh Thần đến theo lời Chúa hứa.
Các «nhóm cầu
nguyện» thường được khai sinh từ việc khám phá chuỗi FIAT lần hạt
chung với nhau.
Nơi đây,
người ta chia sẻ hai chiều kích cuộc sống, gọi là ‘ad intra=
nội tâm’ và ‘ad extra= thực thi bằng hành động’, nhằm khích
lệ nhau tăng tiến cuộc sống thiêng liêng, đồng thời dấn thân thức
hiện lời dạy Phúc Âm bằng hành động cụ thể.
Những cuộc
gặp nhau của các «nhóm cầu nguyện» thường là hằng tháng hoặc từng
hai tháng, và được tổ chức trong tinh thần cầu nguyện.
3-
Một lối thực thi cuộc sống siêu nhiên
Nhằm giúp
chúng ta lớn lên làm người kitô hữu, một ơn lãnh nhận từ bí tích rửa
tội, Hội FIAT đề nghị một chương trình sống cá nhân đơn sơ qua một
vài cử chỉ căn bản của cuộc sống siêu nhiên.
Con đường
thực thi cuộc sống siêu nhiên nầy gồm một vài lời khuyên khác nhau
mà Giáo Hội thường nhắc nhở; mỗi người thực thi theo sức của mình
tùy hoàn cảnh cá nhân và do ơn gọi của Chúa.
Mỗi ngày
-
Khi thức dậy
làm dấu Thánh giá, và cùng với Mẹ Maria, người đầy tớ khiêm hạ của
Chúa, chúng ta dâng lên Chúa ngày sống chúng ta.
-
Đọc sách
thiêng liêng rút từ Lời Chúa trong phụng vụ của ngày liên hệ, hoặc
gương một vị thánh như phương thế dễ dàng và hữu hiệu để tự đào tạo
Kitô giáo cho chính mình.
-
Một thời điểm
cầu nguyện trong ngày (như trước và sau bữa ăn, Kinh nhật tụng, kinh
truyền tin ...)
-
Lần chuỗi
hằng ngày (nếu được thì đọc chung trong gia đình, cùng với bạn bè
...)
Định kỳ
-
Dự thánh lễ
chủ nhật, và nếu có thể thì lễ trong tuần.
-
Tĩnh tâm hằng
năm.
-
Cố thu xếp để
tham dự cách nầy hay cách khác một buổi đào tạo Kitô giáo, tùy nhu
cầu mỗi người.
-
Cần đến với
bí tích hòa giải thường đều.
-
Tham gia
những sinh hoạt do Giáo hội địa phương tổ chức nhằm rao truyền Phúc
Âm.
4.
Tĩnh tâm
«noi theo mẫu Nhà Hội Tiệc Ly»
Kitô hữu ở
trong các hội đoàn, nhóm cầu nguyện, chia sẻ, rao truyền Phúc Âm
hoặc ngay người bình thường càng ngày càng thấy cần có được thời
gian tĩnh tâm dài hơn.
Hội FIAT cố
gắng giúp cho nhiều người biết về những sáng kiến như thế trong cuộc
sống của Giáo hội. Và ngay Hội FIAT cũng đề nghị một lối tĩnh tâm
hằng năm gọi là tĩnh tâm « noi theo mẫu Nhà Hội Tiệc Ly ».
Tĩnh tâm «noi
theo mẫu Nhà Hội Tiệc Ly» mời gọi chúng ta cùng với Mẹ Maria đi sâu
và Lời Chúa và mở lòng đón nhận ơn Chúa Thánh Thần. Đây là kinh
nghiệm mà hồng y Suenens gọi là kinh nghiệm Biến Cố Chúa Thánh Thần
Hiện Xuống,
«một ơn huệ
ban cho toàn dân Chúa. Tất cả chúng ta khiêm tốn cầu xin ơn ấy với
một đức tin thành khẩn trong lời cầu nguyện của chúng ta, vì chúng
ta ý thức răéng Chúa Thánh Thần luôn hiện xuống không ngừng trên
chúng ta ».
5.
Phổ biến tài liệu đào tạo Kitô hữu
Hội FIAT phổ
biến những tài liệu về suy tư thần học, mục vụ và thiêng liêng, đặc
biệt là những sách của hồng y Suenens, mà mục đích chính là cổ suý
công cuộc rao truyền Phúc Âm.
Các tài liệu
được phổ biến khắp năm châu. Những tài liệu đặc loại nói đến linh
đạo của Hội FIAT thu gọn trong ba cuốn dưới một bộ sách gọi là
Thánh Thần, hơi thở sống động của Giáo hội.
Hồng y
Suenens cũng viết một số loại sách bỏ túi, những sách kinh và cổ suý
sống đạo, những tài liệu nầy rất có ích trong việc hướng dẫn cuộc
sống siêu nhiên.
-
Hội FIAT tổ chức như
thế nào?
1. Thắt chặt
tình huynh đệ
Như chúng ta
lưu ý ngay từ lúc đầu, Hội FIAT trước tiên không nhằm xây dựng một
cơ cấu tổ chức bên ngoài. Sức sống của nó dựa vào lòng tin của chúng
ta vào Chúa, sự gắn bó của chúng ta với Giáo hội và việc thực thi
cuộc sống siêu nhiên.
Hội FIAT nhằm
nâng đỡ nỗ lực của mỗi người, nối kết tình huynh đệ giữa những người
tham gia và làm cho mọi người trong đó được hứng khởi.
Những mối
liên kết ấy được thắt chặt do Nhóm Huynh Đệ FIAT, Những người cầu
nguyện của Hội FIAT và Thân hữu FIAT.
Nhóm
Huynh Đệ FIAT
Nhóm nầy qui
tụ những anh chị em muốn tham gia tích cực vào sinh hoạt Hội FIAT, ở
cấp địa phận, liên địa phận hoặc quốc tế.
Tuy rằng việc
dấn thân vào Nhóm Huynh Đệ FIAT cần có thời gian, nhưng việc
dấn thân nầy mở rộng cho bất cứ thành viên của một hội đoàn, phong
trào, cộng đoàn hoặc dòng tu nào bất kỳ. Nó cũng không làm vương
vấn, trở ngại gì cho việc dấn thân mục vụ trong một giáo xứ
hoặc trong một địa phận.
Trên bình
diện quốc tế, con số các thành viên của Nhóm Huynh Đệ FIAT
được qui định là 120 người. Nhữnh anh chị nào muốn trở thành thành
viên của Nhóm Huynh Đệ FIAT có thể liên lạc với Trung Tâm
điều hợp của Hội FIAT.
Những người cầu nguyện của Hội FIAT
Nhiều người
hằng ngày cầu nguyện qua chuỗi FIAT, và qua thư từ, điện
thoại hoặc có lúc gặp trực tiếp đã chia sẻ với chúng tôi sức sống
siêu nhiên mà họ cảm nghiệm. Trong số những anh chị em nầy, cũng có
người già lão, yếu đau hoặc tàn tật đang quên nội khổ đau của mình
và cầu nguyện cho những ai đang gặp khốn khổ.
Cuộc sống cầu
nguyện của họ nâng đỡ và hỗ trợ cho Hội FIAT được phổ biến khắp thế
giới. Chuỗi kinh FIAT hàm ngụ lời cầu nguyện cho Giáo hội và cho thế
giới. Trong tập sách nhỏ
Giới thiệu
chuỗi FIAT,
hồng y Suenens nhấn mạnh khía cạnh quan trọng nầy: nới rộng chân
trời của cuộc sống cầu nguyện của chúng ta, chứ đừng quá tập chú lời
cầu nguyện trong khuôn khổ riêng của mình.
Những người
nào muốn có những hỗ trợ về chuỗi, sách ... liên quan và muốn hiệp
thông vào mối tương liên cầu nguyện của Hội FIAT, có thể viết thư về
Trung Tâm điều hợp của Hội FIAT. Những người tham gia cầu nguyện là
nguồn sinh lực không thể thiếu của công cuộc rao truyền Phúc Âm.
Thân
hữu FIAT
Hội FIAT được
nhiều người trong năm châu hỗ trợ và nâng đỡ. Họ giúp chuyển dịch,
phổ biến các tài liệu trong nhiều quốc gia hoặc có khi còn giúp
phương tiện tài chánh. Hội FIAT thiết yếu được tài trợ nhờ tặng dữ
của thân hữu và những số tiền thu được qua việc bán các tài liệu.
Những thân
hữu và những ai hợp tác với Hội FIAT không bị ràng buộc gì với Hội
nầy về mặt tài chánh. Tuy nhiên, hai lần trong mỗi năm - gần lễ
Truyền Tin và lễ sinh nhật Đức Mẹ – Hội FIAT kêu gọi tất cả thân hữu
giúp đỡ theo sức mình, nhằm giúp cho Hội FIAT có đủ phương tiện điều
hành công việc của Hội. Tất cả những thân hữu của Hội FIAT đều nhận
tờ liên lạc định kỳ Newsletter FIAT, nếu họ muốn.
Những người hợp tác bên ngoài
Càng ngày
càng có những gặp gỡ, tiếp xúc giữa Hội FIAT vơói nhiều phong trào,
hội đoàn, dòng tu khác nhau. Những mối liên lạc càng ngày càng đậm
đà hơn và dấy lên nhiều sáng kiến, chẳng hạn những cuộc tổ chức đào
tạo chung. Và Hội FIAT đã gặt hái nhiều thành quả tích cực; giữa các
hội đoàn, các nhóm ..., người ta quí mến nhau hơn, thân thiện hơn và
sinh hoạt của mỗi người, mỗi nhóm được vững mạnh hơn.
2.
Những hình thức phục vụ
Liên lạc định kỳ Newsletter FIAT
Ngoài một tài liệu làm nền, Liên lạc định kỳ Newsletter FIAT
ghi lại những tin tức, chia sẻ mà bạn bè Hội FIAT khắp nơi trên thế
giới gửi về. Ba tháng một lần, Liên lạc định kỳ Newsletter FIAT,
nối kết cụ thể các sinh hoạt, giúp chia sẻ những kinh nghiệm cuộc
sống thiêng liêng và mục vụ của Hội FIAT.
Những tài liệu chuyên đề
Tài liệu chúng ta đang đọc đây là một tài liệu chuyên đề cống hiến
một cái nhìn khái quát về Hội FIAT.
Nhưng muốn hiểu sâu hơn năng lực bên trong của Hội FIAT, cần phải
khai triển rõ hơn linh đạo, những khía cạnh chuyên biệt, sức năng
động và những mẫu gương cuộc sống thiêng liêng của các vị sáng lập.
Những đề tài như thế được trình bày trong nhiều tài liệu chuyên biệt
khác nhau, giúp cho người đọc dễ khám phá những hình thái khác nhau
của Hội FIAT. Đây là danh sách các đề mục:
N.1 Những nền tảng thiêng liêng của Hội FIAT.
N.2 Những vị sáng lập chính.
N.3 Hội FIAT, một lối thực thi cuộc sống siêu nhiên : đào tạo, cầu
nguyện, dấn thân.
N.4 Hội FIAT, một lối thực thi cuộc sống siêu nhiên: các nhóm cầu
nguyện.
N.5 Hội FIAT, một lối thực thi cuộc sống siêu nhiên: sống hiệp nhất
với Chúa.
N.6 Gia đình, niềm hy vọng cho thế giới.
N.7 Phổ biến Hội FIAT trên thế giới.
Những ngày hội của Hội FIAT
Hai ngày hội thường niên trong vùng qui tụ những người Thân hữu Hội
FIAT được tổ chức vào khoảng 25 tháng 3 và 8 tháng 9. Chúng nhằm ba
mục tiêu: - gặp gỡ nhau trong tình huynh đệ những người tham gia
cách nầy hay cách khác cho Hội FIAT; - sống một ngày chia sẻ
về cuộc sống thiêng liêng và về sinh hoạt tông đồ; - giúp cho những
người được mời biết về Hội FIAT.
Gặp gỡ quốc tế những thân hữu của Hội FIAT
Trong tinh thần gặp gỡ để phục vụ Giáo hội và đi sâu hơn vào cuộc
sống thiêng liêng, Ngày gặp gỡ quốc tế được tổ chức 4 năm một
lần. Cuộc gặp gỡ đầu tiên tổ chức tại Banneux (Bỉ) năm 1999. Lần thứ
hai tại Nevers (Pháp) năm 2003.
Trung tâm điều hợp Hội FIAT
Trung tâm điều hợp Hội FIAT
còn gọi là Văn phòng thường trực quốc tế ở trong lãnh thổ tổng địa
phận Malines-Bruxelles, Bỉ, và nằm trong khuôn khổ trách nhiệm mục
vụ của Tổng địa phận nầy.
Về mặt hành chánh, Hội FIAT có qui chế pháp lý của một hiệp hội sinh
hoạt vô vị lợi (a.s.b.l.) và trụ sở đặt tại địa chỉ ghi dưới đây.
Đại Hội của Hội FIAT gồm những thành viên của Nhóm huynh đệ FIAT
hoặc những thân hữu FIAT đến từ nhiều quốc gia khác nhau. Trong số
đó có một hoặc nhiều linh mục cũng như vị đại biểu của tổng giáo
phận Malines-Bruxelles.
Đại Hội họp hai lần mỗi năm: - tam cá nguyệt chót trong năm nhằm
thảo luận và quyết định chương trình và ngân sách cho năm tới, - và
tam cá nguyệt đầu để đánh giá tiến trình sinh hoạt và xét lại sổ
sách tài chánh trong năm vừa qua.
Nếu có nhu cầu, Hội FIAT có thể lập ra những chi nhánh vùng trong
nhiều quốc gia khác nhau với sự đồng ý của Trung tâm điều hợp Hội
FIAT.
ChuỖi FIAT: MỘt lỐi sỐng đỨC tin cùng vỚi MẸ Maria
Chuỗi FIAT hoàn toàn nằm trong khuôn khổ
của lời kêu mời của giáo hoàng Gioan-Phaolô II qua Tông thư Chuỗi
Mân Côi của Trinh Nữ Maria (16/10/2002). Tông thư nầy nhấn mạnh
rằng lần chuỗi giúp chúng ta chiêm ngắm khuôn mặt Chúa Kitô để nên
giống Ngài, khi chúng ta cùng với Mẹ Maria suy gẫm những mầu nhiệm
đời Ngài. Đức giáo hoàng nhắc lại rằng Mẹ Maria không phải Con Đường
– Chúa Kitô là Đường! – nhưng Mẹ chỉ cho chúng ta Con Đường (số 16).
Chuỗi FIAT vừa cổ điển vừa mới mẻ. Chuỗi
giúp chúng ta suy gẫm hằng ngày những mầu nhiệm chính của chuỗi Mân
Côi, và nhấn mạnh đến khía cạnh phúc âm khi cầu kinh. Nó giúp cho
việc cầu nguyện trong gia đình được dễ dàng, và đóng góp vào nỗ lực
canh tân công cuộc rao truyền Phúc Âm. Nó mời gọi chúng ta bước từng
bước trong hành trình của cuộc sống siêu nhiên, dẫn lối cho chúng ta
hiểu rõ hơn – hoặc tìm lại – lý lịch Kitô hữu của chúng ta, và đây
là điều kiện tiên quyết để thực hiện bất cứ công cuộc rao truyền
Phúc Âm nào.
Lúc khởi sự lần chuỗi, chúng ta xin Chúa
Thánh Thần giúp chúng ta cầu nguyện và hành động để trung thành với
phép rửa của chúng ta. Lời cầu nguyện nầy ‘thức tỉnh’ kitô hữu và
kêu mời họ lắng nghe Chúa Thánh Thần để trở thành nhân chứng của
Chúa Kitô trong suốt cuộc sống của mình.
Hồng y Danneels cổ súy chuỗi nầy: «Ước
gì chuỗi nhỏ FIAT có thể đi vào trong các gia đình, để các gia đình
trở thành như những buổi tụ họp cầu nguyện của các Tông Đồ, quây
quần bên Trinh Nữ Maria, hầu đón nhận Chúa Thánh Thần hiện xuống »
(8/12/1984).
Hồng y Suenens trình bày cho chúng ta biết
về nguồn gốc cũng như nội dung thần học, mục vụ và linh đạo của
chuỗi FIAT trong một cuốn sách nhỏ tựa đề Trình bày về chuỗi
FIAT.
Để lần chuỗi FIAT, xin đi tuần tự từng
số
Nhân danh Cha,và Con
(1)
và Thánh Thần. Amen.
Lạy Chúa Thánh Thần
(2) Xin giúp chúng con, hiệp thông với Mẹ Maria, sống lại các mầu
nhiệm Vui ,Sáng, Thương, Mừng của Chúa Giêsu. Amen.
Xin cho chúng con
- được đức tin của Phép Rửa
linh hoạt
- được Thánh Thể dưỡng nuôi,
- được ơn Thánh Thần đổi mới,
Đề chúng con trở thành
- nhân chứng trung kiên của
Chúa Kitô và
- của Tình Yêu từ Thánh tâm
Ngài,
- bằng lời nói và việc làm,
- mọi nơi và mọi lúc. Amen
Chúng ta hãy cầu nguyện cho:
Giáo Hội...., thế giới...., theo ý chúng ta...,
Lạy Cha chúng con…
Mỗi mầu nhiệm gồm: ba Kinh
Kính Mừng và một Kinh Sáng Danh.
Các mầu nhiệm Vui (Hạt
Xanh)
- Đức Mẹ sinh ra (3)
- Thiên thần truyền tin cho Đức
Mẹ (4)
- Chúa Giêsu sinh ra (5)
Các mầu nhiệm Sáng (Hạt
Trắng)
- Chúa Giêsu chịu Phép Rửa (6)
- Chúa Giêsu dự tiệc cưới Cana
(7)
- Chúa Giêsu lập Phép Thánh Thể
(8)
Các mầu nhiệm Thương (Hạt
Đỏ)
- Chúa Giêsu chịu khổ nạn (9)
- Chúa Giêsu vác Thánh giá (10)
- Chúa Giêsu chịu đóng đinh vào
Thánh giá (11)
Các mầu nhiệm Mừng (Hạt
Vàng)
- Chúa Giêsu sống lại (12)
- Chúa Thánh Thần Hiện Xuống
(13)
- Đức Mẹ được đưa lên trời (14)
Những lời cầu kết thúc
(15)
Thánh Giuse, Đấng bảo vệ gia
đình Chúa, Xin bảo vệ chúng con.
Tổng lãnh Thiên thần Micae,
Xin cứu chúng con khỏi quyền lực sự dữ.
Các Thiên thần và các Thánh,
Cầu cho chúng con
Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ dạy con
biết thưa với Chúa “Xin Vâng” trong mỗi giây phút đời con.
Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ dạy con
biết thưa với Chúa “Cám ơn” trong mỗi giây phút đời con.
Địa chỉ Trung Tâm để liên lạc
địa chỉ về chuỗi FIAT và tập sách nhỏ Trình bày về chuỗi FIAT.
Association FIAT
Kard. Sterckxlaan, 29
B 1860 – Oppem-Meise (België)
Fax: (0)2 269 77 51
e-mail:
associationfiat@skynet.be
●
Trở
về mục lục >>

Tìm hiỂu các mỐi
Tương Quan trong ĐẠo KhỔng
dưỚi ánh sáng
cỦa Tương Quan Ba Ngôi
Mặc dù từ lâu đạo Khổng (còn gọi là Nho
giáo) đã không còn được giảng dạy tại Việt Nam, nhưng Khổng giáo vẫn
có những ảnh hưởng sâu đậm trên quan niệm của người Việt Nam về văn
hóa của họ. Trong bài, một số nét đặc trưng của Khổng Giáo sẽ được
đem ra phân tích, so sánh và đối chiếu với mầu nhiệm Ba Ngôi. Bài
thuyết trình này muốn nói lên rằng giáo huấn truyền thống của đạo
Khổng về các mối tương quan gia đình cần được xem xét dưới ánh sáng
của mầu nhiệm Ba Ngôi.
Các mối Tương Quan theo cái nhìn của
Khổng Giáo và người Á Đông
Không phải mọi người Á đông đều được lớn
lên hay được giáo dục trong hệ thống Khổng giáo, nhưng phần lớn họ
đều mang trong mình những giá trị “Á Đông” giống như những giáo huấn
của đạo Khổng. Căn tính này thường được gán cho mọi người châu Á.
Tính chất Khổng giáo này là gì, hay đúng hơn chúng ta có thể bàn về
việc xây dựng căn tính trong một bối cảnh Á đông hay không? Tôi tin
rằng tốt hơn chúng ta nên bàn về sự hài hòa, một yếu
tố quan trọng đối với những người Á châu chịu ảnh hưởng tinh thần
Khổng giáo.
Tiến trình tạo nên sự hài hòa
không giống như tiến trình uốn đúc nên căn tính, nhưng đúng hơn nó
khác biệt hẳn căn tính. Ý tôi muốn nói là căn tính thường nhằm sao
chép lại điều người ta đã có hay đã quen, trong khi sống hòa hợp với
người khác là tạo ra một điều gì khác. Tiến trình tạo ra hòa
hợp là nhằm tạo nên và biến đổi theo một cách thức mới với
sự tôn trọng những căng thẳng do khác biệt và xung khắc gây nên.
Trong khi sự hài hòa thấm nhập vào trong mọi mức độ và
chiều kích của giáo huấn Khổng giáo, nó được đề cập chủ yếu trong
bối cảnh của mối tương quan giữa Trời (Thiên) và người (Nhân).
Mối tương quan hài hòa này dựa vào việc giải quyết
những khác biệt gây nên xung khắc giữa tâm trí (Trí) và thân
xác (Hình), giữa một (Độc) và nhiều (Đa), giữa
những nguyên tắc của Trời (Thiên lý) và cách hành xử của
người (Nhân xử).Cách thức thể hiện của mối tương quan giữa
Thần Linh và con người thúc đẩy tất cả những mối tương quan dựa trên
sự hài hòa khác.
Có năm mối tương quan chính trong học
thuyết Khổng giáo về các mối tương quan: Vua-Dân (Thần-Tôi),
Cha-Con (Phu-Tử), Chồng-Vợ (Phu-Phụ), Anh-Em (Huynh-Đệ),
và mối tương quan giữa người già với người trẻ (Trưởng-Ấu).
Có ba mối tương quan liên hệ tới đời sống gia đình: Cha-Con,
Chồng-Vợ, và Anh-Em hoặc Chị-Em.
Chúng ta có thể hiểu về nền văn hóa chịu
ảnh hưởng Khổng giáo rõ nhất là qua gia đình. Điều này có thể được
diễn tả qua tam tài gồm Cha là đấng ngự trên trời, mẹ là đất
và con cái chính là loài người. Cách sắp theo thứ bậc cha, mẹ và con
cái nói lên trật tự căn bản nhất trong gia đình người Việt. Quan
điểm của người Việt cũng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của hình ảnh
gia đình trong mầu nhiệm Ba Ngôi. Hình ảnh gia đình trong mầu nhiêm
Ba Ngôi đã bắt nguồn từ truyền thống Do Thái và Ki Tô giáo. Gia đình
được xem như là cơ cấu quan trọng nhất của xã hội. Giáo huấn Khổng
giáo đã đặc biệt nhấn mạnh đến hình thức tam cương của gia
đình như là chìa khóa đem lại sự phát triển của con người và sự ổn
định của xã hội. Cuộc sống gia đình quan trọng cho đời sống đến nỗi
ai cũng phải lập gia đình và sinh con, tốt hơn là con trai, để có
một cuộc sống gia đình trọn vẹn. Không chỉ có người sống độc thân
mới được coi là bất toàn, nhưng gia đình không có con cũng được xem
như là thiếu sót. Vì thế, gia đình lý tưởng phải gồm có tam cương
--- cha, mẹ và, con cái.
Mối tương quan giữa chồng và vợ có thể
được xem như nền tảng cho các mối tương quan khác trong gia đình
người Mỹ, nhưng ở Việt Nam nó không những chỉ là thứ yếu mà còn tùy
thuộc vào mối tương quan cha - con. Mối tương quan Phu - Tử
là nền tảng cho các mối tương quan khác của con người. Mối tương
quan này đặt cơ sở trên lòng hiếu thảo. Con cái vâng phục cha mình
là nền tảng cho mọi đức hạnh trong văn hóa của người Việt Nam.
Một trong những tục lệ thể hiện lòng hiếu
thảo trên là nghi lễ Thờ Cúng Tổ Tiên (lễ Gia Tiên), bởi vì theo
truyền thống Khổng giáo, chỉ có người con trai trưởng trong gia đình
mới đứng ra chủ sự lễ Gia Tiên. Phụ nữ cũng có thể tham gia
vào nghi lễ này bằng việc chuẩn bị ẩm thực, trang hoàng bàn thờ, và
trông nom con cái. Điều này phản ảnh rõ ràng hơn tính chất gia
trưởng của gia đình người Việt.
Người ta tin rằng hương hồn tổ tiên vẫn
sống trong thế giới này và chứng kiến mọi suy nghĩ, hành động của
con cháu, nâng đỡ chúng trong mọi hoàn cảnh, ngay cả hiện về báo
mộng cho con cháu biết trước những hiểm họa sắp sửa xảy ra. Mỗi năm
vào ngày giỗ, người con trai trưởng có bổn phận đứng ra tổ chức lễ
giỗ. Mức độ long trọng của buổi lễ giỗ tùy thuộc vào cấp bậc trong
gia đình của người quá cố và khoảng cách thời gian giữa ngày qua đời
và ngày lễ giỗ.
Qua lòng hiếu thảo, tất cả con cái, nam
cũng nhu nữ, cũng hiểu rằng phú quý, giàu sang, hạnh phúc, và đặc
biệt là sự thuận hòa mà họ đang hưởng là nhờ bởi nhân
đức và việc lành của tổ tiên. Những công quả này được xem như một
thứ di sản vững chắc và có giá trị giống như đất đai hay nhà cửa, và
người con trưởng thành, đến lượt mình, cũng mong làm được như thế
cho thế hệ tiếp theo. Ngược lại, sự nghèo khổ, đau khổ và bất hạnh
được xem như hậu quả của những việc gian ác mà tổ tiên đã làm trong
quá khứ.Vì thế người ta có bổn phận phải đền bù để tránh cho thế hệ
tiếp theo phải gánh chịu đau khổ và nghèo nàn. Lòng hiếu thảo, ân
nghiã, công đức, và những đòi hỏi của chúng phải được nhắm tới không
chỉ cha mẹ và tổ tiên mà còn tới cả thân tộc, bạn hữu, cấp trên,
làng nước, thủ lãnh, cộng đồng, và quốc gia.
Những tập tục này cũng xem sự hài
hòa như là kết quả trọng yếu trong việc duy trì các mối
tương quan xã hội và gia đình. Khả năng biến hóa và triển nở cũng
xảy ra nơi các tương quan này. Khổng giáo đặt niềm tin tưởng lạc
quan vào vận mệnh con người bằng cách xây dựng các mối tương quan.
Hy vọng điều này có thể đưa con người hòa hợp với vũ trụ rộng lớn
hơn hầu thiết lập một cái nền vững chắc cho khả năng xảy ra sự biến
hóa và triển nở trong cuộc sống thường ngày.
Linh Mục Peter Phan Đình Cho đề nghị một
cách vắn gọn rằng mầu nhiệm Ba Ngôi có thể rất có ích cho một nền
thần học Việt-Mỹ, khi liên hệ thần học Ba Ngôi với triết lý Tam Tài
của người Việt Nam, một triết lý sử dụng tam tài Thiên,
Địa, Nhân (Trời, Đất và Người). Chúa Cha tương ứng với Trời,
Chúa Con với người, và Chúa Thánh Thần với đất. Ba ngôi liên
hệ với nhau và tùy thuộc vào nhau. Điều này đã được bàn đến trong
chương hai nên đã đủ, chỉ cần vắn tắt nhấn mạnh vai trò mỗi Đấng:
Chúa Cha tác sinh qua công trình tạo dựng; Chúa Con hòa hợp hòa giải
qua công cuộc cứu độ của Ngài, và Chúa Thánh Thần dưỡng nuôi bằng ơn
thánh hóa. Thuyết Tam Tài thực sự bắt nguồn từ cái tinh tuý
của sự hiểu biết thông thường của người Á châu về tất cả mọi hiện
tượng của vũ trụ trong đó tam tài Thiên, Địa, Nhân
là tổng hợp của tất cả mọi sự.
Jung Young Lee – một người Mỹ gốc Đại hàn
– là người đáng tin cậy trong việc hội thảo về thuyết Tam tài
của người Á đông bởi vì ông có sức hiểu biết của một nhà thần học
Kitô giáo cũng như của một học giả về Lão giáo. Ông xử dụng khuôn
mẫu các mối tương quan gia đình và dân tộc của người Á châu để bàn
về mầu nhiệm Ba Ngôi.
Tam Tài: Thiên, Địa, Nhân
là nét đặc biệt chính yếu của lối suy tư triết lý truyền thống của
người Á châu, và nó đã được tháp nhập và phát triển trong cái được
gọi là khái niệm Đông Á về mầu nhiệm Ba Ngôi. Khái niệm Đông Á về
mầu nhiệm Ba Ngôi có thể được hình thành từ triết học Trung Hoa , và
đặc biệt từ Hsi Ming or Western Inscription lấy từ Kinh Dịch. Hsi
Ming luận bàn về mối tương tác (?) giữa các tam trụ. Trụ
đầu tiên được gọi là Ch’ien (nghĩa là nguyên lý sáng tạo hay là
Trời) liên hệ với trụ thứ hai được gọi là K’un ( nghĩa là
nguyên lý tiếp thu hay là đất), đến lượt minh san sinh những tam
trụ khác biểu thị mọi vật khác trong thế giới. Ch’ien and K’un
là những con đường đến với mọi vật, chúng được phản ảnh trong quan
niệm phổ thông về Âm Dương của người Á châu. Khi đối chiếu
Kinh Dịch với quan niệm Âm Dương, Jung young Lee ủng hộ quan điểm
cho rằng quan niệm Âm Dương mới được hình thành của người Á châu
mang tính chất Ba Ngôi một cách tự nhiên bởi nó tháp nhập những yếu
tố bao hàm lẫn nhau và tương quan lẫn nhau rất dễ thấy ở trong cái
nhìn mầu nhiệm Ba Ngôi.
Nếu mọi vật trên thế giới có thể được mô
tả theo biểu tượng Âm Dương, thì mọi sự xảy ra trên thế giới đều
được coi như là một hành vi mang tính chất Ba Ngôi. Ý tưởng này khởi
sự với khái niệm Đông Á về Ba Ngôi: Thiên, Địa, Nhân.
Quan niệm có tính biểu tượng và bao hàm về
Âm Dương rất là quan trọng trong đạo Lão và cung cấp một cách hieu
có tính phổ quát hay bao gồm cả vũ trụ về mầu nhiệm Ba Ngôi. Biểu
tượng Âm Dương của Đông Á có tính chất bao hàm. Đây là một biểu
tượng có kết cục mở ra và cho thấy một mối tương quan bổ sung lẫn
nhau. Âm và Dương liên hệ với nhau vì chúng bao hàm lẫn nhau và ở
trong nhau. Ở trong có nghĩa là hòa quyện với nhau đến độ
không thể tách rời nhau. Hay đúng hơn, không thể nào hình dung Âm mà
không có Dương. Vì thế quan niệm biểu tượng Âm Dương cũng là quan
niệm Ba Ngôi bởi vì chữ “và.” Đó là chữ nối liền hai chữ Âm và Dương
như là hai biểu tượng bổ sung cho nhau và có liên hệ với nhau. Người
ta cũng nhận ra tính chất bao hàm này trong mối tương quan của Chúa
Cha với Chúa Con khi Đức Giêsu nói: Hãy tin rằng tôi ở trong Cha và
Cha ở trong tôi” (Gioan 14:11). Như thế Thiên Chúa được thể hiện qua
Chúa Con và cùng tương giao qua Chúa Thánh Thần, tạo thành một mối
tương quan bao hàm.
Cũng có một thứ luật đảo ngược trong
chuyển động của Âm Dương: khi một vật/người đi lên tới tột đỉnh thì
nó sẽ bắt đầu đi xuống để cho vật/người khác đi lên; cũng như khi
một vật/người đã xuống tới mức thấp nhất, thì phải đi lên để cho
vật/người khác đi xuống. Sự hòa điệu hay quân bình luôn có trong vu
trụ là do Đạo (Đường). Đạo là nguyên lý hay nguồn lực biến chuyển
thứ ba duy trì cho hai cực Âm và Dương ở trong trạng thái hài
hòa.
Trong quan niệm Âm Dương, mọi sự đều phải
chịu sự tác động của một lực chuyển dịch. Chuyển dịch là yếu tố then
chốt thứ ba của tương quan Âm Dương. Ví mọi sự đều tương giao với
nhau, chuyển dịch nơi vật này sẽ kéo theo sự chuyển dịch nơi những
vật khác. Âm và Dương là những biểu tượng của một tiến trình chuyển
dịch. Mọi tương quan Âm Dương dựa trên chuyển dịch nhiều hơn là hữu
thể. Chuyển dịch có tính chất nền tảng (căn bản) hơn là hữu thể.
Chuyển dịch là một tiến trình tạo sinh. Cũng giống như một hữu thể
sống động không thể hiện hữu nếu không có tạo sinh xảy ra trước,
chuyển dịch cũng mang đến một tiến trình có tính cách tiến hóa và đó
là phần bên trong của chuyển dịch. Khi Âm và Dương ở trong tiến
trình chuyển dịch, chúng sinh sản ra nhau để hoàn tất tiến trình
chuyển dịch, và một khi hoàn tất, một tiến trình mới lại bắt đầu.
Gia đình minh họa một cách rõ ràng nhất tiến trình này. Trong gia
đình người Việt, người chồng và người vợ là nền tảng của gia đình,
nhưng họ cần có con cái để hoàn thành gia đình. Một gia đình không
con cái là một gia đình bất toàn. Cũng giống như việc sinh sản con
cái hoàn tất mối tương quan giữa chồng và vợ, thì tiến trình chuyển
dịch cũng cần đến việc sinh sản.
Cơ may tháp nhập một viễn tượng thần học
vào trong hiện trạng của cộng đồng Công Giáo Việt nam tại Hoa Kỳ qua
học thuyết về mầu nhiệm Ba Ngôi rất hữu ích và cần thiết để hiểu
được cái căn tính được “thỏa thuận” của những người công giáo
Mỹ gốc Việt. Nó cũng khá xác đáng đặc biệt dưới ánh sáng mà quá
trình phát triển của học thuyết Ba Ngôi đã được “thỏa thuận” trong
suốt lịch sử Giáo hội.
Khoảng cách thể hiện nơi sự sắp xếp theo
thứ tự phẩm trật, địa vị và chức vụ --- đó là một sự phân định khác
biệt (bị ảnh hưởng bởi năm loại quan hệ theo đạo Khổng) bất bình
đẳng. Gia đình và cộng đồng người Việt bị phân biệt về mọi phương
diện của cuộc sống, những khác biệt và bất bình đẳng không hàm ý có
một số cấp độ kém giá trị. Người trẻ khác với người lớn tuổi, nhưng
người trẻ không bị hạ giá. Cũng như không phải người già là cao giá
hơn người trẻ, cho dù họ được kính trọng hơn. Cả hai nhóm đều là
thành phần của cộng đồng; chính toàn thể cộng đồng là cái đưọc đánh
giá. Quan trọng hơn, thành phần của mọi lứa tuổi được đánh giá không
phải theo tuổi tác mà theo cách ứng xử của họ. Lối hành xử của
mọi người phải phù hợp với địa vị của mình trong xã hội. Hành động
một cách lập dị sẽ bị cộng đồng lên án. Đối với người Việt chịu ảnh
hưởng bởi tinh thần Khổng giáo, người ta nên cư xử tương xứng với vị
trí của mình, dù già hay trẻ, giàu hay nghèo, gia giáo hay thất học.
Mọi loại người đều có phép cư xử riêng. Mỗi người đều được người
khác nhận biết qua cách hành động của họ; đó là một loại luật bất
thành văn trong xã hội Việt nam. Nếu cư xử một cách phù hợp, thì sẽ
không bị người khác dòm ngó và vì thế sẽ giữ được sự hài hòa.
Đối với người Việt, giữ đúng vai trò của mình trong cách xử thế
trong chỗ trang trọng cũng như nơi thân mật là một điều rất quan
trọng.
Ngoài việc xử dụng những mối quan hệ thân
tộc cho những người Công Giáo Mỹ gốc Việt là những người nằm trong
một hệ thống gia đình, còn có đòi buộc trung thành với gia đình ---
đó là niềm kỳ vọng đã làm nên gia đình truyền thống. Truyền thống
gia đình được hình thành bởi ba giá trị và tập tục cơ bản đã đâm rễ
sâu nơi bản chất người Việt: lòng hiếu thảo (hiếu), món nợ ân
tình hay lòng biết ơn (ơn), đức hạnh (đức). Lòng hiếu
thảo là giá trị được nhấn mạnh rất nhiều, bao gồm bổn phận và nghĩa
vụ của con cái đối với cha mẹ. Nó ràng buộc con cái, trai cũng như
gái, vào trong một mối tương quan không thể phá vỡ của ơn nghĩa mà
con cái không bao giờ có thể trả hết. Qua những chuyện kể dân gian,
bài hát, châm ngôn, truyện thần thoại và chuyện gia đình, ngay từ
khi mới sinh ra, người Việt đã được dạy dỗ về lòng hy sinh mà cha mẹ
đã gánh chịu để dạy dỗ con cái nên người. Con cái ngày nay là thành
quả của những hy sinh mà cha mẹ và tổ tiên đã vất vả hy sinh từ
nhiều thế hệ trưóc. Truyền thống này đang được tiếp tục nơi phần lớn
các gia đình người Mỹ gốc Việt. Dưới nhiều hình thức, con cái cảm
thấy mắc nợ đối với những hy sinh vất vả mà cha mẹ đã dành cho mình.
Tuy nhiên, đã có một sự thay đổi trong
chuyển động của gia đình từ khi người ta sống đời tị nạn. Rõ ràng là
gia đình đã bị phân tán trong biến cố di tản vượt biên, bước đầu
định cư, và những nỗ lực tiếp theo để thích ứng với hoàn cảnh mới
tại nước Mỹ. Những tục lệ và giá trị trước đây diễn tả gia đình Việt
nam --- thờ cúng tổ tiên, hiếu thảo, vâng phục, trung thành, ưu tiên
coi trọng nhà tổ tiên, và đại gia đình với mối tương quan hệ hàng
thẳng nội tộc (patrilineal) và quan hệ vòng ngoài (hàng ngang) ngoại
tộc (patrilocal) --- tất cả đang gặp khó khăn. Mối dây dùng để liên
kết mỗi thành viên của toàn bộ gia đình lại với nhau đã yếu đi, với
sự ưu tiên dành cho những thành viên có mối quan hệ trực tiếp (chồng
và vợ, cha mẹ và con cái và ông bà), trong khi tổ tiên lùi lại xa
hơn về quá khứ trong ký ức gia đình. Giữa vợ chồng đã có những sự
căng thẳng (khi người chồng mất việc thì vị trí là chủ gia đình cũng
bị lung lay). Dù cho uy quyền của cha me đang còn mạnh, nhưng đã có
sự căng thẳng giữa các thế hệ (vì con cái thích nghi nhanh hơn cha
mẹ của chúng).
Vai trò làm cha làm mẹ của ngưòi Mỹ gốc
Việt đã chuyển từ chỗ xa cách con cái tới chỗ dấn thân đối thoại với
con cái nhiều hơn. Khả năng xử dụng tiếng Anh của con cái tốt
hơn, khiến chúng tiếp cận mau hơn với nền văn hóa và giúp chúng tìm
được bảo đảm vật chất mà không cần sự giúp đỡ của cha mẹ. Do đó
chúng ở trong vị thế có thể tự tìm cho mình người phối ngẫu hơn là
chờ cha mẹ tìm cho mình. Có vẻ như con cái đã bớt thờ cúng tổ tiên
vì phần mộ của họ ở Việt nam. Bây giờ cha mẹ tự hỏi đâu là vai trò
của mình trong chiều hướng biến chuyển của gia đình. Tất cả các
thành viên trong gia đình ngày nay đảm đuơng nhiều vai trò khác với
những vai trò đã được định đạt theo truyền thống. Mọi quan tâm chăm
sóc cha mẹ già cũng như khái niệm liên quan đến danh dự gia đình vẫn
đang còn là trọng tâm của hệ thống giá trị của người Việt, nhưng
cách hiểu ngày xưa về những giá trị đó đã bị bóp méo, những kỳ vọng
không còn mãnh liệt như trước, một khi gia đình thích ứng với những
đòi hỏi của nền văn hóa mới. Những vấn đề này đang tiếp tục được tự
giải quyết một khi người Mỹ gốc Việt thương lượng vị trí của cá nhân
với gia đình và với cộng đồng rộng lớn hơn.
Đối với người Công giáo Mỹ gốc Việt, điều
quan trọng phải nhớ trong lối trình bày học thuyết Ba Ngôi này là họ
đã có những lần chịu đựng đau khổ dưới những chế độ chuyên chế và
thối nát ở quê nhà và bị đô hộ dưới ách thống trị ngoại bang.
Họ cũng chưa sẵn sàng để làm quen với tiến trình dân chủ tại nước Mỹ
và vì thế họ mang trong lòng một nỗi ngờ vực đối với loại chính
quyền này. Tình trạng bất bình thường này giải thích phần nào cho sự
kiện mâu thuẫn là trong khi họ tranh đấu cho những quyền lợi tự do
mà hiến pháp nước Mỹ bảo đảm, thì ngược lại, bằng mọi cách họ lại
đàn áp mọi ý kiến, lời nói hay hành động có lợi cho chính thể hiện
thời Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt nam. Nhiều người đã chống đối
việc bình thường hóa bang giao giữa Hoa Kỳ và Việt nam.
Những nghĩa vụ và lòng vâng phục của con
cái là những nghĩa vụ phải có đối với cha mẹ và tổ tiên. Trong mối
tương quan này, vị thế của chúng khác với vị thế của cha mẹ nhưng
điều này không làm giảm đi phẩm giá làm người của chúng. Hơn nữa,
bằng bản năng của mình, con cái phải nhận biết những nghĩa vụ của
bổn phận làm con, bởi vì những nghĩa vụ này không được giảng dạy một
cách trực tiếp. Tương tự như thế, lòng vâng phục mà Chúa Kitô đã thể
hiện trong tương quan Ba ngôi tạo ra một nét quen thuộc cho người
Công giáo Mỹ gốc Việt đặc biệt là khi mối tương quan hỗ tương không
có nghĩa là giảm thiểu trách nhiệm của mọi người trong tương quan Ba
Ngôi. Mối tương quan hỗ tương rất cần thiết để tạo ra tương quan Ba
Ngôi nay lại nhấn mạnh như cầu liên đới với nhau để làm triển nở một
tương quan hài hòa mới. Hơn nữa, bầu khí dân chủ của
Giáo hội Hoa Kỳ đã khích lệ sự tham gia của giáo dân. Nhưng giáo dân
được giới hạn trong những vai trò mà họ đã thể hiện trọn vẹn trong
Giáo hội.
Khi sự hòa hợp bao hàm ý nghĩa mạnh mẽ về
việc giữ cho được bản chất của con người và chuyển dịch, thì việc
luận bàn về đau khổ có thể hiểu đúng hơn dưới khía cạnh quan trọng
của chuyển dịch. Đau khổ vừa là một sự chịu đựng vừa là một phương
tiện để biến đổi trong Ba Ngôi. Bởi vì chuyển dịch là yếu tố thứ ba
của Âm và Dương, nên mọi đau khổ đều bao hàm chuyển dịch vì nguồn
gốc của đau khổ là chuyển dịch. Mỗi khi chuyển dịch xảy ra, con
người sẽ phải chịu một lối đau khổ nào đó. Nỗi thống khổ của tình
yêu Thiên Chúa trong Ba Ngôi có tính cách biến đổi. Nỗi đau khổ của
lòng hiếu thảo nhắc người ta nhớ sự chuyển dịch không ngừng trong
cuộc sống con người.
Sự biến đổi của đau khổ trong mầu nhiệm
Thiên Chúa Ba Ngôi của Kitô giáo là một lãnh vực trong đó đau khổ
bắt nguồn từ chuyển dịch có thể được rập khuôn lại. Chính nỗi đau
khổ trong tình yêu cứu độ mà người Công giáo Mỹ gốc Việt có khuynh
hướng mặc cho kinh nghiệm tị nạn của họ một ý nghĩa. Kinh nghiệm đau
thương của người tị nạn quá bi thảm đến độ nhiều người không thể nào
tham gia cùng với những người khác trong đất nước họ mới định cư.
Cũng chính những kinh nghiệm đau thương này của nhiều người tị nạn
Việt nam tại Hoa Kỳ đã hạn chế khả năng hội nhập hay thích nghi của
họ. Sự chuyển đổi liên tục và mãnh liệt mà nhiều người đã phải gánh
chịu trong cuộc đời của họ có thể được phản ảnh qua một Thiên Chúa
toàn năng và siêu nghiệm, Thiên Chúa của tình yêu. Bởi đó, đau khổ
bắt nguồn từ chuyển dịch cũng có thể là đau khổ trong tình yêu cứu
độ của Thiên Chúa●
Trở về mục lục >>

MỪNG KÍNH
LỄ Thánh Tâm
Maranatha
sưu tầm
Tháng sáu hàng năm được Giáo Hội dành kính
để mừng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, là Lễ mà các tín hữu Công giáo
thường đặc biệt yêu mến và cổ vũ. Lòng sùng kính này mặc dù
được chính thức thực hành và có cơ sở thần học bắt đầu từ thế kỷ
18, nhưng thực ra đã bắt nguồn từ thời Trung Cổ. Lễ kính Thánh
Tâm dường như bắt nguồn từ việc tôn kính “Nương Long Chúa.” Hai bản
chuyên luận của Thánh Bonaventure ‘Vitis mystica’ (trước đây cho là
của thánh Bernard) và ‘De ligno vitae’ bàn về việc tôn kính này.
Các trích đoạn của bản chuyên luận được đưa vào Kinh Nguyện của
ngày lễ, và việc tôn kính dường như được phong phú hóa thêm nhờ
những thị kiến của thánh Mechtild của Hackeborn (từ trần năm 1299)
và thánh Gertrude (từ trần khoảng năm 1302), cả hai đều thuộc
tu viện Helfta. Nhưng việc sùng kính chỉ giới hạn giữa một số nhỏ
các vị thánh và nhà huyền bí, ví dụ như Julian của Norwich và thánh
Frances của Roma. Vào thế kỷ 16 trở đi, một hướng đi mới cho việc
tôn kính này xuất hiện, mở rộng từ thị kiến của các nhà huyền bí
thành tập quán tu tập của các nhà khổ tu. Sau đó, các tu sĩ
dòng Tên tại Pháp và thánh Francis de Sales với dòng Đức Mẹ Đi
Viếng nhiệt thành cổ võ cho việc tôn kính này,. Hai dòng này
đã hợp tác để đem Thánh Tâm Chúa chính thức đi vào mạch sống
Giáo Hội. Tuy nhiên, thánh Gioan Eudes mới là người đầu tiên
đưa ra những suy tư thần học và nền tảng phụng vụ cho việc
tôn kính và mừng lễ. Nhưng những nỗ lực của Ngài không
được đáp ứng nhiều mãi cho đến khi những thị kiến (1673 -
1675) của nữ tu dòng Đức Mẹ Đi Viếng tên Margaret Maria
Alacoque mới định hình việc tôn kính và có thể thức rõ
ràng. Tuy vậy, trong Giáo Hội Công Giáo, việc tôn kính chính
thức chỉ được cho phép vào năm 1765, khi Đức Giáo Hoàng
Clement XIII chấp thuận có thánh lễ và kinh nguyện cho ngày
lễ này. Lễ được tôn kính vào thứ Sáu sau ngày lễ Mình
Thánh Chúa Kitô. Vào nằm 1856, Đức Pi-ô IX mở rộng lễ mừng
đến Giáo Hội hoàn vũ; năm 1889, Đức Leo XIII nâng lễ lên Lễ
Trọng bậc Nhất, và 10 năm sau đó, Ngài trân trọng cung hiến
nhân loại cho Thánh Tâm Chúa. Thánh Lễ và kinh nguyện của
Lễ này sau đó được Giáo Hoàng Pi-ô Xi nhuận sắc vào năm
1928 khi lễ có thêm tuần bát nhật đặc biệt. Tuần bát nhật
bị bỏ vào năm 1960. Năm 1969, lịch phụng vụ Rô-ma nâng lễ
này lên bậc trọng.
Đối với tín hữu Việt nam, chúng ta bày
tỏ lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa đi kèm với việc chầu Thánh
Thể, tuần cửu nhật…và hát những bài ca, câu kinh quen thuộc
như: Lạy Thánh Tâm Chúa Giê-su là Vua cai trị mọi loài,
xin Thánh Tâm Chúa làm Vua cai trị lòng con suốt đời.
Và: Lạy Thánh Tâm Chúa Giê-su hiền lành và khiêm nhường
trong lòng, xin uốn lòng chúng con nên giống trái tim Chúa.
Những bài hát và câu kinh này đã ăn sâu vào tâm trí và môi
miệng của những người tín hữu lâu năm khi đi nhà thờ đọc
kinh, nên mỗi lần lập tại chốn xa, làm cho người đọc mang
máng một tâm hồn hoài cảm, ý thức thêm bài học Chúa dạy
thâm thúy và mang nặng tâm tình của người môn đệ đích thực.
Hai chữ “trong lòng” có làm cho một số bạn trẻ hay đùa nói
với nhau, Thiên Chúa chỉ dạy khiêm nhường “trong lòng” nên
chúng ta có thể “kiêu ngạo bên ngoài”, miễn là trong lòng
khiêm nhường là được. Nói đùa chơi như thế, nhưng các bạn
trẻ đều ý thức một điều rất quan trọng trong cuộc sống và
lời giảng dạy của Chúa Giê-su: Ngài không dạy nhiều, nhưng
đi vào thực chất của vấn đề. “Hãy
yêu thương nhau, như Thầy yêu thương anh em.”
và
“Hãy học cùng Thầy, vì Thầy hiền lành và khiêm nhường.”
(Ga 13, 34-35 và Mt 11, 29). Việc tôn sùng Thánh Tâm Chúa
Giê-su nhắc nhở đến tình yêu thương vô biên của Chúa cho nhân
loại. Chúa Giê-su chính là món quà vô giá mà Thiên Chúa Cha
trao ban cho con người, và Chúa Giê-su vừa là món quà, vừa
là sứ điệp, và cũng là Đấng Cứu Độ cho con người. Không
thể làm gì nếu không có ơn Chúa, và không thể làm gì tốt
đẹp nếu không lấy Chúa làm tâm điểm và mục đích cho cuộc
đời chúng ta. Người tín hữu muốn xác tín cuộc sống đạo
đức của mình phải lấy việc kết hiệp mật thiết với Chúa
qua đời sống cầu
nguyện và trung thực đối diện
với Thiên Chúa●
Trở về mục lục >>

Ý CẦU
NGUYỆN CỦA ĐỨC THÁNH CHA
THÁNG 6 NĂM 2007
Ý Chung:
Cầu xin Chúa che chở thuỷ
thủ và mọi người hoạt động về hải hành biển cả.
Ý Truyền Giáo:
Cầu cho Giáo Hội tại Bắc Phi, qua sự hiện diện và
hành động, làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa đến
từng cá nhân và mọi chủng tộc.

KỲ DIỆU
Đỗ Trân Duy
“Các người Do thái đòi hỏi dấu
lạ…” (1Cor 1:22).
Cô y tá mang em bé mới sinh đến
cho bà mẹ. Bà mở mắt ra nhìn con. Ngay tức thì, hằng chuỗi những
biến cố xảy ra. Ánh đèn vàng phản chiếu từ thân thể tinh tuyền của
em bé thấm nhập vào con mắt của bà mẹ. Từ em bé có 10,000 tỷ hạt
lượng tử ánh sáng (photons) phóng qua không gian với vận tốc 300,000
cây số trong 1 giây đổ xô vào con ngươi của mắt bà mẹ. Trước hết
chúng đi ngang qua một lăng kính hình quả trám, trong suốt, gọi là
nhãn cầu. Rồi chúng tới một cái vách trong cùng của con mắt gọi là
võng mạc.
Tại võng mạc có khoảng 30 triệu
phân tử chất đạm đang nằm im ngủ. Khi ánh sáng lùa tới, những chất
đạm này choàng thức dậy. Chúng tách rời nhau ra để tung lên hơn 100
triệu tế bào hình que và hình nón. Chúng là những tế bào cảm ứng với
màu sắc. Chúng vươn mình nhảy múa tưng bừng lên cao xuống thấp trong
một nhịp điệu thần tiên để sao chép lại hình ảnh của em bé. Khuôn
mặt và màu sắc của em bé không giản dị. Nó có chỗ lồi lõm và với
những màu sắc khác nhau. Chẳng hạn đôi mắt đen lay láy, cái mũi nhỏ
nổi bật trong bóng tối, và cái má bầu bĩnh đo đỏ. Những tế bào hình
que chỉ có một loại sắc tố. Chúng cảm ứng với những ánh sáng mờ tối
và màu sắc lạt. Những tế bào hình nón chia làm 3 nhóm với 3 khả năng
khác nhau. Một nhóm cảm ứng vời màu xanh đậm, một nhóm cảm ứng với
màu gồm từ vàng tới xanh lá cây, và một nhóm cảm ứng với màu gồm từ
cam qua đỏ. Mỗi sắc tố là một tập hợp của 20 nguyên tử carbon, 28
nguyên tử hydrogen, và 1 nguyên tử oxygen. Các nhóm sắc tố phối hợp
với nhau bằng những bước luân vũ kỳ diệu để phản ảnh đúng màu sắc và
hình dáng của em bé. Đến đây hình ảnh em bé đã hiện rõ trên võng
mạc. Thời gian tính từ ánh mắt khởi đầu đến lúc này chỉ có 1/1000
giây.
Tuy nhiên bà mẹ vẫn chưa “nhìn”
thấy đứa con của bà, bởi vì hình ảnh này chưa kịp chuyển lên não bộ.
Những ánh sáng léo lên trên võng mạc châm lửa vào đầu các nơron thần
kinh. Các phân tử bao quanh sợi dây nơron bị kích thích, lập tức
chúng đổi bản thể. Chúng tự phân hóa các ion muối để tạo ra một
luồng điện tử truyền từ nơron này qua nơron khác. Trong khi di
chuyển như vậy các nơron mang theo những dữ kiện của mắt trái và mắt
phải tới não bộ. Trước khi đến não bộ các nơron thị giác của 2 mắt
giao thoa nhau thành một điểm X. Tới đây chúng ta bị lạc vào mê lộ.
Bởi vì có hằng ngàn nơron chằng chịt gắn nối với nhau để chuyển tin
đi tới và trở về với một vận tốc nhanh lạnh người. Kinh khủng hơn
nữa, tại não bộ con số những sợi nơron lên tới hằng tỷ cái với những
hệ thống và chức vụ khác nhau. Sau khoảng 2/1000 giây, hình ảnh em
bé được óc của bà mẹ nhận được. Bây giờ bà đã nhìn thấy đứa con của
mình trong hình ảnh nổi 3 chiều, đúng kích thước, và đúng màu sắc.
Mỗi lần em bé ngó ngoắy các tế bào sắc tố lại nhảy múa để phản ảnh
cái hình ảnh mới và diễn trình như trên lại tái diễn.
Em bé quơ tay cất tiếng khóc “oa
oa.” Âm thanh này tạo ra những làn sóng rung chuyển bầu không khí.
Với khoảng cách 2 thước, âm thanh của tiếng khóc sẽ tới tai bà mẹ
sau 1/150 giây. Trong lỗ tai của bà có một tấm màng che kín lỗ tai
gọi là màng nhĩ. Tấm màng này rất thanh tao, mỏng chừng 1 millimét,
và có dạng như cái mặt trống. Đàng sau màng nhĩ là một cái ống máng
hình soắn ốc rất cầu kỳ gọi là ốc tai. Trong ốc tai có chứa một dung
dịch. Khi có âm thanh dội vào màng nhĩ, màng rung lên như mặt trống
bị đánh. Màng nhĩ sao chép nguyên vẹn hằng chục âm thanh khác nhau,
kèm theo những hướng phát của chúng, cùng một lúc mà không bao giờ
lẫn lộn. Trong phòng bây giờ có tiếng khóc của em bé, tiếng cười của
cô y tá, tiếng nói của thân nhân… tất cả tạo nên một bản hòa tấu với
những giai điệu rất phức tạp. Tất cả mọi âm thanh đều được màng nhĩ
ghi nhận không sót một chút nào. Khi màng nhĩ rung động, nó làm rung
chuyển dung dịch bên trong ốc tai. Dung dịch này sao chép nguyên vẹn
và chuyển những rung động ấy lên óc. Óc hoán đổi rung động thành âm
thanh nổi, nghĩa là âm thanh có hướng phát ra, có tiếng vang, và với
những cường độ to nhỏ khác nhau.
Thế rồi có hai điều huyền bí xảy
ra. Bà mẹ ôm lấy con và nói: “Chúa ôi! Con tôi đẹp quá!” Không biết
điều gì đã làm cho khối óc biết cảm nghiệm cái đẹp. Cảm nghiệm
chân-thiện-mỹ là một chứng nghiệm tinh thần, thuộc chiều sâu, chiều
cao, và rất riêng tư. Cho đến nay, với trình độ kỹ thuật cao, toàn
thể các khoa học gia trên thế giới, vẫn chưa có ai hiểu được tại sao
khối óc lại biết điều này. Ôm con trong lòng, bà mẹ sung sướng và
tâm hồn bà rạo rực tình mẫu tử. Tức thì vùng năng lượng bao bọc thân
thể bà nóng lên, các vật thể DNA rung lên cực kỳ nhiều đến 78 tỷ chu
kỳ (gigahertz) trong 1 giây. Chúng tạo ra luồng năng lượng sống chạy
khắp châu thân bà khiến một số tế bào “phấn khởi” được khai sinh.
Những tế bào này là vật chất, nhưng điều lạ là chúng hoàn toàn do
tinh thần phấn chấn của bà mẹ sáng tạo ra. Mặc dù không hiểu được,
nhưng người ta không thể phủ nhận hay hoài nghi về quyền lực của
tinh thần. Những tế bào “phấn khởi” đã chứng minh rằng đời sống tinh
thần mới là đời sống thật. Quả vậy, năng lượng hân hoan của bà mẹ
làm êm dịu cả căn phòng.
Điều còn lại là nhân bản vị của
hai mẹ con. Ngay khi tiếng khóc của em bé và tiếng khen của bà mẹ
bật ra khỏi miệng, “cái tôi” của họ bỗng hiện diện. Cái tôi, tức cá
nhân, là một vật thể trong vũ trụ. Nó vừa là một khối vật chất nên
bị chi phối theo luật của không gian và thời gian. Nhưng cùng lúc
cái tôi lại là một bản thể tinh thần có ý thức. Khi cái tôi hiện
hữu, nó không bao giờ đứng một mình là một vật thể đơn thuần. Nó
luôn luôn gắn liền với một nhận thức về một kinh nghiệm nào đó.
Người ta chỉ có thể nói: tôi vui, tôi buồn, tôi đói, tôi khóc, tôi
cười… Khi không có sự cảm nhận đi kèm, cái tôi không hiện diện. Như
vậy cái tôi luôn luôn gắn liền với cá thể độc đáo riêng tư của chính
mình. Khả năng tự thức này chỉ có ở con người. Bản chất này chỉ có
thể có khi cái tôi có ý chí tự do. Nếu ta không được quyền có cảm
nhận riêng tư, bấy giờ cái tôi thuần túy là một vật thể. Nó sẽ chỉ
là một xác chết hay một cơ phận phi nhân của một guồng máy vận
chuyển theo luật nhân quả.
Con người là thể vật chất siêu
nhiên kỳ diệu. Là vật chất nhưng nó có Thiên Chúa là nền tảng của
nó. Là siêu việt vì nó có khả năng vượt khỏi vật chất để giãi bày
vinh quang Thiên Chúa. Con người là một tuyệt tác phẩm và sự sống
của con người là một tặng phẩm kỳ diệu của Thiên Chúa. Mỗi khoảnh
khắc đều là dịp cho chúng ta mở mắt nhìn ra ơn quan phòng của Thiên
Chúa, không phải chỉ cho sự rỗi của linh hồn, nhưng còn trong từng
giây phút của cuộc sống.
“Tôi sẽ đi trong hiện diện của Thiên Chúa nơi miền đất nhân sinh.”
(TV 116)●
Trở
về mục lục >>

ĐÓNG GÓP CHO GIÁO HỘI TẠI VIỆT NAM - VẤN ĐỀ
NGHỊCH LÝ
Vũ Thanh
Trong những năm gần đây, tín hữu Công giáo
Việt Nam trong nước cũng như tại hải ngoại biết được nhiều tin tức
về những sinh hoạt tôn giáo, xã hội tại quê nhà cũng như quốc tế và
Giáo Hội hoàn vũ, phần lớn nhờ hệ thống internet. Phương tiện truyền
thông mới mẻ này rất tiện lợi, vừa nhanh chóng, vừa không tốn kém
chi nhiều, mà lại rất hữu hiệu. Thế nhưng, bên cạnh những ích lợi
xem chừng không thể phủ nhận, internet lại gây nhiều phiền não không
ít cho giới truyền thông chân chính cũng như cho những người đang
mong chờ tin vì có những câu chuyện “có ít xít ra nhiều, chuyện
không thành có và nguợc lại, chuyện có thành không,” cũng như
nhiều vấn đề khác do internet nảy sinh.
Trước một số biến chuyển về chính trị
và tôn giáo tại Việt Nam, internet đã được giới truyền thông
tận dụng khai thác, và qua một số bài viết, nhiều tác giả
đã nêu lên câu hỏi nhức nhối: “Các Giám Mục Việt Nam có hèn
nhát hay thoả hiệp?” Sự im lặng của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam
trước các vấn đề liên quan đến tự do tôn giáo, tín ngưỡng làm
nhiều người e ngại và đặt vấn đề với các bậc lãnh đạo
tinh thần. Người ta đọc được trên internet những bài viết, thư
ngỏ đặt thẳng vấn đề cụ thể với riêng một số Giám Mục, thậm
chí có câu hỏi nặng tính phê phán gay gắt. Xa lộ thông tin
bỗng trở nên nặng nề do cách đặt vấn đề, sử dụng ngôn từ và
những câu hỏi rất khó trả lời. Trước kia, những loại câu hỏi
như thế không hề được công khai đặt ra cho các mục tử, là những bậc
làm thầy, làm cha và giữ vai trò hướng dẫn, lãnh đạo trong Giáo hội
Công Giáo tại Việt Nam. Người bị hỏi, hoặc nghe đặt câu hỏi, nếu
không giữ bình tâm có thể sẽ dễ dàng lên án, quẳng bài báo vào
thùng rác, hoặc ấn nút “delete” email đó nếu đọc báo qua hệ thống
computer. Tuy nhiên, những người viết thấy không thể đặt câu hỏi
cách khác, vì đó chính là nội dung vần đề và câu hỏi lớn không có
lời giải đáp, lên án cung cách ứng xử của Hội Đồng Giám Mục Việt
Nam (HĐGMBN) trước những biến chuyển tại quê nhà: chuyện pho tượng
Đức Mẹ Sầu Bi tại Ninh Bình bị đập phá; phiên toà bất công kết án
linh mục Nguyễn Văn Lý của nhà cầm quyền Việt Nam. Bên cạnh chuyện
trong nước là những chuyến đi “mục vụ” và “gây quỹ” của một số
Giám Mục Việt nam tại Hoa Kỳ. Xin được chia sẻ phần nào những suy tư
trước hai mặt “chống” và “thuận” của các vấn đề nêu trên.
Cho đến nay, phần lớn độc giả sử dụng
internet đều biết chuyện cha Lý, một linh mục thuộc giáo phận Huế,
đã bị chính quyền cộng sản bắt giam, đưa ra toà xử và kết án 8 năm
tù. Trước cha Lý đã có nhiều linh mục Công Giáo bị đưa ra toà, có
người thậm chí đã bị xử tử hình (cha Trần Học Hiệu…), một số bị giam
giữ và chết trong tù (cha Vũ Đức Khâm…), một số bị quản chế (cha
Chân Tín…) và một số bị khống chế, sau đó được thả, thậm chí được
cho xuất ngoại (cha Nguyễn Hữu Lễ…) Điều đáng nói ở đây là khi linh
mục Lý ra toà, người ta đã chụp được bức hình cha bị một viên công
an mặc thường phục bịt miệng không cho ngài phát biểu. Người xem
không biết cha nói câu gì mà tên công an ‘giận quá mất khôn’ lấy
tay bịt miệng cha Lý trước ống kính truyền hình cũng như các máy
quay video bằng điện thoại cầm tay như thế. Bức hình này đã được ghi
lại và đưa lên mạng thông tin trên toàn cầu, nơi mà tự do ngôn luận
và quyền công dân được đề cao, đã gây tác động rất lớn trong giới
báo chí (giống như bức hình tướng Nguyễn Ngọc Loan bắn người đặc
công cộng sản ngày nào). Đúng là một tấm hình bằng một ngàn
chữ, đã cho thấy một chế độ vô nhân, dã man, đàn áp người dân,
coi thường dư luận thế giới.
Câu chuyện tác động đến nhiều lớp nguời,
trong và ngoài nước. Có nhiều ý kiến khác nhau trước cách hành xử
của HĐGMVN. Một nhóm người, tạm gọi là Phe A thì thắc mắc, tại sao
cha Lý là linh mục Công giáo, dưới quyền giám quản của Đức Cha Thể,
Tổng Giám Mục Giáo phận Huế, mở rộng ra là linh mục thuộc Giáo Hội
Việt Nam, mà sao các vị lãnh đạo trong Giáo Hội, cụ thể là quý Đức
Cha, không ai lên tiếng bênh vực cho ngài? Đặc biệt khi nhìn tấm
hình cha Lý bị bịt miệng, người ta thấy các đấng bậc cần phải
lên tiếng tố giác cộng sản mạnh hơn nữa, vì dù sao đây là người con
của mình, của Giáo hội Việt nam. Hơn nữa, đây không chỉ là người
con bình thường, mà là một linh mục, là cánh tay nối dài của các
Giám Mục, do đó, cha Lý rất đáng được các Giám Mục lên tiếng bênh
đỡ... Nhóm người khác, tạm gọi là Phe B thì cho rằng, các Giám Mục
Việt nam không thể lên tiếng vì đây là một trường hợp cá biệt. Tuy
cha Lý là linh mục Công Giáo, và các Giám Mục, đặc biệt Đức Cha Thể
lại “không thể” lên tiếng, vì cha Lý đấu tranh ra “ngoài quỹ đạo”của
giáo phận. Khi hoạt động chính trị, và tuyên bố không thể vâng lời
đức Giám Mục cai quản giáo phận, cha Lý đã tự đặt mình ra khỏi quyền
tài phán xét xử của Đức Cha coi sóc giáo phận. Hơn nữa, khi cộng sản
bắt cha Lý, họ đâu có bắt cha vì ngài là linh mục Công Giáo, họ bắt
cha vì ngài đã hoạt động chống chính quyền: dám lập đảng phái, kêu
gọi không tuân thủ chính sách nhà nước. Đây chỉ là lời bình của
hai phe A và B. Nào ai biết các Đức Cha nghĩ gì? Tuy nhiên,
bình tâm nhận xét thì phe nào cũng có lý do được coi là chính đáng
để biện minh cho cách hành xử mà họ cho là đúng của mình. Đó là
chưa kể còn nhiều lý do mà ta không biết đến, hay không thể kể ra
vì “không thể nói,” thêm vào những toan tính do quyền lợi, danh
vọng riêng tư mà cả hai bên đều có thể có để muốn các phe khác hành
xử theo cung cách của mình. Nói tóm lại, nói hay không nói, nói thế
nào, đó chính là vấn đề.
Chuyện kế tiếp là vấn đề ‘xin tiền, gây
quỹ’ của các nhà dòng, các linh mục, các Giám Mục Việt nam tại hải
ngoại. Phe A cho rằng, các Giám Mục Việt Nam không có lý do để đi
hải ngoại xin tiền con chiên Việt nam, dưới danh nghĩa là đi mục vụ.
Người Việt tại hải ngoại cũng có nhiều khó khăn và căng thẳng
với cuộc sống cơm áo gạo tiền nhưng nào ai biết, vì các Đức Cha
khi ra hải ngoại đến đâu cũng được đón rước linh đình, nhìn đâu
cũng thấy vật chất đầy đủ, sang giàu; đâu ai biết họ đã phải trả
giá thế nào, vất vả ra sao. Thêm vào đó, họ có nghĩa vụ phải đóng
góp và xây dựng cho giáo xứ và Giáo Hội địa phương nơi sinh sống.
Hơn thế nữa, theo giáo luật, mỗi địa phận có chủ chăn của địa phận
đó. Dù các Đức Cha Việt Nam đi thăm dân Chúa là cộng đồng người Việt
Nam đang định cư tại hải ngoại, nhưng nay họ thuộc quyền tài phán
của địa phương, thì các Đức Cha ở Việt Nam không nên, nhất là lấy lý
do làm mục vụ cho kiều bào, và không có quyền dẫm chân lên các Giám
Mục địa phương, nếu không thì tình hình sẽ đưa đến những căng thẳng
không nên có, nếu không nói là bị nhiều tai tiếng, hoặc chia rẽ
trong cộng đồng, gây hậu quả rất xấu. Trái lại, phe B lại cho
rằng, các Đức Cha Việt Nam, khi đi thăm người Công giáo Việt Nam tại
hải ngoại, đều có quyền xin đóng góp tiền bạc. Lấy ví dụ, một người
cha trong gia đình, biết rằng con gái mình (tín hữu Việt Nam) giờ đã
lấy chồng (sống tại hải ngoại), nhưng không vì thế mà người cha
(Giám Mục trong nước) không thể đi thăm con cái (chu du hải ngoại)
được sao? Hơn nữa, đây là vì hoàn cảnh cha mẹ cô gái gặp khó khăn,
nên nếu cần đến sự giúp đỡ của con gái và con rể, nhất là khi thấy
con mình nay khá giả hơn cha mẹ ở quê nhà, thì đã sao? Dù sao con
gái mình cũng có nguồn gốc, bắt rễ từ quê hương Việt Nam ra đi, giờ
giúp cha mẹ anh chị em đang gặp khó khăn là điều rất nên làm, nếu
không nói là có bồn phận, không được chối từ? Nếu không giúp cho quê
hương, thì người dân nói chung và tín hữu nói riêng ở quê nhà còn
khốn khó biết bao. Một lần nữa, chúng ta phải đối mặt với hai nan
đề: xin tiền/gây quỹ hay không, đó là một vấn đề nữa cho các Giám
Mục Việt Nam.
Trước hai vấn đề được nêu trên, chúng ta
thấy rõ hơn cái nghịch lý của Giáo Hội, như trong một bài dịch
được đăng gần đây bàn về Giáo Hội của linh mục - hồng y Henri de
Lubac: Giáo Hội - Một Nghịch Lý.
Xin cũng không ổn, mà không xin cũng không được. Nói hay không nói,
chọn lựa thế nào cũng là vấn đề nan giải. Điều nghịch lý đầu
tiên do chính Chúa Giêsu Kitô gây ra qua cuộc đời, sứ mệnh của Ngài.
Chúa là Thiên Chúa toàn năng, tạo dựng muôn loài, mà cuối cùng hiến
thân làm người rồi phải chết đau đớn nhục nhã vì loài người do chính
mình tạo dựng. Nghịch lý của Giáo Hội, một tổ chức vừa thánh thiêng
lại vừa có cơ cấu chặt chẽ như một nhà nước quân chủ số một. Như một
tổ chức bao gồm những người chân chính tốt lành, đồng thời không
thiếu những kẻ tội lỗi núp bóng tôn giáo để hoạt động cho mục đích
tư lợi của mình. Nghịch lý này không phải bắt nguồn gần đây, nhưng
đã bắt đầu từ ngày Đấng sáng lập, một mặt tuyên bố
“Nước Thiên Chúa ở giữa anh chị em,”
(Lc 17,21) nhưng lại cũng trả lời Phi-la-tô,
“Nước tôi không thuộc về thế gian này.”
(Ga 18, 36a). Ngay Đấng Sáng Lập
còn gây nghịch lý qua những lời của mình, thì làm sao những người
xem ra “cuồng tín” khi đi theo Ngài, lại có một con đường nào
khác: vừa có vẻ dửng dưng thờ ơ vừa sôi sục căm hận trước
những biến cố của một chế độ vô nhân gây ra? Cũng như khi nói
rằng các linh mục tu sĩ không được hoạt động đảng phái, thì người
ta cũng thấy các linh mục tu sĩ ra ứng cử, đi bầu, bỏ phiếu chọn
người hoạt động chính trị. Chính hành động bỏ phiếu đã là một cách
bày tỏ chính kiến của mình. Lại thêm một nghịch lý trong cách ứng xử
của người thời nay.
Như thế, nếu phải nhận định đánh giá một
hành động nào của bất cứ ai, nhất là nhận định về cách ứng xử của
các đấng bậc nhiều trách nhiệm, không phải là chuyện dễ dàng. Các
vị trong nước thường cho rằng, những người ở nước ngoài được tự do,
không bị kềm kẹp nên có thể phát bỉểu thoải mái, và phê bình tự do
không sợ bị chụp mũ (nhẹ) hay bỏ tù (nặng), hoặc sẽ gặp nhiều
khó khăn trong công ăn việc làm và những sinh hoạt. Những người tại
hải ngoại khi lên tiếng phê bình không hề biết rằng (hoặc đã từng bị
khốn khổ với cộng sản, nhưng nay sống ở nước ngoài lâu ngày nên
quên) ngoài việc bị kềm kẹp, các vị đâu biết trong nước với những
hạn chế thông tin, kỹ thuật và nhân sự thì làm sao có thể đấu tranh,
lên tiếng cách “hùng hồn” và “ngon lành” như quý vị tại hải ngoại
được? Nếu lấy tiêu chuẩn ở Hoa kỳ là một đất nước tự do và dân chủ
vào bậc nhất hoàn vũ (đôi khi trở nên quá đáng) rồi phê phán các
Giám Mục, linh mục Việt Nam thì có phần “xử ức” với người trong
nước. Trường hợp này được ví von như người sống tại Mỹ, làm việc
nhận lương Mỹ, nhưng ăn tiêu như
đang sống tại Việt Nam. Khi lấy tiêu chuẩn và đô-la Mỹ để sử dụng
tiêu dùng ở Việt Nam, Việt Kiều (dù là giới lao động) có thể dễ dàng
hào phóng và rộng rãi hơn đa số người lao động trong nước. Sở dĩ bên
ngoài dễ “ăn to nói lớn” cũng là nhờ có tự do và phần lớn vào
internet. Khi việc kiểm duyệt không hề có, đăng bài vở lên các trang
web cũng không phải khó khăn gì, thì phê phán ai mà chẳng được?
Trước đây, muốn viết một bài báo phê phán người này, nhân vật kia
đâu phải là chuyện dễ dàng. Đăng báo thì bị duyệt xét, in ấn
phải trả tiền. Mà viết cẩu thả hay chê bai không đúng đâu ai thèm
đăng hay nhận in. Nói không đúng còn bị tẩy chay hay kiện tụng.
Ngày nay, trên internet ai cũng có thể post bài dễ dàng, đâu có ai
kiểm duyệt? Người có thẩm quyền cho phép cũng hầu như không có. Cứ
kiếm vài đồng bạn cùng ý hướng, hoặc cá nhân mình cũng có thể tạo
được một trang web hay blog riêng, thế là tha hồ đăng bài, phê bình,
nhận định và phóng bài mỗi ngày trên internet. Ai không đi cùng
đường, không theo cách hành xử mình cho là đúng thì viết
bài, đặt vấn đề… và gửi email đến tận hộp thư cho mà đọc. Cứ thế
mà gửi thư, nhận định, thư ngỏ đến danh sách vài ngàn địa chỉ email
cho thiên hạ đọc chơi…
Trình bày những suy tư như thế không phải
để bênh vực các Đức Cha Việt nam, hay phê bình những người lên
tiếng đúng đắn. Những người thao thức với quê hương, dân tộc
và đạo lý đôi lúc phải đau lòng nói lên tiếng nói bức
xúc, vì cho rằng các bậc lãnh đạo tinh thần, tôn giáo bên nhà
ít nhiều đã bị “thuần hoá,” bị “mua chuộc.” Nếu các vị
lãnh đạo không dám lên tiếng đấu tranh cho công bằng xã hội và tự
do, dân chủ tôn giáo thì còn ai dám? Nếu không ai lên tiếng thì
làm gì thế giới thấy được sự tàn ác vô luân và phản dân chủ của
chính quyền cộng sản? Điều đau lòng là qua những sự kiện trên,
một số các trang web mang danh Công Giáo bắt đầu chơi trò tố
cáo, bút chiến và hạ “độc thủ” lẫn nhau. Là người Công
Giáo, trước những sự kiện trên, ai có thể bình tâm thờ ơ?
Đâu rồi tình bác ái, đâu rồi lòng nhân ái, đâu rồi đức
khiêm nhường, bài học của Thầy Chí Thánh Giê-su? Rất cần
phải lên tiếng, tuy nhiên, cách lên tiếng thế nào là điều quan
trọng. Không phải cứ tố cáo, lên án và “ăn miếng trả miếng” với
nhau qua những bài viết là giải quyết được mọi sự. Lấy ví dụ việc
tổng thống Hoa Kỳ cho quân xâm lược I-rắc. Cho đến nay thì đa số dân
chúng Mỹ thấy ông Bush đã sai lầm, và tổng thống Hoa Kỳ đã hành xử
theo suy diễn rất chủ quan dựa trên tình báo sai lạc hoặc những mưu
tính của giới tài phiệt. Đặc biệt các Giám Mục Hoa Kỳ, mặc dù có
tiếng nói và chỗ đứng chính thức của mình (hơn tiếng nói của HĐGMVN
đối với chính quyền cộng sản tại Việt Nam), tuy đã nhiều lần phản
đối chính sách can thiệp vào I-rắc của Mỹ, thế nhưng khi các ngài
lên tiếng có mấy ai nghe hoặc được chính quyền Hoa Kỳ đón nhận?
Đâu phải vì thế mà nói rằng các Giám Mục Hoa Kỳ kém quá, không sử
dụng đúng đắn vai trò ngôn sứ của mình? Phải hỏi thực sự vai trò
ngôn sứ ở đây đã được phát huy thế nào, tác dụng ra sao, và như thế
thì có phải hoàn toàn là lỗi của các Giám Mục? Hoa Kỳ hiện nay
hợp pháp hoá việc phá thai, tuy Giáo Hội Công Giáo đã nhiều lần
chống đối kịch liệt, lên tiếng bảo vệ quyền làm người, nhưng
cũng phải bó tay tuân thủ luật pháp Hoa Kỳ. Nghịch lý này đâu
dễ giải quyết? Chẳng lẽ dân Công Giáo Hoa Kỳ phải đứng lên tổ
chức “thánh chiến” để đòi lại quyền “chống phá thai” mới là đúng
đắn?
Trong tổ chức nhà nước hiện nay, có
hai cơ chế khác biệt đồng hành song song: cơ chế dân sự và cơ chế
tôn giáo. Trong mỗi cơ chế lại chia làm nhiều hình dạng biến thành
muôn màu vẻ của một xã hội loài người. Xã hội càng văn minh mở rộng,
thì khả năng tiếp nhận những cơ chế khác biệt để sống chung hòa bình
càng thể hiện rõ nét. Khi từ chối giúp đỡ cho các Giám Mục, các linh
mục để lo cho những người nghèo trong nước vì cho rằng đó là ta gián
tiếp nuôi sống chế độ cộng sản, coi chừng chúng ta đang nguỵ biện
để trốn tránh nhiệm vụ và lời mời gọi của Tin Mừng. Tuy
nhiên, cũng đừng bỏ tiền phí phạm mua danh qua việc dâng cúng
để những người quyên góp phá vỡ những công trình lâu đời chỉ để
mang tiếng xây dựng nhà Chúa cho có nơi thờ phượng khang trang hơn,
nhưng thực ra họ đang lãng phí tiền bạc để xây dựng những cơ
sở từ “không thua ai” đến “không giống ai.” Cũng như không phải
chỉ vì một vài đấng bậc “không ra gì” mà chúng ta tuyên bố bỏ đạo
hay phủ nhận những giá trị cao vời mà biết bao đời cũng như bao
nhiêu thánh nhân đã hy sinh cả xương máu để giữ gìn và truyền lại
cho thế hệ mai sau. Chia rẽ hay gây mất tình đoàn kết bác ái là
chúng ta đang rơi vào bẫy của cộng sản. Không thể nín lặng và
cần phải lên tiếng. Hải ngoại càng lớn tiếng tố cáo chế độ
phi dân chủ với cộng đồng quốc tế, càng làm cho cộng sản phải e dè
về những hành động phản dân chủ, phản dân hại nước của họ. Riêng
các đấng bậc phải đi quyên góp: họ như một người cha có trách
nhiệm với gia đình phải đi lảm kiếm tiền nuôi nấng con cái, các
người cha - Giám Mục – sự cẩn trọng, thiển nghĩ, cũng cần thiết hơn
so với những người cha đời trong cung cách ứng xử và thái độ chọn
lựa của mình. Công minh mà nhận
xét, khi phải đi hải ngoại chìa tay xin tiền, các Giám Mục Việt Nam
cũng nhục nhằn lắm. Giống như một người cha trong gia đình đôi khi
phải bỏ ý riêng, làm những điều trái ý hay những công việc không hề
muốn để có điều kiện chăm sóc, nuôi nấng con cái, các Giám Mục Việt
Nam cũng phải đau lòng hy sinh trước những chọn lựa của mình. Tuy
vậy, xin các đấng bậc cũng thận trọng đừng để đánh mất
dũng khí của con cháu các Thánh Tử Đạo, cũng như đừng “đơn
sơ,” “vô ý” hoặc coi thường dư luận vì đã quen với vai trò
làm “cha” của mình, rất không phù hợp với cách ứng xử ở
một xã hội đề cao dân chủ, tôn trọng tự do cá nhân nhưng tuân
thủ ý kiến của đa số. Hành xử không khéo, vô tình các đấng
bậc có thể đánh mất vai trò người cha, người lãnh đạo tinh
thần trước một thế giới ngày càng tục hoá. Cha mẹ nào
cũng cần ý thức rằng mình cũng là con người, cũng có
những thiếu sót và nhiều lúc cần nghe những đóng góp của
các con đã trưởng thành. Mỗi thời mỗi khác, các Giám Mục
không chỉ trả lời trước cộng đoàn dân Chúa, nhưng phải đối đầu
một thế lực trần thế ngày càng xa cách Tin Mừng, sự khôn ngoan cần
thiết trước những người không chỉ phản Tin Mừng trong lý thuyết,
nhưng họ còn căn cứ trên “hiến pháp” phi Kitô giáo, coi đó là luật
lệ cao nhất của quốc gia mà họ thuộc về, cũng là điều phải lưu ý.
Hơn nữa, các Đức Cha còn phải trả lời trước lương tâm, trước Thiên
Chúa là Đấng đã giao phó trách nhiệm bổn phận chăm sóc mục vụ thiêng
liêng cho dân của Ngài.
Đàng khác, nếu muốn chê bai hoặc phê
phán các Giám Mục Việt Nam là hèn nhát: xin nhẫn nại, và cảm thông
với “Cái Vốn” của mình (theo chia sẻ của một người anh em) HĐGMVN
và Giáo Hội quê nhà chính là “Căn Nhà và là Cái Vốn Quý của mình” và
hơn nữa….hãy nhìn lại mình! Tại sao phải chờ đợi hàng giáo phẩm lên
tiếng? Có phải do chúng ta mang một não trạng “giáo hội theo cơ cấu
hình tháp” và vẫn bị nó trấn áp trong tư duy của mình? Nếu ta thấy
chính quyền cộng sản đàn áp đồng bào anh em ta, thì trong khả năng
và hoàn cảnh có thể với những diễn đàn, tiếng nói nhân danh dân chủ,
xin cứ việc lên tiếng, tranh đấu cho họ. Tại sao lại đặt vấn đề và
đòi hỏi những người chưa hẳn có đồng quan điểm và cung cách đấu
tranh với mình? Mà có thể họ cùng quan điểm, nhưng cách hành xử của
họ có chiều kích và cách thể hiện khác, vì hoàn cảnh và những giới
hạn nhất định của họ, không vì thế mà ta chụp mũ cho họ là hèn nhát,
toa rập, hoặc thỏa hiệp với chính quyền vì quyền lợi riêng tư.
Những kết án này có quá nặng và sự thực được bao nhiêu?
(Tiêu cực có thể có đối với một số phần tử, nhưng không phải vì
một vài con người, đấng bậc mà chúng ta lên án tất cả những người
đang khổ đau, vất vả chèo chống vì hoàn cảnh trong nước, nơi giáo
phận, tại quê hương). Có thể và luôn luôn chúng ta cần nhớ lại để
trả lời câu hỏi của Chúa Giêsu,
“Ai thấy mình không có tội thì ném hòn đá trước đi?”
(Ga 8, 7) trong câu chuyện của người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội
ngoại tình. Mà có thể biết đâu đấy,
với những bài vở, tổ chức đòi hỏi dân chủ tự do cho quê huơng dân
tộc, có chút nào “cái tôi” của mình, của phe/nhóm mình được thổi
phồng, đánh bóng đang thấp thoáng hoặc chìm ẩn đàng sau? Cần phải
dũng cảm, không được phép thoả hiệp với cái ác, cái xấu,
nhưng không nhất thiết phải đi chung một con thuyền, cầm chung
một sách lược mới là đấu tranh với sự ác.
Chúng ta cũng cần lưu ý khi phổ biến
những bài viết có lời lẽ nặng nề, lên lớp của ta, cũng như
những phản hồi vừa mang tính hăm doạ, vừa khinh mạn của
các bậc làm “thầy.” Khi trình bày chính kiến của mình về điều
mình bức xúc, thường dễ đưa đến dễ ngộ nhận khi đánh giá lẫn
nhau. Cuộc chiến không cần thiết này đã làm chia rẽ cộng đồng
dân Chúa và làm suy yếu sức mạnh ngôi nhà Giáo Hội mà chính chúng
ta đang muốn xây dựng. Có người con nào thấy cha mẹ mình (nếu thật
sự có khiếm khuyết hoặc chưa hoàn hảo theo ý của mình!!!) lại công
khai gửi Thư Ngỏ và Nhận Định cho bàn dân thiên hạ cùng đọc? Đó có
phải là cung cách của người con thật sự quan tâm và yêu thương gia
đình, dân tộc, đồng bào mình? Hạ thấp vai trò của cá nhân một vài
Giám Mục, hay cả một tập thể Hội đồng Giám Mục Việt nam có phải là
sự khôn ngoan? Gia tài của chúng ta không có là bao, đại diện của
chúng ta chẳng nhiều sức mạnh, mà chúng ta lại sẵn sàng đốn
chân ghế mà chúng ta đang ngồi, phá ngôi nhà chúng ta đang ở?
Thế nhưng nỗi đau của những người phải lên tiếng cũng không
nhỏ: đang khi họ không tìm ra lời giải đáp cho các câu hỏi
phức tạp, lại cứ thấy các đấng bậc thong thả đi đi về về,
lễ lạc quyên góp. Gần đây lại có thông cáo đi tìm “linh mục
thất lạc” sau khi tham dự lễ Khánh Thánh Nguyện Đường tại Hoa
Kỳ!!! Trả lời sao được? Nỗi đau hình như sâu hơn và câu trả lời
cho phương cách hành động cho cả hai phía càng khó khăn hơn.
Lời ca của Thánh Phanxicô Assisi vẫn rất
thường được cất lên “tìm hiểu biết người, hơn được người hiểu
biết” có vang vọng trong tâm mình khi hành động? Cần lắm thay,
những khoảnh khắc lắng đọng, bình tâm và cầu nguyện trong khiêm hạ,
yêu thương trong hoàn cành phức tạp hiện nay.
Là những tín hữu Công Giáo sống đức tin,
chúng ta cầu nguyện xin Chúa Thánh Thần soi sáng hướng dẫn cho những
hành động của mình, để tất cả chúng ta nêu được tinh thần bác ái yêu
thương mà Thầy Giêsu đã dùng chính cuộc đời Ngài rao truyền giảng
dạy. Thiết nghĩ câu châm ngôn từ ngàn xưa vẫn rất thích hợp cho ngày
nay: "In necessariis unitas, in non-necessariis (or, dubiis)
libertas, in utrisque (or, omnibus) caritas." Trong những
điều cần thiết, cần đoàn kết thống nhất, trong những điều không cần
thiết (hay nghi ngờ), được tự do hành xử, nhưng trong tất cả, hãy
có lòng bác ái yêu thương. Đó nên là phương châm cho hành động
sống bác ái của người Công Giáo chúng ta vậy●
Trở về mục lục >>

MƯỜI ĐIỀU TÂM NIỆM SỐNG HÀNG NGÀY
CỦA CHÂN PHƯỚC - GIÁO
HOÀNG GIOAN XXIII
LTS:
Đức Thánh Cha Gioan XXIII, nay đã là chân phước, là người đã triệu
tập Công Đồng Vatican II, mở cánh cửa Giáo Hội ra với thế giới bên
ngoài, và đem một sinh khí mới vào sự sống Giáo Hội. Ngài thường suy
tư trăn trở về Giáo Hội vì trách nhiệm là Giám Mục Roma và là Giáo
Hoàng, nhưng lại rất thực tế sống tinh thần phó thác và chỉ lo hoàn
tất bổn phận hàng ngày của mình khi thực thi Mười Điều Tâm Niệm (hay
Thập giới) trong cuộc sống. Chuyện kể về Ngài như sau: Tuy lo lắng
rất nhiều cho tương lai Giáo Hội vì quá nhiều vấn đề khó khăn luôn
đè nặng trên đôi vai, Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII vẫn thường cầu
nguyện trước giờ đi ngủ: “Lạy Chúa, Giáo Hội là của Chúa, con chỉ là
tôi tớ, mạnh yếu thành đạt là trách nhiệm của Chúa. Con đã làm
bổn phận con, giờ này đến giờ con đi ngủ, xin Chúa ban phúc lành
cho con.” Nói thế rồi, Ngài đi vào giấc ngủ ngon.
Trong tâm tình hướng về
vị mục tử của Giáo Hội được nhiều ngưòi kính mến, xin chia sẻ với
độc giả Maranatha Mười Điều Tâm Niệm của Ngài sau đây:
-
Ngày hôm nay, tôi sẽ sống tích cực trọn vẹn,
chứ không tìm cách giải quyết mọi vấn đề của đời mình.
-
Ngày hôm nay, tôi sẽ chú ý đặc biệt đến dáng
vẻ của mình: ăn mặc đơn sơ, không lớn tiếng, lịch sự trong
cách ứng xử; tôi sẽ không phê phán ai; tôi cũng sẽ không đòi ai
phải ứng xử hoặc kỷ luật ai trừ ra chính con người của mình.
-
Ngày hôm nay, tôi vui sướng tin chắc rằng tôi
được tạo dựng để sống hạnh phúc, không chỉ cho đời sau mà ngay
cả từ đời này.
-
Ngày hôm nay, tôi sẽ sống theo hoàn cảnh của
mình, mà không đòi hỏi hoàn cảnh phải phù hợp với những ước muốn
của tôi.
-
Ngày hôm nay, tôi sẽ dành 10 phút để đọc điều
gì thật hữu ích, và luôn nhớ rằng lương thực cần cho cuộc sống
như thế nào thì đọc điều hữu ích cũng cần thiết để nuôi dưỡng
cho linh hồn mình như vậy.
-
Ngày hôm nay, tôi sẽ làm một điều tốt mà
không kể cho ai nghe.
-
Ngày hôm nay, tôi sẽ làm ít nhất một điều tôi
không thích: và nếu tôi bị tổn thương,
thì tôi cũng không cho ai biết điều này.
-
Ngày hôm nay, tôi sẽ hoạch định một chương
trình cho riêng tôi: tôi có thể không theo sát được
từng chữ, nhưng tôi sẽ có một chương
trình như thế. Và tôi sẽ đề phòng hai
điều tai hại: cẩu thả và lừng khừng, không dám quyết tâm.
-
Ngày hôm nay, tôi tin chắc rằng, dù thế nào
đi nữa, thì Thiên Chúa vẫn yêu thưong tôi như
chỉ có mình tôi trên thế gian này.
-
Ngày hôm nay, tôi sẽ không sợ hãi gì. Tôi sẽ
không ngần ngại thưởng ngoạn vẻ đẹp thiên
nhiên và tin tưởng vào lòng nhân ái của con người và cuộc đời.
Thực thế, trong vòng 12 tiếng đồng hồ, tôi
chắc chắn có thể làm tốt điều mà tôi nghĩ rằng sẽ thật kinh
hoàng nếu phải làm nó suốt cả đời●
Trích Nhật Ký Một Tâm Hồn
Trở
về mục lục >>

ĐOẢN KỊCH -
CON ĐƯỜNG RA ĐI...
Trần Duy Nhiên
LỜI GIỚI THIỆU: (lời bình)
Con đường ra
đi để 'làm tỏa lan Đức Kitô khắp nơi' mà Vị Cha chung là Đức tổng
giám mục Philiphê Nguyễn Kim Điền đã chỉ bảo, thì 80 năm qua bao
nhiêu Chị đi qua. Thế nhưng, không phải lúc nào mọi người cũng bước
đi một cách khẳng khái và không ai từng do dự. Nhưng rồi với ơn Chúa
và lời dạy dỗ của vị sáng lập và của Đức Cha Philiphê, các Chị vẫn
trung thành với ơn gọi của mình. Chúng ta hãy minh họa bằng một biến
cố tưởng tượng, để nêu linh đạo của Hội Dòng, nhưng đồng thời cũng
như nói lên những đấu tranh nội tâm mà các Chị có thể gặp phải trong
80 năm qua khi đối diện với những lời mời gọi của Chúa trong những
giai đoạn cam go. Trong một thời đại mà các thách thức tưởng chừng
vượt quá sức con người thì những người con của Hội Dòng Con Mẹ Đi
Viếng Huế vẫn được mời gọi để tỏa chiếu Tình Yêu của Chúa, theo
gương Đức Mẹ. Chúng ta hãy tưởng tượng một Chị mà ta tạm đặt tên là
Thiên Ân. Chị Thiên Ân được sai đi làm chăm sóc cho những người mắc
bệnh Sida. Chị trở về nhà Mẹ mong thuyết phục chị Cả thay đổi bài
sai cho mình. Xin nhắc lại: Chị Thiên Ân không hề có trong
lịch sử dòng, và biến cố này hoàn toàn không có thật.
Mở màn
Chị Cả đang ngồi làm trong văn phòng mình,
trên bàn giấy có một điện thoại. Tiếng gõ cửa.
Chị Cả:
Mời vào (Thiên Ân vào). À, em Thiên Ân, chị đang đợi em. Em ngồi đi.
Tuần vừa qua chị để yên cho em suy nghĩ và cầu nguyện. Em về đây như
thế là hơn một tháng rồi em nhỉ?
Thiên Ân:
Thưa chị, vâng.
Chị Cả:
Đã đến lúc em phải có một quyết
định. Em hãy nói chị nghe quyết định của em.
Thiên Ân:
Thưa chị, em đã suy nghĩ và cầu nguyện, nhưng em chưa có một quyết
định nào cả.
Chị Cả:
Nghĩa là em bằng lòng trở về nhiệm sở của mình à?
Thiên Ân:
Em chưa có một quyết định là vì thế, em không thể ở lại nhiệm sở.
Chị Cả:
Em có nghĩ rằng nếu em không ở lại nơi nhà Dòng cắt đặt cho em thì
ơn gọi của em bị sứt mẻ chăng?
Thiên Ân:
Thưa chị, em nghĩ rằng nếu em bắt buộc
phải chọn lựa, hoặc là đi chăm sóc những bệnh nhân Sida, hoặc là rời
nếp sống của một Con Đức Mẹ Đi Viếng, thì đó là bằng chứng em không
có ơn kêu gọi, vì em không thể sống tại nhiệm sở hiện tại của mình.
Chị Cả:
Không em ạ. Vấn đề không phải là em được
ơn gọi hay không được ơn gọi. Vấn đề là em được kêu gọi đến với
những người cùng khổ nhất, và nếu em không ưng thuận đến với họ, thì
có nghĩa là em phủ nhận ơn gọi.
Thiên Ân:
Em không bao giờ muốn phủ nhận ơn gọi. Nhưng làm sao em có thể sống
một nơi mà em không thể yêu thương được... và có thể nói là em ghét
nữa.
Chị Cả:
Em phải yêu thương mọi người mà Chúa chúng ta yêu thương.
Thiên Ân:
Nhưng tình thương là một tình cảm tự do. Không ai có thể ép buộc
tình cảm của mình.
Chị Cả:
Đúng là không ai có thể ép buộc tình cảm của mình. Nhưng một CĐMDV
không yêu thương bằng tình cảm của mình, mà yêu thương bằng trái tim
của Chúa Kitô, và đó là một trong đường hướng linh đạo của Hội Dòng
Chúng Ta. Chúa Kitô đã yêu thương bằng bất cứ giá đào, và đã đổ máu
từ Trái Tim mình để trả giá cho tình yêu đó.
Thiên Ân:
Em cũng sẵn sàng đổ máu để trả giá, nhưng ở đây không phải là vấn đề
đổ máu, mà là phải chấp hành một lệnh không hợp với mình.
Chị Cả:
Một trong những nhân đức của người tu sĩ nói chung và của con ĐMDV
nói riêng là đức vâng phục. Chúng ta phải thi hành nhân đức ấy trong
những việc khó khăn cũng như trong những việc dễ dàng. Phải sẵn sàng
đi đến những nơi con ngại ngùng cũng như nơi con ưa thích. Phải thi
hành mệnh lệnh không một lời than thở vì nghĩ rằng đấy là thánh ý
Chúa, bởi lẽ bề trên con đã quyết định.
Thiên Ân:
Thưa chị, chị là bề trên cả của em, tại sao bề trên lại không thể
thay đổi quyết định?
Chị Cả:
Tai vì chị cũng chỉ là nữ tì của Thiên
Chúa. Chị chỉ có quyền truyền lại một mệnh lệnh Thiên Chúa gởi gắm
cho em.
Thiên Ân:
Nhưng chị có một khối óc để suy nghĩ khi quyết định chứ?
Chị Cả:
Dĩ nhiên. Nhưng quyết định bằng đầu gối hơn là khối óc. Chị cầu
nguyện nhiều trước khi cố gắng dùng lý trí để tìm hiểu thánh ý Chúa,
được thể hiện cụ thế qua ý kiến của hội đồng cố vấn.
Thiên Ân:
Nhưng Chúa cũng cho em một lý trí để suy nghĩ, con không có quyền
nói lên suy nghĩ của mình sao?
Chị Cả:
Một người con của Đức Mẹ tiên vàn là một người muốn sống cuộc sống
của Mẹ mình, nghĩa là yêu Chúa hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức
lực. Em chỉ có quyền sử dụng lý trí để yêu mến Chúa bằng cách hợp
tác với Hội Dòng mà thực thi thánh ý Ngài.
Thiên Ân:
Nhưng tại sao Chúa lại muốn em ở một nơi khủng khiếp thế này? Em đã
được huấn luyện để sống sạch sẽ, ngăn nắp, tế nhị trong nhà dòng, để
rồi được sai đến với những người dơ bẩn, cộc cằn, bệnh hoạn?
Chị Cả:
Tại vì Chúa yêu thương em đến độ muốn con
thật sự giống Ngài. Từ đời đời Ngài đã ở nơi cao sang vinh hiển,
thánh thiện, nhưng Ngài đã chấp nhận sống giữa những người phung hủi
và bại liệt, giữa những người tội lỗi, bần cùng và chết đi như một
tội nhân bị phỉ nhổ.
Thiên Ân:
Tại sao không gởi những chị khác, những
người đã quen với nếp sống khốn cùng, còn em thì chưa quen...
Chị Cả:
Không phải em chưa quen với khốn cùng đâu. Có lẽ em chưa quen với
đức khiêm nhường đấy.
Thiên Ân:
Điều em nói thì có ăn nhập gì với đức khiêm nhường đâu. Điều em nói
chỉ là phản ứng của cơ thể. Mỗi lần em nghe họ nói dối một cách sống
sượng, thì máu em dồn lên mặt. Mỗi lần em thấy những lở loét trên
thân thể họ, thì da em nổi gai. Dù em có khiêm nhường đến đâu, thì
phản ứng cơ thể vẫn là phản ứng của cơ thể.
Chị Cả:
Thì máu em cứ tiếp tục dồn lên mặt, thì da em cứ tiếp tục nổi gai.
Nhưng em hãy đến với họ, phục vụ họ, và yêu thương họ.
Thiên Ân:
Chị dạy em phải chịu đựng họ sao?
Chị Cả:
Vâng, phải chịu đựng họ, như Chúa Kitô đã từng chịu đựng chúng ta.
Thiên Ân:
Nhưng chịu đựng thì không thể nào yêu thương được.
Chị Cả:
Vâng, chịu đựng thì không thể yêu thương, nhưng yêu thương thì có
thể chịu đựng. Vì thế điều tiên quyết là cần phải yêu thương như
Chúa Kitô đã yêu.
Thiên Ân:
Con không thể yêu thương như Chúa. Không
ai có thể yêu thương như Ngài cả.
Chị Cả:
Đúng, không ai có thể yêu thương như Chúa, nhưng tất cả chúng ta đều
có thể học tập yêu thương từng ngày bằng cách gần gũi với những
người mà mình chưa thể yêu thương. Vì đấy là cách duy nhất để yêu
mến Chúa. Đó cũng là cách mà nhiều chị trong hội dòng chúng ta đã và
đang thực hiện. Một trong các chị lớn mà em biết, đấy là chị Minh
An. Suốt hằng chục năm trời chị đã gánh trên vai không biết bao
nhiêu là thập giá. Trong những năm 75 - 85, rất nhiều chị em đã từ
chối nhiệm sở mình nên chị Minh Anh đã trả giá thay cho họ...Lúc nào
chị cũng tươi cười nên không ai biết rằng trái tim của chị kiệt quệ
đến nỗi chỉ còn một phần tư lượng máu. Thế mà chị vẫn tiếp tục đến
với người khác cho đến khi nằm liệt giường... Giờ đây chị đang ở
trong tình trạng chuẩn bị về với Chúa không biết lúc nào, với một
nỗi đau trong hình hài mà chỉ một mình chị mới biết. Đấy, em biết rõ
đấy! và chị Minh An chỉ là một trong số rất nhiều chị mà em phải noi
gương.
Thiên Ân:
Điều này quá sức của em, xin chị đừng đòi hỏi em như thế.
Chị Cả:
Chị không hề đòi hỏi em, nhưng đấy là đòi
hỏi của chính Chúa Kitô đối với tông đồ của Ngài. “Phêrô, con có yêu
mến Thầy không? Hãy chăm sóc chiên Thầy.” Ngài đòi hỏi một lần, hai
lần, ba lần... Vâng Ngài chỉ đòi hỏi chúng ta yêu thương Ngài, chỉ
có vậy thôi.
Thiên Ân:
Chắc là em không đủ can đảm đâu chị à.
Chị Cả:
Không phải là em không đủ can đảm, nhưng phải chăng em không đủ khó
nghèo?
Thiên Ân:
Em đã trao tất cả tiền bạc và những gì em có cho nhà dòng rồi.
Chị Cả:
Đó là bước căn bản nhưng chỉ là bước đầu. Người khó nghèo thật sự
không có một cái gì là 'của mình,' không có một tư tưởng 'của mình,'
một ý muốn 'của mình,' một tình cảm 'của mình.' Người nghèo khó là
một người hoàn toàn lệ thuộc vào một ai khác. Người Con Đức Mẹ phải
hoàn toàn nghèo khó như Đức Mẹ, nghĩa là hoàn toàn lệ thuộc vào Chúa
Kitô.
Thiên Ân:
Đòi hỏi như thế thì cũng
như đòi hỏi phải chết đi.
Chị Cả:
Đúng như vậy em à. Thiên Chúa đòi hỏi
chúng ta chết đi để Trái Tim của Ngài đập trong lồng ngực chúng ta.
Thiên Ân:
Không còn cách nào khác sao chị?
Chị Cả:
Không em ạ. Tại vì sống đời sống của Đức
Mẹ Đi Viếng không phải là đi làm một cái gì hoặc đi ban phát tình
yêu của mình cho một ai. Sống như Đức Mẹ là để cho tình yêu của Chúa
Kitô tỏa lan qua mỗi một chúng ta. Khi Đức Mẹ đi viếng bà Ysave, Mẹ
không có tham vọng ban phát cho bà chị mình một điều gì. Mẹ đến để
phục vụ mà thôi, nhưng chính Chúa Kitô trong lòng Mẹ đã làm cho
người con của bà Ysave nhảy mừng trong lòng bà.
Thiên Ân:
Con yếu đuối thế này... Vì sao Chúa Kitô
đòi hỏi con đến như thế?
Chị Cả:
Ngài càng yêu thương ai thì Ngài càng đòi
hỏi người ấy. Bởi vì Ngài là Đấng được Chúa Chúa yêu thương vô cùng
nên Chúa Cha đã đòi hỏi Ngài đến tuyệt đối. Và ngày nay, khi yêu
thương con, Chúa Kitô cũng chọn con vào một dòng mà linh đạo đòi hỏi
con phải chia sẻ Thập Giá với Ngài từng ngày từng giờ.
Thiên Ân:
Em không thể hiểu được một tình yêu 'bóc lột' như thế... Có lẽ Chúa
phải làm phép lạ em mới hiểu.
Chị Cả:
Chúa chỉ làm phép lạ để chữa những thương tích trên thân xác, còn
những bệnh hoạn về phần hồn thì chỉ có một cách duy nhất là Ngài
phải chết đi. Điều chua chát không phải là Ngài chết lại mỗi ngày
cho mỗi một linh hồn. Điều chua chát ấy là chúng ta cần phải thấy
tận mắt Ngài chết lại, thì mới hiểu được tình yêu của Ngài.
Thiên Ân:
Ngài cũng chết lại cho em sao?
Chị Cả:
Ngài chưa bao giờ do dự trước giá phải trả cho một linh hồn, và nếu
em nhất quyết muốn nhìn tận mắt, thì Ngài sẽ chết lại cho em trong
hình hài của một người khác.
Thiên Ân:
Làm thế nào Chúa có thể chết lại trong hình hài của một người khác?
(Điện thoại reo, Chị Cả đến nghe: Thế à...
thế à!... Chị đặt điện thoại xuống, nhìn lên cao, làm dấu thánh giá
và im lặng cầu nguyện vài giây)
Thiên Ân:
Thưa chị làm sao Chúa có thể chết lại cho em trong hình hài của một
người khác?
Chị Cả:
(Rất buồn) Em nghe đây. Ngài đã chết lại trong hình hài của chị Minh
An. Điện thoại vừa báo cho chị rằng chị ấy đã tắt thở trong bình an.
Chị dâng những đau khổ cuối cùng cho riêng em. Vâng, vì có những
người ngại ngùng trên đường phục vụ nên chị đã phục vụ đến xỉu đi
trong khi làm việc và ra đi cách đây một giờ. Chị là Chúa Giêsu đó,
Ngài đã chết lại cho những người như em và tôi đấy, em thấy không?
Thiên Ân:
(Im lặng rồi khóc). Chúa ôi, con đã làm
gì? Con đã làm gì? Vì sao Chúa lại phải trả một giá quá đắt như vậy?
Chị Cả:
Tại vì Ngài đã yêu thương chọn lựa chúng ta, và vì chúng ta là những
người không ra gì nên mãi mãi Ngài phải trả giá cho sự lựa chọn của
Ngài.
Thiên Ân:
Thưa Chị, em xin Vâng. Em sẽ trở về với
nhiệm sở của mình, em sẽ đi đến bất cứ nơi nào Chúa muốn em đi.
Chị Cả:
Thế thì tốt. Con sẽ trở nên một bằng chứng rằng tình yêu của Chúa
không bao giờ bị gián đoạn. Những người Con Đức Mẹ Đi Viếng có thể
chết đi, nhưng luôn có những người con khác tiếp tục cùng đồng hành
với Mẹ, đi trên con đường Thánh Giá của Chúa Kitô để đặt Trái Tim
đầy ắp Tình Yêu của Ngài vào lòng bao nhiêu con người bất hạnh...
Thôi, em hãy chuẩn bị lên đường. Chị phải đến cạnh chị Minh An
đây...
●
Trở về mục lục >>

HAI MƯƠI BỐN CÁI GHẾ
LỚN (SEDILIA VIGINTI QUATUOR)
Pierre Charles SJ, Phạm
Minh Thiện dịch
Các giáo sư thường ngồi và, để
chỉ rõ điều ấy, khi người ta bổ nhiệm họ vào chức vụ của họ, người
ta nói là sẽ giao cho họ một ghế (giảng đàn). Các học sinh cũng
ngồi, cũng như các quan tòa cũng ngồi, và cũng như các tín hữu Kitô
giáo, khi họ nghe giảng. Không có gì tầm thường hơn là một cái ghế;
và có lẽ nó cũng không có gì để gợi ý. Và đôi khi chỉ cần ngồi trong
một thánh đường yên tỉnh để cơn buồn ngủ lén lút đến lúc nào ta
không hay. Có lần tôi đã cầu nguyện, ngồi trên một cái ghế, nhưng
tôi không bao giờ nghĩ lấy cái ghế làm đề tài cho việc cầu nguyện
của tôi. Nó không có cái gì để nói với tôi. Nó có đó, với vẻ một
chút đần độn của nó, cũng như tất cả những gì là rất khôn ngoan, mà
lại im thin thít trong cái bất động ngoan ngoãn của nó.
Ghế phòng khách hay ghế phòng
ăn, ghế bành phòng thính nhạc hay ghế bành phòng nha sĩ, tôi chẳng
hề tìm thấy một cái gì đặc biệt trang trọng ở các thứ ấy. Và chỉ
trong các tuồng kịch lớn người ta mới thấy các hoàng đế Rôma mời các
đối tác của mình ngồi xuống trước mặt họ, bằng những lời rất trịnh
trọng như thể để bàn tính những chuyện có liên hệ đến thế quân bình
của thế giới: “Cinna, xin mời ngồi xuống ghế ...!”
Nhưng lạy Chúa, nếu các chiếc
ghế không có gì để kể cho con nghe, thì tại sao Thánh Thần của Chúa
lại khăng khăng nói liên lỉ cho con về những chiếc ghế như thế? Tai
sao trong kinh Tin Kính, chúng con hát cách đắc thắng rằng Chúa ngự
bên hữu Ðức Chúa Cha? Tại sao sách Khải Huyền chỉ cho chúng con thấy
cả thiên quốc rộng mênh mông với một chiếc ghế ở giữa, và có một vị
ngồi trên ấy: Et ecce sedes posita erat in caelo, et super sedem
sedens? Tại sao có các thánh vịnh này với ghế bành thật lớn của Chúa
được chuẩn bị từ bao nhiêu thế kỷ: parata sedes tua? Tại sao Chúa đã
nói với các môn đệ rằng Chúa sẽ sắp xếp để dành cho các ông một ghế
trong nước Chúa : sedebitis et vos, sedebitis super mensam meam; và
tại sao Chúa đã tuyên bố với hai con của ông Dêbêđê là chỉ Chúa Cha
trên trời mới chỉ cho ai ngồi bên hữu và bên phải của Người...? Phải
chăng con không phải vừa rất ngu ngốc lại còn hơi có óc ngoại giáo,
mà không thấy một cái gì đáng sùng kính trong một chiếc ghế, nhưng
lại hết lòng tôn kính “Ngai của Thánh Phêrô”? Vì người ta đã thay
thế một chữ cái, và làm điều đó chỉ trong một ngôn ngữ, vậy thì Ngai
của Thánh Phêrô có gì là khác với một ghế thường? Ngai ấy được giữ
lại như là một vật thánh ở trong cùng Vương Cung Thánh đường
Vatican, và khi đức giáo hoàng tuyên bố như là vị chủ chăn vô ngộ,
chúng con nói ngài tuyên bố ex cathedra, nghĩa là ngồi trên một
ngai. Và cơ mật viện chỉ là một hội nghị gồm những người ngồi, như
từ điển tầm nguyên định nghĩa cho chúng con nghe; và trong sách lễ,
thứ bảy sau lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, một đáp ca ngắn dễ thương
dạy chúng con biết là, khi năm mươi ngày đã mãn ‘cum complerentur
dies Pentecostes’ điều gì đã xảy ra? Là họ đều ngồi chung với nhau:
erant omnes pariter sedentes.
Khi Chúa loan báo trong Nhà hội
tại Nadarét là lời tiên tri Isaia đã thành tựu và Chúa đã đến thế
gian để chữa lành mọi vết thương, thì Chúa đã bắt đầu ngồi xuống;
như lúc Chúa ngồi trên thuyền để giảng dạy dân tại Galilê đang tập
trung gần bờ nước: sedens docdbat de navicula turbas; như ông
Mátthêu đang ngồi tại bàn thu thuế nhỏ và ơn Chúa đã kêu gọi ông để
trở nên một tông đồ của Chúa; và như ông Philatô đã ngồi tai Nền Ðá,
mà tiếng Hípri goị là Gabbatha để kết án Chúa.
Một chiếc ghế tầm thường phải
nhắc cho con nhớ lại tất cả những kỷ niệm ấy liên quan đến Chúa, ít
nhất cùng rõ ràng như một thanh kiếm nhắc nhớ lại chiến trận, và
ngòi bút nhắc đến người văn sĩ. Chúa là Ngôi Lời sáng tạo muôn loài,
Chúa từ ngai vương quốc đã xuống đến với chúng con, và Chúa đã ngồi
giữa dân Chúa tại trần gian, như một người giữa họ. Chiếc ghế trong
phòng con cũng có thể nhắc cho con nhớ đến những điều kỳ diệu khôn
tả này, và nếu con có dư đức khiêm nhường để lắng nghe những bài học
dịu dàng này.
Chiếc ghế cũng sẽ nói với con về
những bệnh nhân và những người già nua; nói đến tất cả những ai đang
nằm bất động trên những ghế dài, hằng giờ, chỉ bị lay động bởi cơn
ho khan của họ, mà chiến đấu chống lại những sự hủy hoại vô hình
đang tàn phá buồng phổi của họ, hoặc là những người đang băng bột và
chờ cho xương lành lại.
Chiếc ghế khiêm tốn cũng nói với
con về tất cả những anh chị em của con đang ngồi tại bàn làm việc,
trong các trường học, trong các văn phòng, trong các ngân hàng,
trong các thư viện, ngay cả trong các xưởng, cần cù làm việc để đảm
bảo của ăn hằng ngày cho họ.
Chiếc ghế cũng nói cho con nghe
về những tổ tiên, về những ông nội ông ngoại. về tất cả những người
già cả đang ngủ gà ngủ gật, trong một góc phòng đóng kín, sống những
ngày cuối đời của các cụ mà ngồi vào trũng các ghế bành lớn.
Chiếc ghế cũng nói cho con về
tất cả những ai không có một miếng đất để ngồi và nằm nghỉ, và đối
với những người ấy, một chiếc ghế là một vật dùng, thuộc loại xa xỉ.
Không có điều gì trong những
cảnh này là do tưởng tượng cả. Con không bị say vì những suy nghĩ
làm khuynh đảo này; con không lạc lối vào những suy niệm thần bí làm
ngây ngất; con không thêu dệt những lý thuyết mới mẻ; nhưng ở bình
diện thực tế, cùng với Thiên Chúa làm người như con, con đã nghe
tiếng gọi của lòng bác ái đang dâng lên từ những vật rất đơn giản
tầm thường.
Nhận lấy hay mời một cái ghế,
ngồi một mình hay ngồi chung với bạn bè, đó không phải là những hành
động lịch thiệp, hoặc là những thái độ nghỉ ngơi. Tinh thần đức tin
phải cho chúng con thấy, dưới dáng vẻ bề ngoài và thông thường, ý
nghĩa và giá trị kitô giáo của những cử chỉ khiêm hạ ấy, và cũng cho
thấy cách thế nào mà những cử chỉ ấy làm chúng con nên giống Ðấng đã
đến sống giữa chúng con, mà con không thấy.
Lạy Chúa, xin thanh tẩy tâm trí
con. Ngày xưa, trong hoang địa, Chúa đã làm nước vọt ra từ những
tảng đá khô cằn cho dân Chúa đang khát, và họ đã uống, cũng như các
gia súc và đàn chiên cừu của họ đã uống. Chiếc ghế tầm thường trong
phòng con, và ghế trong thánh đường, và ghế trong phòng đợi hay
trong phòng khách, ghế trong các cuộc thăm viếng và trong các bữa
ăn, chúng không thể nào trở nên một nguồn cảm hứng kín đáo cho lòng
bác ái, và như là một vật thường xuyên nhắc nhở đến biến cố Nhập Thể
của Chúa sao? Và thực sự một chiếc ghế có buộc phải trở nên một ngai
vua, để con mới nhớ đến sự vinh hiển của Chúa chăng?●
La Prière de toutes les
choses (trang 68-71) Cầu Nguyện Từ Mọi Sự Vật
Trở
về mục lục >>

TẠ ƠN CHÚA
và CÁM ƠN EM…
Tạ ơn Chúa cho vợ chồng con
bình an và hạnh phúc
Tạ ơn Chúa đã cho con một
nàng tiên
Cám ơn em đi nhà thờ mỗi
ngày 2 lần để cầu nguyện cho vợ chồng mình bình an
Cám ơn em không thích đi shopping
Cám ơn em không mê quần áo thời trang
mà vẫn đẹp
Cám ơn em không son môi mà nụ cười
vẫn duyên dáng và luôn nói lời dịu ngọt
Cám ơn em không vàng vòng kim cương mà
vẫn lịch sự
Cám ơn em chỉ mê đọc Kinh Thánh và
hát nhạc Thánh Ca
Cám ơn em luôn ngồi trong xe P.U
(pick-up) ve chai của anh
Cám ơn em không bao giờ buồn phiền vì
cái nghèo của anh
Cám ơn vòng tay của em đã ru anh ngủ
mỗi đêm
Cám ơn em biết làm ra tiền nhưng không
xài cho mình mà chỉ lo giúp tha nhân nghèo khó
Cám ơn em nghìn lần, chúng mình đã
qua đi cái tuổi 60, anh viết những lời cám ơn này trong lúc
đầu óc anh còn minh mẫn.
Vì anh sợ rằng một ngày nào đó anh
chỉ nhớ những điều cần quên, nhưng quên đi những điều cần
nhớ.
Yêu em nhiều, chúng mình mãi là đôi
tình nhân của những ngày cuối tuần…●
Xuân, một con thỏ Strata
111 - Trích Việt Tide số 291, ngày 9 tháng 2 năm 2007
Trở
về mục lục >>

CẬU BÉ DƯỚI BÓNG CÂY
Sưu tầm
Trong mùa hè giữa năm thứ nhất và năm thứ
hai đại học, tôi được mời vào làm phụ trách một trại hè cho học sinh
trung học thuộc một trường đại học ở Michigan. Tôi đã từng tham gia
rất nhiều hoạt động của trại nên tôi nhận lời ngay lập tức.
Một giờ sau khi tôi bắt đầu ngày đầu tiên
ở trại hè, giữa một đám ồn ào hỗn loạn các anh phụ trách và học
sinh, tôi nhận ra một cậu bé ở dưới bóng cây. Cậu rất nhỏ bé và gầy
guộc. Rõ ràng việc cậu đang mất tự nhiên và xấu hổ rụt rè càng làm
cho cậu trở nên yếu đuối, mỏng manh. Chỉ 50 bước gần đó, 200 trại
viên đang hăm hở rượt đuổi, chơi đùa, và gặp gỡ lẫn nhau như đã thân
nhau từ lâu lắm chứ không phải chỉ mới quen. Nhưng cậu bé dưới bóng
cây dường như đang ở một thế giới khác. Vẻ cô đơn đến tột độ của cậu
đã làm tôi khựng lại, nhưng nhớ lại lời những anh chị phụ trách lớn
tuổi hơn rằng phải chú ý đến các trại viên có vẻ tách biệt ra, thế
là tôi bước đến.
Đến gần cậu bé, tôi nói "Chào em, anh tên
là Kevin. Anh là một trong các phụ trách ở đây. Anh rất vui được gặp
em. Em khỏe không vậy?" Với một giọng nói run run bẽn lẽn, cậu bé cố
sức trả lời, "Dạ em bình thường." Tôi nhẹ nhàng hỏi cậu rằng cậu
muốn tham gia những sinh hoạt và gặp các bạn bè mới không. Cậu trả
lời nhỏ "Dạ không, em không thích lắm."
Tôi có thể cảm nhận được rằng cậu đang ở
trong một thế giới hoàn toàn riêng tư. Trại hè quá mới, quá xa lạ
đối với cậu. Nhưng bằng cách nào đó, tôi cũng biết rằng cũng không
nên ép cậu bé. Cậu không cần một lời cổ vũ, cậu cần một người bạn.
Sau một lúc lâu im lặng, câu chuyện của chúng tôi chấm dứt.
Sau bữa trưa ngày thứ hai, tôi hét bể
cuống họng để điều khiển cả trại hát. Tất cả trại đều tham gia hăm
hở. Ánh mắt tình cờ xuyên qua đám đông ồn ào lộn xộn và thấy hình
ảnh cậu bé đó đang ngồi một mình, nhìn ra ngoài cửa sổ. Tôi suýt nữa
đã quên mất lời bài hát đang phải hướng dẫn. Khi lại có cơ hội gặp
cậu bé, tôi cố thử một lần nữa, với những câu nói hệt như trước "Em
có khỏe không? Em có sao không?" Và cậu bé lại trả lời "Dạ vâng, em
khỏe. Em chỉ chưa quen thôi." Khi tôi rời nơi cậu bé ngồi, tôi hiểu
rằng để cậu bé hòa đồng phải tốn nhiều thời gian và công sức hơn tôi
tưởng – dù tôi không biết rằng tôi và cậu bé có thể cởi mở được với
nhau hay không nữa.
Vào buổi tối hôm đó khi họp với những
người phụ trách của trại, tôi kể ra những điều lo lắng của mình về
cậu bé. Tôi giải thích cho các bạn phụ trách ấn tượng của tôi về cậu
bé, yêu cầu họ chú ý và dành thêm thời gian cho cậu nếu có dịp.
Những ngày ở trại trôi qua nhanh hơn tôi
tưởng. Thật là tiếc, nhưng rồi đêm cuối cùng ở trại cũng đến và tôi
đang theo dõi "bữa tiệc chia tay." Các học sinh đang tận hưởng những
giây phút cuối cùng của mình với các "bạn tốt nhất" của họ - những
người bạn mà có thể họ sẽ chẳng bao giờ gặp lại.
Ngắm nhìn các trại viên cùng nhau chia sẻ
những giây phút cuối bên nhau, tôi bất ngờ thấy được một hình ảnh mà
sẽ lưu mãi trong cuộc đời tôi. Cậu bé mà từng ngồi một mình dưới gốc
cây đó đang làm một điều kỳ diệu. Cậu đang chia xẻ cùng hai cô bé
khác những món quà lưu niệm. Tôi nhìn cậu đang có nhưng giây phút
thân mật đầy ý nghĩa với những người mà cậu chưa bao giờ gặp chỉ mấy
ngày trước đó. Tôi không thể tin nổi đó chính là cậu bé dưới bóng
cây.
Vào một đêm tháng 10 năm đó, tiếng chuông
điện thoại kéo tôi ra khỏi cuốn sách hóa học. Giọng một người lạ,
rất nhẹ nhàng và lịch sự hỏi tôi "Dạ có phải là anh Kevin không ạ?"
"Dạ chính là tôi, xin lỗi ai đầu giây đó
ạ?" "Tôi là mẹ của Tom
Johnson. Cậu có nhớ Tommy từ trại hè không?" Cậu bé dưới bóng cây!
Làm sao tôi có thể quên được? "Dạ cháu nhớ rồi," tôi nói. "Cậu bé
rất dễ thương. Bây giờ cậu bé ra sao?"
Lặng đi một hồi lâu, sau đó bà
Johnson nói,”Tuần này trên đường từ trường về, Tommy của tôi đã bị
một chiếc xe đâm phải… Tommy đã không còn nữa rồi.”
Bàng hoàng, tôi chia buồn cùng
bà mẹ.
"Tôi muốn gọi cho cậu," bà ta
nói, "bởi vì Tommy nhắc đến cậu nhiều lần. Tôi muốn cậu biết rằng nó
đã trở lại trường mùa thu rồi như một con người mới. Nó đã có nhiều
bạn mới. Kết quả học tập lên cao. Và nó còn hò hẹn với bạn gái vài
lần nữa. Tôi chỉ muốn cám ơn cậu đã làm cho Tom thay đổi như vậy.
Những tháng cuối cùng là khoảng thời gian đẹp nhất của cuộc đời nó."
Vào lúc đó tôi đã nghiệm ra: hãy
dành sự quan tâm, đồng cảm, sẻ chia với mọi người quanh bạn. Bạn sẽ
không thể ngờ được mỗi cử chỉ ần cần, chân thành của bạn có thể sẽ
có ý nghĩa với người khác đến như thế nào đâu. Tôi kể lại chuyện này
mỗi lần có dịp, và khi tôi kể xong, tôi thôi thúc người khác nhìn ra
bên ngoài và tìm cho mình một "cậu bé dưới bóng cây."●
Trở
về mục lục >>

TÂM TÌNH CÙNG BẠN ĐỌC
v
Trong thời
gian qua,
MARANATHA
đã nhận
được điện thư xin nhận báo, đổi địa chỉ e-mail, giới thiệu thân hữu
nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng góp của:
Phạm Hùng Sơn – CVK, Sứ Mệnh Giáo Dân,
Tâm Linh Vào Đời, Giáo Xứ Việt Nam – Stuttgart, Lm. Vũ Xuân Hạnh,
Nguyễn Thế Bài, Têrêsa Alfonso Phạm Thùy Chi, Đỗ Trân Duy, Lm.
Trần Đức Phương, Lm. Nguyễn Hữu An, Lm. Peter Nguyễn Hùng Đức, Lm.
Bùi Thượng Lưu – Nguyệt San Dân Chúa Âu Châu, Nguyễn Vũ, Nguyễn Đức
Hiệu, Vũ Thái-Hòa, HoanHang, Vũ Hữu Lễ, Cộng Đoàn Martin, Diễm
Trang, Nguyễn Duy Khanh, Bồ Câu Trắng, Soeur Marie Michel Lộc, Hiệp
Lê, Ánh Nga, Nguyễn Hùng Phong, FSC, Nguyễn Xuyến, Sr. Pauline Trâm,
Sr. Christine Mỹ Hạnh RGS - Chúa Chiên Lành, USA, M. Phương, Nguyễn
Xuân, Pháp quốc, Nguyễn Kim Khoa, Ngọc Tuấn, Nguyễn Ngọc Xuân, từ
Đất Mẹ USA, Tỵ Trần, Nguyễn Văn Diệu, Phan Thủ Đức, Thuận Châu Phan
Văn Khải, Anrê Nguyễn văn Phú, Lâm Nguyễn, Têrêsa Bảo Quyên, Sr.
Marie Elise, Vũ Thanh, Giuse Trần Đức Liêm, Lm. Vũ Huy Thống, Nhân
Xuân, MB Huyền Linh SSS, Phan Thị Hường, Lê Văn Lâm, Phạm Anh
Tuấn, …
Chân thành cám ơn Quý Vị đã
đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích lệ của Quý
cộng tác viên và độc giả dành cho
Maranatha.
Nguyện
xin Chúa chúc lành cho tất cả quý vị.
Trân trọng,
MARANATHA
¶
THƯ BẠN
ĐỌC
Xin
chia sẻ một vài tâm tình đã nhận được từ cộng tác viên và độc
giả gửi về
MARANATHA
thời gian
qua để hiệp thông cầu nguyện cho nhau. Rất tiếc không thể hồi âm
sớm hơn và đến từng quý vị. Rất mong thông cảm.
v
Con là một Giáo Lý
viên dạy Hôn Nhân tại nhà thờ ChínhToà Đức Bà Sàigòn và dạy dự tong
thuộc Giáo Xứ Hiển Linh hạt Gia Định. Sau lần đầu tiên đọc được số
báo Xuân con thấy hết sức bổ ích cho đời sống đức tin cũng như kiến
thức để truyền đạt đức tin. Kinh xin Quý cha và ban biên tập tiếp
tục gởi bài cho con. Con tên Nguyễn Đức Hiệu Sinh năm 1954 hiện ở
Bình Thạnh Thành Phố HCM. Kính Chúc quý cha và toàn ban Biên Tập
bình an trong Chúa Kitô Phục Sinh. Chân thành cám ơn. Nguyễn
Đức Hiệu.
v
Xin vui lòng gửi
báo cho tôi qua email …Xin cám ơn và chúc mừng Chúa Phục Sinh.
HoanHang.
v
Xin đăng ký nhận báo
Maranatha. Vũ Hữu Lễ.
v
Xin Chúa và Mẹ Maria ban
muôn ơn lành trong Tuần Thánh và Đại Lễ Phục Sinh.
www.cdmartin.org
v
Qua người bạn giới thiệu tôi
xin đăng ký để được nhận số báo hang tháng. Xin chân thành ghi ơn
quí vị. Diễm Trang.
v
Con mong được đọc các tài
liệu về Thiên Chúa, xin gởi cho con.
Xin Chúa luôn ban mọi ơn lành
cho quí Cha và Sơ. Nguyễn Duy
Khanh.
v
Anh chị Maranatha kính mến,
Anh chị đừng lo ngại khi mình bận rộn nhiều công việc nên phát hành
báo không đều. Những độc giả của các anh chị, trong đó có em, cũng
rất cảm thông và cầu nguyện nhiều cho các anh chị. Em được đọc
Maranatha từ khi em còn chưa lãnh nhận Bí tích Thanh Tẩy. Em thích
đọc những bài các anh chị viết và đăng trên báo của các anh chị và
nhận thấy anh chị có phần trình bày nội dung và hình thức rất đẹp,
rất trang nhã, và em rất thích…Em kính chúc anh chị nhiều niềm vui
trong phục vụ. Phạm Thùy Chi.
v
Kính chúc quý Cha và ban
biên tập một mùa Xuân mới dồi dào hồng ân Chúa ban. Bồ Câu
Trắng.
v
Con xin chân thành cám ơn
Ban Biên Tập MARANATHA đã gởi báo hai dịp Giáng Sinh và TẾT, món ăn
tinh thần rất sung bổ cho tâm linh, ngon miệng, “hạp khẩu” lắm! Con
sẽ giới thiệu, tìm khách hàng…như là sự đóng góp nhỏ của con! Xin
được tiếp nhận những số báo sau. Xin Chúa chúc lành cho Ban Biên Tập
là những “đầu bếp” khép tay nấu dọn những món đặc sản với hương vị
quê hương (hiếm có ở hải ngoại) để chiêu khách Việt Nam ngày càng
thêm nhiều, mở rộng Nước Chúa. Soeur Marie Michel Lộc.
v
Tôi muốn nhận báo đăng ký.
Xin cám ơn. Hiệp Lê.
v
Xin chào! Con là
Maria Đặng Thị Ánh Nga. Con được thầy Joseph Huy giới thiệu cho con
về chương trình của Maranatha. Con đọc thấy rất hay và rất bổ ích.
Nên hôm nay con gửi thư xin Maranatha gửi bài cho con mỗi tháng theo
địa chỉ này. Con xin hết lòng cám
ơn. Ánh Nga.
v
Chân thành đa tạ và xin kính
chúc Tân Xuân Đinh Hợi hồng ân Thiên Chúa và hăng say phục vụ, loan
báo TIN MỪNG CỨU ĐỘ cho muôn người. Lm. Stephanô
Bùi Thượng Lưu. Nguyệt San Dân Chúa Âu Châu.
v
Kính thưa Ban Biên Tập báo
Maranatha, Maranatha là một tờ báo rất hay, rất có ích cho nhiều
người. Nay tôi muốn chia sẻ Niềm Vui và Ân Huệ này cho người thân
của tôi. Kính xin Ban Biên Tập vui lòng gởi báo theo địa chỉ sau
đây:..Tôi xin chân thành cám ơn Ban Biên Tập báo Maranatha. Kính
chào Quý Vị. Nguyễn Hùng Phong, FSC.
v
Tôi muốn đăng ký nhận báo
Maranatha, Nguyễn Xuyến.
v
Xin Kính Chúc Ban Biên Tập
Tuần Báo MARANATHA hưởng một Năm Mới Xuân Minh Hợi An Khang, Thịnh
Vượng và tràn đầy hồng ân Thiên Chúa. Trong niềm vui của Chúa Xuân,
Sr. Pauline Trâm.
v
Xin chúc các linh mục, anh
chị em của Maranatha một năm mới nhiều hồng ân, khang an và tiếp tục
viết, để “nuôi dưỡng” tinh thần nhiều độc giả Công giáo khắp nơi.
Trong năm qua, đã đọc nhiều bài chia sẻ, sưu tầm, nghiên cứu…rất hữu
ích của Maranatha. Xin Chúa chúc lành. Sr. Christine Mỹ Hạnh
RGS - Chúa Chiên Lành, USA.
v
Kính chúc chương trình
Maranatha năm Đinh Hợi sẽ ngày càng thêm những bài đọc hay trong
công việc mục vụ này, để giúp cho thành phần Dân Chúa càng thêm
thăng tiến về mặt tu đức và càng yêu mến Giáo Hội, yêu mến Chúa hơn.
Kính chúc những thành phần đang hoạt động trong chương trình này
được nhiều ơn của Chúa, cho mọi thành viên và cho gia đình của quý
vị về mọi mặt. Rất cám ơn chương trình đã cố gắng làm mọi cách
để tôi có thể được đọc những bài như thế này bằng tiếng Việt. Chúc
luôn phát triển và bình an trong Chúa và Mẹ Maria cùng Thánh Cả
Giuse. M. Phương.
v
Thân mừng ban biên tập, năm
Heo xin chúc theo vô số lời mừng phong phú mà chân thành của các "ảo
mạng nhân," độc giả của Maranatha đã gửi về toà soạn, nên gọn
lời chúc các bạn mọi mong ước thực hiện như "ý nguyện tâm cầu." Khi
đọc bài tản mạn về đề tài Heo, ảo nhân này vội ghi vài cảm nghĩ coi
như chia sẻ cảm hứng nhờ Maranatha chuyển tới Vũ quang Hiên (Hiền,
Hiển, Hiện, xin lỗi không rõ dấu):
"Năm Heo theo Heo có sao eo (!);
Ăn rồi nằm ềnh đánh giấc phèo,
Mặc người chật vật hám chạy theo,
Thời gian cắc cớ cứ bay vèo,
An thần hội nhập năm Heo vậy,
Định mệnh ơn Trời cứ vậy theo."
Nguyễn Xuân, Pháp quốc.
v
Cám ơn quý vị trong nhóm chủ
chương MARANATHA Việt nam. Thiên Chúa sẽ trả công ơn bội hậu cho
việc làm nhiềy ý nghĩa của quý vị. Năm mới Đinh Hợi 2007 kính chúc
quý vị và gia quyến được nhiều ơn lành, an vui, hạnh phúc và thịnh
vượng. Kính, Một độc giả, Nguyễn Kim Khoa
v
Kính gửi Toà Soạn, Tôi đọc
thấy những trang báo có nội dung rất hay, tôi cũng muốn có những bài
báo để đọc hàng tuần. Xin toà soạn gửi cho tôi những bài báo hàng
tuần qua email này. Xin thành thật cám ơn. Kính chúc Toà soạn một
năm mới an khang và dồi dào ân lộc Chúa. Ngọc Tuấn.
v
Xin cám ơn và kính chúc Ban
Biên Tập, Toàn Thể Cộng Sự Viên và gia quyến đầy tràn niềm vui.
nhiều sáng tác, sức khoẻ và hạnh phúc thiên đàng, nhất là luôn là
Mùa Xuân trước mặt Chúa. Nguyễn Ngọc Xuân, từ Đất Mẹ
USA.
v
Kính chào Quý Cha chủ nhiệm
Maranatha, Con rất vui mừng khi nhận được thư hồi âm của Quý Cha, và
nhận được báo Maranatha qua email. Vậy con thành thật cám ơn, và
nguyện xin CHÚA MẸ ban nhiều HỒNG ÂN THIÊN CHÚA xuống trên cha chủ
nhiệm. Con xin kính chúc một năm mới VẠN SỰ NHƯ Ý, PHƯỚC NHƯ ĐÔNG
HẢI, THỒ TỶ NAM SƠN. Kính, Tỵ Trần.
v
Kính gởi Quí Cha và Quí Vị.
Con xin được nhận
Maranatha vì nó hay quá! Con xin được nhận theo email...Xin cám ơn
và kính chúc năm mới bình an hạnh phúc.
Nguyễn Văn Diệu
v
Kính gởi Maranatha. Xin
Maranatha gởi cho tôi báo điện tử theo địa chỉ…Những bài viết của
báo giúp tôi nhiều trong việc sống đạo. Chân thành cám ơn.
Phan Thủ Đức.
v
Chúng tôi vừa tìm thấy địa
chỉ Quý Báo trên mạng. Rất khao khát muốn đọc. Nếu không trở ngại,
xin quý Cha vui lòng gởi Maranatha thường xuyên cho chúng tôi về
đ/c: …Xin thành thật cám ơn. Kính thư, Thuận Châu Phan Văn
Khải.
v
Kính gởi BBT Báo MARANATHA.
Trước đây Tôi vẫn thường nhận được báo do Quý Toà soạn gởi đến số 92
qua Email...Nay địa chỉ trên Tôi không sử dụng nữa, vậy kính mong
quý Báo tiếp tục gởi cho Tôi theo địa chỉ Email mới. Xin chân thành
cám ơn Quý Báo. Nguyện xin Chúa chúc lành cho các việc làm tốt đẹp
của quý Báo. Trân trọng kính chào! Anrê Nguyễn văn Phú
v
Từ 17 tháng 2 đến nay tôi
không được nhận tiếp bất kỳ số báo MARANATHA. Không biết có việc gì
trục trặc không? Lâm Nguyễn.
v
Xin Quý Cha vui lòng gởi báo
cho con với. Computer của con gặp trục trặc nên không dùng internet
thường được, đã vậy mà báo Maranatha cũng mất luôn rồi. Nếu được,
xin Quý cha vui lòng gởi báo cho con đọc với. Xin chân thành cám ơn.
Kính, Têrêsa Bảo Quyên
v
Maranatha quý mến! Trong năm
qua tôi thường xuyên nhận được báo và tôi rất biết ơn về sự quan tâm
này. Tuy nhiên năm nay, sau số báo đầu năm tôi không nhận được số
nào cho đến nay. Vì thế, nay tôi viết thư này kính mong Maranatha
tiếp tục gởi báo cho tôi. Điều này rất cần thiết cho đời sống
thiêng liêng cũng như cho công tác tông đồ của tôi nơi vùng truyền
giáo KonTum này. Tôi chân thành cám ơn và cầu chúc Maranatha nhiều
ơn lành của Đức Kitô Đấng tử nạn và phục sinh vinh hiển. Sr.
Marie Elise
v
Thưa quí báo, mấy tháng nay
máy tôi bị hư, không nhận được Maranatha. Nay máy đã sửa chữa. Xin
quí vị vui lòng gửi lại cho tôi. Xin chân thành cám ơn. Giuse
Trần Đức Liêm
v
Xin gửi Maranatha tôi địa
chỉ…Xin Chúa Kitô Phục Sinh chúc lành công việc của quí vị ban biên
tập. Xin cám ơn đã gửi Maranatha. Thân mến, Lm. Vũ Huy Thống.
v
Xin cho lương thực hàng ngày
MARANATHA. Chân thành cám ơn. Nhân Xuân.
v
Con xin đăng ký cho chúng
con và cho một chị bạn ở tu hội Dies Caritas ở địa chỉ... Con xin
cám ơn. MB Huyền Linh SSS.
v
Xin cám ơn cha đã gửi cho
con những bài thật hữu ích cho đời sống tâm linh. Xin Chúa chúc phúc
cho công việc của cha nhé. Xin gửi về địa chỉ mới của con…Xin cám ơn
cha trong Chúa. Phan Thị Hường
v
Lời đầu nguyện xin Ba Ngôi
Thiên Chúa chúc lành cho mọi thành viên trong ban biên tập. Không
biết vì lý do gì mà sau số báo 93 tôi không có chuyện gì xảy ra. Từ
số báo này xin gởi này xin gởi cho tôi theo email mới …Rất mong nhận
được của ăn tinh thần mà quý báo gửi đến. Xin kính chào. Lê
Văn Lâm
v
Xin cám ơn quí báo đã gửi
đến tôi nhiều bài báo hay. Nay nếu được xin gửi cho một người bạn
theo địa chỉ là…Phạm Anh Tuấn
Trở về mục lục >>