Số 95, Ngày 17-06-2007

MỤC LỤC

Thư Tòa Soạn

Dâng Hy Tế Trong Hy Tế Thánh Tâm Lm. Vũ Xuân Hạnh

Đôi Tay Cầu Nguyện Trích Lẽ Sống

Hiệp Hội Thần Học Công Giáo Hoa Kỳ  –  Thanh Thanh

Suy Niệm Lời Chúa  Gs. Daniel K. Finn

Có Những Người “Cha” Như Thế  - Thiên Kim

Truyền Thông Lm. Nguyễn Công Đoan, SJ

Linh Đạo Cho Giáo Dân Ngày Nay - Lm. Jess S. Brena, S.J.

Thư Gửi Bố Nguyễn Khâm

Trên Đường Chúa Đi  Pierre Charles, SJ - Phạm Minh Thiện dịch

Một Hoàn Cảnh Hai Cuộc Đời Sưu tầm

Cha và Con Sưu tầm

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc - Thư Bạn Đọc

       Thư Tòa Soạn

Kính thưa Quý độc giả, 

Chúa Nhật thứ ba trong tháng Sáu được Hoa Kỳ và một số quốc gia trên thế giới chọn là Ngày Hiền Phụ (Father’s Day) để ghi nhớ công ơn của các người cha. Kho tàng ca dao Việt Nam có lời hát thật đẹp, “Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” để nhắc nhở con cái về ơn nghĩa sinh thành dưỡng dục của các bậc cha mẹ. Người mẹ có công cưu mang con trong chín tháng mười ngày và phải chịu đau đớn khi sinh con. Người cha nhiều lúc phải hy sinh ý riêng mình bươn chải giữa chợ đời tìm kế sinh nhai cho gia đình con cái. Có những người cha cương trực, tận tụy, trân trọng phẩm giá làm người, sống trọn đạo làm con cái Chúa, làm gương sáng và dạy dỗ con cháu như trong lời hứa ngày thành hôn: sẵn sàng yêu thương đón nhận con cái và giáo dục chúng theo đường lối Chúa và Giáo Hội Công Giáo. Lòng hiếu thảo và biết ơn của con cái đối với cha mẹ do đó là điều rất tự nhiên, nếu không nói là một mệnh lệnh lương tâm.

Thực ra, theo truyền thống Công giáo, ngày lễ vinh danh các người cha được mừng vào ngày 19 tháng 3 hàng năm trong dịp lễ kính Thánh Giu-se, là cha nuôi của Chúa Giê-su, cũng là quan thầy của Giáo Hội và của các bậc làm cha trong gia đình. Còn tại Việt Nam, theo từ điển bách khoa tìm được trên internet thì ngày 30 tháng 7 được chọn để vinh danh các người cha. Tuy nhiên, dù chọn ngày tháng nào đi nữa, chúng ta đều thấy việc hiếu kính cha mẹ là cần thiết và rất nên khuyến khích để các thế hệ con cháu học bài đạo lý đầu tiên khi làm người, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” và “uống nước nhớ nguồn.”

Ngày lễ Hiền Phụ tại Hoa Kỳ cũng gần kề lễ trọng thể kính Thánh Tâm Chúa Giê-su, và cũng là dịp để Giáo Hội mời gọi các tín hữu cầu nguyện đặc biệt cho các linh mục. Vinh danh những người cha gia đình cũng là lời nhắc nhở ta nhớ dến người cha với sứ mạng rao truyền Phúc Âm, nuôi dưỡng đời sống tinh thần thiêng liêng của đoàn dân Thiên Chúa. Những người cha – linh mục Việt Nam đó rất nhiều không thể kể hết, hiện diện trên quê hương hay tại hầu hết các quốc gia có người Việt sinh sống. Có thể kể một vài trường hợp điển hình như Linh mục Piô Ngô Phúc Hậu ở vùng đồng bằng sông Cửu Long và U minh ngày ngày lặn lội lo cho những người khổ đau bất hạnh; linh mục An-tôn Trần Thế Phiệt, và một vài linh mục khác thuộc Dòng Chúa Cứu Thế đang coi xứ đạo của người dân tộc K’Ho ở vùng cao nguyên Tùng Lâm, Đà Lạt. Ở đây mỗi tuần vào chiều thứ bảy có khoảng từ 400 đến 500 tín hữu người dân tộc về ở lại để học giáo lý vào ngày Chúa Nhật sau đó rồi dâng thánh lễ với cộng đoàn.  Đó là những linh mục đang bước theo lời mời gọi của Thánh Tổ Phụ An-phong-sô, đến với những người cơ hàn tất bạt. Ngoài việc lo chăm sóc phần hồn cho dân Chúa, các người cha này còn nỗi lo canh cánh trong lòng cũng như người cha trong gia đình: làm thế nào để nuôi ăn và tìm chỗ ở cho các tín hữu người dân tộc anh em. Còn nữa, rất nhiều linh mục đã về hưu nhưng vẫn thao thức và phục vụ cho cánh đồng truyền giáo: Phải kể đến cha giáo Giu-se Nguyễn Đức Minh, cựu giáo sư Đại Chủng Viện Thánh Gioan tại California, có nhiều bằng cấp thế mà khi đến thời hạn được nghỉ hưu, cha không yên ổn với những kiến thức cao rộng nhưng lại thiết tha với việc phục vụ và chia sẻ với người nghèo ở quê hương; cha Phan-xi-cô Nguyễn Hữu Tấn, cựu linh hướng Đại Chủng Viện Thánh Giuse Sàigòn, vẫn tiếp tục cống hiến sau một đời tận tụy đào tạo thế hệ đàn em, giờ đã là các cha giáo đang giữ trọng trách đào tạo linh mục tại nhiều nơi cho Giáo Hội Mẹ. Trong những linh mục đã về với Chúa, phải kể đến cha Gia-cô-bê Đào Hữu Thọ thuộc Dòng Chúa Cứu Thế, khi còn sinh tiền, đã dành cả đời mình rao truyền lòng yêu mến Trái Tim Rất Thánh. Cha đã sống lòng mến đó qua việc dành ra ít là 2 giờ mỗi ngày đề chìm đắm trong cầu nguyện và kết hiệp với Chúa Giê-su.  Chính vì sự kết hiệp thẳm sâu đó, qua những khoá Chí Tâm do cha tổ chức liên tục trong nhiều năm, cha đã gieo lòng mến Chúa sâu xa vào biết bao tâm hồn. Hoa quả đó đã đơm hoa kết trái để con cái của cha hiện nay có người là linh mục, có người là tu sĩ hoặc tín hữu đang sống âm thầm làm chứng gìữa lòng đời. Còn biết bao gương sáng của các cha đã về hưu hay vẫn tại chức nhưng giấy bút nào tả được. Cũng có những cha không muốn được kể đến, vì sợ vô tình sẽ đánh mất đi tính khiêm tốn của các ngài. Các vị này một đời chỉ muốn phục vụ để giúp cho bao người có được lòng tin và lòng mến sắt son vào Thiên Chúa và Giáo Hội.

Bên cạnh gương sáng của các linh mục Việt Nam, Maranatha số này cũng xin giới thiệu linh mục Hesburgh, một con người dành suốt đời cho nền giáo dục đức tin Công Giáo tại Hoa Kỳ. Tuy nhận được nhiều bằng cấp khen thưởng, và được chính phủ Hoa Kỳ trân trọng trao tặng Huân Chương Quốc Hội cao quý nhất, nhưng cha Hesburgh vẫn luôn khiêm tốn khẳng định rằng vinh dự cao cả nhất, quý báu nhất đối với ngài là ngày được thụ phong linh mục. Dù ở tuổi 90, nhưng cha vẫn đã và đang trung thành với ơn gọi là linh mục và hết mình hiến thân trong vai trò người cha tinh thần để giáo dục đức tin và chăm lo đời sống thiêng liêng cho các bạn trẻ sinh viên. Trong tâm tình đó, Maranatha dành một số bài trong số này để tạ ơn Thiên Chúa là Người Cha trên trời, cũng như bày tỏ lòng biết ơn đến người cha trong bậc sống gia đình, và những người cha tinh thần thiêng liêng đã đóng góp nhiều cho chúng ta được triển nở nhân linh cách trọn vẹn.

Giáo Hội (ở Việt Nam và các cộng đoàn hải ngoại) hân hoan đón mừng nhiều thợ gặt cho cánh đồng truyền giáo. Đông đảo nhất là giáo phận Bùi Chu có 50 thầy lãnh nhận sứ vụ linh mục trong tuần qua. Xin gửi lời chúc mừng và tạ ơn Chúa với quý tân linh mục, phó tế, với các giáo phận và gia đình các tân chức. Càng mừng vui bao nhiêu, cộng đoàn dân Chúa cần ý thức đề cầu nguyện, đỡ nâng những người cha tinh thần này vì họ cũng là những con người yếu đuối mỏng dòn, nhưng lại được Chúa mời gọi để phục vụ cách trọn vẹn cho mầu nhiệm Nước Trời ngay giữa trần gian. Người tín hữu ước mong gì nơi các linh mục của Chúa nếu không phải là cuộc sống trọn vẹn hiến dâng, nêu gương thánh thiện, đạo đức, khiêm hạ theo gương Chúa Ki-tô, hết mình vì phần rỗi các linh hồn?

Trong khi đó, vấn đề xã hội, chính trị, dân chủ, tự do tôn giáo và vai trò của Giáo Hội vẫn là đề tài bàn tán của nhiều người hiện nay. Các trang web lớn nhỏ do giáo sĩ, giáo dân đảm nhiệm, điều hành tiếp tục đăng tải thường xuyên hơn những bài viết thể hiện đường lối, chủ trương và đặt câu hỏi cũng như nhanh chóng trả lời cho “đối phương.” Nhiều độc giả đã phải thốt lên lời tâm tình “buồn quá!”  Thật vậy, các cơ quan truyền thông, bên cạnh việc đưa tin tức, luôn bén nhạy trước các vấn đề nóng bỏng. Qua các hãng thông tấn và các trang nhà, các ký giả đang sử dụng phương tiện khoa học kỹ thuật, dùng ngòi bút của mình để bày tỏ chính kiến. Câu hỏi đặt ra cho truyền thông Công Giáo rằng chúng ta có ý thức được vai trò và trách nhiệm của mình đầy đủ? Thay vì xây dựng một thế giới hòa bình, chúng ta có thể gây chia rẽ, ngộ nhận khi chọn lọc đưa những tin tức, bài viết theo đường lối, chủ trương của mình? Ví dụ cụ thể và gần nhất xin đan cử về Hội Nghị hằng năm của Hiệp Hội Thần Học Công Giáo Hoa Kỳ đã diễn ra tại Los Angeles cuối tuần vừa qua. Trong diễn văn bế mạc, thần học gia Daniel Finn, chủ tịch của Hiệp Hội này đã ít nhiều than phiền về có một số thành viên của Hiệp Hội và cơ quan truyền thông vào những năm trước đây tuy không tham dự Đại Hội nhưng lại nắm bắt, đưa tin một cách phiến diện, thiếu sót về những bản nhận định tuyên bố của Hiệp Hội làm cho nhiều người (trong đó có cả những vị học giả uy tín và là thành viên của Hội) bất bình và hiểu lầm về đường lối sinh hoạt của Hội. Tiếng nói của cá nhân không bao giờ đại diện cho tập thể; cũng như tiếng nói “chính thức” của một phong trào, đoàn thể đôi khi không bao hàm tính “hoàn toàn nhất trí” của mọi thành viên. Vai trò của truyền thông vì thế vô cùng quan trọng. Độc giả và người nhận tin bao giờ cũng cần sáng suốt cảnh giác để nhận ra đâu là chân lý, đâu là hoả mù giữa những biến động không ngừng của thế giới thông tin. Chính vì thế, chúng ta cần đến lời Chúa và hướng dẫn của Giáo Hội. Tuy nhiên, ngay cả Lời Chúa đôi khi cũng bị biến thành những công cụ gieo rắc bất hoà hoặc là nguyên do cho những xung đột. Trong tinh thần ý thức của vai trò quan trọng của truyền thông, Maranatha xin gửi đến bài tường trình của một tham dự viên Hội Nghị Thần Học này, và hy vọng độc giả khách quan nhận định. Cũng mời độc giả đọc bài viết về Truyền Thông của linh mục Nguyễn Công Đoan, hiện đang công tác cho Dòng Tên tại Rôma.

Một lần nữa, lời chúc mừng tạ ơn của Maranatha trong số này xin gửi đến những người cha gia đình, người cha thiêng liêng mà các tác giả và độc giả Maranatha đã từng mang ơn vì được học hỏi nơi quý ngài. Đây đó trên quê hương thân yêu hay tại hải ngoại, mùa Lễ hội tấn phong tân chức vẫn nở rộ. Qua đó, chúng ta thấy sức sống của Giáo Hội vẫn được ơn Chúa ban tặng dồi dào. Vẫn có người dấn thân đem Lời Chúa làm lương thực trường tồn cho các tín hữu, và người tín hữu vẫn dấn thân, không chỉ là tin tưởng và nghe lời Chúa suông, nhưng còn sống thể hiện cụ thể ơn gọi làm con cái Chúa của mình, trong khi không ngừng tha thiết nguyện xin, Maranatha, Lạy Chúa Giê-su, xin ngự đến!

  Trở về mục lục >>

                                                                                                                       

DÂNG HY TẾ TRONG HY TẾ THÁNH TÂM

 

Lm. Vũ Xuân Hạnh

Lòng yêu mến, kính thờ Thánh Tâm Chúa Giêsu đã sống trong đời sống của Hội Thánh qua nhiều thế kỷ. Nhất là từ năm 1686 – cách 13 năm sau ngày thị kiến về Thánh Tâm của nữ tu Maria Magarita Alacoque được nhìn nhận cùng với thánh lễ kính Thánh Tâm lần đầu tiên được tổ chức tại tu viện Thăm Viếng ở Parayle Monoal, theo nguyện vọng của chị Maria Magarita Alacoque – lòng tôn thờ Thánh Tâm trở nên không thể thiếu trong đời sống người tín hữu.

Tiến xa hơn trong việc sùng kính Thánh Tâm, người ta đã liên tiếp hiến dâng Thánh Tâm con người, gia đình, hội dòng, giáo phận… Lòng tôn sùng Thánh Tâm càng trải rộng, lại càng đi sâu vào lòng người hơn. Bởi thế, lòng tôn sùng Thánh Tâm lại dẫn dắt người ta đi thêm một bước nữa, một bước cao trọng: Hiến dâng Thánh Tâm quê hương xứ sở mình. Bỉ là nước đầu tiên khai mạc phong trào hiến dâng này bằng cuộc hiến dâng nước Bỉ năm 1869, tiếp theo là Pháp năm 1873.  Đặc biệt nhất, đáng lưu ý nhất trong cao trào hiến dâng cho Thánh Tâm đó là cuộc hiến dâng vào cuối năm 1899:  Đức Thánh Cha Lêô XIII long trọng hiến dâng cả vũ trụ cho Thánh Tâm Chúa Giêsu. Cách riêng, giáo phận của tôi, ngay những ngày đầu mới thành lập, cũng đã hiến dâng cho Thánh Tâm. Thánh Tâm chính là bổn mạng của mỗi một người trong giáo phận.

Đã thực sự sống tháng Thánh Tâm, hơn nữa, chuẩn bị mừng lễ Thánh Tâm, lướt qua một chút những tâm tình hiến dâng lên Thánh Tâm trong Hội Thánh, tôi lại nhận ra một cuộc hiến dâng khác là đích điểm, là nguyên nhân, là mấu chốt, là cốt lõi, là nền tảng, là mạch sống của mọi cuộc hiến dâng. Đó là cuộc hiến dâng Thánh Tâm cho loài người. Bởi để có mọi cuộc hiến dâng, trước tiên phải có cuộc hiến dâng Thánh Tâm. Nhưng nói cho cùng, mọi cuộc hiến dâng gọi là hiến dâng cho Thánh Tâm cũng chỉ là nguyện ước được Thánh Tâm che chở, nâng đỡ, bênh vực. Hiến dâng lên Thánh Tâm không phải mang lại lợi ích về phía Thánh Tâm, nhưng mang lại lợi ích cho mình, vì mình, lợi ích về phía kẻ hiến dâng. Chỉ có cuộc hiến dâng Thánh Tâm mới không vì mình. Thánh Tâm hiến dâng là hiến dâng hoàn toàn cho loài người, vì sự sống của loài Người.

I. HIẾN DÂNG THÁNH TÂM TRONG HY TẾ CHÚA GIÊSU

Nếu hiểu khổ đau là thập giá, thì Chúa Giêsu đã đóng đinh vào thập giá cả một đời trần thế của Người. Thập giá treo Chúa trên đồi Canvê chỉ là điểm đích, là đỉnh cao, là tiếng nói chung cuộc, là đoạn kết cần phải tiến tới của cả một đời Chúa đóng đinh thập giá. Chính nơi thập giá mà Chúa đóng đinh đời mình – kể từ nhập thể làm người; bị thánh Giuse hiểu lầm; giáng sinh hèn hạ; bị truy tìm giết hại; phải sống phiêu bạc nơi đất khách; ẩn dật nghèo khó và chìm khuất giữa làng quê Nagiareth; lạc mất trong đền thờ; những năm công khai chịu không ít gièm pha, dè biểu, căm ghét, chống đối, bị coi là điên dại…; những giờ phút cuối đời lại bị chính môn đệ phản bội, chối bỏ và xa lánh; đã phải bị đám đông bội ơn đồng lòng đòi giết chết; bị xử án bất công; bị tra tấn; khi lê bước lên đồi Tử Nạn, chẳng thể nhận được một chút trắc ẩn nào nơi đám người hung tợn vây quanh; đến cái chết mà thân xác đã đớn đau tột cùng, lại phải đón nhận sỉ nhục, nỗi cô đơn, nỗi đau tinh thần còn lớn hơn, còn chua xót hơn cái đau thân xác; đến lúc dang tay gục đầu tắt thở, Thánh Tâm đã bị xé rách để tuôn chảy đến giọt máu cuối cùng… – đã biến hy tế thập giá của Chúa Giêsu trở thành hy tế của cả một đời hiến dâng. Thánh Tâm bị xé rách ở giây phút cuối cùng của cuộc hiến dâng trọn vẹn ấy, là bằng chứng cho một tình yêu mà suốt đời Thánh Tâm đã hiến dâng. Một đời đau khổ là một đời hiến dâng Thánh Tâm. Tế hiến hoàn hảo cả một đời là tế hiến Thánh Tâm mỗi giây phút của cả một đời ấy. Bởi vậy, Thánh Tâm tế hiến đã đẹp, giây phút kết thúc hành trình hiến dâng ấy, Thánh Tâm lại bị xé rách, là một hình ảnh hiến dâng không còn gì sánh bằng, không còn gì đẹp hơn. Hình ảnh Thánh Tâm cả một đời dâng hiến, bây giờ lại kết thúc bằng thương tích, bằng sự bị xé rách, đã thành dáng đứng đời đời của tình yêu Thiên Chúa. Một dáng đứng của lòng yêu thương đẹp vô cùng, không thể nói hết, không thể diễn tả, chỉ có thể cảm nghiệm mà thôi.

Tin Mừng nhiều lần nói đến cuộc hiến dâng của Chúa Giêsu. Chẳng hạn:

- Khi hiến mình thành tấm bánh cho chúng ta, Chúa Giêsu khẳng định: “Đây là Mình Thầy, hiến tế vì các con” (Lc 22, 20).

- Khi diễn tả cái chết hy sinh để mang ơn cứu độ, Chúa Giêsu khẳng định: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không thối đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình. Còn nếu nó chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12, 24).

- Trong bữa tiệc ly, khi từ giả các môn đệ để đi vào cuộc tử nạn, Chúa Giêsu khẳng định: “Đã đến giờ Con Người được vinh quang” (Ga 12, 23).

- Cũng trong giờ ly biệt, Chúa Giêsu khẳng định cái chết trên thập giá là cái chết đưa loài người quy về một mối của ơn cứu độ: “Khi Thầy chịu treo lên khỏi mặt đất, Thầy sẽ kéo mọi người lên với Thầy” (Ga 12, 32).

- Ngay trong cơn hấp hối để đón nhận quyết định hiến dâng trọn vẹn đời mình, Chúa Giêsu đã thổn thức cầu nguyện: “Lạy Cha, xin cho Con khỏi uống chén này. Nhưng xin đừng theo ý Con, mà xin theo ý Cha” (Mc 14, 36).

 Còn rất nhiều những lời diễn tả sự hiến dâng của Chúa Giêsu cho trần gian. Tất cả đều cho thấy bằng chứng hùng hồn của cả một đời hiến dâng Thánh Tâm. Cuộc hiến dâng nào cũng đòi tình yêu. Không có tình yêu, người ta không can đảm hiến dâng, không thể hiến dâng. Một Thánh Tâm cũng chính là một Bầu Tim yêu thương. Thánh Tâm là trung tâm tình yêu. Hiến dâng tình yêu, cũng là hiến dâng một Bầu Tim yêu thương, là hiến dâng trung tâm tình yêu Thánh Tâm ấy. Lòng yêu thương lớn đến nỗi, Thánh Tâm đã hiến dâng là hiến dâng đến cùng, đến không còn gì cho riêng mình. Bởi thế, ta có thể mạnh dạn bộc bạch rằng: Mọi lời Thánh Kinh diễn tả cuộc hiến dâng trong hy tế Chúa Giêsu, đều diễn tả trọn vẹn cuộc hiến dâng Thánh Tâm trong hy tế ấy.

Hiến dâng Thánh Tâm là hiến dâng tốt lành nhất, là của lễ hoàn hảo nhất, là bàn thờ cao quý nhất. Bởi thế, Chúa Giêsu đã không ngần ngại chỉ Trái Tim mình mà dạy rằng: “Hãy học cùng Ta…Hãy đến với Ta…” (Mt 11, 28-29). Đặc biệt, để diễn tả cách cao độ lòng yêu thương, sự hy sinh dâng hiến vượt quá sức của mọi sự hiến dâng, trong những lần hiện ra, Chúa Giêsu cũng đã không ngần ngại diễn tả bằng hình ảnh một Trái Tim không còn bình thường nép trong lồng ngực nữa, mà đã lộ ra ngoài lồng ngực. Chúa đã để Trái Tim ở phía trước ngực mình. Không chỉ thế, đó còn là một Trái Tim bị thương tích. Đó cũng là một Trái Tim thổn thức đến độ phải được diễn tả bằng sức nóng, sức sáng, sức cháy của lửa cháy rừng rực. Đó còn là một Trái bị vòng gai quấn quanh, đâm thấu. Đó cũng là một Trái Tim rướm máu và đang đổ máu. Đó còn là một Trái Tim đang lúc diễn tả sức mạnh cùng cực ấy, lại vươn lên hình ảnh Thánh Giá sáng ngời giữa lửa. Đúng là tình yêu của Thiên Chúa, một tình yêu quá đỗi. Để rồi qua tất cả những diễn tả sự hiến dâng Thánh Tâm thật cao cả, thật ngoạn mục ấy, ta thực sự hiểu rằng: “THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU.” (1Ga 4, 8

II. DÂNG MÌNH CHO THÁNH TÂM ĐỂ HỘI NHẬP HY TẾ THÁNH TÂM.

Chúa biểu lộ hình ảnh Thánh Tâm trước là dạy ta biết tình yêu của Chúa. Chúa yêu ta đến độ Trái Tim đã thổn thức, đã đau đớn, ngay cả hạnh phúc vì được hiến dâng cho ta. Nhưng không dừng lại chỉ ở việc mạc khải lòng yêu thương. Mỗi khi ngắm nhìn Thánh Tâm, ta phải biết rằng, Thánh Tâm mời gọi ta hãy uốn mình nên như Thánh Tâm. Để uốn mình nên như Thánh Tâm, ta cần hội nhập vào hy tế Thánh Tâm bằng sự dâng mình cho Thánh Tâm và xin vâng như Thánh Tâm đã vâng phục thánh ý Chúa Cha.

Thánh Tâm đã hiến tế. Dâng mình cho Thánh Tâm, ta cũng hiến tế đời mình thành của lễ đền chính tội ta và đền tội muôn người. Ý nghĩa của cuộc dâng mình ấy, tôi đọc thấy thật phong phú, thật cần thiết nơi bài học về Tám Mối Phúc Thật mà Chúa Giêsu đã dạy: “Phúc cho ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ. Phúc cho ai hiền lành, vì họ sẽ được đất nước làm cơ nghiệp. Phúc cho ai đau buồn, vì họ sẽ được ủi an. Phúc cho ai đói khát điều công chính, vì họ sẽ được no thỏa. Phúc cho ai hay thương xót người, vì họ sẽ được xót thương. Phúc cho ai có lòng trong sạch, vì họ sẽ được nhìn xem Thiên Chúa. Phúc cho ai bị bách hại vì lẽ công chính, vì Nước Trời là của họ. Phúc cho các con, khi người ta ghen ghét, bách hại các con. Các con hãy vui mừng hân hoan, vì phần thưởng của các con sẽ trọng đại ở trên trời” (Mt 5, 1-12).

Trong suy nghĩ tầm thường của ta, hình như những phúc lành của Chúa Giêsu là những giá trị lộn ngược. Đang khi người ta chúc phúc cho những ai giàu có, Chúa lại nói: “Phúc cho ai có tinh thần nghèo khó.” Người ta nghĩ, phúc cho ai có đủ danh lợi, Chúa lại nói: “Phúc cho ai hiền lành.” Người ta nghĩ rằng ai có niềm vui, mới là người có phúc, Chúa lại nói: “Phúc cho ai đau buồn.” Người ta nghĩ rằng, phúc cho người dư thừa cái ăn, cái mặc, Chúa lại nói: “Phúc cho ai đói khát điều công chính.” Người ta nói phúc cho ai có quyền hành, Chúa lại nói: “Phúc cho ai hay thương người.” Người ta cho rằng, phúc cho ai có thân thể đẹp, Chúa lại nói: “Phúc cho ai có lòng trong sạch.” Người ta chúc phúc cho người đủ sức mạnh để chiến thắng, Chúa lại nói: “Phúc cho ai ăn ở thuận hòa”. Người ta nói phúc cho ai sống yên hàn, mạng sống không bị đe dọa, Chúa lại nói: “Phúc cho ai bị bách hại vì lẽ công chính.” Đúng là những giá trị lộn ngược!

Nhưng chính những giá trị lộn ngược ấy mới là điều quý giá, đáng để ta sống, vì những giá trị đó làm nên ý nghĩa của cuộc đời, ý nghĩa của mỗi cá nhân chúng ta. Vì từ nay, nếu ta nghèo khổ, ta biết mình có phúc và dám đặt tất cả tin cậy, phó thác cho Chúa. Nếu ta đau buồn, ta tìm được niềm an ủi. Nếu ta là người tội lỗi, ta tìm được tấm lòng yêu thương của Chúa. Người sẽ khoan dung, tha thứ cho ta. Nếu ta ốm đau, ta tìm được nguồn dược chữa lành trong tâm hồn để biết dâng sự ốm đau ấy, nhằm thánh hóa chính mình, thánh hóa anh chị em. Nếu ta là người bị bách hại, bị chống đối, phải chịu đau khổ vì anh em ta hiểu lầm, ta tìm được sức mạnh và lòng can đảm để vượt qua. Sống Tám Mối Phúc Thật, ta biết rằng, ta hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa. Vì thế, mọi phúc lành, cũng chính là phúc thật của Chúa sẽ được Chúa trao ban cho ta.

Mặt khác, còn quý giá hơn: Chính khi sống những giá trị bị coi là lộn ngược, bị coi là bất thường, không đáng để học theo hay sống theo, đó mới là giá trị làm nên hy tế của đời ta. Bởi chỉ có những gì bị coi là khó khăn, là mâu thuẫn mà ta lại có thể vượt qua, đó mới là hiến tế, là của lễ, là sự dâng mình. Hy tế trong Tám Mối Phúc Thật mà ta sống, cũng sẽ là hy tế cần thiết của đời ta để nên một trong hy tế Thánh Tâm. Hơn thế, Tám Mối Phúc Thật, lại là những phúc lành của Đấng chấp nhận chịu hiến tế vì ta, đã trao ban cho ta. Vì thế, sống theo giá trị của những phúc lành ấy, là cách chọn lựa hiến tế tốt đẹp nhất của đời ta để dâng mình cho Thánh Tâm, nhằm hội nhập vào chính hy tế của Thánh Tâm, nên một trong hy tế Thánh Tâm.

Bất cứ nơi nào, bất cứ giai đoạn nào của lịch sử nhân loại, một khi đã sinh làm người, thì ngay những giây phút đầu tiên, đời người đã là hy tế. Hy tế cuộc đời càng tăng thêm ý nghĩa, và có giá trị vô song, thậm chí còn đạt tới giá trị vĩnh cửu, nếu con người biết hội nhập hy tế đời mình vào hy tế cuộc đời Chúa Kitô. Đó cũng chính là hội nhập hy tế của trái tim quả cảm vào hy tế Thánh Tâm.

Ngày xưa, khi Chúa Kitô vác thánh giá lên đồi Tử Nạn, Đức Mẹ dõi theo từng bước thương đau của Con mình. Đức Mẹ đã hội nhập thực sự vào hy tế của Chúa. Trái tim Đức Mẹ đã dâng mình trọn vẹn trong hy tế đời Con. Hôm nay, chúng ta, những môn đệ của Chúa cũng xin hiến dâng trái tim đời mình. Dù còn nhiều lỡ lầm, bội phản, nhưng trước sau chúng ta vẫn nguyện ước sống một đời trung thành trong tình Chúa, để xin được cùng hiến tế, cùng hội nhập vào hy tế Thánh Tâm như Đức Mẹ. Dẫu biết mình chưa xứng đáng, thì cũng xin dâng trọn trái tim, xin dâng trót cuộc đời, sống Tám Mối Phúc Thật trong từng ngày sống như hành động thiết thực nhất, cụ thể nhất để dâng mình cho Thánh Tâm, làm thành hy tế đời ta hội nhập vào hy tế Thánh Tâm, nên một trong hy tế Thánh Tâm●

                                                                                                                                                               

    Trở về mục lục >>

ĐÔI TAY CẦU NGUYỆN

Suy Niệm Lời Chúa - Chúa Nhật Thứ XI Thường Niên  (Luca 7:36-8:3)

 

Albrecht Durer là một họa sĩ và điêu khắc gia nổi tiếng của nước Ðức vào thế kỷ thứ 16. Một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của ông đó là bức tranh "Ðôi Tay Cầu Nguyện."

Sự tích của họa phẩm này như sau: Thuở hàn vi, Durer kết nghĩa với một người bạn chí thân. Cả hai đã thề thốt là sẽ giúp nhau trở thành họa sĩ. Ðể thực hiện ước nguyện đó, người bạn của Durer đã chấp nhận làm thuê làm mướn đủ cách để kiếm tiền cho Durer ăn học thành tài. Theo thỏa thuận, sau khi đã thành công, Durer cũng sẽ dùng tiền bạc của mình để giúp cho người bạn ăn học cho đến khi thành đạt.

Thế nhưng khi Durer đã thành tài, danh tiếng của anh bắt đầu lên, thì đôi tay của người bạn cũng đã ra chai cứng vì lam lũ vất vả, khiến anh không thể nào cầm cọ để học vẽ nữa.

Một ngày nọ, tình cờ bắt gặp đôi tay của người bạn đang chắp lại trong tư thế cầu nguyện, Durer nghĩ thầm: "Ta sẽ không bao giờ hồi phục lại được năng khiếu cho đôi bàn tay này nữa, nhưng ít ra ta có thể chứng minh tình yêu và lòng biết ơn của ta bằng cách họa lại đôi bàn tay đang cầu nguyện này. Ta muốn ca tụng đôi bàn tay thanh cao và tấm lòng quảng đại vị tha của một người bạn".

Thế là kể từ hôm đó, Durer đã để hết tâm trí vào việc thực hiện bức tranh đó. Ðó không phải chỉ là một tác phẩm nghệ thuật, nhưng là tất cả tình yêu và lòng biết ơn mà ông muốn nói lên với một người bạn. Bức tranh đã trở thành bất hủ, nhưng càng bất hủ hơn nữa đó là tấm lòng vàng của người bạn và tâm tình tri ân của nhà họa sĩ.

Phúc Âm kể lại cuộc gặp gỡ cảm động giữa Chúa Giêsu và một người đàn bà mà mọi người đang nhìn bằng một con mắt khinh bỉ, bởi vì bà ta bị xếp vào loại người tội lỗi... Bất chấp mọi dòm ngó và xì xào, người đàn bà đã tiến đến bên Chúa Giêsu, đập vỡ một bình dầu thơm, đổ trên chân Chúa Giêsu và dùng tóc lau chân Ngài.

Nhiều người xì xào, tỏ vẻ khó chịu. Chúa Giêsu đã lên tiếng biện minh cho người đàn bà và Ngài đã tiên đoán: nơi nào tin Mừng được loan báo thì nơi đó cử chỉ của người đàn bà được nhắc tới.

Qua lời tuyên bố trên đây, Chúa Giêsu muốn nói với chúng ta rằng: tất cả mọi nghĩa cử, dù là một hành vi nhỏ bé đến đâu và làm cho mọi người nhỏ mọn đến đâu, cũng được ghi nhớ muôn đời.

Tiền của có thể qua đi, danh vọng có thể mai một, nhưng những việc làm bác ái luôn có giá trị vĩnh cửu. Thánh Phaolô đã nói: trong ba nhân đức Tin, Cậy, Mến, chỉ có Ðức Mến là tồn tại đến muôn đời.

Cuộc đời của mỗi người Kitô chúng ta cũng giống như một bức tranh cần được hoàn thành. Mỗi một nghĩa cử chúng ta làm cho người khác là một đường nét chúng ta thêm vào cho bức tranh. Khuôn mặt của chúng ta có thể khô cằn, hoặc rướm máu vì những cày xéo của những thử thách, khó khăn, đôi tay của chúng ta có thể khô cứng vì những quảng đại, quên mình. Tuy nhiên, những đường nét bác ái sẽ làm cho khuôn mặt ấy trở thành bất tử...

Trích Lẽ Sống - 

  Trở về mục lục >>

HIỆP HỘI THẦN HỌC CÔNG GIÁO HOA KỲ

Thanh Thanh

Cuối tuần vừa qua, khách sạn Sheraton thuộc thành phố Los Angeles đã đón tiếp gần 500 tham dự viên (trong đó có 457 thần học gia chính thức là thành viên) thuộc Hiệp Hội Thần Học Công Giáo Hoa Kỳ (Catholic Theological Society of America - CTSA) đến tham dự Đại Hội hàng năm. Đại Hội khai mạc từ chiều thứ năm ngày 7 tháng 6 và kết thúc vào trưa Chúa nhật 10 tháng 6. Đại hội lần này tại Los Angeles được sự cộng tác của Mark Fisher, giáo sư khoa thần học Đại Chủng Viện Thánh Gioan, Camarillo; Thomas Rausch, S.J. của Đại Học Loyola, Marie Egan và Alexis Navarro, IHM, cựu giáo sư Đại Học Mt. St. Mary’s College.

Hiệp Hội Thần Học Công Giáo Hoa Kỳ được thành lập từ năm 1946 tại tiểu bang New York với tính cách là một Hiệp Hội Vô Vị Lợi. Hiện nay, Hội có khoảng 1,400 thành viên chính thức, với tỉ số 1/3 là phụ nữ, đông nhất là tại Hoa Kỳ, Canada và tại một số các quốc gia tại Châu Âu như Ái Nhĩ Lan, Hoà Lan…

Nhằm đề cao nghiên cứu học hỏi về thần học dựa trên truyền thống Công Giáo La Mã, đem khoa thần học nối kết những vấn đề hiện đại, và khuyến khích cổ võ việc giáo dục thần học có hiệu quả, Hiệp Hội đưa ra một diễn đàn để trao đổi những suy tư giữa các nhà thần học và với các học giả trong các ngành học liên hệ khác. Hội tìm cách nâng đỡ những người đã được trao sứ vụ giảng dạy trong Giáo Hội để giúp phát triển sự hiểu biết một cách trưởng thành hơn về đức tin cho các Ki-tô hữu, và tăng cường mối giây thống nhất giữa con người với nhau thông qua sự trân trọng và cảm nhận vai trò của niềm tin tôn giáo trong cuộc sống nhân loại và xã hội. Những cựu chủ tịch của Hội, cũng là tác giả các sách thần học nổi tiếng được kể đến có Hồng Y Avery Dulles, S.J; Charles E. Curran; Richard A. Mc. Cormick: Richard P. McBrien: Kenan B. Osbonne Thomas F. O’Meara, và một số thần học gia “trẻ” gần đây như Lisa Cahill, Elizabeth Johnson, Robert Schreiter, Kenneth Himes và linh mục người Việt nam Phê-rô Phan Đình Cho. Hàng năm Hội tổ chức Hội Nghị tại một địa diểm (tại Hoa Kỳ hoặc Canada) do ban điều hành của Hội đề nghị. Ngoài những bản báo cáo và trao đổi chuyên môn về thần học, cao điểm của đại hội là việc trao giải thưởng John Courtney Murray (tên của linh mục dòng Tên rất nổi tiếng trong những đóng góp trong công đồng Vatican II) cho các thành viên của Hội có thành tích đóng góp xuất xắc vào việc giáo dục thần học. Năm nay, Hội đã trao giải này cho linh mục Virgilio Elizondo, thuộc đại học San Antonio và Notre Dame vì những đóng góp lớn lao của cha trong lãnh vực giáo dục thần học qua cuộc sống cụ thể của những người di dân nói tiếng Tây Ban Nha. Trong đáp từ cám ơn, Cha Elizondo nhiều lần cám ơn những người đã khuyến khích cha tiếp tục con đường nghiên cứu thần học, vì bản thân cha luôn nghĩ mình chỉ là một cha sở, làm công việc giảng dạy lời Chúa cho giáo dân, thi hành bổn phận mục vụ trong giáo xứ và những hoạt động của hội MACC (Mexican American Cultural Center) mà cha đã góp phần xây dựng.

Đại hội năm nay tuy có một số thành viên khá nổi tiếng, nhưng thiếu vắng những thần học gia đẳng cấp “hàng đầu - first-rate.” Đó cũng là điều bình thường vì thành viên tuy nhiều, nhưng tham dự thường chỉ khoảng 1/3, lý do là các thành viên thuộc Hiệp Hội này là những nhà giáo dục, linh mục thần học gia có học vị, họ thường được mời thuyết trình, giảng dạy tại các viện đại học hoặc tổ chức đã kín cả thời khóa biểu trong suốt cả năm. Hiện diện lần này có 2 thần học gia người Việt, trong đó có linh mục giáo sư tiến sĩ Phan Đình Cho, trước đây đã từng là chủ tịch của Hội trong nhiệm kỳ 2001-2002. Đề tài của Đại hội lần này là “Các Giám Mục trong Giáo Hội,” do đó có sự hiện diện của các giám mục để chào mừng, học hỏi và hồi đáp cho những buổi hội thảo liên quan đến vai trò mục tử. Người ta thấy có hồng y Roger Mahony, tổng giáo phận Los Angeles; Richard Grecco, G.M. phụ tá Toronto, Canada; Donald Pelotte, G.M. Gallup, New Mexico; Richard Sklba, G.M phụ tá tổng giáo phận Milwaukee, cũng là một học giả Thánh Kinh; William Skylstad, G.M. giáo phận Spokane; Tod Brown, G.M. giáo phận Orange, California; John Cummins, G.M. hưu của giáo phận Oakland, California và một giám mục đến từ Phi-lip-pin. Một đặc điểm nữa là có sự tham dự của các nhà thần học thuộc giáo phái Thệ Phản Luther, giáo hội Anh Giáo, và Hội đồng các Giáo Hội Chúa Ki-tô.

Bên cạnh những đề tài được trình bày và thảo luận vừa có tính lý thuyết cao siêu, những giải thích mới về các đề tài của Giáo Hội liên quan đến thời sự, xã hội và con người, người tham dự cũng học được những vấn đề rất thiết thực, chính vì thế mà không kém phần “nóng bỏng,” dễ gây tranh cãi và hiểu lầm. Từ vai trò lãnh đạo của các giám mục trong đối thoại liên tôn, đến huấn quyền giảng dạy và những vấn nạn về lạm dụng tính dục; từ vấn đề thần học và sinh thái, đến những vấn đề đạo đức luân lý chăm sóc người già; từ phương pháp luận của thần học Á châu đến vai trò của giám mục nơi công chúng; vấn đề liên quan đến vai trò giám mục, tội xã hội của đặc quyền người da trắng đến những mục vụ của người tín hữu và các giám mục, cũng như việc các giám mục cần phải học hỏi và lắng nghe tiếng nói của người tín hữu…Các đề tài rất phong phú đa dạng, bên cạnh những vấn đề “muôn thưở” của Thần Học dưới cái nhìn thời nay, như hiểu thế nào về chữ Filioque (và bởi Chúa Con) giữa Công Giáo và Tin Lành, các phương pháp luận thần học theo truyền thống…thật phong phú, thú vị và hữu ích.  Các buổi hội thảo và trình bày giữa các thần học gia trong các Đại Hội với mục đích trao đổi và học hỏi  thường liên quan đến những đề tài học thuật cao siêu, khó hiểu, nhưng mặt khác, họ cũng là những con người rất “người” với những giới hạn, thao thức và có tâm tình gần gũi và khiêm tốn. (Xin xem thêm bài chia sẻ trong thánh lễ của chủ tịch Daniel Finn trong số này.)

Trong phiên họp khoáng đại lần thứ ba của đại hội vào sáng thứ bảy 9/6, dưới sự chủ tọa của tân nữ chủ tịch Margaret O’Gara, giáo sư thần học tại St. Michael’s  College, Canada, các thần học gia đã được nghe bài tham luận về “Các Giám Mục và Trách Nhiệm Giải Trình – Bishops and Structures of Accountability.” Phải nói đây là một đề tài tương đối mới và hơi “cấm kỵ.” Vì theo truyền thống, cũng như trong các sách giáo khoa, từ điển và bách khoa Công giáo trước nay không hề có từ accountability liên hệ đến vai trò của mục tử. Các giám mục thường được hiểu là những người lo phần thiêng liêng, chỉ trả lời trước mặt Chúa, hay ít ra là với Đức Giáo Hoàng. Bài tham luận của hai nữ thần học gia, Cynthia Crsydale, thuộc giáo hội Anh Giáo nhưng dạy tại đại học Công Giáo Hoa Kỳ, Washington DC (CUA) và Susan Wood, nữ tu dạy tại đại học Marquette, trình bày hai cái khía cạnh về trách nhiệm giải trình của các Giám mục, một về liên quan đến Giáo Hội, mặt kia liên quan về đạo lý. Vấn đề nêu ra phức tạp và không dễ dàng được mọi người chấp nhận, nhưng qua trình bày dựa trên Giáo Luật và những văn bản Công Đồng Vatican II, thì các giám mục được mời gọi sống có trách nhiệm với bản thân, với cộng đoàn dân Chúa tại nhiệm sở địa phương và với tập thể các giám mục mà đứng đầu là giám mục Rô-ma. Câu hỏi đặt ra là khi trả lời về trách nhiệm của mình, vị giám mục có thể có những mâu thuẫn giữa địa phương mình phục vụ và với Rô-ma. Đây là những suy tư thần học, nên có thể nói câu hỏi đặt ra nhiều hơn là có câu trả lời, và tuỳ thuộc vào những trường phái thần học mà các thần học gia lấy làm nền tảng cho suy tư mà chọn lựa hay ủng hộ hành động tương thích.

Thực ra, mỗi thần học gia có cái nhìn có thể khác biệt nhau nhưng vẫn chung trong một niềm tin, và như thế không phải là không có thể đối thoại với nhau. Trong diễn văn bế mạc của cựu chủ tịch Daniel Finn, thần học gia đang dạy tại St. John's University ở Collegeville, Minn., ông cho biết các thần học gia có quyền lên tiếng và phát biểu những ý kiến riêng của mình, và Hội sẽ không nhất thiết có những phát biểu chung như trong quá khứ, vì những vấn đề “gai góc,” nếu phát biểu với tư cách tập thể, đã mang lại cho Hội nhiều thất lợi hơn người ta nghĩ. Các bản tuyên bố phê bình góp ý với Giáo Hội trong quá khứ đã làm nhiều thần học gia rời bỏ Hội, thậm chí cựu chủ tịch nay là hồng y Avery Dulles cũng lên tiếng phê phán, cho rằng Hội đã trở thành nơi tập họp những người bất mãn, hay như hồng y Bernard Law cho rằng Hiệp Hội là một vùng đất hoang về thần học. Thật ra, Hiệp Hội Công Giáo Hoa Kỳ trước đây đã có một số thành phần khá cực đoan, cả về bảo thủ và cấp tiến, thuờng đưa ra nhiều vấn đề gây tranh cãi trong Giáo Hội và ngay cả trong Hiệp Hội. Tuy nhiên, thời gian gần đây, số thần học gia trẻ tuổi với tư tuởng cởi mở đang gia tăng. Lập trường của các thần học gia này cũng thay đổi, đem lại cho Hội nhiều sinh hoạt phong phú hơn. Theo thần học gia Daniel Finn, việc đưa ra những phê phán mang tính cách tập thể đã gây tổn thất cho Hội, và tác dụng của nó mang hiệu quả tiêu cực nhiều hơn tích cực, tuy nhiên, Giáo sư Finn không đề cập đến nội dung của các nhận định bình luận này.

Cũng chính vì những phát biểu đưa ra các nhận định có tính tập thể trong các Hội Nghị trong quá khứ, mà các giám mục và những nhà thần học bảo thủ, và một số cơ quan truyền thông khi không tham dự các Hội Nghị tổ chức hàng năm như thế này, đã giải thích sai lạc hoặc tuỳ tiện cắt xén những phát biểu của Hội Nghị theo ý hướng của họ, vì chỉ trình bày một phần nhỏ của bản nhận định nên thường có nhận xét và phán đoán sai lạc về Hiệp Hội.

Giáo Hội luôn cần đến những thần học gia, vì họ giúp đưa ra những suy tư giảng trình về Lời Chúa và giúp người tín hữu sống đức tin trưởng thành hơn. Giáo Hội biết rằng những thần học gia này đa số là những người yêu mến Lời Chúa, yêu mến Giáo Hội, nhưng thường những nhận xét suy tư của họ khi mang tính phê phán (nhất là khi phê phán về quyền bính của Giáo Hội cơ chế) thì dễ bị hiểu lầm và cấm đoán. Khi các bản nhận định tuyên bố của Hội có nhuốm màu phê phán (vì mang tính tập thể), Hội sẽ dễ dàng bị kết án là chống phá Giáo Hội. Thế nhưng không phải trong quá khứ, các vị thánh – là các nhà thần học nổi tiếng cũng đã từng gặp những phản ứng tương tự như thế sao? Tuy nhiên, tình trạng hiện nay làm cho Hội gặp nhiều tổn thất “nội bộ,” khi mà các thần học gia bảo thủ rời bỏ Hội. Làm thế nào để họ trở về? Đó là vấn đề mà tổ chức và những người điều hành Hội phải đặt câu hỏi quan tâm. Có những vị suốt đời trung thành với ơn gọi linh mục-thần học gia của mình như cha Kenan Osborne, dòng Phan-xi-cô, trước đây đã từng giữ vai trò chủ tịch của Hội và là giáo sư thâm niên về thần học hệ thống, tác giả nhiều sách thần học và nhiều sinh viên Việt nam tại trường thần học Berkeley đã được thụ giáo với cha. Khi diện kiến với vị linh mục này, nhiều người đều có cùng cảm nhận về một con người giỏi giang nhưng thật hiền lành, thánh thiện, và yêu mến Giáo Hội sâu xa cùng những giáo huấn của Mẹ Giáo Hội. Cha Osborne cũng rất yêu thích tìm hiểu và giảng dạy về Giáo Hội Á châu, trong đó có Trung Hoa và Việt Nam. Tuy đã về hưu nhưng cha cũng tham dự Đại Hội lần này, và giữ vị trí, cung cách khiêm tốn hiền hoà giữa các học trò, đàn em giờ đã là những thần học gia trẻ tuổi tiếp bước cha anh để đóng góp cho Hiệp Hội và Giáo Hội.

Trong diễn văn bế mạc, Chủ tịch Finn cũng kể lại một kinh nghiệm cá nhân. Đã qua rồi thời mà các thần học gia chỉ là linh mục, thường ngồi ăn tối chung và đàm đạo với giám mục của mình. Ngày nay, con số giáo dân là thần học gia ngày càng nhiều hơn và trổi vượt. Ông kể lại lần làm việc với các giám mục về vấn đề mandatum (giấy phép của Giám Mục cho các thần học gia dạy tại các Đại Học Công Giáo). Sau buổi làm việc, có 3 vị giám mục đã cảm ơn ông và cho rằng ông “có tình có lý.” Tuy nhiên, lời cám ơn này làm cho ông có cảm tưởng rằng các thần học gia thường “không có lý”, và nếu các giám mục có nhận định như thế thì làm sao duy trì được mối quan hệ cá nhân tốt đẹp giữa các thần học gia với các giám mục? Với kinh nghiệm từ quá khứ rất lâu đời, các thần học gia thường là các linh mục, có quan hệ với các giám mục của mình, nên dễ thông cảm hiểu biết lẫn nhau. Thời đại này thì không thế nữa.  

Một trong những đặc biệt của Đại Hội là sự tham dự của các nhà xuất bản sách chuyên môn về thần học. Tuy các gian hàng không phô trương và ồn ào quảng cáo, nhưng ta có thể tìm thấy những quyển sách giá trị của hầu hết các nhà xuất bản nổi tiếng như Oxford, Eerdmans, Cokesbury, Georgetown University, Paulist, Orbis, Fortress Press và Liturgical Press, cũng như một số tạp chí uy tín như Commonweal, báo thần học của đại học Louvain, Bỉ.

Kể lại đây một biến cố cuối tuần mà người viết có cơ duyên được tham dự với những thông tin về một tổ chức uy tín có tầm cỡ với lòng ước mong nền thần học của Giáo Hội Việt Nam ngày càng phát triển, và khi quê hương có điều kiện, Hiệp Hội Thần Học Việt Nam sẽ được hình thành và sẽ có những buổi gặp gỡ, chia sẻ trao đổi để thần học Việt Nam sớm cất cánh và đóng góp xứng đáng cho thần học thế giới bằng kinh nghiệm sống đạo, truyền đạo trên quê hương, với đồng bào dân tộc mình.

  Trở về mục lục >>

 

SUY NIỆM LỜI CHÚA - LỄ MÌNH MÁU THÁNH CHÚA GIÊ-SU

St 14:18-20; Tv 110:1-4; 1Cr11:23-36; Lc 9:11-17

Giáo Sư Daniel K. Finn

Suy niệm dựa trên bài đọc trong Thánh Lễ tại Đại Hội Thần Học Công Giáo Hoa Kỳ, thứ bảy, ngày

9 tháng 6 năm 2007, tại Nhà Thờ Đức Mẹ Vô Nhiễm, thành phố Los Angeles, California.

**************

Hôm nay chúng ta mừng kính Lễ Mình và Máu Thánh Chúa. Bài đọc trong thư thứ nhất gửi tín hữu Cô-rin-tô dạy bảo chúng ta, là người được cứu chuộc nhờ cái chết của Chúa, khi ăn thịt và uống máu Ngài, chúng ta tuyên xưng việc Chúa chịu chết cho đến ngày Người lại đến.

Niềm tin này thật không bình thường, tuyên xưng một cái chết – thật phản ngược với trào lưu văn hoá hiện nay. Niềm tin này cũng trái nghịch hẳn với bài đọc một, khi ông Men-ki-xê-đê nhân danh Thiên Chúa Tối Cao chúc lành cho Ap-ram, người mới đánh đuổi mấy đạo quân trong thung lũng sông Ê-phát. Ở đó đâu có ai ca tụng cái chết; chết là số phần của những kẻ thù nghịch cùng Thiên Chúa. Ngay cả tác giả thánh vịnh hôm nay cũng chẳng tuyên xưng cái chết cách tích cực; chúng ta cứ hình dung “biến quân thù thành bệ dưới chân ta” thì rõ.

Thế giới hôm nay chúng ta đang sống không muốn chấp nhận cái chết. Mỗi năm Hoa Kỳ chi 25% y tế phí cho 1% dân số: tức là cho những người sống vào những năm tháng cuối đời. Có những chi tiêu tốn kém chính đáng, nhưng cũng có nhiều gia đình đòi bằng được các phẫu thuật thay các bộ phận cơ thể cho những người đã quá già, một phần vì họ sợ chết, vì họ nghĩ rằng chết là hết, chẳng còn gì nữa.

Trong khi Chúa Giê-su mời gọi biến vài cái bánh, dăm con cá của chúng ta để mang lại sự sống cho trần gian, nhưng chúng ta quá bận tâm lo lắng tìm kiếm những lương thực hư nát, muốn bảo đảm an toàn cho bản thân và từ chối cộng tác với Ngài.

Tôi xấu hổ khi nhớ lại một buổi chiều vài năm trước đây, trong khi đi dạo dọc theo hướng nam trên Công Trường Thánh Mac-tin tại Lima, thủ đô nước Pê-ru,tôi gặp một chàng thanh niên trạc 25 tuổi mời tôi đánh giầy. Đã quen trả lời các chào mời này, tôi lịch sự đáp, “Không, cám ơn anh,” và tiếp tục bước. Anh ta liền nói một câu mà trước đây tôi chưa từng nghe: “Để tôi có miếng ăn.” (“For bread.”) Những chữ này tôi nhớ rõ mồn một đấy nhưng ý nghĩa thực sự của chúng lại chẳng thấm vào tâm trí tôi lúc bấy giờ. Này đây một thanh niên trẻ trung, chắc có vợ con ở nhà, không tìm nổi công việc để nuôi sống bản thân và gia đình. Nhưng tôi lại tiếp tục rảo bước. Anh ta liền khẩn khoản lần nữa: “Để tôi được sống.” (“For life.”) Vì cuộc sống của anh ta và của bản thân mình, tôi đã chân thành ao ước giá như mình có chút lòng cảm thông để dừng lại, để nói chuyện với anh ta, và tặng anh ta ít tiền, nhưng tôi đã không làm như thế. Tôi vẫn tiếp tục bước đi. Tôi đã nghe lời van xin miếng ăn, và tôi, dù trong túi lúc bấy giờ có dư tiền để mua vài miếng bánh và dăm con cá, vẫn đã tiếp tục bước đi…

Tuyên xưng cái chết của Chúa. Chúng ta đã chứng kiến và cảm thông sâu xa trước những cái chết phi lý tại trường Đại học Kỹ thuật Virginia, nhưng thường chúng ta giữ một thái độ dửng dưng trước những sự sống vô tội bị tiêu diệt trong nền văn hoá của mình: cái chết trong lòng mẹ hay trên phố chợ Falujah của I-rắc. Máu của người dân bản xứ đã thấm vào lòng đất California, khi quân đội Tây Ban Nha hãm hiếp giết chóc hoặc khi người da trắng đi tìm vàng đã bắn giết bừa bãi. Và chung quanh thế giới chúng ta sống, vì thu nhập ít ỏi, biết bao trẻ em đã lớn lên trong suy dinh dưỡng, nhiều em đã bị thui chột cả về thân xác lẫn tinh thần không phương cứu chữa.

Tuyên xưng một cái chết mang lại ý nghĩa gì trong thế giới của chúng ta?

Cũng chính nền văn hoá chi tiêu tốn kém cho những người già cả chạy trốn tử thần, đã không còn tôn trọng những người lớn tuổi. Chúng ta không nhìn vào các bậc cha ông để nghe họ kể về các đấng sinh thành của họ. Hầu như không ai trong chúng ta biết tên ông cố của mình. Trong 8 tên họ của ông bà cố, ta nhớ được mấy người? Và nếu mà ta không nhớ tên họ, thì làm sao cháu chắt chít của chúng mình nhớ được tên của ta? Thật cũng khá mỉa mai khi sống trong một thời đại mà mầu nhiệm các thánh thông công ít được biết đến nhất, và các tín hữu ít khi suy ngẫm rằng chỉ sau vài thế hệ, ngay cả con cháu của họ cũng sẽ chẳng nhớ họ là ai.

Và nếu các bạn nghĩ rằng sách vở của mình viết ra sẽ là di sản muôn đời cho thế hệ mai sau, xin cứ thử vào thư viện nơi có các cuốn sách đó. Hãy thử chọn một quyển viết vào khoảng năm 1907, hoặc thậm chí 1957. Đọc mục lục sách, rồi nghĩ đến bao nhiêu năng lực mà tác giả đã đổ vào tác phẩm đó rồi tự hỏi lòng mình rằng trong 10 năm qua, đã có bao nhiêu lần quyển sách này được đọc đến? Sách chúng ta viết sẽ có ngày được 50 hay 100 tuổi. Tôi thấy thật thấm thía khi nhận ra rằng “vinh dự của các giáo sư rồi cũng mau qua.” (Sic transit gloria professorum).

Loan truyền cái chết của Người tức là nhận biết ý nghĩa thật sự của đời chúng ta cuối cùng phải được triển nở trong lịch sử lâu dài của người tín hữu, mỗi người có được nổi nang ít nhiều khác nhau, nhưng tất cả rồi cũng sẽ quy tụ chung quanh ngai uy linh của Thiên Chúa.

Rất có thể các nhà thần học bị thêm một nguy cơ: tạo cho mình một vỏ bọc chắc chắn, càng ngày càng dày thêm do những kiến thức hiểu biết sâu sắc của các trường phái Công Giáo mà chúng ta tin tưởng gắn bó. Chúng ta không nghe được sứ điệp Tin Mừng đòi hỏi trong lễ sáng Chúa Nhật vì chỉ nhìn thấy vài thiếu sót thần học trong bài giảng của cha xứ. Chúng ta dễ dàng bị ru ngủ bởi niềm xác tín rằng vì mình là người dạy người khác biết đức tin, và biết Tin Mừng đòi hỏi điều gì. Trong khi đó, chúng ta biết quá ít về bạn sinh viên mình dạy: một bạn trẻ phải bỏ học vì bị bệnh phiền muộn trầm cảm, hay một phụ nữ trẻ học hành thất thường do bị hãm hiếp mà ta không hề nghe biết.

Tuyên xưng cái chết của Người thật phản văn hoá vì nó bộc lộ sự thiếu sót về nguyên tắc của thời đại chúng ta. Không chỉ vì chúng ta là một dân tộc ích kỷ, vì chúng ta để tiện nghi an toàn của mình trên hết mọi sự, mà còn vì chúng ta thấy mình không cần được cứu chuộc. Là những thầy cô giáo, chúng ta nhiều khi hết sức ngạc nhiên khi thấy sinh viên của mình táo tợn đòi hỏi cho rằng xứng đáng được điểm cao. Nhưng có phải chúng ta cũng giống các sinh viên này? Chúng ta tuân thủ một giáo trình của cuộc sống thật cẩn thận, và còn làm một số việc lập công với Chúa. Rồi chúng ta vẫn tự nhủ, “Ta tuy có lỗi phạm, nhưng chắc chắn ta đáng được điểm đậu trong kỳ thi kết thúc cuộc đời.”

Cuối tuần này chúng ta tụ họp trong một khách sạn sang trọng, và trong khoảng một tiếng đồng hồ nữa đây chúng ta sẽ dùng bữa tối theo cung cách mà chỉ có một số người trên hành tinh này có điều kiện. Chúng ta hãy mừng lễ, cũng như Chúa Giê-su đã làm, có rượu ấm và tình thân, nhưng xin để việc mừng lễ này, trong thánh đường này cũng như trong bữa tiệc tiếp theo sau đây, phải là lời nhắc nhở cho chúng ta ý thức rằng, khoảng cách còn rất xa để mình đạt được những đòi hỏi của vai trò của người loan truyền cái chết của Chúa.

Như thế chúng ta có niềm hy vọng gì? Nói cho cùng, niềm hy vọng của chúng ta cũng là niềm  hy vọng của thánh Phao-lô: đó là sự thật được mạc khải trong sự sống, cái chết và sự phục sinh của Chúa Ki-tô. Sự thật này cứ chen vào cuộc đời của chúng ta dù ta không muốn.

Có một quá khứ thất bại không có nghĩa rằng chúng ta nhất thiết sẽ phải tiếp tục thất bại. Như Flannery O’Connor viết trong thư gửi cho của mình là bạn Betty Hester: “Ý nghĩa của việc cứu chuộc chính là nhờ đó, chúng ta không lập lại lịch sử của mình.”

Bài Tin Mừng hôm nay minh chứng cho niềm hy vọng đó. Chúng ta vừa nghe việc Chúa cho 5000 người ăn, Chúa hứa ban cho chúng ta dồi dào sung mãn dù ta chỉ đóng góp một phần bé nhỏ. Là những thần học gia, chúng ta cần nhận thức rằng tập thể chúng ta không thể tự nuôi chính mình – đó là lý do tại sao chúng ta quy tụ chung quanh bàn tiệc này.

Chúng ta tin vào Chúa, vào mầu nhiệm các thánh thông công, vào việc chúng ta được tha thứ tội lỗi, và tin vào cuộc sống này không chấm dứt, không qua đi bởi cái chết. Trong thánh lễ Mừng Kính Mình và Máu Thánh Chúa Ki-tô hôm nay đây, thật là đúng đắn khi chúng ta loan truyền cái chết của Chúa cho đến khi Ngài lại đến●

                                                                                                                                                      Trở về mục lục >>

Có Những Người “Cha” Như Thế

Thiên Kim

LTS: Bên cạnh gương những linh mục Việt Nam đáng kính, có những linh mục Hoa Kỳ rất đáng cho

chúng ta học hỏi. Có nhiều linh mục thích được gọi với danh xưng trần thế,( như giáo sư, viện sĩ, nhạc sĩ,

thần học gia…), thì vị linh mục giới thiệu sau đây cũng đáng làm ta suy nghĩ. Nhân Ngày Hiền Phụ, nhớ ơn

các bậc làm cha, Maranatha trân trọng giới thiệu cùng độc giả  về “cha” Theodore M. Hesburgh, thuộc dòng

Thánh Giá, cựu viện trưởng Đại Học Notre Dame, Indiana, Hoa Kỳ.

 

Các sinh viên theo học tại Đại Học Notre Dame, đại học Công giáo nổi tiếng tại Hoa Kỳ đều nghe biết  linh mục Theodore M. Hesburgh, đã đảm nhiệm vai trò viện trưởng hơn 35 năm ròng, và hiện nay được vinh danh là Viện trưởng danh dự của trường. Cha vừa mừng sinh nhật 90 tuổi trong tháng 5 vừa qua. Tuy đã về hưu, nhưng cha vẫn được kính trọng như một nhà lãnh đạo của Công Giáo Hoa Kỳ uy tín nhất hiện còn sống, cũng là nhà giáo dục Công Giáo thành công nhất của thế kỷ 20. Theo luật thì cha về hưu từ năm 1987, nhưng cha “Ted” (theo tên gọi thân mật) vẫn tiếp tục hoạt động tích cực đề phục vụ Giáo Hội, tổ quốc và dành nhiều thì giờ cho việc học thuật.

Vào lúc đã 77 tuổi, cha Hesburgh được bầu làm thành viên của Ban Giám Sát của trường Đại Học Harvard, là linh mục đầu tiên được vinh dự này, cũng như sau đó làm chủ tịch của Ban này trong hai nhiệm kỳ vào năm 1994. Cha cũng là người nhận học vị kỷ lục, cho đến nay đếm được 150 bằng tiến sĩ danh dự từ các trường Đại Học (nắm giữ kỷ lục theo sách Guinness thế giới). Nhưng đối với cha, thành tựu mà cha coi là quan trọng nhất tại trường Notre Dame là đã biến việc quản trị đại học do Nhà Dòng Thánh Giá của cha đảm nhiệm trở thành Hội đồng quản trị do các giáo dân điều hành, và phổ biến cho phụ nữ được vào học trong trường này từ năm 1972.

Uy tín có tầm cỡ quốc gia của cha được thể hiện qua việc cha được các tổng thống Hoa Kỳ bổ nhiệm đến 16 lần vào các ban ngành lãnh vực, từ việc sử dụng năng lượng nguyên tử cho mục đích hoà bình, đến phát triển thế giới thứ Ba, từ di dân đến nhân quyền. Cha là thành viên nguyên thuỷ và là chủ tịch của Uỷ ban Nhân Quyền, cũng như được “hân hạnh” là người đầu tiên bị Tổng thống Richard Nixon sa thải khi ông ta bắt đầu nhiệm kỳ 2, nhiệm kỳ định mệnh mà Nixon buộc phải từ chức nếu không sẽ bị “đàn hặc.” Vào tháng 7 năm 2000, cha Hesburg nhận được Huân Chương Vàng của Quốc Hội, là vinh dự cao nhất mà Quốc Hội Hoa Kỳ trao tặng cho một dân sự vì những đóng góp xuất chúng cho quốc gia. Từ năm 1776, khi Quốc Hội thành lập Huân Chương này, tổng thống George Washington là người đầu tiên được trao tặng, và trong lịch sử Hoa Kỳ, chưa có đến 250 người được nhận Huân Chương cao quý này.

Về phục vụ Giáo Hội, cha Hesburg đã từng là nhân vật hàng đầu trong ngành giáo dục cấp cao trong hàng chục năm, là đại diện của Vatican cho Cơ Quan Năng Lượng Nguyên Tử hơn 13 năm, và là bạn tâm giao của Đức Giáo Hoàng Phao-lô VI. Nhưng điểm nổi bật hơn cả, cha đã là linh mục trung thành và nổi bật trong vai trò của mình. Khi Tổng Thống Clinton trao Huân Chương Vàng Quốc Hội cho cha vào năm 2000 do những đóng góp của cha cho tổ quốc và hoà bình thế giới, Tổng Thống đã nói, “Vinh dự lớn nhất mà cha có được chính là chiếc cổ trắng linh mục mà ngài đang mang nơi cổ áo.” Cha Hesburg rất đồng ý khi đáp lời cho biết ngày ý nghĩa nhất trong đời của cha chính là ngày được truyền chức linh mục. Cha cũng đã rất nhiều lần nói với bạn bè và trong các buổi nói chuyện rằng sau này khi qua đời, trên mộ chí của cha chỉ cần ghi chữ “linh mục” là quá đủ.

Những người được vinh dự làm bạn hay đồng nghiệp với cha tại Notre Dame đều nhận thấy câu “gần Thái Sơn thấy núi không lớn như mình nghĩ” là sai. Cha Hesburg ở gần cũng vĩ đại như khi đứng nhìn từ xa. Khi vào thang máy để đến thư viện mang tên Hesburg, nếu ai đó tình cờ gặp cha đều được cha dừng lại hỏi thăm trò chuyện. Khi gặp bất cứ sinh viên nào, cha thường quan tâm hỏi tên tuổi họ, từ đâu đến, học môn gì, và ước vọng gì sau khi tốt nghiệp tại Notre Dame. Trong một số trường hợp, cha có thể kể tên cha mẹ hay các thành viên trong gia đình của người sinh viên đã tốt nghiệp trước kia, cũng như người sinh viên nào đó cha gặp sẽ không rời thang máy mà không nhận được những lời khích lệ của ngài.

Đối với các giáo sư, nhân viên cũng như những người làm việc trong bất cứ chức vị hoặc vai trò nào, cha Hesburg đều cư xử tử tế như họ. Điều làm cha bận tâm hơn cả, là nếu có ai đó vì quyền cao chức trọng, đã vô tình đối xử với những người khác thiếu lòng tôn trọng.

Là linh mục tròn 64 năm, cha luôn lấy Thánh Thể là trung tâm đời sống của mình, cho dù bất kỳ ở nơi đâu, và lời cầu nguyện mỗi ngày của cha vẫn luôn là, “Lạy Chúa Thánh Thần, xin ngự đến!”●

                                                                                                                                                 Trở về mục lục >>

TRUYỀN THÔNG

Lm. Nuyễn Công Ðoan, SJ

 

Khi ta muốn truyền thông cho người khác một tâm tình, một tư tưởng, một sự hiểu biết... thì ta phải biết rõ mình muốn gì: muốn truyền thông hay muốn phô trương chính mình. Người ta rất dễ rơi vào thái độ muốn phô trương sự hiểu biết của mình hơn là làm cho người khác cảm nhận, tiếp thu được điều mình muốn truyền thông. Qua ngôn ngữ, hình ảnh... ta phải làm sao cho người nghe, người xem quên ta đi mà chỉ chú ý tới chính cái ta muốn truyền đạt thôi.

Khi ta muốn truyền thông, thì ta phải nhắm giúp người nghe tiếp nhận điều ta muốn truyền thông. Ví dụ như đường dây điện, như ống nước, dây điện càng ít giữ điện cho nó (điện trở) thì càng dẫn tốt, ống nước càng thông thì nước càng chảy dễ dàng. Ta bật ngọn đèn hay ta mở vòi nước thì ta chỉ chú ý đến ánh sáng, đến nước chứ đâu có chú ý đến dây điện, ống nước. Khi ta phải chú ý đến dây, ông nước tức là có gì trục trặc rồi.

Khi muốn truyền thông, ta phải chú ý đến trình độ và tâm trạng người nghe để dùng ngôn ngữ, hình ảnh, cách diễn tả cho thích hợp. Ðiều ta muốn truyền thông ta phải nắm thật vững, phải thấm trước đã. Tránh tất cả những gì làm người nghe "chia trí," rời xa điều ta muốn truyền thông để chú ý đến ta hoặc một cái gì ngoài nội dung ấy.

Ta phải tự xóa mình đi để người nghe ta trực diện với nội dung ta muốn truyền đạt. Ðó là lý do tại sao ta chỉ thấm thía một điều gì sau khi người nói vắng mặt, vì ta không bị chia trí nữa.

Nhưng trước hết, trên hết và trong tất cả phải có lòng yêu mến tha thiết đối với người nghe và muốn cho người nghe được ích lợi do những gì ta muốn truyền đạt. Bạn có thấy trong cuộc sống "tiếng thì thầm của tình yêu" bao giờ cũng được nghe rõ hơn cả, in sâu hơn cả và nhớ lâu hơn cả, cũng như tác động mạnh hơn cả. Tiếng mẹ thủ thỉ thời thơ ấu đã in vào tâm hồn bạn bao nhiêu điều cho cả cuộc sống. Vợ chồng nói với nhau, anh em nói với nhau vẫn dễ hơn cả (cũng vì thế mà người ta hay "lễ bà" để cậy "nói với ông"...)

Tình yêu là máng thông tuyệt vời!

TruyỀn Thông II - ÐiỆn TrỞ

Khoa học kỹ thuật ngày nay đã chế tạo được chất dẫn điện với điện trở “zero - số không (0)”. Khi phát minh này được ứng dụng rộng rãi thì lại thêm bao tiện nghi cho đời sống và lao động. Tôi chợt nghĩ tới hình ảnh này sau khi tôi ghi cho bạn mấy suy nghĩ trước về "truyền thông." Tình yêu chính là môi trường tuyệt đối cho sự truyền thông giữa người với người. Tình yêu hướng tới vô cực (∞) thì điện trở hướng tới zero (0).

Lời mẹ cha âu yếm dạy bảo dặn dò bao giờ cũng in sâu hơn tất cả. Thậm chí là cha mẹ quở mắng mà xuất phát từ tình yêu con cũng có thể tác động tốt như lời âu yếm. Nhưng lời quở mắng chỉ vì tức giận, đ