SUY NIỆM LỜI CHÚA - LỄ MÌNH MÁU THÁNH CHÚA GIÊ-SU

St 14:18-20; Tv 110:1-4; 1Cr11:23-36; Lc 9:11-17

Giáo Sư Daniel K. Finn

Suy niệm dựa trên bài đọc trong Thánh Lễ tại Đại Hội Thần Học Công Giáo Hoa Kỳ, thứ bảy, ngày

9 tháng 6 năm 2007, tại Nhà Thờ Đức Mẹ Vô Nhiễm, thành phố Los Angeles, California.

**************

Hôm nay chúng ta mừng kính Lễ Mình và Máu Thánh Chúa. Bài đọc trong thư thứ nhất gửi tín hữu Cô-rin-tô dạy bảo chúng ta, là người được cứu chuộc nhờ cái chết của Chúa, khi ăn thịt và uống máu Ngài, chúng ta tuyên xưng việc Chúa chịu chết cho đến ngày Người lại đến.

Niềm tin này thật không bình thường, tuyên xưng một cái chết – thật phản ngược với trào lưu văn hoá hiện nay. Niềm tin này cũng trái nghịch hẳn với bài đọc một, khi ông Men-ki-xê-đê nhân danh Thiên Chúa Tối Cao chúc lành cho Ap-ram, người mới đánh đuổi mấy đạo quân trong thung lũng sông Ê-phát. Ở đó đâu có ai ca tụng cái chết; chết là số phần của những kẻ thù nghịch cùng Thiên Chúa. Ngay cả tác giả thánh vịnh hôm nay cũng chẳng tuyên xưng cái chết cách tích cực; chúng ta cứ hình dung “biến quân thù thành bệ dưới chân ta” thì rõ.

Thế giới hôm nay chúng ta đang sống không muốn chấp nhận cái chết. Mỗi năm Hoa Kỳ chi 25% y tế phí cho 1% dân số: tức là cho những người sống vào những năm tháng cuối đời. Có những chi tiêu tốn kém chính đáng, nhưng cũng có nhiều gia đình đòi bằng được các phẫu thuật thay các bộ phận cơ thể cho những người đã quá già, một phần vì họ sợ chết, vì họ nghĩ rằng chết là hết, chẳng còn gì nữa.

Trong khi Chúa Giê-su mời gọi biến vài cái bánh, dăm con cá của chúng ta để mang lại sự sống cho trần gian, nhưng chúng ta quá bận tâm lo lắng tìm kiếm những lương thực hư nát, muốn bảo đảm an toàn cho bản thân và từ chối cộng tác với Ngài.

Tôi xấu hổ khi nhớ lại một buổi chiều vài năm trước đây, trong khi đi dạo dọc theo hướng nam trên Công Trường Thánh Mac-tin tại Lima, thủ đô nước Pê-ru,tôi gặp một chàng thanh niên trạc 25 tuổi mời tôi đánh giầy. Đã quen trả lời các chào mời này, tôi lịch sự đáp, “Không, cám ơn anh,” và tiếp tục bước. Anh ta liền nói một câu mà trước đây tôi chưa từng nghe: “Để tôi có miếng ăn.” (“For bread.”) Những chữ này tôi nhớ rõ mồn một đấy nhưng ý nghĩa thực sự của chúng lại chẳng thấm vào tâm trí tôi lúc bấy giờ. Này đây một thanh niên trẻ trung, chắc có vợ con ở nhà, không tìm nổi công việc để nuôi sống bản thân và gia đình. Nhưng tôi lại tiếp tục rảo bước. Anh ta liền khẩn khoản lần nữa: “Để tôi được sống.” (“For life.”) Vì cuộc sống của anh ta và của bản thân mình, tôi đã chân thành ao ước giá như mình có chút lòng cảm thông để dừng lại, để nói chuyện với anh ta, và tặng anh ta ít tiền, nhưng tôi đã không làm như thế. Tôi vẫn tiếp tục bước đi. Tôi đã nghe lời van xin miếng ăn, và tôi, dù trong túi lúc bấy giờ có dư tiền để mua vài miếng bánh và dăm con cá, vẫn đã tiếp tục bước đi…

Tuyên xưng cái chết của Chúa. Chúng ta đã chứng kiến và cảm thông sâu xa trước những cái chết phi lý tại trường Đại học Kỹ thuật Virginia, nhưng thường chúng ta giữ một thái độ dửng dưng trước những sự sống vô tội bị tiêu diệt trong nền văn hoá của mình: cái chết trong lòng mẹ hay trên phố chợ Falujah của I-rắc. Máu của người dân bản xứ đã thấm vào lòng đất California, khi quân đội Tây Ban Nha hãm hiếp giết chóc hoặc khi người da trắng đi tìm vàng đã bắn giết bừa bãi. Và chung quanh thế giới chúng ta sống, vì thu nhập ít ỏi, biết bao trẻ em đã lớn lên trong suy dinh dưỡng, nhiều em đã bị thui chột cả về thân xác lẫn tinh thần không phương cứu chữa.

Tuyên xưng một cái chết mang lại ý nghĩa gì trong thế giới của chúng ta?

Cũng chính nền văn hoá chi tiêu tốn kém cho những người già cả chạy trốn tử thần, đã không còn tôn trọng những người lớn tuổi. Chúng ta không nhìn vào các bậc cha ông để nghe họ kể về các đấng sinh thành của họ. Hầu như không ai trong chúng ta biết tên ông cố của mình. Trong 8 tên họ của ông bà cố, ta nhớ được mấy người? Và nếu mà ta không nhớ tên họ, thì làm sao cháu chắt chít của chúng mình nhớ được tên của ta? Thật cũng khá mỉa mai khi sống trong một thời đại mà mầu nhiệm các thánh thông công ít được biết đến nhất, và các tín hữu ít khi suy ngẫm rằng chỉ sau vài thế hệ, ngay cả con cháu của họ cũng sẽ chẳng nhớ họ là ai.

Và nếu các bạn nghĩ rằng sách vở của mình viết ra sẽ là di sản muôn đời cho thế hệ mai sau, xin cứ thử vào thư viện nơi có các cuốn sách đó. Hãy thử chọn một quyển viết vào khoảng năm 1907, hoặc thậm chí 1957. Đọc mục lục sách, rồi nghĩ đến bao nhiêu năng lực mà tác giả đã đổ vào tác phẩm đó rồi tự hỏi lòng mình rằng trong 10 năm qua, đã có bao nhiêu lần quyển sách này được đọc đến? Sách chúng ta viết sẽ có ngày được 50 hay 100 tuổi. Tôi thấy thật thấm thía khi nhận ra rằng “vinh dự của các giáo sư rồi cũng mau qua.” (Sic transit gloria professorum).

Loan truyền cái chết của Người tức là nhận biết ý nghĩa thật sự của đời chúng ta cuối cùng phải được triển nở trong lịch sử lâu dài của người tín hữu, mỗi người có được nổi nang ít nhiều khác nhau, nhưng tất cả rồi cũng sẽ quy tụ chung quanh ngai uy linh của Thiên Chúa.

Rất có thể các nhà thần học bị thêm một nguy cơ: tạo cho mình một vỏ bọc chắc chắn, càng ngày càng dày thêm do những kiến thức hiểu biết sâu sắc của các trường phái Công Giáo mà chúng ta tin tưởng gắn bó. Chúng ta không nghe được sứ điệp Tin Mừng đòi hỏi trong lễ sáng Chúa Nhật vì chỉ nhìn thấy vài thiếu sót thần học trong bài giảng của cha xứ. Chúng ta dễ dàng bị ru ngủ bởi niềm xác tín rằng vì mình là người dạy người khác biết đức tin, và biết Tin Mừng đòi hỏi điều gì. Trong khi đó, chúng ta biết quá ít về bạn sinh viên mình dạy: một bạn trẻ phải bỏ học vì bị bệnh phiền muộn trầm cảm, hay một phụ nữ trẻ học hành thất thường do bị hãm hiếp mà ta không hề nghe biết.

Tuyên xưng cái chết của Người thật phản văn hoá vì nó bộc lộ sự thiếu sót về nguyên tắc của thời đại chúng ta. Không chỉ vì chúng ta là một dân tộc ích kỷ, vì chúng ta để tiện nghi an toàn của mình trên hết mọi sự, mà còn vì chúng ta thấy mình không cần được cứu chuộc. Là những thầy cô giáo, chúng ta nhiều khi hết sức ngạc nhiên khi thấy sinh viên của mình táo tợn đòi hỏi cho rằng xứng đáng được điểm cao. Nhưng có phải chúng ta cũng giống các sinh viên này? Chúng ta tuân thủ một giáo trình của cuộc sống thật cẩn thận, và còn làm một số việc lập công với Chúa. Rồi chúng ta vẫn tự nhủ, “Ta tuy có lỗi phạm, nhưng chắc chắn ta đáng được điểm đậu trong kỳ thi kết thúc cuộc đời.”

Cuối tuần này chúng ta tụ họp trong một khách sạn sang trọng, và trong khoảng một tiếng đồng hồ nữa đây chúng ta sẽ dùng bữa tối theo cung cách mà chỉ có một số người trên hành tinh này có điều kiện. Chúng ta hãy mừng lễ, cũng như Chúa Giê-su đã làm, có rượu ấm và tình thân, nhưng xin để việc mừng lễ này, trong thánh đường này cũng như trong bữa tiệc tiếp theo sau đây, phải là lời nhắc nhở cho chúng ta ý thức rằng, khoảng cách còn rất xa để mình đạt được những đòi hỏi của vai trò của người loan truyền cái chết của Chúa.

Như thế chúng ta có niềm hy vọng gì? Nói cho cùng, niềm hy vọng của chúng ta cũng là niềm  hy vọng của thánh Phao-lô: đó là sự thật được mạc khải trong sự sống, cái chết và sự phục sinh của Chúa Ki-tô. Sự thật này cứ chen vào cuộc đời của chúng ta dù ta không muốn.

Có một quá khứ thất bại không có nghĩa rằng chúng ta nhất thiết sẽ phải tiếp tục thất bại. Như Flannery O’Connor viết trong thư gửi cho của mình là bạn Betty Hester: “Ý nghĩa của việc cứu chuộc chính là nhờ đó, chúng ta không lập lại lịch sử của mình.”

Bài Tin Mừng hôm nay minh chứng cho niềm hy vọng đó. Chúng ta vừa nghe việc Chúa cho 5000 người ăn, Chúa hứa ban cho chúng ta dồi dào sung mãn dù ta chỉ đóng góp một phần bé nhỏ. Là những thần học gia, chúng ta cần nhận thức rằng tập thể chúng ta không thể tự nuôi chính mình – đó là lý do tại sao chúng ta quy tụ chung quanh bàn tiệc này.

Chúng ta tin vào Chúa, vào mầu nhiệm các thánh thông công, vào việc chúng ta được tha thứ tội lỗi, và tin vào cuộc sống này không chấm dứt, không qua đi bởi cái chết. Trong thánh lễ Mừng Kính Mình và Máu Thánh Chúa Ki-tô hôm nay đây, thật là đúng đắn khi chúng ta loan truyền cái chết của Chúa cho đến khi Ngài lại đến●

 

Trở về Muc Lục