|
Tìm hiỂu các mỐi Tương Quan trong ĐẠo KhỔng dưỚi ánh sáng cỦa Tương Quan Ba Ngôi Hoàng Linh, O.F.M.
LTS: Tu sĩ Hoàng Linh thuộc Dòng Anh Em Hèn Mọn (Phan-xi-cô), tốt nghiệp Tiến sĩ Thần Học tại Đại học
Fordham University, New York, Hoa Kỳ với Luận Án mang tựa đề: Creating New Spiritual Homes: Vietnamese
Refugees Negotiating American and Catholic Identities. Hiện nay thầy là giáo sư tại Siena College và được mời
thuyết trình tại nhiều nơi. Xin trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả Maranatha bài nghiên cứu về các mối tương
quan trong đạo Khổng dưới ánh sáng của mầu nhiệm Ba Ngôi.
Mặc dù từ lâu đạo Khổng (còn gọi là Nho giáo) đã không còn được giảng dạy tại Việt Nam, nhưng Khổng giáo vẫn có những ảnh hưởng sâu đậm trên quan niệm của người Việt Nam về văn hóa của họ. Trong bài, một số nét đặc trưng của Khổng Giáo sẽ được đem ra phân tích, so sánh và đối chiếu với mầu nhiệm Ba Ngôi. Bài thuyết trình này muốn nói lên rằng giáo huấn truyền thống của đạo Khổng về các mối tương quan gia đình cần được xem xét dưới ánh sáng của mầu nhiệm Ba Ngôi. Các mối Tương Quan theo cái nhìn của Khổng Giáo và người Á Đông Không phải mọi người Á đông đều được lớn lên hay được giáo dục trong hệ thống Khổng giáo, nhưng phần lớn họ đều mang trong mình những giá trị “Á Đông” giống như những giáo huấn của đạo Khổng. Căn tính này thường được gán cho mọi người châu Á. Tính chất Khổng giáo này là gì, hay đúng hơn chúng ta có thể bàn về việc xây dựng căn tính trong một bối cảnh Á đông hay không? Tôi tin rằng tốt hơn chúng ta nên bàn về sự hài hòa, một yếu tố quan trọng đối với những người Á châu chịu ảnh hưởng tinh thần Khổng giáo. Tiến trình tạo nên sự hài hòa không giống như tiến trình uốn đúc nên căn tính, nhưng đúng hơn nó khác biệt hẳn căn tính. Ý tôi muốn nói là căn tính thường nhằm sao chép lại điều người ta đã có hay đã quen, trong khi sống hòa hợp với người khác là tạo ra một điều gì khác. Tiến trình tạo ra hòa hợp là nhằm tạo nên và biến đổi theo một cách thức mới với sự tôn trọng những căng thẳng do khác biệt và xung khắc gây nên. Trong khi sự hài hòa thấm nhập vào trong mọi mức độ và chiều kích của giáo huấn Khổng giáo, nó được đề cập chủ yếu trong bối cảnh của mối tương quan giữa Trời (Thiên) và người (Nhân). Mối tương quan hài hòa này dựa vào việc giải quyết những khác biệt gây nên xung khắc giữa tâm trí (Trí) và thân xác (Hình), giữa một (Độc) và nhiều (Đa), giữa những nguyên tắc của Trời (Thiên lý) và cách hành xử của người (Nhân xử).Cách thức thể hiện của mối tương quan giữa Thần Linh và con người thúc đẩy tất cả những mối tương quan dựa trên sự hài hòa khác. Có năm mối tương quan chính trong học thuyết Khổng giáo về các mối tương quan: Vua-Dân (Thần-Tôi), Cha-Con (Phu-Tử), Chồng-Vợ (Phu-Phụ), Anh-Em (Huynh-Đệ), và mối tương quan giữa người già với người trẻ (Trưởng-Ấu). Có ba mối tương quan liên hệ tới đời sống gia đình: Cha-Con, Chồng-Vợ, và Anh-Em hoặc Chị-Em. Chúng ta có thể hiểu về nền văn hóa chịu ảnh hưởng Khổng giáo rõ nhất là qua gia đình. Điều này có thể được diễn tả qua tam tài gồm Cha là đấng ngự trên trời, mẹ là đất và con cái chính là loài người. Cách sắp theo thứ bậc cha, mẹ và con cái nói lên trật tự căn bản nhất trong gia đình người Việt. Quan điểm của người Việt cũng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của hình ảnh gia đình trong mầu nhiệm Ba Ngôi. Hình ảnh gia đình trong mầu nhiêm Ba Ngôi đã bắt nguồn từ truyền thống Do Thái và Ki Tô giáo. Gia đình được xem như là cơ cấu quan trọng nhất của xã hội. Giáo huấn Khổng giáo đã đặc biệt nhấn mạnh đến hình thức tam cương của gia đình như là chìa khóa đem lại sự phát triển của con người và sự ổn định của xã hội. Cuộc sống gia đình quan trọng cho đời sống đến nỗi ai cũng phải lập gia đình và sinh con, tốt hơn là con trai, để có một cuộc sống gia đình trọn vẹn. Không chỉ có người sống độc thân mới được coi là bất toàn, nhưng gia đình không có con cũng được xem như là thiếu sót. Vì thế, gia đình lý tưởng phải gồm có tam cương --- cha, mẹ và, con cái. Mối tương quan giữa chồng và vợ có thể được xem như nền tảng cho các mối tương quan khác trong gia đình người Mỹ, nhưng ở Việt Nam nó không những chỉ là thứ yếu mà còn tùy thuộc vào mối tương quan cha - con. Mối tương quan Phu - Tử là nền tảng cho các mối tương quan khác của con người. Mối tương quan này đặt cơ sở trên lòng hiếu thảo. Con cái vâng phục cha mình là nền tảng cho mọi đức hạnh trong văn hóa của người Việt Nam. Một trong những tục lệ thể hiện lòng hiếu thảo trên là nghi lễ Thờ Cúng Tổ Tiên (lễ Gia Tiên), bởi vì theo truyền thống Khổng giáo, chỉ có người con trai trưởng trong gia đình mới đứng ra chủ sự lễ Gia Tiên. Phụ nữ cũng có thể tham gia vào nghi lễ này bằng việc chuẩn bị ẩm thực, trang hoàng bàn thờ, và trông nom con cái. Điều này phản ảnh rõ ràng hơn tính chất gia trưởng của gia đình người Việt. Người ta tin rằng hương hồn tổ tiên vẫn sống trong thế giới này và chứng kiến mọi suy nghĩ, hành động của con cháu, nâng đỡ chúng trong mọi hoàn cảnh, ngay cả hiện về báo mộng cho con cháu biết trước những hiểm họa sắp sửa xảy ra. Mỗi năm vào ngày giỗ, người con trai trưởng có bổn phận đứng ra tổ chức lễ giỗ. Mức độ long trọng của buổi lễ giỗ tùy thuộc vào cấp bậc trong gia đình của người quá cố và khoảng cách thời gian giữa ngày qua đời và ngày lễ giỗ. Qua lòng hiếu thảo, tất cả con cái, nam cũng nhu nữ, cũng hiểu rằng phú quý, giàu sang, hạnh phúc, và đặc biệt là sự thuận hòa mà họ đang hưởng là nhờ bởi nhân đức và việc lành của tổ tiên. Những công quả này được xem như một thứ di sản vững chắc và có giá trị giống như đất đai hay nhà cửa, và người con trưởng thành, đến lượt mình, cũng mong làm được như thế cho thế hệ tiếp theo. Ngược lại, sự nghèo khổ, đau khổ và bất hạnh được xem như hậu quả của những việc gian ác mà tổ tiên đã làm trong quá khứ.Vì thế người ta có bổn phận phải đền bù để tránh cho thế hệ tiếp theo phải gánh chịu đau khổ và nghèo nàn. Lòng hiếu thảo, ân nghiã, công đức, và những đòi hỏi của chúng phải được nhắm tới không chỉ cha mẹ và tổ tiên mà còn tới cả thân tộc, bạn hữu, cấp trên, làng nước, thủ lãnh, cộng đồng, và quốc gia. Những tập tục này cũng xem sự hài hòa như là kết quả trọng yếu trong việc duy trì các mối tương quan xã hội và gia đình. Khả năng biến hóa và triển nở cũng xảy ra nơi các tương quan này. Khổng giáo đặt niềm tin tưởng lạc quan vào vận mệnh con người bằng cách xây dựng các mối tương quan. Hy vọng điều này có thể đưa con người hòa hợp với vũ trụ rộng lớn hơn hầu thiết lập một cái nền vững chắc cho khả năng xảy ra sự biến hóa và triển nở trong cuộc sống thường ngày. Linh Mục Peter Phan Đình Cho đề nghị một cách vắn gọn rằng mầu nhiệm Ba Ngôi có thể rất có ích cho một nền thần học Việt-Mỹ, khi liên hệ thần học Ba Ngôi với triết lý Tam Tài của người Việt Nam, một triết lý sử dụng tam tài Thiên, Địa, Nhân (Trời, Đất và Người). Chúa Cha tương ứng với Trời, Chúa Con với người, và Chúa Thánh Thần với đất. Ba ngôi liên hệ với nhau và tùy thuộc vào nhau. Điều này đã được bàn đến trong chương hai nên đã đủ, chỉ cần vắn tắt nhấn mạnh vai trò mỗi Đấng: Chúa Cha tác sinh qua công trình tạo dựng; Chúa Con hòa hợp hòa giải qua công cuộc cứu độ của Ngài, và Chúa Thánh Thần dưỡng nuôi bằng ơn thánh hóa. Thuyết Tam Tài thực sự bắt nguồn từ cái tinh tuý của sự hiểu biết thông thường của người Á châu về tất cả mọi hiện tượng của vũ trụ trong đó tam tài Thiên, Địa, Nhân là tổng hợp của tất cả mọi sự. Jung Young Lee – một người Mỹ gốc Đại hàn – là người đáng tin cậy trong việc hội thảo về thuyết Tam tài của người Á đông bởi vì ông có sức hiểu biết của một nhà thần học Kitô giáo cũng như của một học giả về Lão giáo. Ông xử dụng khuôn mẫu các mối tương quan gia đình và dân tộc của người Á châu để bàn về mầu nhiệm Ba Ngôi. Tam Tài: Thiên, Địa, Nhân là nét đặc biệt chính yếu của lối suy tư triết lý truyền thống của người Á châu, và nó đã được tháp nhập và phát triển trong cái được gọi là khái niệm Đông Á về mầu nhiệm Ba Ngôi. Khái niệm Đông Á về mầu nhiệm Ba Ngôi có thể được hình thành từ triết học Trung Hoa , và đặc biệt từ Hsi Ming or Western Inscription lấy từ Kinh Dịch. Hsi Ming luận bàn về mối tương tác (?) giữa các tam trụ. Trụ đầu tiên được gọi là Ch’ien (nghĩa là nguyên lý sáng tạo hay là Trời) liên hệ với trụ thứ hai được gọi là K’un ( nghĩa là nguyên lý tiếp thu hay là đất), đến lượt minh san sinh những tam trụ khác biểu thị mọi vật khác trong thế giới. Ch’ien and K’un là những con đường đến với mọi vật, chúng được phản ảnh trong quan niệm phổ thông về Âm Dương của người Á châu. Khi đối chiếu Kinh Dịch với quan niệm Âm Dương, Jung young Lee ủng hộ quan điểm cho rằng quan niệm Âm Dương mới được hình thành của người Á châu mang tính chất Ba Ngôi một cách tự nhiên bởi nó tháp nhập những yếu tố bao hàm lẫn nhau và tương quan lẫn nhau rất dễ thấy ở trong cái nhìn mầu nhiệm Ba Ngôi. Nếu mọi vật trên thế giới có thể được mô tả theo biểu tượng Âm Dương, thì mọi sự xảy ra trên thế giới đều được coi như là một hành vi mang tính chất Ba Ngôi. Ý tưởng này khởi sự với khái niệm Đông Á về Ba Ngôi: Thiên, Địa, Nhân. Quan niệm có tính biểu tượng và bao hàm về Âm Dương rất là quan trọng trong đạo Lão và cung cấp một cách hieu có tính phổ quát hay bao gồm cả vũ trụ về mầu nhiệm Ba Ngôi. Biểu tượng Âm Dương của Đông Á có tính chất bao hàm. Đây là một biểu tượng có kết cục mở ra và cho thấy một mối tương quan bổ sung lẫn nhau. Âm và Dương liên hệ với nhau vì chúng bao hàm lẫn nhau và ở trong nhau. Ở trong có nghĩa là hòa quyện với nhau đến độ không thể tách rời nhau. Hay đúng hơn, không thể nào hình dung Âm mà không có Dương. Vì thế quan niệm biểu tượng Âm Dương cũng là quan niệm Ba Ngôi bởi vì chữ “và.” Đó là chữ nối liền hai chữ Âm và Dương như là hai biểu tượng bổ sung cho nhau và có liên hệ với nhau. Người ta cũng nhận ra tính chất bao hàm này trong mối tương quan của Chúa Cha với Chúa Con khi Đức Giêsu nói: Hãy tin rằng tôi ở trong Cha và Cha ở trong tôi” (Gioan 14:11). Như thế Thiên Chúa được thể hiện qua Chúa Con và cùng tương giao qua Chúa Thánh Thần, tạo thành một mối tương quan bao hàm. Cũng có một thứ luật đảo ngược trong chuyển động của Âm Dương: khi một vật/người đi lên tới tột đỉnh thì nó sẽ bắt đầu đi xuống để cho vật/người khác đi lên; cũng như khi một vật/người đã xuống tới mức thấp nhất, thì phải đi lên để cho vật/người khác đi xuống. Sự hòa điệu hay quân bình luôn có trong vu trụ là do Đạo (Đường). Đạo là nguyên lý hay nguồn lực biến chuyển thứ ba duy trì cho hai cực Âm và Dương ở trong trạng thái hài hòa. Trong quan niệm Âm Dương, mọi sự đều phải chịu sự tác động của một lực chuyển dịch. Chuyển dịch là yếu tố then chốt thứ ba của tương quan Âm Dương. Ví mọi sự đều tương giao với nhau, chuyển dịch nơi vật này sẽ kéo theo sự chuyển dịch nơi những vật khác. Âm và Dương là những biểu tượng của một tiến trình chuyển dịch. Mọi tương quan Âm Dương dựa trên chuyển dịch nhiều hơn là hữu thể. Chuyển dịch có tính chất nền tảng (căn bản) hơn là hữu thể. Chuyển dịch là một tiến trình tạo sinh. Cũng giống như một hữu thể sống động không thể hiện hữu nếu không có tạo sinh xảy ra trước, chuyển dịch cũng mang đến một tiến trình có tính cách tiến hóa và đó là phần bên trong của chuyển dịch. Khi Âm và Dương ở trong tiến trình chuyển dịch, chúng sinh sản ra nhau để hoàn tất tiến trình chuyển dịch, và một khi hoàn tất, một tiến trình mới lại bắt đầu. Gia đình minh họa một cách rõ ràng nhất tiến trình này. Trong gia đình người Việt, người chồng và người vợ là nền tảng của gia đình, nhưng họ cần có con cái để hoàn thành gia đình. Một gia đình không con cái là một gia đình bất toàn. Cũng giống như việc sinh sản con cái hoàn tất mối tương quan giữa chồng và vợ, thì tiến trình chuyển dịch cũng cần đến việc sinh sản. Cơ may tháp nhập một viễn tượng thần học vào trong hiện trạng của cộng đồng Công Giáo Việt nam tại Hoa Kỳ qua học thuyết về mầu nhiệm Ba Ngôi rất hữu ích và cần thiết để hiểu được cái căn tính được “thỏa thuận” của những người công giáo Mỹ gốc Việt. Nó cũng khá xác đáng đặc biệt dưới ánh sáng mà quá trình phát triển của học thuyết Ba Ngôi đã được “thỏa thuận” trong suốt lịch sử Giáo hội. Khoảng cách thể hiện nơi sự sắp xếp theo thứ tự phẩm trật, địa vị và chức vụ --- đó là một sự phân định khác biệt (bị ảnh hưởng bởi năm loại quan hệ theo đạo Khổng) bất bình đẳng. Gia đình và cộng đồng người Việt bị phân biệt về mọi phương diện của cuộc sống, những khác biệt và bất bình đẳng không hàm ý có một số cấp độ kém giá trị. Người trẻ khác với người lớn tuổi, nhưng người trẻ không bị hạ giá. Cũng như không phải người già là cao giá hơn người trẻ, cho dù họ được kính trọng hơn. Cả hai nhóm đều là thành phần của cộng đồng; chính toàn thể cộng đồng là cái đưọc đánh giá. Quan trọng hơn, thành phần của mọi lứa tuổi được đánh giá không phải theo tuổi tác mà theo cách ứng xử của họ. Lối hành xử của mọi người phải phù hợp với địa vị của mình trong xã hội. Hành động một cách lập dị sẽ bị cộng đồng lên án. Đối với người Việt chịu ảnh hưởng bởi tinh thần Khổng giáo, người ta nên cư xử tương xứng với vị trí của mình, dù già hay trẻ, giàu hay nghèo, gia giáo hay thất học. Mọi loại người đều có phép cư xử riêng. Mỗi người đều được người khác nhận biết qua cách hành động của họ; đó là một loại luật bất thành văn trong xã hội Việt nam. Nếu cư xử một cách phù hợp, thì sẽ không bị người khác dòm ngó và vì thế sẽ giữ được sự hài hòa. Đối với người Việt, giữ đúng vai trò của mình trong cách xử thế trong chỗ trang trọng cũng như nơi thân mật là một điều rất quan trọng. Ngoài việc xử dụng những mối quan hệ thân tộc cho những người Công Giáo Mỹ gốc Việt là những người nằm trong một hệ thống gia đình, còn có đòi buộc trung thành với gia đình --- đó là niềm kỳ vọng đã làm nên gia đình truyền thống. Truyền thống gia đình được hình thành bởi ba giá trị và tập tục cơ bản đã đâm rễ sâu nơi bản chất người Việt: lòng hiếu thảo (hiếu), món nợ ân tình hay lòng biết ơn (ơn), đức hạnh (đức). Lòng hiếu thảo là giá trị được nhấn mạnh rất nhiều, bao gồm bổn phận và nghĩa vụ của con cái đối với cha mẹ. Nó ràng buộc con cái, trai cũng như gái, vào trong một mối tương quan không thể phá vỡ của ơn nghĩa mà con cái không bao giờ có thể trả hết. Qua những chuyện kể dân gian, bài hát, châm ngôn, truyện thần thoại và chuyện gia đình, ngay từ khi mới sinh ra, người Việt đã được dạy dỗ về lòng hy sinh mà cha mẹ đã gánh chịu để dạy dỗ con cái nên người. Con cái ngày nay là thành quả của những hy sinh mà cha mẹ và tổ tiên đã vất vả hy sinh từ nhiều thế hệ trưóc. Truyền thống này đang được tiếp tục nơi phần lớn các gia đình người Mỹ gốc Việt. Dưới nhiều hình thức, con cái cảm thấy mắc nợ đối với những hy sinh vất vả mà cha mẹ đã dành cho mình. Tuy nhiên, đã có một sự thay đổi trong chuyển động của gia đình từ khi người ta sống đời tị nạn. Rõ ràng là gia đình đã bị phân tán trong biến cố di tản vượt biên, bước đầu định cư, và những nỗ lực tiếp theo để thích ứng với hoàn cảnh mới tại nước Mỹ. Những tục lệ và giá trị trước đây diễn tả gia đình Việt nam --- thờ cúng tổ tiên, hiếu thảo, vâng phục, trung thành, ưu tiên coi trọng nhà tổ tiên, và đại gia đình với mối tương quan hệ hàng thẳng nội tộc (patrilineal) và quan hệ vòng ngoài (hàng ngang) ngoại tộc (patrilocal) --- tất cả đang gặp khó khăn. Mối dây dùng để liên kết mỗi thành viên của toàn bộ gia đình lại với nhau đã yếu đi, với sự ưu tiên dành cho những thành viên có mối quan hệ trực tiếp (chồng và vợ, cha mẹ và con cái và ông bà), trong khi tổ tiên lùi lại xa hơn về quá khứ trong ký ức gia đình. Giữa vợ chồng đã có những sự căng thẳng (khi người chồng mất việc thì vị trí là chủ gia đình cũng bị lung lay). Dù cho uy quyền của cha me đang còn mạnh, nhưng đã có sự căng thẳng giữa các thế hệ (vì con cái thích nghi nhanh hơn cha mẹ của chúng). Vai trò làm cha làm mẹ của ngưòi Mỹ gốc Việt đã chuyển từ chỗ xa cách con cái tới chỗ dấn thân đối thoại với con cái nhiều hơn. Khả năng xử dụng tiếng Anh của con cái tốt hơn, khiến chúng tiếp cận mau hơn với nền văn hóa và giúp chúng tìm được bảo đảm vật chất mà không cần sự giúp đỡ của cha mẹ. Do đó chúng ở trong vị thế có thể tự tìm cho mình người phối ngẫu hơn là chờ cha mẹ tìm cho mình. Có vẻ như con cái đã bớt thờ cúng tổ tiên vì phần mộ của họ ở Việt nam. Bây giờ cha mẹ tự hỏi đâu là vai trò của mình trong chiều hướng biến chuyển của gia đình. Tất cả các thành viên trong gia đình ngày nay đảm đuơng nhiều vai trò khác với những vai trò đã được định đạt theo truyền thống. Mọi quan tâm chăm sóc cha mẹ già cũng như khái niệm liên quan đến danh dự gia đình vẫn đang còn là trọng tâm của hệ thống giá trị của người Việt, nhưng cách hiểu ngày xưa về những giá trị đó đã bị bóp méo, những kỳ vọng không còn mãnh liệt như trước, một khi gia đình thích ứng với những đòi hỏi của nền văn hóa mới. Những vấn đề này đang tiếp tục được tự giải quyết một khi người Mỹ gốc Việt thương lượng vị trí của cá nhân với gia đình và với cộng đồng rộng lớn hơn. Đối với người Công giáo Mỹ gốc Việt, điều quan trọng phải nhớ trong lối trình bày học thuyết Ba Ngôi này là họ đã có những lần chịu đựng đau khổ dưới những chế độ chuyên chế và thối nát ở quê nhà và bị đô hộ dưới ách thống trị ngoại bang. Họ cũng chưa sẵn sàng để làm quen với tiến trình dân chủ tại nước Mỹ và vì thế họ mang trong lòng một nỗi ngờ vực đối với loại chính quyền này. Tình trạng bất bình thường này giải thích phần nào cho sự kiện mâu thuẫn là trong khi họ tranh đấu cho những quyền lợi tự do mà hiến pháp nước Mỹ bảo đảm, thì ngược lại, bằng mọi cách họ lại đàn áp mọi ý kiến, lời nói hay hành động có lợi cho chính thể hiện thời Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt nam. Nhiều người đã chống đối việc bình thường hóa bang giao giữa Hoa Kỳ và Việt nam. Những nghĩa vụ và lòng vâng phục của con cái là những nghĩa vụ phải có đối với cha mẹ và tổ tiên. Trong mối tương quan này, vị thế của chúng khác với vị thế của cha mẹ nhưng điều này không làm giảm đi phẩm giá làm người của chúng. Hơn nữa, bằng bản năng của mình, con cái phải nhận biết những nghĩa vụ của bổn phận làm con, bởi vì những nghĩa vụ này không được giảng dạy một cách trực tiếp. Tương tự như thế, lòng vâng phục mà Chúa Kitô đã thể hiện trong tương quan Ba ngôi tạo ra một nét quen thuộc cho người Công giáo Mỹ gốc Việt đặc biệt là khi mối tương quan hỗ tương không có nghĩa là giảm thiểu trách nhiệm của mọi người trong tương quan Ba Ngôi. Mối tương quan hỗ tương rất cần thiết để tạo ra tương quan Ba Ngôi nay lại nhấn mạnh như cầu liên đới với nhau để làm triển nở một tương quan hài hòa mới. Hơn nữa, bầu khí dân chủ của Giáo hội Hoa Kỳ đã khích lệ sự tham gia của giáo dân. Nhưng giáo dân được giới hạn trong những vai trò mà họ đã thể hiện trọn vẹn trong Giáo hội. Khi sự hòa hợp bao hàm ý nghĩa mạnh mẽ về việc giữ cho được bản chất của con người và chuyển dịch, thì việc luận bàn về đau khổ có thể hiểu đúng hơn dưới khía cạnh quan trọng của chuyển dịch. Đau khổ vừa là một sự chịu đựng vừa là một phương tiện để biến đổi trong Ba Ngôi. Bởi vì chuyển dịch là yếu tố thứ ba của Âm và Dương, nên mọi đau khổ đều bao hàm chuyển dịch vì nguồn gốc của đau khổ là chuyển dịch. Mỗi khi chuyển dịch xảy ra, con người sẽ phải chịu một lối đau khổ nào đó. Nỗi thống khổ của tình yêu Thiên Chúa trong Ba Ngôi có tính cách biến đổi. Nỗi đau khổ của lòng hiếu thảo nhắc người ta nhớ sự chuyển dịch không ngừng trong cuộc sống con người. Sự biến đổi của đau khổ trong mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi của Kitô giáo là một lãnh vực trong đó đau khổ bắt nguồn từ chuyển dịch có thể được rập khuôn lại. Chính nỗi đau khổ trong tình yêu cứu độ mà người Công giáo Mỹ gốc Việt có khuynh hướng mặc cho kinh nghiệm tị nạn của họ một ý nghĩa. Kinh nghiệm đau thương của người tị nạn quá bi thảm đến độ nhiều người không thể nào tham gia cùng với những người khác trong đất nước họ mới định cư. Cũng chính những kinh nghiệm đau thương này của nhiều người tị nạn Việt nam tại Hoa Kỳ đã hạn chế khả năng hội nhập hay thích nghi của họ. Sự chuyển đổi liên tục và mãnh liệt mà nhiều người đã phải gánh chịu trong cuộc đời của họ có thể được phản ảnh qua một Thiên Chúa toàn năng và siêu nghiệm, Thiên Chúa của tình yêu. Bởi đó, đau khổ bắt nguồn từ chuyển dịch cũng có thể là đau khổ trong tình yêu cứu độ của Thiên Chúa●
|