THẦN HỌC TRUYỀN THÔNG:

nỀN tẢng cho viỆc đào tẠo truyỀn thông xã hỘi

 

 F. Paul A. Soukup, S.J.  

Trưởng khoa Phân khoa Truyền thông,

đại học Santa Clara, California, Hoa Kỳ.

               Lm. Phêrô Đặng Xuân Thành chuyển dịch

  Việc truyền thông hiện nay và những thay đổi do nó đưa vào trong xã hội đã tác động đến việc đào tạo linh mục, đến thần học và các lĩnh vực khác. Để chứng minh một cách thuyết phục hơn tại sao các chủng sinh - thật ra, tất cả mọi phân khoa thần học - cần quan tâm tới việc truyền thông, bài khảo luận này sẽ tìm hiểu tại sao một nền “thần học truyền thông”, tức là một nền thần học quan tâm tới việc truyền thông và mang ý tưởng truyền thông, sẽ giúp chúng ta hiểu biết về Thiên Chúa, Giáo Hội và đời sống con người. Chúng tôi sẽ tiến hành làm việc này qua bốn bước: 1/ xem lại ảnh hưởng của việc truyền thông trong Giáo Hội và xã hội; 2/ liệt kê một số hệ quả của việc truyền thông đối với thần học; 3/ liệt kê một số hệ quả của việc truyền thông đối với tác vụ linh mục; 4/ liệt kê một số hệ quả của thần học truyền thông đối với đời sống con người.

 1. Ảnh hưởng của việc truyền thông

 Trong vòng 20 năm qua, chúng ta đã chứng kiến sự phát triển nhanh chóng của các phương tiện truyền thông trên hầu hết các khu vực của toàn thế giới. Nhờ phát minh được con chíp cực nhỏ mà các thiết bị viễn thông trở nên rẻ, nhỏ và dễ sử dụng hơn. Được sự hỗ trợ của các hệ thống truyền thông đang phát triển trên khắp thế giới, các phương tiện truyền thông này đã liên kết được với nhau, nối kết mọi người và mọi địa điểm thông qua các mạng thông tin toàn cầu (Internet), các mạng truyền thanh và các mạng truyền hình. Song song với sự phát triển cơ sở hạ tầng ấy, người ta cũng thấy việc thương mại hoá các mạng và các thiết bị tăng lên, kéo theo các cơ chế lập trình, quảng cáo và cả một nền văn hoá truyền thông đại chúng. Dựa trên những gì các nhà nghiên cứu đã khám phá về ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông tương đối “cũ” như truyền hình, chúng ta có thể biết được tại sao một thế giới truyền thông đang phát triển đã tác động lên xã hội loài người nói chung và thần học nói riêng bằng cách điểm qua chín lĩnh vực này (1).

 1.1. Các nguồn kiến thức

 Con người hôm nay có thể tiếp cận một lượng thông tin khổng lồ về thế giới qua các bản tin từng giờ hay nhanh hơn nữa, các bài tường thuật từ mọi ngõ ngách trên thế giới, những bài bình luận và thảo luận từ vấn đề này tới vấn đề khác. Trong quá khứ, người ta chỉ biết những gì mình đã trải nghiệm, những gì hàng xóm nói và những gì nghe được tại các nơi tụ tập đông người như nhà thờ hay quán rượu. Còn bây giờ, chúng ta có kinh nghiệm gián tiếp về một thế giới rộng lớn hơn nhiều - thế giới được truyền thông. Chúng ta càng ngày càng thu thập được nhiều kiến thức qua các mạng truyền thông hơn là trực tiếp thu được qua nghiên cứu, học hỏi. Vì tiến trình ấy quá hiển nhiên, rõ ràng nên nhiều khi chúng ta quên mất đó là những kiến thức tiếp nhận được qua các phương tiện truyền thông. Nó được chọn lọc bởi các phóng viên, nhà xuất bản, nhà sản xuất và hệ thống các phương tiện truyền thông. Dù sao, bất kể theo phương cách nào, số thông tin về thế giới mà chúng ta thu được hiện nay lớn hơn bất cứ kỳ thời đại nào trước đây.

 1.2. Sử dụng thời giờ

 Tất cả chúng ta chỉ có một lượng thời gian hữu hạn, vì thế, chúng ta phải phân chia thời gian ra cho nhiều công việc khác nhau, kể cả giải trí và thư giãn. Các nhà nghiên cứu đã lập biểu đồ để biết được số lượng thời gian chúng ta dành cho việc sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng. Nhật báo, tạp chí, phim ảnh, phát thanh và truyền hình đã chiếm khá nhiều thời giờ của chúng ta, thường được xếp hàng thứ ba sau ngủ nghỉ và làm việc trong tổng số thời gian chúng ta phân phối. Một người lớn tiêu biểu ở phương Tây trung bình mỗi ngày xem truyền hình trên ba giờ đồng hồ. Truyền hình đã làm thay đổi cách người ta sử dụng thời gian rảnh của mình: người ta đã bỏ những công việc của cộng đồng, các việc đạo đức ở nhà thờ, các trò giải trí tại gia đình và nhiều hoạt động trao đổi trực tiếp khác để xem các chương trình ưa thích trên truyền hình hay chỉ để thư giãn với các phương tiện truyền thông. Những nghiên cứu gần đây cho thấy việc sử dụng Internet đã lấn vào số thời gian chúng ta quen dành cho các phương tiện truyền thông khác. Lần đầu tiên trong nhiều thập niên, việc xem truyền hình tại Hoa Kỳ chẳng hạn đã bị xếp sau các trò chơi điện tử, trao đổi thư điện tử và những hoạt động khác của Internet.

 1.3. Đo lường tầm mức quan trọng

 Người ta đang dựa vào các phương tiện truyền thông để biết đâu là điều quan trọng trên thế giới. Các bài tường thuật tin tức sẽ đặc biệt quan tâm đến một số sự kiện và biến cố, gián tiếp cho thấy rằng đó là những điều xứng đáng được văn hoá quan tâm. Nhà Xã hội học Bernard Cohen, người Hoa Kỳ, đã lưu ý điều này cách đây gần 40 năm, khi ông viết rằng các phương tiện truyền thông “có lẽ không thành công nhiều lắm khi muốn cho người ta biết phải suy nghĩ thế nào, mà chỉ thành công khi cho người ta biết phải suy nghĩ về điều gì” (2). Chúng ta càng nghe nói nhiều về đề tài nào trên đài phát thanh, càng xem chương trình nào được trình diễn nhiều trên truyền hình hay càng đọc đề tài nào được viết nhiều trên báo, chúng ta càng cho đó là những vấn đề quan trọng. Một hiện tượng tương tự cũng xảy ra đối với điện ảnh: chúng ta thần tượng hoá các ngôi sao điện ảnh và trân trọng các vai họ diễn trong phim, không phải do phê phán một cách có lý luận mà chỉ vì họ đã xuất hiện nhiều trên các phương tiện truyền thông. Một số người, đặc biệt là Gaye Tuchmann, đã lý luận rằng có thể áp dụng cách đo lường này một cách ngược lại: cái gì không xuất hiện trên các phương tiện truyền thông thì đó là điều không quan trọng; và điều này có thể dẫn tới tình trạng “triệt tiêu một cách tượng trưng” các nhóm sắc tộc khác nhau, các phụ nữ và các ngành nghề khác. Cũng thế, nếu Chúa hay Giáo Hội không tìm được chỗ đứng trên thế giới này, thì đó là dấu chứng tỏ Chúa và Giáo Hội không còn quan trọng nữa đối với nhiều thành phần trong văn hoá truyền thông.

 1.4. Hiểu biết đối kháng với thực tiễn

 Nói tới truyền thông, nhiều người thường nghĩ tới việc chuyển giao một thông điệp, một hiểu biết hay một ý nghĩa từ chỗ này sang chỗ khác. Một nhà nghiên cứu khác, James Carey, người Hoa Kỳ, nhắc chúng ta rằng trình bày việc truyền thông theo “mô hình di chuyển” như thế sẽ khiến người ta có một cái nhìn về truyền thông không khác gì một công cụ và không thể hiểu hết kinh nghiệm con người trong đó. Ông đề xuất cái gọi là “mô hình nghi thức” để đưa việc truyền thông vào đúng chức năng của nó (3). Việc truyền thông của con người là một cái gì còn hơn thế nữa, chứ không chỉ là gửi những thông điệp hay một mớ kiến thức từ chỗ này sang chỗ khác. Ngay cả khi chúng ta sử dụng các phương tiện truyền thông, chúng ta cũng đang cử hành một nghi thức: đọc báo vào buổi sáng, xem một chương trình nào đó mình thích trên truyền hình, nghe đài trong khi lái xe - tất cả những việc ấy đều là những nghi thức nối kết chúng ta với một cộng đồng lớn hơn. Bên cạnh việc xử lý kiến thức, truyền thông còn giúp xây dựng cộng đồng, một việc đưa chúng ta đến những cách thức gián tiếp hiểu biết của riêng mỗi cộng đồng.

 1.5. Phát biểu cho có hiệu quả

 Các phương tiện truyền thông cũng dạy người ta biết phải làm gì để phát ngôn cho có hiệu quả. Truyền hình dạy chúng ta những cách nói ngắn gọn, rõ ràng để cuốn hút sự chú ý của khán giả hoặc tóm tắt một quan điểm hay một lập trường. Hiện nay, rất ít người thuyết phục được người khác bằng lập luận dài dòng; chỉ có một số thành phần ưu tú còn được báo chí đề cao mới làm thế. Nhưng nói như thế không có nghĩa là các phương tiện truyền thông đại chúng không thể đề cập đến những vấn đề nghiêm túc hay phức tạp. Chúng vẫn làm được việc ấy, nhưng trình bày theo những cách thức phù hợp hơn với bản chất của các phương tiện ấy như kể truyện, cung cấp hình ảnh và trình bày với đầy cảm xúc. Khi đưa các vấn đề nghiêm túc đến với quần chúng theo những phương cách có thể tiếp cận được, các phương tiện truyền thông đại chúng đã trở thành một “diễn đàn văn hoá” cho mọi người tự do thảo luận và bàn bạc các vấn đề nóng bỏng (4). Một cách thức bổ sung cho các hình thức ấy ít hấp dẫn hơn, là trình bày các vấn đề thành những bài viết, những bài nói chuyện có lý luận chặt chẽ, có lẽ không được công chúng dễ dàng tiếp nhận.

 1.6. Thay đổi vị trí

 Các phương tiện truyền thông còn có một ảnh hưởng sâu xa hơn trên xã hội, chứ không chỉ tạo ra kiến thức hay phát biểu tư tưởng. Joshua Meyrowitz (5) đã cho thấy các phương tiện truyền thông như truyền hình, phim ảnh và phát thanh làm thay đổi “ý thức về nơi chốn” của chúng ta theo hai cách. Trước hết, chúng ta cảm nghiệm như mình đang cùng một lúc ở hai nơi, dù chỉ là tưởng tượng: trong khi ngồi thoải mái tại nhà, chúng ta có thể đồng thời nắm bắt những gì đang diễn ra trên khắp thế giới. Nhưng cái cảm nghiệm mình đang ở một thế giới xa hơn chung quanh mình cũng đưa chúng ta tới chỗ mong muốn được trông thấy, được tiếp cận những gì mà trước đây mình không thể trông thấy hay tiếp cận. Cách đây nhiều thế hệ, con người chỉ kinh nghiệm được những gì mà vị trí xã hội của mình cho phép. Dân thường không thể trao đổi với các nhà lãnh đạo hay với các chức sắc cao cấp của Giáo Hội. Nhưng cứ quen nhìn mọi thứ (khắp thế giới, đằng sau sân khấu, chỗ thân mật riêng tư của người khác như phim ảnh và truyền hình đã dàn dựng), chúng ta sẽ khao khát được trông thấy tất cả mọi sự. Và thế là, người ta đánh mất đi cái ý thức về vị trí, mà qua đó chúng ta đã từng tôn trọng sự riêng tư của người khác hay mặc nhiên tôn kính các vị có thẩm quyền. Ngày nay, người ta mong muốn được biết cả những chi tiết riêng tư nhất của đời sống các nhà chính trị, các diễn viên và cả các giáo sĩ.

1.7. Kiểm soát

 Sự xuất hiện của các phương tiện truyền thông, và hiện nay là sự xuất hiện của các ngành công nghệ kỹ thuật số đã làm thay đổi việc kiểm soát thông tin. Trong quá khứ, các chính phủ và các tổ chức như Giáo Hội thường kiểm soát các thông tin ở một mức độ nào đó, như quyết định những gì người ta có thể xuất bản hay những gì công dân có thể phát hành. Thế nhưng, các tập đoàn công nghệ thông tin và giải trí hiện nay đã tước mất quyền kiểm soát khỏi tay các chính phủ và đòi quyền tự do phổ biến hay không phổ biến những thông tin mình đang có. Đã được tự do khỏi bị lề luật chèn ép, người ta cũng đòi quyền tác giả để bảo vệ những gì mình đã đầu tư trong lĩnh vực thông tin. Tuy nhiên, ngay cả điều này cũng đang bị công nghệ kỹ thuật số phá vỡ, như các vụ án gần đây liên quan đến chương trình Napster và nhiều chương trình thưởng thức âm nhạc chung đã cho thấy. Giáo Hội cũng mất hầu hết sự kiểm soát trên sách báo; rất ít người xin “Imprimatur” (xác nhận: được phép in); Internet cũng giúp người ta tự do phổ biến các tin tức tôn giáo bằng con đường trực tuyến.

 1.8. Một cử toạ ngày càng khó tính

 Sau 50 năm truyền hình và hơn 100 năm điện ảnh ra đời, khán giả bây giờ đã trở nên rất khó tính. Người ta không còn tiếp nhận một cách ngây thơ bất cứ điều gì được trình chiếu. Thay vào đó, họ lựa chọn các chương trình theo nhu cầu của mình và bình luận các chương trình ấy tuỳ theo quan điểm riêng của mình về xã hội, kinh tế, giáo dục hay giới tính. Nhiều khán giả tiếp nhận các sản phẩm của truyền thông với một chút nghi ngờ - nghi ngờ về động cơ của các nhà sản xuất, các nhà quảng cáo, các nhà điều hành chính phủ và của bất cứ ai muốn lợi dụng một điều gì đó nơi họ. So với trước đây, các nhà sáng tạo và sản xuất chương trình hiện nay không còn nhiều quyền ấn định thông điệp mình muốn chuyển tải nữa. Mà đúng hơn, ngay trong chương trình họ làm ra, họ phải tranh đua với khán giả để tìm ra cách minh giải. Nói thế không có nghĩa là khán giả bây giờ không thể nào bị lèo lái hay điều khiển nữa, nhưng chỉ muốn cho thấy rằng khán giả hôm nay bước một cách thận trọng theo hướng mà nhà sản xuất chương trình vạch ra. Khán giả có thể mang theo mình nhiều kỹ năng và tài cán, khiến cho Giáo Hội cũng có thể bị nghi ngờ và bị yêu sách khi làm công tác truyền thông của mình.

 1.9. Những thay đổi trong nhận thức

 Thay vì chỉ truyền đạt một thông điệp hay miêu tả một số nghi thức phải làm, các phương tiện truyền thông còn tác động lên cả cách thức suy nghĩ của người khác nữa. Khi nghiên cứu các nền văn hoá truyền khẩu và thành văn, người ta khám phá được việc làm thế nào để một thói quen căn bản như viết lách có thể tác động lên cách mỗi cá nhân hình thành nên kiến thức và tổ chức thế giới (6). Đối với các nền văn hoá truyền khẩu, để nhớ những gì mình cho là có giá trị, người ta sẽ lưu ý tới trí nhớ và tìm cách xây dựng kiến thức bằng những truyện kể, dùng những nhân vật đặc biệt để nối kết các câu chuyện lại với nhau. Người ta cô đọng những gì mình biết thành những công thức và vần điệu dễ nhớ. Người ta bám vào những biến cố và những con người cụ thể, tìm cách làm cho chúng diễn lại trong hiện tại. Lịch sử của một nền văn hoá truyền khẩu phải có mặt thật sự đối với các thành viên vì đó chính là cách giúp các thành viên của nền văn hoá ấy giữ lại trong ký ức của mình những biến cố đã qua. Nền văn hoá truyền khẩu tìm cách triển khai các lược đồ dễ nhớ và các nghi thức tập thể để bảo đảm không bị tam sao thất bổn khi truyền thông.

 Còn các nền văn hoá thành văn lại tìm hiểu thế giới cách khác hẳn. Các nền văn hoá ấy mang tính phân tích nhiều hơn vì chúng tách những kiến thức ra khỏi trí nhớ bằng cách ghi chép các kiến thức ấy. Nhờ khoảng cách mà một bản văn viết có thể mang lại, người ta sẽ có thể xem xét tỉ mỉ những gì mình biết. Người ta cũng có thể mở rộng kiến thức của mình bằng cách chia sẻ những thông tin đã viết ấy vượt khỏi không gian địa lý và bằng cách gia tăng số người cùng với mình xây dựng kho tàng kiến thức. Người ta không còn cần phải có mặt tại chỗ để có thể tham gia vào kiến thức của tập thể. Văn hoá chữ viết cũng sẽ giúp tổ chức các sự việc một cách khác. Muốn tổ chức các sự việc, người ta không cần phải theo các vần điệu hay những sự gom góp cụ thể. Thay vào đó, người ta có thể tổ chức các sự việc một cách trừu tượng hơn, theo thứ tự các mẫu tự chẳng hạn. Vì đọc và viết sẽ trở nên phổ biến rộng rãi hơn nhờ có sẵn vô số sách báo rẻ do các nhà in phát hành, nên văn hoá chữ viết sẽ càng phát huy nhiều tác dụng. Chẳng hạn học hành bây giờ không còn phải là luyện tập từng li từng tí hay học thuộc lòng từng điều một, mà đã chuyển sang đọc sách báo. Việc học trở nên cá nhân hơn, các tập quán mới để tư duy cũng được phổ biến, như các nước Tây Âu đã chứng kiến trong thời kỳ Ánh Sáng.

Điều này, cũng như những điều đã đề cập trước, sẽ ảnh hưởng tới thần học. Trong kỷ nguyên Kitô giáo, thần học đã chuyển từ một di sản truyền khẩu gồm các truyện kể của Thánh Kinh sang một lô công thức tín điều đã được các nhà thần học Trung Cổ bàn cãi. Rồi, khi chữ viết đã được phổ biến, người ta lại chuyển thần học thành một khoa học lý luận chặt chẽ, phân tích thấu đáo và có văn bản hẳn hoi (7). Đến khi nền văn hoá đương đại tiếp xúc với các phương tiện truyền thông đại chúng, chúng ta lại chứng kiến một sự thay đổi nữa trong tư duy và trong cách tổ chức kiến thức, một phần trở lại với vài mô hình truyền khẩu như kể truyện, còn thì đa số dựa trên các bản văn viết. Sự xuất hiện của Internet là một nỗ lực khác của nền văn hoá đương đại muốn tổ chức các kiến thức của mình thông qua việc kết nối vô số bản văn và thông qua những thiết bị khác.

 Tất cả những sự kiện này sẽ dẫn thần học đi đến đâu? Trước hết, là một môn học dựa trên văn bản, thần học không còn khả năng ảnh hưởng trực tiếp trên nhiều nền văn hoá lấy hình ảnh và truyện kể làm những phương cách gia tăng hiểu biết và tìm hiểu thế giới. Thứ đến, thần học không còn là nguồn hiểu biết cho những ai không coi đó là nguồn hiểu biết quan trọng, vì thần học hàn lâm không còn xuất hiện trong thế giới truyền thông nơi họ sinh sống nữa. Sau cùng, khi nhấn mạnh hiểu biết hơn thực tiễn và khi đòi khán giả phải toàn tâm toàn ý tin theo, thần học đã làm cho mình trở nên không còn thích hợp nữa với thế giới hôm nay.

Tuy nhiên, nói thế không có nghĩa là người ta đã mất hết sự quan tâm đối với thần học. Con người vẫn đi tìm câu trả lời cho những vấn nạn thần học hết sức căn bản, nhưng người ta sẽ tìm chúng trong thế giới truyền thông. Có bao nhiêu nhà thần học (hay chức sắc Giáo Hội), cách đây 10 năm, dám tiên đoán rằng người ta sẽ rất quan tâm tới khoa thiên thần học, như trong một chương trình truyền hình đang được nhiều người theo dõi, mang tên “Được một thiên thần chạm đến” (Touched by an Angel)? Điện ảnh và truyền hình liên tục nêu ra vấn đề sự dữ trên thế giới (qua hình ảnh của ma quỷ và các mối đe doạ khác), vấn đề có thụ tạo nào tốt lành bên ngoài thế giới chúng ta (như thường thấy qua hình ảnh các vị khách lạ từ hành tinh khác), có thể có một vị cứu tinh khác không (từ chính nền công nghệ của chúng ta, như trong phim “Ma trận”). Các nhà văn, nhà sản xuất, nhà đạo diễn và những người làm công tác truyền thông đã trở thành những nhà thần học của ngày hôm nay, khi họ đặt ra những câu hỏi căn bản của thần học: làm sao nói về Thiên Chúa cho con người hôm nay? Làm sao kinh nghiệm về Thiên Chúa? Chúng ta sống để làm gì?

 Thế giới truyền thông hiện nay cho thấy thần học và suy tư tôn giáo đang đối diện với một thế giới khác hẳn cái thế giới mà thần học hàn lâm đã để lại. Nói thế không có nghĩa là thần học hàn lâm không có chỗ đứng, cũng không có mục tiêu, nhưng chỉ muốn nói là thần học cần phải quan tâm nhiều hơn tới việc truyền thông. (còn tiếp 1 kỳ)

Chú thích:

1 Paul Soukup, SJ., Francis Buckley và David C. Robinson, The Influence of Information Technologies on Theology, Theological Studies, May 2001.

 2 Bernard Cohen, The Press and Foreign Policy (Princeton: Princeton University Press, 1963) 13.

 3 James W. Carey, A cultural approach to communication, in lại trong J.W.Carey, Communication as Culture: Essays on the Media and Society (Boston: Unwin Hyman, 1989) 13-16.

 4 Horace Newcomb và Paul Hirsch, Television as a cultural form. Trong H. Newcomb (ed.), Television: The Critical View (4th. Ed.) (New York: Oxford University Press, 1987), 455-470.

 5 Joshua Meyrowitz, No Sense of Place: The Impact of Electronic Media on Social Behaviour (New York: Oxford University Press, 1985).

  6 Walter J. Ong., S.J., Orality and Literacy: The Technologizing of the Word (London: Methuen, 1982).

  7 Walter J. Ong, S.J., Communication medi a and the state of theology. Cross Currents, 19 (1969) 462-480.

(Nguồn: dunglac.net)

 

Trở về Muc Lục