LÊN TRỜI VINH HIỂN

John Macquarrie - Maranatha lược dịch

LTS: John Macquarrie là giáo sư thần học người Tô-Cách-Lan. Ông dạy tại các trường danh tiếng như Oxford; Union Theological Seminary, New York. Tuy không được biết đến nhiều như Karl Rahner hay Yves Congar (về phía Công Giáo) hoặc Karl Barth và Paul Tillich (Tin Lành), nhưng Macquarrie – gốc gia đình theo Trưởng Lão, đã gia nhập Anh Giáo và trở thành linh mục Anh Giáo tại New York – đã có nhiều đóng góp trong việc giáo dục thần học. Tác phẩm Principles of Christian Theology của ông đã được một số giáo sư thần học Công Giáo sử dụng làm tài liệu giảng dạy nhập môn về thần học trong những năm 1970. Ông mới mất cách đây không lâu, vào ngày 28 tháng 5 năm 2007 tại Oxford, Anh Quốc, thọ 87 tuổi. Maranatha xin giới thiệu bài viết sau đây dựa trên một chương sách do Macquarrie viết về Tín Điều Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, để độc giả thấy rõ hơn giá trị của tín điều với ơn cứu rỗi và những liên hệ trong đời sống thiêng liêng của người tin vào Chúa Ki-tô. Cũng qua bài viết này, chúng ta sẽ thấy người Tin Lành bảo vệ và chia sẻ với chúng ta niềm tin về Đức Mẹ Maria như thế nào.

Trong cụm từ “Lên Trời Vinh Hiển,” tính từ vinh hiển và động từ lên trời theo truyền thống luôn đi liền với nhau. Đã lên trời thì phải vinh hiển, vì từ bỏ được cái trần thế tầm thường ràng buộc để lên “trời,” bên vinh quang không gì diễn tả nổi của Thiên Chúa. Mà lên trời thì bao giờ cũng vinh dự. Như theo Cựu Ước, Enoch và Elijah cả hai đều được đưa lên trời sau khi chấm dứt cuộc sống trần thế. Chuyện về hai vị này khá thần kỳ, có điều lạ lùng rằng sách Thánh không ghi lại nhiều chi tiết, cứ làm như chuyện lên trời là một việc bình thường, ai lên cũng được. Ông Enoch thì đang đi với Thiên Chúa, thế là Chúa bốc lên, và không còn trên mặt đất (St 5:24). Còn Elijah thì đang đi đàm đạo với môn sinh là Elisha thì có chiếc xe bằng lửa kéo bởi con ngựa lửa xuất hiện phân tách hai người, rồi Elijah theo gió cuốn về trời (2V 3:11). Truyền thống Do Thái sau này cũng có nói về việc ông Moses lên trời. Thực ra, sách Cựu Ước nói rất ít về cuối đời của Moses. Chuyện kể Ông lên núi để nhìn đất hứa và không trở lại. Chính Thiên Chúa “chôn cất” ông Moses, nên vì thế mà người Do Thái không biết mộ ông ở đâu, và nếu Thiên Chúa chôn cất thì có thể hiểu là đồng nghĩa với “lên trời” (Đnl 34:5-6). Câu chuyện này cũng khá bí nhiệm, đến nỗi sau này có nhiều người cố gắng lý giải, trong đó có nhà phân tâm học Sigmund Freud, cho rằng Moses là hình ảnh người cha của dân tộc, đã bị các kẻ nổi loạn giết đi, rồi bọn này cố gắng xóa nhòa ký ức tội ác của mình (Sigmund Freud, Moses và Độc Thần). Nhưng truyền thống lâu đời của Do Thái cũng có câu chuyện về Việc Lên Trời của Moses, viết vào khoảng thế kỷ thứ nhất công nguyên. Câu chuyện còn nói rằng vào năm thứ 1750 sau cái chết (hay lên trời) của Moses, thì toàn thể con cái Israel cũng sẽ được đưa về trời.

Theo một tác giả Ki-tô giáo thời sơ khai, giám mục Theophilus của Antioch, cho rằng ý định ban đầu của Thiên Chúa là đưa tạo vật loài người tiến đến gần Thiên Chúa để rồi cuối cùng Chúa cho lên trời (Theophilus thành Antioch, Ad Autolycum). Ý định này đã bị phá vỡ do tội nguyên tổ, khiến con người phải chết và chấm dứt số mạng. Karl Rahner cũng suy tư về điều này: nếu con người không phạm tội, thì cuộc sống trần thế này cũng chấm dứt, nhưng thay vì cái chết, con người sẽ được viên mãn tích cực trọn vẹn. Có phải như thế là lên trời chăng? Nói những chuyện trên để thấy rằng việc lên trời không phải là một điều gì mới mẻ, hay người ta tạo dựng nhằm ca tụng Đức Mẹ. Giống như các câu chuyện trong Cựu Ước, việc lên trời có thể là cố gắng trình bày một sự thật về con người: bản chất và định mệnh của nó trong bối cảnh niềm tin nơi Chúa Ki-tô.

Khi bàn về Tín Điều Lên Trời, ta gặp phải vấn nạn tương tự như Tín Điều Vô Nhiễm, đó là việc tín điều không có cơ sở Thánh Kinh rõ ràng, để người ta có thể chứng minh rằng tín điều rút ra từ Kinh Thánh. Cũng như trong 4 hay 5 thế kỷ đầu, truyền thống về Lên Trời cũng không rõ ràng để người tín hữu dựa vào đó mà tin kính cho phù hợp. Nhưng khi ta có tín điều Vô Nhiễm do đức Giáo Hoàng Pi-ô IX công bố vào năm 1854 thì việc công bố tín điều Lên Trời của đức Giáo Hoàng Pi-ô XII vào năm 1950 là chuyện gần như đương nhiên. Mà thực thế, hai tín điều được công bố cách nhau trong vòng chưa đầy 100 năm (một khoảng thời gian tương đối ngắn trong lịch sử của Giáo Hội).

Ta thử bàn về từ vựng “Lên Trời,” hy vọng sẽ giúp hiểu rõ hơn vấn đề. Thỉnh thoảng tôi cũng dùng từ “đưa lên” để thay thế. Từ “đưa lên” mang ý nghĩa gốc của cả hai tiếng Hy lạp và La tinh mà ta dịch là “lên trời”. Cần phân biệt “lên trời” với “thăng thiên.” Khi được “đưa lên,” việc “lên trời” tiếng Hy lạp gọi là analepsis, nói lên hành động của Thiên Chúa, và người được đưa lên giữ vai thụ động. Trong khi đó, “thăng thiên” hay “đi lên” (tiếng Hy lạp là anabasis) diễn tả hành động của chủ thể. Người duy nhất “thăng thiên” lên với Chúa Cha là Chúa Con, Đức Giê-su Ki-tô. Như trong Tin Mừng của Gio-an viết, “Chưa từng có ai lên trời, ngoại trừ Đức Giê-su Ki-tô, là Đấng đã từ trời xuống” (Ga 3:13). Chúng ta sẽ thấy rằng, việc Đức Mẹ “lên trời” tuỳ thuộc vào việc “thăng thiên” của Chúa Giê-su Ki-tô. Đó là hệ luận tất yếu. Việc Chúa thăng thiên đã làm vinh dự cho nhân tính của Chúa. Phải nêu rõ vì có người cho rằng tín điều Lên Trời chỉ nhằm ca tụng Đức Maria, thậm chí thần thánh hóa Mẹ, tức là chiếm chỗ độc nhất của Chúa Giê-su. Thực ra, nếu hiểu đúng, việc “lên trời” không thể đứng một mình độc lập, mà là hệ quả tất yếu của việc Chúa Giê-su Thăng Thiên. Và vì đức tin phát triển, nên Giáo Hội dạy như thế cũng đúng vì Lên Trời nằm trong việc Chúa Thăng Thiên. Carl Jung, nhà phân tâm học nổi tiếng mà vào những năm 50 vẫn còn sống nghe nói rất vui mừng khi nghe tín điều Lên Trời được công bố, bởi vì ông ta cho rằng sự kiện này mang lại nét nữ tính trong sự nhận biết về Thiên Chúa. Hiển nhiên, tín điều này xác nhận vai trò quan trọng của Mẹ Maria và nói rộng ra là vai trò phụ nữ trong kế hoạch của Thiên Chúa, nhưng tín điều ra đời không nhằm mục đích đề cao nữ quyền, nhưng là để nhận ra vai trò của Mẹ Maria trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa, và hơn thế nữa, cho thấy sự biến đổi của thân phận con người nhờ Đức Giê-su Ki-tô.

Tôi đã suy tư về tín điều Mẹ Lên Trời này trên dưới 40 năm. Sự hiểu biết của tôi cũng thay đổi theo thời gian. Lần đầu tiên tôi có suy tư nghiêm chỉnh về việc Lên Trời của Đức Mẹ là ngay sau đệ nhị thế chiến, khi tôi vẫn còn trong quân ngũ Hoàng Gia Anh đóng tại Bắc Phi. Được hai tuần phép, tôi đi thăm thánh địa Palestine vào tháng Ba năm 1946. Ngày này đáng lưu ý, vì hai năm sau đó quốc gia Israel mới được thành lập, cũng như 4 năm sau Vatican mới công bố tín điều Lên Trời, mà trước đó chỉ được coi là “ý tưởng đạo đức” mà thôi.  Ngày đó, tôi cùng với một nhóm người đi thăm Nhà Thờ Mẹ Lên Trời tại Jerusalem, được xây dựng trên mộ mà người ta cho rằng nơi đó đã đón nhận thi hài của Mẹ. Lúc bấy giờ tôi không biết cũng còn một chỗ khác tại Ephesus, vì có hai truyền thống kể về việc Mẹ Lên Trời. Một truyền thống cho rằng Mẹ tiếp tục sống tại Jerusalem vào thời gian đầu khi Giáo Hội khai sinh, và rồi Mẹ “yên nghỉ” – sự ra đi của Mẹ được gọi là “yên nghỉ hay thiếp ngủ” – tại nơi này. Truyền thuyết khác thì cho rằng Mẹ sống vài thập niên sau khi Chúa Giê-su chịu đóng đinh, và khi Jerusalem thất thủ, thì Mẹ cùng với người môn đệ được Chúa yêu đi về Ephesus sinh sống, và đã “yên nghỉ” tại đây. Có điều tình cờ là Ephesus cũng là trung tâm thờ phượng các nữ thần, như thần Artemis còn gọi Diana (Cv 19).

Lúc bấy giờ, tôi ở trong nhà nguyện Mẹ Lên Trời, gần Vườn Cây Dầu, không xa thành phố bao nhiêu. Nhà nguyện này đã là đối tượng tranh dành của Giáo Hội La-tinh và Giáo Hội Đông Phương, cuối cùng thì Giáo Hội Đông Phương thắng thế. Tôi nhớ nhà thờ này giống như hang động, lại có vẻ buồn bã u tối thì làm sao mà gọi là lên trời vinh hiển được. Bấy giờ tôi cũng chưa có một sự hiểu biết rõ ràng về niềm tin lên trời là thế nào – ngay bây giờ thậm chí cũng chưa hiểu – mặc dù tôi nghĩ rằng hiện nay tôi hiểu hơn hồi đó. Nhưng cách nào đó tôi đã cảm nghiệm rằng Lên Trời là một phần chính thực trong niềm tin Công Giáo mà có ngày tôi sẽ hiểu sâu xa hơn. Tôi nhớ rõ ràng như thế bởi vì trong số các bạn đồng ngũ, một số người hoài nghi, thậm chí còn chế diễu và chọc ghẹo tôi (chỉ đùa chơi, không có ý xấu) vì đã cầu nguyện trong giáo đường đó. Đối với họ, câu chuyện Mẹ Maria lên trời chỉ là trò đùa, một câu chuyện mê tín phi lý. Tôi không biết trả lời cho họ thế nào. Vào năm 1946, mặc dù chưa có ai lên không gian, nhưng ai cũng biết không gian chỉ là nơi hoang vu vô định, lạnh lẽo u tối, không thể là nơi Thiên Chúa ngự trị. Như thế, hiển nhiên không thể nghĩ rằng thân xác Mẹ Maria bay vào nơi hoang phế trống rỗng như thế. Những vấn nạn đặt ra về việc Mẹ Maria Lên Trời cũng giống thắc mắc việc Chúa Giê-su thăng thiên. Thật vô lý khi hiểu nghĩa đen việc lên trời, vì nó giả định có một nơi chốn vũ trụ mà người ta đã biết là không có. Trời mà Chúa Giê-su bay lên hay Mẹ Maria được đưa lên không phải là một nơi chốn trên các vì sao, nhưng là một mức độ hiện hữu mới. Giống như Karl Rahner nói về việc Chúa Giê-su thăng thiên, Chúa không đi đến một nước trời làm sẵn đang chờ Ngài, nhưng Chúa tạo ra một nước trời, được hiểu như là một mạng nối kết các quan hệ cá nhân (Phan Đình Cho, Eternity in Time-A Study of Karl Rahner’s Eschatology, Susquehanna University Press, 1988, trg.167).  Thăng Thiên và Lên Trời là những biến cố thần linh, phải hiểu bằng ngôn ngữ thần linh và cá thể. Việc quy chiếu không gian chỉ là mang tính ẩn dụ, là một hình ảnh biểu tượng hay hình ảnh nhằm giúp tâm trí chúng ta hướng về một trạng thái nhân sinh vượt qua cái chúng ta đã biết đến. Mặc dù hiện nay tôi nói như thế, nhưng hồi năm 1946 tôi không nghĩ được như vậy. Tuy nhiên, ít nhất tôi đã suy nghĩ tìm câu giải đáp cho những vấn nạn này – tôi tin rằng trong truyền thống cổ xưa tin vào việc Lên Trời, có một cái gì đáng cho chúng ta lưu  ý, mặc dù tôi chưa thấy rõ ràng. Tôi nghĩ rằng điều này đúng không chỉ trong phạm vị đức tin tôn giáo, nhưng nó là một nguyên tắc nhận thức phổ quát. Đức tin có tính tìm tòi khám phá. Niềm tin giống như những cái đèn pha mà trí óc rọi vào những chỗ chưa biết, giống như làm thí nghiệm cho trí óc tư duy. Đôi khi chẳng được gì, nhưng có lúc nó chiếu sáng rực được những khám phá mới. Trong việc Lên Trời, tôi thấy người Ki-tô hữu anh em, Đông cũng như Tây phương, tin và tìm được giá trị trong niềm tin của họ, và tôi nghĩ nó có ý nghĩa với họ, hay ít nhất với một số người. Chúng ta nhớ lại lời của thánh Alselm thành Canterbury: “Con mong ước hiểu được phần nào sự thật, sự thật mà con tin và yêu mến. Vì con không tìm hiểu biết để tin tưởng, nhưng con tin để có thể hiểu được” (Anselm, Proslogion, ch. 2).

Bốn năm sau đó, tôi thấy phải suy tư nghiêm chỉnh về Lên Trời. Vào năm 1950, Giáo Hoàng Pi-ô XII, trong hiến chế Munificentissimus Deus, đã công bố việc Mẹ Maria Lên Trời là tín điều của Giáo Hội. Ngài công bố rằng “Mẹ Thiên Chúa Vô Nhiễm, Đức Maria trọn đời đồng trinh, sau khi hoàn tất con đường trần thế, đã được hồn xác đưa vào vinh hiển thiên giới immaculatam Deiparam semper Virginem Mariam, expleto terrestris vitae cursu, fuisse corpore et anima ad caelestem gloriam assumptam. (Denzinger, Enchiridion Symbolorum, Số 2333). Câu nói Mẹ được đưa vào vinh hiển thiên giới dường như muốn làm rõ rằng đó không phải là một chỗ, nhưng là một điều kiện, hay ta có thể nói đó là một mối tương quan hay một tập hợp tương quan. Lên Trời là một sự biến hình từ thân phận con người trần thế quen thuộc thành một dạng hữu thể được có mối liên hệ tương quan trực tiếp với Thiên Chúa. Thật không sai khi ta dùng chữ “viên mãn” cho việc Lên Trời, quy chiếu với thần học tử vong của Rahner mà ta đã có dịp nói trên.

Trở lại tông hiến Munificentissimus Deus, ta đọc được lý do của việc Lên Trời: thực không thể hình dung được người đã cưu mang Chúa Ki-tô, sinh hạ Người, nuôi dưỡng Người bằng sữa mình, ẵm bồng Người trong các tay mình, ôm ấp Người trong lòng mình, mà sau cuộc đời dương thế lại phải chia cách cả hồn xác với Người. Sự gần gũi thân thiết giữa Chúa Giê-su và Mẹ Maria được khẳng định không thể tách rời, sau cuộc tao ngộ trần thế. Đây chính là thực hiện trọn lời hứa của Chúa Giê-su, không chỉ cho Mẹ Maria, nhưng cho tất cả những ai theo Người, rằng “Ta ở đâu, anh chị em cũng ở với Ta” (Ga 14:3). Ta thấy rằng việc Mẹ Maria Lên Trời, và cuối cùng toàn thể Giáo Hội lên trời, chỉ là hệ luận của việc Chúa Giê-su Thăng Thiên.

Trên đây tôi có đề cập việc C.J. Jung rất vui (mặc dù lầm lẫn) khi biết Đức Giáo Hoàng tuyên bố tín điều về Mẹ Lên Trời, và nhiều người đã thỉnh nguyện điều này cũng rất vui mừng. Nhưng đừng tưởng lầm rằng ai cũng vui mừng. Nhiều người nghi ngờ sự khôn ngoan của tông hiến Munificentissimus Deus. Tôi xin giới hạn trong phản ứng của Anh Giáo, vì có nhiều người theo Anh Giáo ưu tư về tín điều này.

Một số người sợ rằng biến Lên Trời thành một tín điều sẽ làm Rô-ma và Canterbury xa cách thêm. Có người dù không chống niềm tin Lên Trời, cũng khó chịu vì đã biến niềm tin đó thành Tín Điều buộc phải tin. Trong nhiều thế kỷ, cả Đông lẫn Tây phương đều tin vào điều này, nhưng có cần biến nó thành tín khoản buộc phải tin (de fide)? Tôi thông cảm cho những người đặt vấn đề khôn ngoan khi nêu lên quá nhiều tín khoản sử dụng những định nghĩa quá chính xác. Tôi không ủng hộ việc mơ hồ về thần học, vì đây là một nguy hiểm thực sự trong Anh Giáo. Nhưng cần có một sự quân bình đúng mực giữa việc quá khẳng định hay quá mơ hồ về niềm tin. Cần có một khoảng tự do cho phê bình thần học và tư biện, nếu không thì việc phát triển giáo lý cuối cùng sẽ bị chấm dứt. Nếu một vấn đề thần học đưa ra đúng đắn, và là phần thiết yếu của đức tin Ki-tô giáo, thì cuối cùng nó sẽ đứng vững. Sự bền bỉ kiên trì, mà theo Newman gọi là “sinh lực mãn tính” là một trong những nét để phân biệt giữa sự phát triển của một giáo thuyết thật sự với một lầm lạc sai quấy. Nhưng sự phát triển này phải được để cho nó chứng tỏ. Quá trình này chẳng thể cưỡng chế thúc giục hay thậm chí bị ngăn trở vì dùng quyền thế bắt buộc đức tin.

Không ai nghi ngờ lòng tin Mẹ Maria Lên Trời đã nhận được thái độ tích cực khẳng định trong cộng đoàn Anh Giáo từ lâu. Trong hai nhóm Anh Giáo mà tôi quen biết, nhóm Tô-Cách-Lan và Hoa-Kỳ, ngày 15 tháng 8 đã có vị trí vinh dự trong niên lịch. Tại Tô-Cách-Lan, từ lâu người ta đã mừng lễ Mẹ “an nghỉ”, và tại Hoa Kỳ đó là ngày Lễ Mẹ Đồng Trinh, lễ chung mừng kính Mẹ. Tiếc thay, Giáo Hội Anh Giáo đi sau các Giáo Hội chị em, cũng như có vẻ lẫn lộn giữa các lễ về Mẹ Maria. Có điều lý thú rằng tại Đại Học Oxford, nơi thường thờ ơ với những gì xảy ra trên thế giới, lại luôn nhớ ghi ngày 15 tháng 8 là ngày lễ Đức Mẹ Đồng Trinh Lên Trời. Tại Châu Âu, ngày lễ Lên Trời là một ngày lễ hội chung cho đa số quốc gia. Anh Giáo thì gần đây chọn ngày 8 tháng 9 làm lễ chung về Đức Mẹ, trong khi ngày này lại là lễ Sinh Nhật Đức Mẹ tại các Giáo Hội khác. Sự lộn xộn này cuối cùng thì cũng phải chấm dứt, nhưng tại Tô Cách Lan và Hoa Kỳ thì tình hình tiến triển nhanh chóng và khả quan hơn. Ngọn triều tôn kính Mẹ Maria đang chảy đúng hướng, nhưng theo tôi có lẽ đó là nhờ sự hiểu biết đúng đắn về vai trò của Đức Mẹ trong cuộc sống người Ki-tô hữu cũng như do lòng sùng kính Mẹ của tín hữu hơn là do việc bắt buộc phải tin vào tín điều Lên Trời. Việc công bố tín điều dựa trên quyền của Đức Giáo Hoàng vẫn là một trở ngại cho nhiều người Anh Giáo muốn tìm sự hàn gắn với Rô-ma. Bản thân tôi cũng tin rằng tín điều gây chia rẽ vì vai trò của Đức Mẹ thì ít, mà vì vấn đề quyền bính nhiều hơn.  

Điều lo ngại thứ hai là việc tranh cãi giữa một số học giả, cho rằng việc Lên Trời là do sự lập luận của các nhà thần học theo giáo phái ‘nhất thể tính’ sống vào thế kỷ thứ Năm và thứ Sáu. Lời tố cáo này đã nêu lên những vấn đề rộng lớn nhưng ít người hiểu biết về mặt học thuật mang tính lịch sử, nhưng giáo sư John Saward đã có một bài viết rất giá trị giải quyết vấn đề này (Lên Trời, Hội Đại Kết về Đức Mẹ Maria, 1976). Cho dù có một số điểm chịu ảnh hưởng của phái Nhất Thể, nhưng khó mà tác động đến niềm tin này. Niềm tin phải được đánh giá trên những tiêu chí hợp lẽ để phân biệt giữa đức tin chân chính với mù quáng hay sai lầm, bất kể ai là người đầu tiên đề cao niềm tin đó. Cần nhớ rằng các Giáo Hội theo Ki-tô giáo ngày nay chú trọng đến tìm hiểu cảm thông các giá trị của nhau nhiều hơn là bút chiến tranh luận, cũng nhờ con người hiểu biết thêm về mặt lịch sử.

Những người chống đối tín điều này cũng cho rằng năm 1950 không phải là thời điểm để phát hiện và công bố tín điều, lý do vì đã quá trễ tràng. Nói đúng hơn là việc phát hiện một tín khoản buộc phải tin từ một “ý tưởng đạo đức” này khá muộn màng. Suy luận này được củng cố qua việc cho thấy từ những thế kỷ đầu tiên, không có thần học gia nào nghe nói về việc Mẹ Maria Lên Trời, mặc dù niềm tin này vẫn có, nhưng phải đến thế kỷ thứ sáu mới có các tác giả chính thống nhắc đến. Như thế, vì đã trễ tràng, nên ý kiến cho rằng niềm tin này không nên công bố thành tín điều. Dù sao, dựa trên hai ý kiến rằng trễ tràng và không có bằng chứng rõ rệt thưở ban đầu, vẫn có thể trả lời rằng tín điều luôn cần thời gian và đôi khi cần rất nhiều thời gian để được phát triển. Tín điều Chúa Ba Ngôi và Nhập Thể đã cần nhiều thế kỷ để hình thành và hệ thống hóa cho thích hợp, sau nhiều tranh luận gay go. Những tín điều trọng tâm còn như thế, huống chi những tín khoản khác, đặc biệt là tín điều Mẹ Lên Trời vừa phức tạp, liên kết với nhiều điều giảng dạy khác, thì còn cần thời gian lâu hơn để phát triển trọn vẹn. Ki-tô giáo là một thực thể sống động và phát triển, có nguồn sống tài nguyên tâm linh hầu như vô tận, do đó thần học của đạo cũng sống động và phát triển không ngừng, không phải là một thực thể cố định bất biến. Về điểm này, hồng y Newman đã cho thấy rằng, dù làm gì, ngài cũng không phải là người thủ cựu. Chúng ta không được ngạc nhiên nếu trong thế kỷ này hay trong tương lai, có những phát kiến hay hiểu biết mới. Đây là bằng chứng chắc chắn sức sống của đức tin Ki-tô giáo, cũng như sự phong phú của đức tin đó. Đây cũng là dấu chỉ cho các thần học gia không được ngủ quên, chỉ suy tư về những điều khôn ngoan thông thái của quá khứ, mà còn tích cực tìm kiếm chân lý của thời nay.

Sau khi tông hiến ra đời vào năm 1950, Công Đồng Vatican II được triệu tập một thập niên sau đó, đã mở ra một bầu không khí mới. Trên quan điểm đang tìm hiểu về tín điều Mẹ Lên Trời, điều quan trọng của Vatican II là hướng đi mới về Thánh Mẫu Học khi sử dụng tước hiệu “Mẹ Giáo Hội” cho Đức Maria. Vào cuối Công Đồng, Đức Phao-lô VI ca tụng việc dùng tước hiệu này cho Mẹ Maria đối với Giáo Hội; nhưng trong các văn kiện của Công Đồng, cách gọi này đã xuất hiện trước đó, chẳng hạn như trong Sắc Lệnh về Giáo Hội, “Đức Maria được ca tụng là chi thể rất đặc biệt và nổi bật, cũng là gương mẫu tuyệt hảo về đức tin và tình mến cho Giáo Hội. Nhờ Chúa Thánh Linh dạy dỗ, Giáo Hội Công Giáo tôn vinh Mẹ với lòng yêu mến đạo hạnh của người con thảo dành cho người Mẹ rất đáng yêu kính.

Mối dây liên kết chặt chẽ mà Vatican II tạo ra giữa Giáo Hội và Đức Maria, người Mẹ Giáo Hội, khuôn mẫu, và thành viên trổi vượt nhất, có thể dùng để giải thích thêm về tín điều của năm 1950. Trong tông hiến được công bố, cho biết rằng Mẹ Maria là người đã mang thai, sinh hạ, nuôi dưỡng, bú mớm, ẵm bồng Chúa Giê-su, nên không thể tách rời Chúa khi chấm dứt cuộc sống trần thế. Cũng như việc Chúa Thăng Thiên bao gồm việc Mẹ Lên Trời, tức là Chúa ở đâu thì Mẹ Người ở đó. Ta cũng có thể hiểu rằng Giáo Hội không thể tách rời khỏi Chúa Giê-su, việc Thăng Thiên của Người cũng bao gồm việc toàn Giáo Hội sẽ Lên Trời như Đức Mẹ. Có một điểm lý thú trong sách Ngụy Thư rằng việc Moses lên trời, sẽ kéo theo các con cái Israel đều lên trời trong ngày sau hết. Moses là hình ảnh biểu tượng. Tương tự như thế, Mẹ Maria là Mẹ của Giáo Hội và là thành viên tuyệt hảo nhất, việc Lên Trời của Mẹ phải hàm ý mọi thành viên của Giáo Hội sẽ lên trời. Toàn thể Giáo Hội là người nhận lời hứa của Chúa Giê-su, “Thầy ở đâu, anh chị em cũng sẽ ở đó”. Nói thế để thấy rằng, tín điều Lên Trời mang ý nghĩa rộng lớn hơn nhiều như ta thoạt thấy. Đây không phải là một tín điều dành riêng cho Mẹ (tuy cũng đúng là cho Mẹ), nhưng còn là tín điều của Giáo Hội, của toàn thể bộ phận tín hữu mà Mẹ Maria là khuôn mẫu. Việc Mẹ Lên Trời Vinh Hiển, ta có thể nói, là bước khởi đầu cho sự lên trời vinh hiển của toàn Giáo Hội. Ta nhớ lại lời trong Tin Mừng thánh Gioan: “Vinh dự Cha ban cho con. Con đã ban cho họ…Lạy Cha, con mong ước rằng những người Cha ban cho con, sẽ được ở với con, để chiêm ngưỡng vinh quang Cha ban cho con trong yêu thương từ thuở tạo dựng vũ trụ (Ga 17, 22-24).

Khi ta suy niệm những lời vừa trích trên, ta thấy rằng lễ Mẹ Lên Trời phải là một trong những lễ hội mang tính nhân bản nhất trong niên lịch Giáo Hội. Đó không chỉ là lễ riêng của Mẹ Maria (mặc dù Mẹ được ca ngợi như một cá nhân và như một đại diện cho một tập thể), mà cũng là lễ mừng nhân loại được giải thoát. Các nhà thần học đôi khi nhân danh đạo Chúa coi thường con người, nhấn mạnh đến tội lỗi và sự khốn cùng của con người, như thể để ca tụng Chúa phải cho thấy con người tội lỗi, phân biệt rõ ràng sự khác biệt vô cùng giữa Thiên Chúa và con người. Chắc chắn đó không phải là đường lối của Chúa, và trái ngược với ý định của Người, như chúng ta thường được học hỏi. Giám mục Irenaeus đã từng viết, “Vinh quang của Thiên Chúa là một con người sống triển nở trọn vẹn, và cuộc sống con người nằm trong sự chiêm ngắm Thiên Chúa.” (Irenaeus, Adv. Haer., IV, 20, 7). Những lời này cho thấy rõ ý nghĩa của việc Lên Trời. Thiên Chúa tạo dựng con người theo hình ảnh Người để có thể thông hiệp với Người. Thiên Chúa gửi Người Con của Ngài từ trời xuống thế, rồi về lại Trời, mang theo những người mà Thiên Chúa chọn để chia sẻ vinh quang với Người. Chúng ta thấy được phần nào cái tổng thể của mầu nhiệm Lên Trời. Đó là một trong những điều tin tưởng mang lại ủi an hy vọng nhất của Giáo Hội, bao gồm nhiều giáo lý khác như Ki-tô học, cứu rỗi, nhân chủng và nhiều thứ khác.

Đây là nhận thức về Lên Trời của tôi đã có được sau gần hai mươi năm suy tư kể từ ngày đứng trong ngôi giáo đường Lên Trời buồn tẻ tại Jerusalem đó. Vào năm 1966, tôi đã sáng tác một bài thánh ca dâng Thánh Nữ Đồng Trinh mang tựa đề “Mẹ Giáo Hội”. Bài này tôi sáng tác dựa trên cuộc đời Đức Mẹ và mối tương quan và vị trí của Mẹ trong Giáo Hội. Bài có những câu như:

Kính chào Đức Maria, Mẹ Giáo Hội

Người Mẹ đồng trinh, tràn ân phước

Mẹ của người Anh Cả muôn dân

Mẹ đoàn dân được canh tân cứu chuộc

Ba đoạn cuối của bài kinh ca tụng niệm, tôi đã diễn tả về mầu nhiệm Lên Trời mà trước đó 20 năm tôi không thể hình dung mình có được những suy tư như thế

Mẹ lặng yên đứng bên Thánh giá

Nghe tiếng con giữa tiếng khóc sụt sùi

Tiếng trối trăn của người Con trên Thánh giá

”Đây con Mẹ tất cả ai đến cùng” 

 

Bên các tông đồ Mẹ đang cùng cầu nguyện

Nhìn Giáo Hội trong giờ phút linh thiêng

Tràn Thánh Linh các tông đồ minh chứng

Quyền năng phục hồi của Thiên Chúa chí tôn

 

Vinh phúc sau cùng sau khi Mẹ ngủ yên

Về bên Chúa nơi Con Mẹ thăng thiên

Công phúc Mẹ đã đến hồi viên mãn

Được tôn vinh và ca ngợi nữ vương

Tôi hình dung ra việc sáng tác bài hát này sẽ bị những người “tiến bộ” chê bai, cho rằng bài ca mang dáng vẻ tự mãn cao ngạo. Thái độ đắc thắng tự mãn đã bị lên án, giống như ta lên án phái Nhất Nguyên, bè rối A-ri-a-nô, Net-tô-ri-ô…hay các bè rối xưa nay, mà đôi khi cũng chẳng biết ý nghĩa các từ này là gì, sai lạc ra sao. Tôi cũng muốn thử trả lời cho 2 lập luận chống đối mà tôi tự hình dung ra.

Thứ nhất là thái độ đắc thắng tự mãn. Phải làm rõ nghĩa của từ này. Nếu đây là thái độ cao ngạo, đồng hóa Giáo Hội với Nước Thiên Chúa là cái chưa đến, rồi nại vào quyền bính và thái độ ứng xử đi kèm, thì thái độ này là một cái bẫy và ảo tưởng mà ta phải xin ơn Chúa tha thứ, vì đã phản bội lại điều Chúa tín thác. Tuy nhiên, tôi không nghĩ tinh thần này nhất thiết mang ý nghĩa như thế. Ta có thể nghĩ rằng thái độ này là đối lập với tinh thần chủ bại, và theo cách hiểu này (ý nghĩa tự nhiên nhất của từ này), thì tôi có thể nói mình là người đắc thắng mà không hề xấu hổ mặc cảm. Vì đó chính là đức tin vào Thiên Chúa và Giáo Hội, mà Giáo Hội là đại diện của Người trong vai trò tác nhân cứu rỗi. Chúng ta tuyên xưng tin vào một Giáo Hội thánh thiện, Công Giáo và tông truyền. Chúng ta nhận biết mình là con Thiên Chúa, chi thể của Đức Ki-tô, là đền thờ của Chúa Thánh Linh, và chúng ta đọc trong Kinh Thánh Tân Ước rằng “quyền năng của tử thần không thắng vượt được” (Mt 16,18). Mặc dù có tội lỗi, sai lầm, và chệch hướng, Giáo Hội vẫn là của Chúa, và không thể hoàn toàn tách rời khỏi Chúa. Theo nghĩa như thế, Giáo Hội không thể nào sai lạc được. Chúng ta thấy Giáo Hội có những tia sáng vinh quang, cho thấy bản chất thực của Giáo Hội cũng mang lại niềm hy vọng và lời hứa. Trong những tia sáng này, có các thánh là người đã được Giáo Hội nuôi dưỡng, mà vị thánh trổi vượt nhất, là Mẹ Maria. Dù có gọi là tự mãn đắc thắng hay không, niềm hy vọng và tín thác vào Giáo Hội là một lời đáp trả thiết yếu của người tín hữu với lời mời gọi của Thiên Chúa. Nói cách khác, chúng ta phải hiểu Giáo Hội trên mặt cánh chung học. Sự hiệp nhất, thánh thiện, công giáo, và tông truyền chưa có được trong lịch sử, sẽ đến hồi viên mãn trọn vẹn trong thời sau cùng, khi lời hứa và mục đích của Chúa nên hoàn tất. Tuy thế, đó không phải là giấc mơ của tương lai, cũng như không phải là một điều không tưởng về mặt chính trị không có cơ sở thực tại. Đã có xuất hiện, bằng muôn phương ngàn cách, hành động biểu lộ tình yêu, hiệp thông, cảm nghiệm ân sủng. Trên con đường lữ hành, đã có những tia sáng của vinh quang cánh chung biểu hiện nâng đỡ Giáo Hội.

Câu trả lời thứ hai của tôi lệ thuộc vào câu thứ nhất, nhưng cũng đào sâu sự hiểu biết của ta về tín điều Lên Trời. Việc lên trời không phải là hành động xảy ra một lần trong lịch sử, nhưng là một quá trình còn tiếp diễn cho đến ngày nay. Điều đó được hiểu ngầm trong việc nói rằng Lên Trời là một “sự kiện thần học”. Sự kiện thần học thì không bị ràng buộc trong khoảng thời gian nhất định, nó có thể xảy ra ở hiện tại và mọi lúc. Việc Lên Trời bắt đầu khi Mẹ Maria yên nghỉ, nhưng tiếp diễn liên tục trong lịch sử Giáo Hội và chỉ chấm dứt khi Giáo Hội hoàn toàn hiệp nhất trọn vẹn với Chúa Ki-tô, như thân thể với cái đầu, và vinh quang của Chúa được biểu lộ trọn vẹn.

Thế nên, việc Mẹ Maria có sống tại Jerusalem 3 năm sau khi Chúa sống lại, hay sống nhiều năm trước khi yên nghỉ tại Ephesus, thì cũng không khác nhau bao nhiêu. Thế nên việc Giáo Hội yên lặng cả mấy thế kỷ về việc này thì cũng vậy. Nếu chỉ quan tâm về vấn đề thời gian này tức là ta đã rơi vào não trạng hình thức, câu nệ và quên đi ý nghĩa sâu xa của mầu nhiệm Lên Trời. Người Ki-tô hữu có thể khẳng định niềm tin không sợ sai lầm rằng tại phương Đông, trong thế kỷ đầu tiên, Đức Mẹ Maria đã nghỉ yên và đi gặp người Con trong vinh quang theo như người Con đã hứa. Điều này có Tân Ước chứng minh, và ta có thể nói đó là thời điểm lịch sử của việc Lên Trời rất đáng được kính mừng. Nhưng đó cũng là thời điểm khởi đầu cho một việc lên trời lớn rộng hơn (có thể gọi là vũ trụ hay hoàn vũ?). Việc lên trời lớn rộng này hiện đang xảy ra. Trong Giáo Hội chiến đấu, bất cứ khi nào có tia sáng vinh quang của Thiên Chúa, một hành động tuyên tín của người theo Chúa, một lời cầu nguyện phát xuất từ niềm tin, một cánh tay giang rộng trong yêu thương, tức là có sự lên trời, vì nhân sinh hướng về Thiên Chúa qua lời mời gọi của Người. Chúng ta cũng tin rằng trong Giáo Hội trông chờ mong đợi, các linh hồn đang được thanh luyện chờ đến ngày Chúa Giê-su Ki-tô tỏ hiện. Và trong Giáo Hội khải hoàn, công trình sẽ được hoàn tất, cùng với Mẹ Maria và các thánh, dân Thiên Chúa sẽ đạt đến vương quốc của vinh quang, bình an và ánh sáng vĩnh cửu.

Trên đây, tôi vừa trình bày về mầu nhiệm theo kinh nghiệm cá nhân, kiểu hồi ký tự truyện, chứ không dùng phương pháp lý luận thần học thông thường. Tôi nghĩ ai trong chúng ta cũng có thể làm chứng qua kinh nghiệm của mình ý nghĩa của việc Lên Trời, với niềm hy vọng là giúp người khác tìm được ý nghĩa của niềm tin của họ. Tôi không nghĩ những lý giải của tôi là trọn vẹn hay là gương mẫu cho người khác, nhưng nó có thể là niềm an ủi khích lệ cho những người cảm thấy bối rối khó hiểu vì tín điều này, cho họ có cơ hội suy nghĩ thêm. Từ một người bán tín bán nghi, mơ hồ không hiểu rõ ràng, tôi đã phát hiện và hiểu tín điều Mẹ Lên Trời chính là cách biểu lộ qua biểu tượng thần học niềm khẳng định hy vọng rõ ràng nhất của Đức Tin Ki-tô giáo. Có lẽ đó cũng là một tia sáng chân lý trong trí óc của một con người tuy còn nhiều đa nghi nhưng rất nhạy cảm, của nhà thơ người Anh khi ông chấp bút những vần thơ bất hủ:

Ave Maria, giờ kinh nguyện dâng Mẹ

Ave Maria, giờ biểu lộ mến yêu

Ave Maria, cho lòng con can đảm

Ngước lên Mẹ và Con Mẹ trên cao

Ave Maria…

(Lord Byron, Don Juan, Canto III, 102)                                                

 

Trở về Muc Lục