ChÂn Dung Phụ Nữ Theo Tin Mừng Thánh Gioan

Thiên Kim

Vai trò và sự hiện diện của người phụ nữ đã là đề tài tranh luận trong nhiều thập niên qua. Vấn đề đặt ra là thẩm định về sự đóng góp của phụ nữ trong đời sống, đặc biệt trong Giáo Hội Công Giáo. Có những ý kiến đồng thuận, ủng hộ, khích lệ và không thiếu những phản bác hoặc nói rõ hơn sự coi thường hoặc xem nhẹ vai trò của phụ nữ vẫn tiếp tục xảy ra đây đó, dưới nhiều hình thức. Trước những vấn nạn trên, là những tín hữu tin vào Chúa Giêsu, thiết nghĩ không có con đường nào khác ngoài việc trở lại với Tin Mừng, để nhìn ngắm Thầy Chí Thánh Giêsu với cung cách ứng xử của Ngài đối với người đương thời trong Phúc Âm, ngõ hầu tìm ra một giải pháp hoặc một con đường để chúng ta noi theo.

Theo Tin Mừng Thánh Gioan, và theo các trình thuật của tác giả, ta bắt gặp một Chúa Giêsu với cách thức đón nhận và đánh giá con người của Ngài rất khác với cách ứng xử của chúng ta. Thật vậy, hình ảnh người góa phụ rón rén bước đến hòm tiền bỏ vào đấy hai đồng xu nhỏ (và có lẽ người phụ nữ ấy cũng xấu hổ vì sự đóng góp cỏn con của mình) đã là dịp cho Chúa Giêsu chỉ cho các môn đệ thấy ai là người đóng góp nhiều hơn cho nhà Chúa. Với  Ngài, người phụ nữ nghèo khó này đã đóng góp nhiều hơn ai hết, hơn cả những người giàu có bỏ hàng trăm đồng vào hòm tiền giữa đền thờ kia (Mc 12:42-43). Với người phụ nữ phạm tội ngoại tình bị bắt quả tang, trong khi đám đông lên án gắt gao thì Chúa Giêsu không những không lên án mà còn bày tỏ lòng xót thương và cảm thông tha thứ, "Tôi cũng không kết tội chị đâu. Về đi và đừng phạm tội nữa." (8:11) Trong nhiều câu chuyện được các tác giả Tin Mừng kể lại, Đức Giêsu đã nhiều lần bày tỏ sự tôn trọng và có lời khen ngợi các phụ nữ thời bấy giờ, trái lại xã hội vẫn coi thường và từ khước sự hiện diện của họ. Là người theo Chúa Giêsu, chúng ta không thể để cho những thói quen của xã hội, lề thói trần gian dẫn đường chúng ta đi. Thái độ đúng đắn nhất là học hỏi cách hành xử của Chúa Giêsu khi ngài tiếp xúc với những con người bị xã hội coi rẻ hoặc đối xử bất công, đặc biệt đối với phụ nữ. Bài viết này xin được giới thiệu chân dung của ba phụ nữ trong cuộc đời của Chúa Giêsu theo Tin Mừng thánh Gioan, tác giả của Tin Mừng Thứ Tư với lối nhìn thần bí và cảm nghiệm tràn đầy Tình Yêu Thiên Chúa.

Khi đọc Phúc Âm, luôn cần chú ý xem xét bối cảnh của câu chuyện mà Tin Mừng thuật lại. Phong tục, tập quán và nhân sinh quan của người Do thái thời Chúa Giêsu rất khác với con người thời nay; lại còn khác hơn nữa với những người không phải là Do thái. Hơn nữa, các tác giả viết Kinh Thánh, dù có ơn linh hứng, vẫn bị ràng buộc vào không gian và thời gian của mình. Những gì không được coi trọng thời bấy giờ chắc chắn sẽ không được “lọt vào mắt xanh” của các sử gia. Các văn bản Kinh Thánh không thoát khỏi quy luật trên. Chúng ta cũng cần biết rằng, tác giả các sách Tin Mừng, tất cả là nam giới, và phần lớn viết cho cánh đàn ông, bởi lẽ phụ nữ thời bấy giờ không được đến trường đi học, để được có sự hiểu biết và một nền giáo dục cần thiết. Như thế, người viết, người đọc, và cả nội dung cũng chỉ đáp ứng cho số người được ăn học.  Không cần phải suy luận nhiều, chúng ta có thể thấy vai trò người phụ nữ trong các sách này rất khiêm tốn, nếu không muốn nói là không có chỗ đứng. Như thế, các phụ nữ và câu chuyện kể về họ được đề cập đến trong Thánh Kinh nói chung, và trong Tin Mừng nói riêng, phải thật đặc biệt và mang ý nghĩa lịch sử cũng như giá trị thần học đáng kể. Nếu những câu chuyện này không mang một dấu ấn đặc biệt, chắc chắn chúng chẳng bao giờ được ghi lại trong các sách này.

Chúng ta cũng cần lưu ý rằng, khi bàn đến giá trị của người phụ nữ cần được đề cao và tôn trọng, không chỉ vì họ được xã hội công nhận vì thành tích của bản thân, hoặc do chồng con mang lại cho. Người phụ nữ được tôn trọng là do phẩm giá của chính bản thân họ: vì họ đã được tạo dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa. (St 1:27; 5:1-2) Những người phụ nữ mà chúng ta sắp tìm hiểu sau đây cũng mang hình ảnh Thiên Chúa. Có chăng điểm cần nêu lên ở đây là vì họ đã có một mối liên hệ đặc biệt với Đức Giêsu, đến nỗi thánh Gioan, vị thánh sử mang tính độc lập, mang nét của riêng mình, (không trình thuật như ba tác giả trong Phúc Âm Nhất Lãm), đã mô tả các phụ nữ này với cách nhìn riêng của mình. Bên cạnh Đức Maria là người phụ nữ độc đáo duy nhất, được Thiên Chúa chọn làm Mẹ của Chúa Giêsu, chúng ta còn thấy ba khuôn mặt phụ nữ đặc biệt khác: thiếu phụ thành Samari; cô Matta cư ngụ ở Bêtania và cô Maria Mađalêna. Cũng chính nhờ trình thuật của Gioan mà chúng ta thấy được vai trò và những đóng góp của ba người nữ "môn đệ" này trong Tin Mừng và cuộc đời của Đức Giêsu cách rõ ràng hơn.

NGƯỜI PHỤ NỮ SAMARIA: Vị Tông Đồ Đầu Tiên cho Dân Ngoại

Học lịch sử Cựu Ước, chúng ta biết người Do thái nhìn người Samaria với cái nhìn kỳ thị, coi thường, thậm chí thù nghịch như thế nào. Hình ảnh một nước Do thái và Palestine ngày nay có lẽ cũng không khác xa thời Chúa Giêsu. Câu chuyện người phụ nữ bên bờ giếng Giacóp đã là đề tài cho không biết bao nhiêu cuộc hội thảo, học hỏi, tác phẩm văn học, âm nhạc, hội họa và kịch nghệ. Chúng ta tự hỏi đâu là nguyên nhân. Đây không phải là câu chuyện bình thường qua ngày. Chuyện về một thầy dậy đạo người Do Thái (gọi là thầy vì Chúa Giêsu có môn đệ đi theo) gặp một phụ nữ không lấy gì làm danh giá người Samaria (phải đi lấy nước vào buổi giờ trưa vắng vẻ để tránh gặp thiên hạ) phải là một đề tài sôi nổi cho nhiều người bàn tán. Người phụ nữ này, tuy biết giới hạn của mình do xã hội quy định, nhưng không phải là người chỉ biết nói sao nghe vậy. Chị cũng "đáo để" khi nói với Đức Giêsu rằng: "Thưa ông, ông không có gầu, mà giếng lại sâu. Vậy ông lấy đâu ra nước hằng sống? (4:11) Hẳn chị ta muốn hàm ý ông Do thái này chỉ "đại ngôn."  Rồi khi bị Chúa bắt bí, chị ta cũng nhanh chóng đổi đề tài, "Cha ông chúng tôi đã thờ phượng Thiên Chúa trên núi này; còn các ông lại bảo: Giê-ru-sa-lem mới chính là nơi phải thờ phượng Thiên Chúa." (4:20) Chỉ cần qua vài câu bắt đầu, chúng ta nhận ra đây là một phụ nữ biết ăn nói, đối đáp, không để cho người đối thoại dẫn dắt câu chuyện theo ý họ. Thế nhưng, Đấng thấu suốt tâm can đã đặt câu hỏi, “Chị đi gọi chồng chị rồi trở lại đây.” (4:16) và câu trả lời đượm nỗi buồn, “Tôi không có chồng.” (4:17) đã nói lên tâm trạng cô đơn miên viễn của người phụ nữ Samaria. Có phải đó là sự tự thú về nỗi trống vắng thay cho nhân loại nói chung? Và cũng là của chị em phụ nữ nói riêng về một khắc khoải, trống vắng, câu hỏi không có lời giải đáp cho những “vấn nạn” của muôn đời? Một người phụ nữ vất vả, đã sống với năm đời chồng, mà người hiện nay đang chung sống cũng không phải là chồng. Đó có phải là nỗi ray rứt của người không tìm được ý nghĩa cuộc đời mình; niềm thao thức mà Thánh Augustinô đã từng thốt lên, "Lạy Chúa, Chúa đã tạo dựng nên con cho Chúa, và tâm hồn con cứ lao đao, bồn chồn mãi cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa."

Nhưng có phải chính người đã đến ngỏ lời xin chị nước uống, giờ đây đã cho chị Lời Hằng Sống để làm nảy sinh trong lòng người phụ nữ mong muốn cháy bỏng là đi loan báo cho mọi người biết về một Đấng Mêsia?  "Hãy đến mà xem, có một Đấng đã nói cho tôi biết về cuộc đời tôi và mọi việc tôi đã làm. Chính Ngài là Đấng Mêsia." (4:28-29) Làm thế nào mà những người trong làng lại có thể tin vào một phụ nữ "có một cuộc đời không lấy gì tốt đẹp kia?" Nhưng kìa, họ đã tin lời chị và lại bỏ cả công việc để gặp một người xa lạ, để cuối cùng họ phải thốt lên, "Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng Người thật là Đấng cứu độ trần gian." (4:42) Việc Thiên Chúa làm, con người không thể hiểu nổi. Sự việc nhiều người Samaria đến với Đức Giêsu và tin vào Ngài qua lời người phụ nữ (một nhân chứng không đáng tin) giới thiệu hết sức độc đáo, như lời nhận xét của linh mục chuyên gia Thánh Kinh Raymond Brown:

“…nhiều người trong làng Samaria đã tin Chúa Giêsu qua lời của người phụ nữ này. Một người phụ nữ tuy có một cuộc đời không đẹp đẽ gì mấy trước mặt người đời, mà lại được nhắc đến trong lời nguyện của Chúa Giêsu, “Con không chỉ cầu nguyện cho những người này [các môn đệ], nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con” (17:20) Nói cách khác, tác giả Tin Mừng khi tường thuật bữa tiệc ly, cho thấy người phụ nữ này, cùng với các môn đệ (nam giới), là những người làm chứng cho Chúa Giêsu qua việc rao giảng, và đã làm cho người ta tin vào Chúa qua lời giảng thuyết mạnh mẽ của mình.”

Lời mời gọi của người phụ nữ với dân làng, "Hãy đến mà xem" (4:29) vang vọng lời của Chúa Giêsu nói với các môn đệ đầu tiên (1:44), cũng như lời của môn đệ Philip khi nói với Nathanael (1:46 b). Các môn đệ xưa kia khi nghe lời mời gọi của Chúa Giêsu “Hãy đến mà xem” và đã từ bỏ mọi sự (Mt 4:20, 22) để theo Ngài, thì người phụ nữ Samaria cũng bỏ vại nước để đi loan báo Tin Vui cho dân làng (4:28).  Như thế, phải chăng thánh Gioan nhận ra Chúa Giêsu đã nhìn nhận phụ nữ này là môn đệ đích thực của Ngài trong chiều kích chính bà đã loan báo sự hiện diện của Đấng Cứu Độ trần gian.

Thánh Gioan Tẩy Giả, vị Tiền Hô dọn đường cho Chúa Giêsu, thường được gọi là "tiếng vang" trong sa mạc chuẩn bị cho Chúa Cứu Thế, là người làm chứng về một Đấng Mêsia phải đến. Người phụ nữ Samaria cũng được coi như là một “tiếng vang” báo tin khi Ngài đến thật. Sau khi mở đầu câu chuyện hỏi chị về nước uống, nhưng đó chỉ là duyên cớ để Chúa Giêsu giới thiệu cho chị một Nước Hằng Sống đem lại sự sống đời đời (4:13-14) và dẫn đưa đến  việc “thờ phượng Thiên Chúa trong Thần Khí và Sự Thật” (4:23). Chính Đức Giêsu đã trao tặng người phụ nữ này mạc khải của chân lý ngàn đời, để đến cả ngàn đời sau và cho đến tận thế, những kẻ tin vào Ngài sẽ tìm thấy con đường của Đạo. Người phụ nữ đó phải chăng là "lời vọng" của "tiếng vang" Gioan Tẩy Giả. Chị là "tông đồ đầu tiên nói cho dân ngoại biết về Đấng phải đến để cứu độ trần gian" bằng lời chứng xác thực của mình sau khi đã gặp được Ngài bên bờ giếng. Qua trình thuật này, tác giả Gioan đã cho thấy người phụ nữ thành Samari này đã tuyên xưng và làm chứng về Chúa Giêsu trước cả các tông đồ. Mãi đến sau này, sau khi Chúa chịu chết, sống lại, lên trời và ban Chúa Thánh Thần xuống, các tông đồ mới chính thức tuyên xưng và làm chứng về Thầy của mình.  Người đọc ngày nay với tinh thần khách quan và tìm hiểu cặn kẽ đều có thể nhận ra ai là người môn đệ đầu tiên thực hiện công việc của Chúa Giêsu giao phó, và hiểu rõ hơn tầm quan trọng của người môn đệ phụ nữ này trong lịch sử cứu độ.

MATTA: Bạn Thân của Đức Giêsu và là Tông Đồ qua Lời Tuyên Tín

Tin Mừng theo thánh Luca mô tả về một Matta bận rộn. Thật vậy, Matta thường bị mô tả là một phụ nữ bối rối, xôn xao về nhiều việc vật chất, chỉ biết hoạt động bên ngoài và xao lãng đời sống nội tâm. Không phải Chúa Giêsu đã nhẹ nhàng nhắc nhở Cô: "Matta, con lo lắng bối rối về nhiều chuyện quá." (Lc 10:41) và các bài suy niệm thường lấy lại lời Chúa Giêsu khen ngợi Maria để ca tụng việc sống đời chiêm niệm cao quý hơn việc phục vụ sao? Thánh Luca cho thấy Matta là một phụ nữ đảm đang, quán xuyến và thường phục vụ Đức Giêsu khi Ngài đến thăm viếng gia đình này (Lc 10: 38-42).

Nhưng qua Tin Mừng của Gioan, chúng ta bắt gặp một khuôn mặt rất khác của Matta. Tin Mừng thứ tư giới thiệu chân dung một phụ nữ được Đức Giêsu thương mến cách riêng; một Matta với lòng tin mãnh liệt với lời tuyên xưng độc đáo duy nhất, tương đương với lời tuyên xưng của vị Tông Đồ Cả Phêrô. Chính nhờ lời tuyên xưng này mà Phêrô được gọi là Đá, được Chúa Giêsu đặt làm Đầu Hội Thánh (Mt 14:33). Trong khi đó, sau lời tuyên xưng như Phêrô, chị đã âm thầm rút vào đàng sau, và cho Maria biết rằng Thầy đã đến. Hình ảnh này rất khác với một Matta xôn xao mà độc giả Thánh Kinh thường hình dung.

Trong Phúc Âm thứ tư, Thánh Gioan ghi lại tình cảm đặc biệt của Chúa Giêsu dành cho Matta và gia đình của Cô thế này: "Đức Giêsu thương mến cô Matta, cùng hai người em là cô Maria và anh là Lazarô." (11:5). Rất hiếm khi trong Phúc Âm chúng ta tìm được những từ ngữ mô tả cụ thể tình cảm của Chúa Giêsu dành riêng cho ai. Đây đó có lời khen ngợi của Ngài dành cho những người có lòng tin vững mạnh, rộng tay yêu thương. Nhưng trong Tin Mừng Gioan, chúng ta thấy Matta và các em của nàng đã được Đức Giêsu nhìn nhận là bạn thân, và dành cho họ tình thân đặc biệt của bạn hữu (11:5). Phải chăng chính vì tình bạn thân thiết đó, nên khi ra đón gặp Đức Giêsu trước cái chết của em mình là Lazarô, Cô đã thốt lên lời trách móc và nuối tiếc: "Thầy ơi, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết." (11:21) Tuy lời phiền trách nhẹ nhàng, nhưng bày tỏ ra đó thật rõ tình thân thiết của Matta và người Thầy-Bạn-Giêsu. Chính vì mối quan hệ tình bạn của Ngài đối với gia đình và biết được Đức Giêsu thương mến, nên Matta mới dám có lời trách móc Thầy trước đám đông, và qua đó cũng cho thấy Chị đã đặt niềm tin tưởng và hy vọng vào sự hiện diện của người Thầy-Bạn đó thế nào. Xã hội Do Thái thời bấy giờ, người phụ nữ không có quyền lên tiếng trong các nghi lễ hoặc các tụ họp công cộng, thì sự hiện diện và lời thưa chào của Matta trong dịp này nói lên sức mạnh của tình bạn, lòng mến, sự thiết thân, lòng trông cậy và mối quan hệ thân tình đặc biệt của Chị và Đức Giêsu. 

Trong Tin Mừng thứ tư, hơn ba mươi lần chính Đức Giêsu đã giới thiệu về Ngài bằng những lời khẳng định: "Ta là." Chúng ta bắt gặp được Chúa đã tỏ mình ra nhiều lần bằng nhiều hình ảnh khác nhau, với các đối tượng khác nhau. "Ta là bánh Hằng Sống" (6:35, 48), "Ta là Bánh Bởi Trời" (6:41), "Ta là Ánh Sáng Thế Gian" (8:12), "Ta là Cửa Chuồng Chiên" (10:7), "Ta là Mục Tử tốt lành" (10:11), "Ta là Đường" (14:6), "Ta là Cây nho" (15:1)... nhưng chỉ duy nhất một lần, với Matta, Chúa Giêsu đã mặc khải cho Chị mầu nhiệm căn bản của đức tin Kitô giáo, “Ta là Sự Sống lại và là Sự Sống. Ai tin vào Ta sẽ không chết đời đời” (1:25). Điểm độc đáo này được Raymond Brown, chuyên gia và học giả Thánh Kinh viết lại trong tác phẩm nổi tiếng The Community of The Beloved Disciple: The Life, Loves, and Hates of an Individual Church in New Testament Times (New York, Paulist, 1979):

Nhưng đặc biệt hơn cả, Đức Giêsu đã tỏ mình ra cho Matta: “Ta là Sự Sống lại và là Sự Sống,” chính điều này là mầu nhiệm lớn lao, thiết yếu về chính mình Ngài. Khi để cho người phụ nữ có một vai trò, một vị trí truyền thống phù hợp ngang hàng với Phêrô, đó là chủ ý của Tin Mừng Gioan. Tác giả Tin Mừng họa lại trong câu chuyện này trong lời tuyên xưng của Matta: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa Hằng Sống, Đấng phải đến trong thế gian” (11:27). Phêrô đã tuyên xưng chính lời ấy về Thầy mình, được Matthêu ghi nhận (Mt 14:33) và đã được Chúa Giêsu khen ngợi và Simon được gọi là Đá sau lời tuyên tín này.  

Chúng ta biết rằng Tin Mừng là một chứng từ đức tin của những người có kinh nghiệm đích thân với Chúa Giêsu và đã được ghi lại sau nhiều năm nghiền ngẫm, cầu nguyện và thực hành lời dạy. Bốn sách Tin Mừng là bốn cái nhìn khác nhau về cùng một thực tại là con người và cuộc đời của Đức Giêsu, bốn cái nhìn khác nhau nhưng bổ túc cho nhau, để ta có cái nhìn trọn vẹn về Con Thiên Chúa.  Tuy vậy, sách Tin Mừng thứ tư lại có nhiều điểm khác biệt với các Sách Tin Mừng Nhất Lãm. Sự khác biệt thiết yếu vẫn là cái nhìn về mầu nhiệm Đức Kitô. Đối với tác giả Gioan, Đức Kitô không chỉ là Đấng Mêsia đến trần gian nhằm làm ứng nghiệm những lời tiên báo của các ngôn sứ Cựu Ước và thiết lập Nước Trời (theo Phúc Âm thánh Matthêu); Người cũng không chỉ là Đấng Mêsia Con Thiên Chúa (theo Phúc Âm thánh Marcô), hoặc là Vị Cứu Chúa đến công bố sứ điệp diễn tả lòng khoan dung của Người đối với nhân loại (theo Phúc Âm thánh Luca). Theo tác giả Gioan, Đức Giêsu chính là Con Thiên Chúa, là Đấng Mêsia mang đến cho thế gian đức tin và sự sống đời đời. (20:31) 

Nếu tác giả Gioan trong xuyên suốt Tin Mừng thứ tư đã đưa khuôn mặt của Đức Giêsu Con Thiên Chúa, Đấng phải đến trong thế gian, ai tin thì được sự sống đời đời thì cũng qua mặc khải này đối với Matta và lời tuyên xưng về chính ngôi vị đó, Gioan đã dành cho Matta một vị trí thật đặc biệt. Thật vậy, khi tuyên xưng "Thầy là Con Thiên Chúa, Đấng Mêsia phải đến trong thế gian." (11:27) Matta đã được Đức Giêsu ưu ái mạc khải cho mầu nhiệm cao quý về chính Ngài và cũng chính vì lời tuyên xưng độc đáo của chị, chúng ta có thể thấy được Gioan đã nhìn nhận Matta: người được chọn là Tông Đồ của Đức Giêsu qua lời tuyên tin. 

MARIA MAĐALÊNA: Tông Đồ của các Tông Đồ

Mầu nhiệm Phục Sinh là nền tảng và trung tâm của đức tin Kitô giáo chúng ta, như Thánh Phaolô đã quả quyết rằng: "Nếu Đức Kitô không sống lại, thì lời rao giảng của chúng ta thật vô ích, và lòng tin chúng ta thật hão huyền." (1Cor 15:14). "Làm sao mà nghe, nếu không có ai rao giảng? Làm sao mà rao giảng, nếu không được sai đi?" (Rm 10, 14-15).  Chúng ta thấy rõ sự thiết yếu của việc rao giảng và sai đi của vai trò Tông Đồ trong việc loan báo Tin Mừng Đức Kitô Sống Lại là điều quan trọng bậc nhất trong nhiệm vụ của người Tông Đồ. Theo Thánh Phaolô, để trở thành một Tông Đồ cần hội đủ hai điều kiện: một là được chứng kiến sự Sống Lại của Đức Giêsu, hai là được Ngài sai đi để loan báo về sự Phục Sinh của Ngài; đây là một sự hiểu ngầm hiển nhiên trong thư của Thánh Phaolô 1Cor 9:1-2;15-18,Gal 1:11-16.

 Nếu theo định nghĩa của Phaolô về thế nào là một Tông Đồ thì Maria Mađalêna được gọi là vị Tông Đồ đích thực. Chính nàng đã được Chúa Giêsu hiện ra đầu tiên khi Ngài Phục Sinh từ mồ trống. Tất cả các Sách Tin Mừng, (Nhất Lãm và Thứ Tư) đều kể về câu chuyện sáng sớm ngày phục sinh và lần hiện ra của Chúa Giêsu với nhiều người phụ nữ (Mt 28: 9-10), nhưng với Gioan thì chỉ riêng Maria Mađalêna đã được Chúa Giêsu hiện ra, cũng chính Ngài đã sai chị đi loan báo Tin Mừng này cho các môn đệ: (20:18-19). Maria Mađalêna là ai mà nàng được Đấng Phục Sinh hiện ra và trao cho sứ vụ loan báo Tin Mừng cho các môn đệ? Maria Mađalêna đã được nhắc đến 12 lần trong Tân Ước- điều này cho thấy chị là một phụ nữ đặc biệt - chỉ sau Đức Trinh Nữ Maria – là người nữ đã được nhắc đến nhiều lần trong Tân Ước. Maria Mađalêna: một người phụ nữ độc lập, sách Tin Mừng đã không ghi về chị là người mẹ, người vợ, người bạn hoặc hoặc chị của bất kỳ ai. Chị đã cùng với một số phụ nữ (tên tuổi đã không được ghi lại vì các tác giả Tin Mừng đã xem các phụ nữ không là quan trọng) thời bấy giờ chân thành theo Đức Giêsu như là các môn đệ - mà đích thực là thế - nhưng họ đã trở thành trung tâm khi mọi sự như thể đã tan hoang, đổ nát. Trong khi mọi người đều tan tác, chạy trốn, lìa bỏ và hơn nữa, từ khước Thầy mình, thì Maria Mađalêna và một số phụ nữ (không tên tuổi đó) đã trung thành ở lại cho đến cùng với Đức Giêsu dưới chân thập giá - cùng với Đức Maria - Mẹ của Ngài và môn đệ dấu yêu (19:25).  Ở đó, sự trung tín đã được biểu lộ cho đến cùng của một tình yêu sâu xa đằm thắm. Ở đó, ta nhìn gặp được sự chịu đựng, nhẫn nhục và khiêm tốn của những tâm hồn đã gặp được Đấng đã đem lại cho họ niềm tin và tình yêu vĩnh cửu.

Những chi tiết khác nhau trong Bốn Sách Phúc Âm tường thuật về sự Phục Sinh của Đức Giêsu như nhiều người đến viếng mồ và những người phụ nữ này đã cùng với Maria Mađalêna đã đến để xức dầu cho Đức Giêsu, nhưng có một điều chắc chắn rằng trong cả bốn sách Tin Mừng đều ghi lại sự trung thành đặc biệt của chị, khi dưới chân thập giá và với tình yêu lớn lao trung tín đó - cũng là người đầu tiên sáng sớm trong tuần đã tìm đến mộ Thầy trước nhất. Chính sự trung thành cho đến cùng này của chị đã được tưởng thưởng xứng đáng với sự hiện ra của Đấng Phục Sinh. 

Vâng, người phụ nữ này, Maria Mađalêna, người mà chính Đức Giêsu hiện ra cho và sai đi bởi chính Ngài là Đấng Đã Sống lại, và điều mà nàng đã loan báo thì chính lại là lời loan báo mang tính cách tông đồ căn bản của sự Phục Sinh: “Tôi đã thấy Chúa!” (Ga 20:18).

Hãy xem sự trân trọng của Phêrô và môn đệ được yêu mến dành cho người phụ nữ bé nhỏ này khi nghe nàng loan báo về một điều xem ra không tưởng "Tôi đã thấy Chúa!" hai môn đệ thân tín của Đức Giêsu đã không chỉ nghe lời của Maria Mađalêna nhưng đã lên đường đi ra mộ để nhìn thấy ngôi mộ trống.

Và theo truyền thống Giáo Hội, chị cũng được vinh dự là người phụ nữ duy nhất (bên cạnh Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa) trong ngày lễ kính Quan Thầy thì Kinh Tin Kính được đọc lên một cách chính thức bởi vì Thánh Nữ đã được xem như là “Tông Đồ của các Tông Đồ.”

Kết Luận

Tin Mừng Gioan đã trao tặng cho độc giả một cái nhìn thật độc đáo về vai trò  quan trọng và sứ mệnh tông đồ cao quý của người phụ nữ trong công cuộc loan báo về Chúa Giêsu, Đấng Cứu Độ. Trần gian hôm nay vẫn còn đó biết bao nhiều tâm hồn khắc khoải đi tìm chân lý, thì lời mời gọi, trách nhiệm của người nữ thành Samari "Hãy đến mà xem" vẫn là lời kêu gọi khẩn thiết, tiếng nói của Chị và những người nữ như Chị cần được trân trọng đón nhận, để ánh sáng Tin Mừng được rọi đến những nơi chưa nhận biết Đức Kitô. Khi sống trong một thế giới văn minh, nhưng đồng thời với nhiều sợ hãi cho ngày mai vô vọng của một nền văn hoá sự chết đang bao trùm nhân loại, thì sự hiện diện của những tâm hồn phóng khoáng, mối liên hệ thân tình với Đấng là "Con Thiên Chúa, Đấng phải đến trong thế gian" để tuyên xưng lòng tin mãnh liệt vào Ngài như Matta để tìm được "Sự Sống Lại và là Sự Sống" thật cần thiết biết bao. Cũng chính trong thế gian u buồn này mà Maria Mađalêna đã được sai đi. Hãy đi nói cho anh em con biết rằng Thầy lên cùng Cha Thầy.” (Ga 20:17).

Hơn hai ngàn năm sau, trong khi xã hội đã nhìn nhận vai trò và những đóng góp tích cực của phụ nữ trong những chức vụ quan trọng, kể cả vai trò lãnh đạo chính trị điều hành guồng máy quốc gia, thì trong Giáo Hội Công Giáo chúng ta vẫn còn những câu hỏi, những tranh cãi, những nghi vấn về vai trò của người phụ nữ. Hẳn rằng trong Giáo Hội cơ cấu và phẩm trật cần phải có để điều hành và quản trị, nhưng sự nhìn nhận và tôn trọng, đề cao vai trò của những phụ nữ trong sứ vụ tông đồ rất cần thiết, nếu không muốn nói là không thể thay thế được. Điều mà chính Chúa Giêsu đã làm hôm qua, cần được thực hiện hôm nay trong Giáo Hội, Hiền Thê và khuôn mặt hiện diện của Ngài ở trần gian. Những phụ nữ đã được học hỏi nơi Thầy Chí Thánh, qua kinh nghiệm bản thân như thiếu phụ thành Samari, những phụ nữ với sứ mệnh Tông Đồ và lời tuyên tín bên cạnh lòng yêu mến, tất cả đều được mời gọi cộng tác với Thầy để trở nên Tông Đồ thực sự. Những tông đồ này vẫn hiện diện và ngày càng đông, vẫn được sai đi nhưng biết đến bao giờ mới được nhìn nhận và trân trọng đúng mức để đóng góp cho cánh đồng truyền giáo hôm nay và mai này theo đúng Tin Mừng và lời mời gọi của Đấng Phục Sinh?

 

Trở về Muc Lục