Thư Tòa Soạn
MARANATHA! Lạy
Chúa xin ngự đến!
Đó là lời cầu nguyện của
các tín hữu đầu tiên biểu lộ niềm mong chờ Chúa Giêsu trở
lại trần gian, nghĩa là tái lâm trong vinh quang, để ân
thưởng các tôi trung của Ngài.
Thực ra, Chúa lúc nào cũng
ngự trong tâm hồn ta, vì tâm hồn và thân xác chúng ta
chính là đền thờ sống động của Thiên Chúa, và Thiên Chúa
luôn ngự trong đó. Vấn đề quan trọng là chúng ta có ý thức
điều đó hay không. Nếu không thường xuyên ý thức điều đó,
thì sự hiện diện của Ngài ở trong ta trở nên thụ động,
không khác gì Ngài hiện diện nhưng lại ngủ say trên thuyền
của các tông đồ khi thuyền đang bị sóng gió vùi dập (x. Mt
8,2327), hay như thân xác Ngài hiện diện trong nấm mồ của
ông Giôxếp, người Arimathê (x. Lc 23,5053).
Việc cầu xin Ngài hãy đến
dường như phủ nhận sự hiện diện có sẵn của Ngài ở trong
tâm hồn ta. Thật ra, lời cầu nguyện ấy không phải để xin
Ngài đến cho bằng để đánh thức ý thức của ta về sự hiện
diện có sẵn của Ngài ở trong ta. Ý thức thường xuyên sự
hiện diện của Ngài ở trong ta là bước đầu để đi đến sự cảm
nghiệm thật sự về Ngài, về hoạt động của Ngài ở trong ta.
Sự cảm nghiệm ấy chính là một trong những yếu tố quan
trọng để nhận được sức mạnh của Thiên Chúa hầu
nên thánh.
Và
NÊN THÁNH, chính là mục
đích quan trọng nhất của cuộc đời ta, chứ không phải nên
bất cứ điều gì khác. Thử hỏi làm vua, làm tổng thống, làm
bộ trưởng, làm tỉ phú, hay làm giáo hoàng, làm giám mục,
làm linh mục, hay làm một chức vụ thật quan trọng trong
Giáo Hội hay xã hội mà không nên thánh, thì được ích lợi
gì? (x. Mt 16,26) Trước mặt Thiên Chúa, người thật sự
thánh thiện vẫn là người có giá trị hơn tất cả những người
khác. Vì thế, MARANATHA_4
đặc biệt bàn về vấn đề nên thánh.
Một trong những chủ trương
quan trọng của tuần báo MARANATHA
là giúp người giáo dân nên thánh
theo ơn gọi riêng của mình ở giữa đời, giữa lòng
trần thế, với đời sống hôn nhân gia đình, với nghề nghiệp,
với xã hội. Nghĩa là người giáo dân có đường lối nên thánh
riêng, khác với cách nên thánh của các bậc sống khác (giáo
sĩ hay tu sĩ). Vì thế, đặc biệt từ số này, chúng tôi bắt
đầu loạt bài "Linh đạo giáo dân" với mục đích ấy.
Ngoài ra, chúng ta còn ở
trong tháng 5, là tháng hoa đặc biệt kính Đức Maria. Vì
thế, chúng ta cũng dành thì giờ để tưởng nhớ đến người Mẹ
chung trên thiên quốc của tất cả Kitô hữu chúng ta. Đồng
thời chúng ta cũng nhớ đến người mẹ riêng của mỗi người
chúng ta ở trong cuộc sống này. Đó cũng là người yêu
thương và nâng đỡ chúng ta nhiều nhất trên cõi đời này.
MARANATHA

CON
ĐƯỜNG NÊN THÁNH
LÝ
TƯỞNG NÊN THÁNH CỦA NGƯỜI KITÔ HỮU
Nguyễn Chính
Kết
LTS.
Bài viết của tác giả
Nguyễn Chính Kết dài 6 trang và chúng tôi đã cho đăng
toàn bộ trên website Maranatha.
Tuy nhiên, trong Tuần Báo này, vì phải giới hạn số
trang, nên chúng tôi chỉ đăng lại phần cuối của bài viết
ấy, để minh họa cho chủ đề của
Maranatha tuần này.
Con người
được mời gọi nên thánh như Thiên Chúa
Đức Giêsu đã mời gọi mọi
người Kitô hữu, không trừ ai: «Anh em hãy nên hoàn thiện,
như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện» (Mt 5,48).
Nếu đọc và suy nghĩ sâu xa về câu Kinh Thánh này, chúng ta
không khỏi ngạc nhiên về chữ «như» ở trong câu. Và chúng
ta có thể tự hỏi: liệu Đức Giêsu có lầm không, hoặc có nói
quá đáng không khi mời gọi chúng ta nên hoàn thiện ở mức
độ «như Cha trên trời» ? Con người làm sao sánh ví với
Thiên Chúa được? Ngài có phạm thượng không? Hay chúng ta
phải hiểu câu này theo kiểu nói quá như trong những thành
ngữ: «trắng như tuyết», «cao như núi» , v.v…? hay như kiểu
«hắn hút thuốc y như ống khói tàu» ? – Nếu ta ý thức được
bản tính của Thiên Chúa đã được ươm sẵn ngay trong bản
tính của ta từ khi ta sinh ra, thì ta thấy lời mời gọi nên
thánh của Đức Giêsu không nên hiểu theo nghĩa «nói quá»,
hoặc theo nghĩa bóng! Tôi nghĩ cần phải hiểu lời ấy của
Ngài theo nghĩa đen!
Chúng ta không phải là một
phàm nhân thuần túy: một phàm nhân thuần túy không bao giờ
trở nên thánh hay nên con cái Thiên Chúa được. Cũng như
một con thú – vốn không có
bản tính người – không bao giờ có thể sống như một con
người, hay trở nên người được. Tương tự như vậy, con người
làm sao có thể nên thánh, nếu bản tính của mình vốn không
phải là thánh? May thay, chúng ta được Thiên Chúa dựng nên
giống Ngài, theo hình ảnh của Ngài, được thông phần bản
tính của Ngài, nghĩa là tự bản chất chúng ta đã là thần,
là thánh. Nhưng chúng ta mới chỉ là thánh hay thần linh
trong tiềm năng, nghĩa là có thể trở nên thánh, chứ chưa
phải là thánh trong hiện thực. Nói cách khác, chúng ta
chưa sống cho ra thần ra thánh, đúng với bản chất của
mình. Vậy, chúng ta cần phải ý thức ơn gọi nên thánh của
mình, khả năng nên thánh và nhất là ý thức bản chất thánh
của chúng ta. Có thế, việc nên thánh của ta mới có thể trở
thành hiện thực.
1. Ơn gọi
lớn nhất của con người: nên thánh
Thông thường, khi nói về
ơn gọi, người ta nghĩ ngay tới ơn gọi linh mục, ơn gọi tu
sĩ. Và tới thế kỷ 20, giáo dân cũng bắt đầu được coi là
một ơn gọi: ơn gọi giáo dân . Nhưng cho tới nay, một chủng
sinh hay tu sĩ mà bỏ tu ra làm giáo dân, thì nhiều người –
kể cả linh mục, giám mục, hay những nhà trí thức trong
Giáo Hội – nói rằng người đó «mất ơn gọi». Người ta làm
như thể chỉ có linh mục, giám mục, tu sĩ là có ơn gọi, và
họ coi ơn gọi của những vị ấy hết sức cao cả, bỏ ơn gọi ấy
mà ra làm giáo dân thì thật là đáng tiếc! Còn giáo dân thì
chẳng sợ bị mất ơn gọi, vì giáo dân có ơn gọi đâu mà mất!
Thật ra người ta quên rằng bất cứ Kitô hữu nào cũng có một
ơn gọi rất cao cả là nên thánh.
Sau Công Đồng Vatican II,
quan niệm coi trọng và đề cao ơn gọi linh mục cũng như các
«chức thánh» hơn cả ơn gọi chung của người Kitô hữu là nên
thánh, đã trở nên lỗi thời và không có nền tảng. Hiện nay
Giáo Hội quan niệm rằng ơn gọi lớn nhất, cao cả nhất của
mọi Kitô hữu là nên thánh, như Đức Giê-su từng mời gọi mọi
Kitô hữu không trừ ai: «Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha
anh em trên trời là Đấng hoàn thiện» (Mt 5,48). Công Đồng
Vatican II cũng lập lại ý tưởng đó: «Mọi Kitô hữu, dù ở
địa vị nào, bậc sống nào, đều được Chúa kêu gọi đạt tới sự
trọn lành thánh thiện như Chúa Cha trọn lành, tùy theo con
đường của mỗi người» (GH 11§3).
2. Không
hẳn cứ phải làm linh mục / tu sĩ mới nên thánh được
Nên thánh là ơn gọi chung
cho tất cả mọi người, dù là giáo dân, linh mục, giám mục,
hay giáo hoàng, và là ơn gọi cao cả nhất . Tất cả mọi
người – chứ không phải chỉ các giáo sĩ và tu sĩ – đều được
Thiên Chúa kêu gọi nên thánh. Nhưng không phải tất cả mọi
người đều được kêu gọi làm tu sĩ hay giáo sĩ (tức làm linh
mục, giám mục, hồng y hay giáo hoàng). Đây chỉ là những
con đường nên thánh cá biệt, chứ không phổ quát. Làm tu sĩ
hay giáo sĩ thiết tưởng là việc tương đối dễ và không hẳn
là cần thiết và quan trọng lắm. Làm thánh mới là khó,
nhưng cần thiết, quan trọng và cao cả hơn rất nhiều.
Đối với mỗi cá nhân Kitô
hữu, ơn gọi nên thánh quan trọng hơn rất nhiều so với ơn
gọi làm các chức vụ trong Giáo Hội, cho dù cao đến đâu! Vì
thử hỏi: làm linh mục, giám mục, hồng y hay giáo hoàng, dù
có hiển hách lẫy lừng đến đâu, nếu bản thân không nên
thánh thì có ích lợi gì? Trước tòa Chúa phán xét, có ai
lấy chức linh mục, giám mục hay giáo hoàng ra mà cứu được
linh hồn mình chăng? Tương tự như lời Đức Giêsu: «Được cả
trần gian mà mất linh hồn thì được ích gì? có thể lấy
những thứ ấy mà cứu được linh hồn mình không?» (Mt 16,26).
Tóm lại, để nên thánh thì không nhất thiết là phải làm
linh mục hay tu sĩ; và cũng không phải hễ linh mục hay tu
sĩ thì tất nhiên là thánh.
Trong Giáo Hội hiện nay,
vẫn còn có những quan niệm sai lầm, nhưng rất phổ biến,
nhất là tại Việt Nam, là làm như ơn gọi làm linh mục, giám
mục… thì cao trọng hoặc quí trọng hơn ơn gọi nên thánh phổ
quát của mọi Kitô hữu! Thiết tưởng, dưới con mắt của Thiên
Chúa, một vị thánh – cho dù là giáo dân, dù là một người
có địa vị thật thấp kém trong xã hội – vẫn luôn luôn cao
cả và giá trị hơn một linh mục, giám mục, hay giáo hoàng
mà không thánh thiện , thậm chí giá trị hơn vô vàn lần!
Nhưng người ta – kể cả những người dạy dỗ về siêu nhiên –
vẫn thích nhìn bằng con mắt của người đời hơn bằng con mắt
của Thiên Chúa!
Sở dĩ có quan niệm này là
vì đã một thời Giáo Hội có khuynh hướng thượng tôn các
chức thánh, chẳng hạn coi chức linh mục còn cao trọng hơn
cả chức vị các thiên thần, thậm chí hơn cả Đức Maria… (xem
cuốn Tôi muốn làm linh mục,
và cuốn Con tôi làm linh mục,
xuất bản trước 1975). Hiện nay, nhiều giáo dân và một số
linh mục vẫn còn có khuynh hướng thượng tôn các chức thánh
như thế! Thiết tưởng những người này cần tự hỏi và xác
định: Thiên Chúa muốn ta nên thánh hay muốn ta làm tu sĩ,
linh mục, giám mục… hơn? Nên thánh, và nên linh mục, giám
mục… cái nào cần thiết cho chúng ta hơn? – Cần phải quan
niệm cho đúng: quan niệm có đúng thì hành xử mới đúng
được!
3. Hãy cố
gắng nên thánh trong đời sống của mình
Như vậy, dù là giáo dân
hay giáo sĩ, mọi Kitô hữu đều được Thiên Chúa kêu gọi nên
thánh y như nhau, và ai cũng có khả năng nên thánh. Nên
thánh chính là trở nên «hoàn thiện như Cha trên trời là
Đấng hoàn thiện» (Mt 5,48). Đó là ơn gọi chung và cao cả
nhất của con người, cao cả hơn bất kỳ một ơn gọi cá biệt
nào. Vì thế, điều quan trọng nhất mà ta phải làm trong
cuộc đời của chúng ta là nên thánh, chứ không phải là làm
vua, làm tổng thống, bộ trưởng, làm anh hùng, hoặc làm
giáo hoàng, giám mục hay linh mục… Lý tưởng nên thánh đáng
cho ta dành tất cả nỗ lực và trọn cả cuộc đời để thực
hiện. Tuy nhiên, dù làm giáo sĩ hay giáo dân, dù làm vua,
làm tướng hay làm dân quèn, trong bất kỳ ngành nghề hay
địa vị nào, ta vẫn có thể nên thánh. Thà làm một người dân
quèn hay một giáo dân hạng bét mà nên thánh thì vẫn giá
trị trước mặt Thiên Chúa cả triệu lần hơn là làm vua làm
tướng, làm giáo hoàng hay giám mục mà không nên thánh.
Điều rất quan trọng để có
thể nên thánh, đó là ý thức bản chất thần linh hay thánh
thiện của mình. Chúng ta đã là thánh từ trong bản chất, và
chúng ta chỉ chưa sống cho đúng với bản chất ấy thôi
(tương tự như con sư tử nai trong một câu chuyện ngụ ngôn
Ấn Độ nọ – là sư tử được nai mẹ nuôi từ nhỏ và tiếp tục
sống giữa bầy nai – vẫn sống như một con nai, chứ chưa
sống đúng như một con sư tử). Không ai có thể nên thánh
nếu không có tiềm năng để nên thánh. Nên thánh chính là
sống cho đúng với bản chất thánh mà chúng ta đang có sẵn.
Ý thức sâu xa về điều này sẽ là một nguồn trợ lực mạnh mẽ
cho việc nên thánh.
Trong tất cả mọi biểu hiện
của sự thánh thiện, thì đức ái hay tình yêu thương đích
thực là quan trọng nhất. Hiến chế Giáo Hội của Công đồng
Vatican II nói: “Đức ái chi phối mọi phương thế nên thánh,
là linh hồn của những phương thế ấy và đưa chúng đến cùng
đích.” (Lumen Gentium, số 42). Rất nhiều Kitô hữu coi các
nghi thức tôn giáo quan trọng hơn việc sống đức ái. Thật
ra, tất cả mọi nghi thức tôn giáo đều chỉ là những phương
tiện đem lại ơn Chúa, giúp ta có sức mạnh để thực hiện đức
ái. Nếu chúng ta lại coi những nghi thức tôn giáo ấy – chứ
không phải đức ái – mới là điều chính yếu phải làm, thì
chúng ta đã không phân biệt được đâu là mục đích đâu là
phương tiện, đâu là chính đâu là phụ. Sự sai lầm ấy sẽ dẫn
chúng ta đến một thứ thánh thiện giả hiệu, chỉ ở bề ngoài
mà thôi!
Để kết thúc, xin nêu lại
gương của Phanxicô Salê. Lúc sinh thời, ngài từng nói:
“Ông kia bà nọ nên thánh được, tại sao tôi không? Đã có
thánh Phanxicô Assisi, thánh Phanxicô Xaviê, thánh
Phanxicô Phaolô; tại sao tôi lại không thể là thánh
Phanxicô Salê?” Và quả thật một ngày kia, Phanxicô Salê đã
được Giáo Hội vinh phong hiển thánh. Vấn đề hết sức quan
trọng là phải quyết tâm nên thánh. Bạn đã quyết tâm chưa?
Về mục lục >

SÁU TÂN HIỂN
THÁNH
Sông Thu
Sáng Chúa nhật VI Phục
Sinh, ngày 16-5, dưới nắng đẹp mùa xuân, tại quảng trường
Thánh Phêrô ở Giáo đô Rôma, với khoảng 80.000 tín hữu tham
dự, Giáo chủ Gioan-Phaolô II đã vui mừng cử hành Lễ Tôn
Phong Hiển Thánh cho 6 Chân Phước:
1.
GIANNA BERETTA MOLLA
(1922-1962), nữ bác sĩ người Ý. Bà qua đời vì ung thư năm
1962, sau khi không chịu được chữa trị, vì nếu chữa trị bà
phải phá bào thai trong bụng mình. Bà chết năm 39 tuổi,
không lâu sau khi hạ sinh một con trai khỏe mạnh. Bà là
phụ nữ có gia đình đầu tiên trở thành một Vị Thánh của
Giáo hội Công giáo Rôma thời hiện đại.
Tòa Thánh Vatican đã nhìn
nhận Gianna Beretta Molla là một “tấm gương sáng”,
hay “biểu tượng của phong trào chống phá thai”, và
các phóng viên nhận xét việc bà được phong thánh cho thấy
lập trường tuyệt đối của Giáo hội là “chống phá thai”.
Nhưng, những người chỉ trích nói “Giáo hội đã coi trọng
sinh mạng của đứa bé chưa chào đời hơn là sự an toàn của
người mẹ”. (Theo radio BBC, 16-5-04)
2.
LM. JOSEPH MANYANET Y VIVES
(1833-1901), người Catalan, nổi tiếng là “Ngôn sứ gia
đình” (“Prophet of the family”), và “Vị
Cổ võ Thánh Gia Thất” (“Promoter of the Holy
Family”) ở thành phố Barcelona, Tây Ban Nha, đã
sáng lập hai dòng tu.
3.
LM. LUIGI ORIONE
(1872-1940), người Ý, đã sáng lập tổ chức “Little Work
of Divine Providence” (“Công Việc Nhỏ của Quan
Phòng Thánh”) nhằm trợ giúp các người nghèo, cách
riêng các kẻ tàn tật.
4.
LM. ANNIBALE MARIA DI FRANCIA
(1851-1927), một trong những chân dung tinh thần quan
trọng nhất của Ý vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Ngài
đã sáng lập dòng “Các Linh Mục Rogatiô Thánh Tâm
Chúa Giêsu” (“Rogationist Fathers of the Heart of
Jesus”), và “Các Nữ Tử Nhiệt Thành Thánh Thiêng”
(“Daughters of Divine Zeal”).
5.
LM. NIMATULLAH KASSAB AL-HARDINI
(1808-1858), người Li-băng, được ca tụng là người có “lòng
bao dung đối với các tôn giáo khác”.
6.
Bà PAOLA ELIZABETTA CERIOLI
(1816-1865), người Ý, góa bụa và là người mẹ gia đình, đã
sáng lập hai dòng nữ hiến thân giúp đỡ các gia đình.
Trong số Sáu Tân Thánh đã
có tới bốn linh mục và một bà góa tu sĩ! Điều này cho thấy
Giáo hội muốn đề cao đời sống linh mục và tu sĩ, trong
thời buổi “khan hiếm”, “củi châu gạo quế”
các ơn gọi này. Ngài đã đặc biệt ngỏ lời với giới trẻ hiện
diện trong buổi lễ lịch sử hôm nay: “Các con hãy say
mê Chúa Giêsu Kitô!” (“Be enamoured
of Jesus Christ”).
Ngài nhắc nhở họ đó là bí
mật của ơn gọi linh mục, tu sĩ.
Trong bài giảng thuyết
bằng các thứ tiếng Ý, Tây Ban Nha, Pháp và Catalan, vị Chủ
Phong đã mô tả Sáu Tân Thánh là “Các Chứng Nhân cho hòa
bình Đức Kitô” (“The Witnesses of the peace of
Christ”)
Cho tới nay, trong 25 năm
dài trị vì, Giáo Chủ đã Phong Thánh cho 483 Vị.
Trong suốt buổi cử hành
long trọng kéo dài trên 2 giờ đồng hồ, Giáo chủ
Gioan-Phaolô II đã không hề tỏ ra một dấu hiệu mệt nhọc
nào. Phải chăng đó là ơn huệ lớn lao Thiên Chúa ban cho
Giáo Chủ già lão, đau yếu, đáng kính của chúng ta, qua
những lời “nguyện giúp cầu thay” của Sáu Tân Thánh
được ngài “đưa lên” Bàn Thờ hôm nay?
* * *
Sáng hôm sau, ngày 17-5,
Giáo chủ Gioan-Phaolô II đã tiếp chung, tại quảng trường
Thánh Phêrô, tất cả các tín hữu đã đến Rôma để tham dự lễ
Phong Thánh cho 6 vị Chân Phước. Ngỏ lời với cộng đoàn tín
hữu hiện diện, Giáo Chủ khuyến khích:
“Anh chị em hãy tiến
bước theo vết chân của những vị Tân Hiển Thánh; và nhất là
hãy noi gương các Ngài có lòng sùng kính con thảo đối với
Đức Nữ Đồng Trinh Maria, ngõ hầu tiến tới trên con đường
thánh thiện”.
Về mục lục >

DANH NGÔN
·
Nên thánh không
phải là một sự làm sang mà là một bổn phận.
Thánh Maximilianô Kolbê
·
Hiệp nhất và thánh
thiện đi đôi với nhau trong Giáo Hội.
Đức Gioan Phaolô II
·
Chỉ khi nào yêu
thương kẻ thù ta mới biết được Thiên Chúa và cảm nghiệm
được thế nào là thánh thiện.
Mục sư Martin Luther King
·
Giáo Hội không cần
những nhà cải cách, mà cần những thánh nhân.
Lamartine

LINH ĐẠO VÀ
PHỤNG VỤ
Aloysius
Pieris, S.J.
Trần Duy
Nhiên dịch
Suốt 50 năm trước Vatican
II, hai giải pháp song song được đề xuất qua các luận
chứng đối ngược về linh đạo của Dòng Tên và Dòng Biển Đức
mà ai cũng biết. Codex Juris Canonici (Giáo
luật) năm 1917 đã nhấn mạnh đến những hành vi cụ thể trong
việc thờ phượng Ki-tô giáo trên các lãnh vực nghi lễ, luật
lệ, biểu hiện, phẩm trật. Những sách vở thần học sau đó đã
đẩy khái niệm này đến những mức độ ngớ ngẩn, qua việc định
nghĩa phụng vụ chỉ đơn thuần là phần nghi lễ bên ngoài, tô
điểm cho việc thờ phượng của người Công giáo hoặc là một
phương tiện hàng giáo sĩ dùng để kiểm soát kết quả
việc thờ phượng của quần chúng.Ta hiểu vì sao Dòng Tên
muốn bổ túc cho phụng vụ bằng một linh đạo cá nhân, hướng
về chiêm niệm, để nhờ đó phụng vụ không chỉ là một mớ lễ
nghi.
Trường phái Biển Đức, do
Beauhiu lãnh đạo (nối gót Guéranger ở thế kỷ XIX), cố gắng
cứu phụng vụ khỏi những nghi lễ rườm rà bằng cách định
nghĩa lại: phụng vụ là việc Giáo hội (rõ ràng không
phải chỉ là giáo sĩ) tiếp nối mầu nhiệm Đức Ki-tô. Tham dự
vào mầu nhiệm này chính là linh đạo đích thực.
Khi phê bình linh thao của
thánh I-nhã, một vài linh mục Biển Đức nhấn mạnh rằng một
linh đạo mà không mang tính phụng vụ thì cũng không mang
tính Giáo hội (và như thế làm sao có thể gọi là Ki-tô
giáo?). Phụng vụ không gì khác hơn việc Đức Ki-tô toàn thể
– với Đầu và các chi thể – thực thi chức vụ tư tế của
mình. Do đó, linh đạo không phải là một khúc nhạc dạo hay
nhạc đệm hoặc một cái gì đó bổ túc cho phụng vụ, nhưng nó
hợp nhất với phụng vụ, nghĩa là với sự thờ phượng của
Ki-tô hữu. Ta có thể nói rằng Dòng Tên đã nhấn mạnh việc
tham gia cá nhân vào điều mà họ cho là nghi lễ ‘tập thể’,
trong khi đó Dòng Biển Đức tháp nhập tính chất Giáo hội
vào đường hướng ‘linh đạo’ cá nhân. Cuối cùng các linh mục
Biển Đức đã thắng cuộc.
Cách hiểu mới về phụng vụ
đã được đề cao trong Thông điệp Mediator Dei (1947). Từ
đó, chỉ cần bước một bước là đến Hiến chế Phụng vụ của
Vatican II; một phần nhờ vào các ‘cải tổ’ từ trên xuống và
sự ‘canh tân’ từ dưới lên trong lòng Giáo hội. Vatican II
không do dự khi tuyên bố rằng phụng vụ là ‘nguồn mạch và
tuyệt đỉnh’ (fons et culmen) của đời sống Ki-tô
hữu. Trước đó, chưa bao giờ Giáo hội liên kết linh đạo và
phụng vụ một cách chặt chẽ như thế.
Vì vậy, khi Hiến chế Phụng
vụ được chấp thuận một cách vẻ vang ở Công đồng, các nhà
phụng vụ hy vọng tràn trề rằng cuộc canh tân phụng vụ
sẽ kéo theo cuộc canh tân linh đạo trong Giáo hội.
Nhưng sau 20 năm, Công đồng thành thật nhận định rằng kết
quả đã không được như thế. Instructiones (các chỉ
giáo) của Công đồng thường được tiếp thu và áp dụng với
một não trạng tiền công đồng. Giáo Triều La Mã đã thất bại
trong việc đưa ra một ‘thay đổi mẫu mực’ từ định nghĩa
phụng vụ theo Giáo luật đến tinh thần Công đồng về việc
thờ phượng. Và nhiều nhà canh tân đã năng nổ di chuyển bàn
thờ, đưa ngôn ngữ địa phương vào, soạn những bài kinh và
bài hát mới, đơn giản hoá y trang, nâng cao chất lượng các
cử điệu v.v. Kết quả là phụng vụ nhiều khi trở thành một
loạt lời nói và hành vi ngăn cản không cho Ngôi Lời lên
tiếng và hoạt động dưới dạng bí tích bên trong cộng đoàn.
Ngược với lời giáo huấn
Công đồng về phụng vụ, điều xảy ra thường là một sự thay
đổi lễ nghi chứ không phải thay đổi đời sống.
Và một khi nghi lễ mới mất đi tính chất mới mẻ, thì Giáo
hội lại trở về vị trí cũ. Thế là linh đạo (= đời sống
thiêng liêng) một lần nữa phải đi du nhập từ bên ngoài để
tạo sức sống cho phụng vụ. Những canh tân bằng đặc sủng,
những phương thức thần bí phương Đông tràn ngập vào Giáo
hội phương Tây, làm nổi bật trở lại không những tính chất
cá nhân mà còn cả tính chất phi chính trị truyền thống của
cả linh đạo lẫn phụng vụ. Muốn có sự liên kết giữa phụng
vụ và linh đạo, Giáo hội La-mã lại tuột về cái nhị nguyên
cũ xưa. Trên bình diện này, trái với mọi chờ mong, tình
trạng hậu Vatican II chỉ hơi khá hơn thời hậu Tridentino
mà thôi, thời mà phụng vụ vẫn được bổ túc bằng bao nhiêu
hành vi sùng kính và ‘các việc đạo đức’.
Vì sao chúng ta không
ngừng đi vào vết xe cũ? Vì sao có vòng luẩn quẩn này? Theo
thiển ý của người viết, lý do như sau: có một lúc nào đó
trong quá trình lịch sử, Giáo hội La-mã đã hạ giá chiều
kích cốt lõi của linh đạo - phụng vụ trong đời sống
(= sống đạo), đây là nguồn mạch của mọi biểu hiện bí tích,
vì đó là bối cảnh của cuộc gặp gỡ sống động và thường
xuyên trong cuộc sống trần thế với Thiên Chúa trong Đức
Ki-tô. Đời sống bí tích và đời sống thiêng liêng không thể
nào được kết hợp trong bản thân mỗi người nếu cả hai đều
bị bứng rễ khỏi môi trường tự nhiên của mình, nơi mà mầu
nhiệm Vượt Qua của Đức Ki-tô đang tiếp diễn trong những
cuộc đời (trần thế) và những cuộc đấu tranh, trong những
cái chết và những chiến thắng của chi thể Người. Bởi lẽ
Đức Ki-tô không phải đã chết trong đền thờ nơi cử hành
phụng vụ truyền thống, nhưng chết ở ngoài đền thờ và
Ubi Christus, Ibi Ecclesia (đâu có Đức Ki-tô, ở đấy có
Giáo hội) chứ không phải là ngược lại. Ngày nay, bất cứ
nơi nào mà mầu nhiệm Vượt Qua được cử hành, ở đấy Đức
Ki-tô hợp nhất với chi thể của Người; đấy là nơi Giáo hội
đích thực được tập hợp; đấy là nơi mà phụng vụ đúng nghĩa
được cử hành; đấy là nơi linh đạo chân chính được sống.
Bởi lẽ Đức Ki-tô thực thi chức vụ tư tế của mình trong khi
biến mình thành của lễ hiến tế.
……
Muốn quán triệt sự khác
biệt giữa hai quan điểm, ta cần trở lại ý nghĩa mà các
Ki-tô hữu tiên khởi hiểu phụng vụ, linh đạo và dấn thân
vào đời. Vatican II đã sao lại ý nghĩa đó gần như
trung thành. Tôi bảo là ‘gần như’, vì tinh thần giáo sĩ cũ
vẫn còn được phép xuất hiện, bởi lẽ sự thờ phượng đích
thực của toàn thể Hội thánh (hy lễ thiêng liêng) còn lệ
thuộc vào chức vụ tư tế thừa tác và, như thế, chức vụ tư
tế của tín đồ - nghĩa là phụng vụ trong đời sống
của họ - không thể đạt được một giá trị phụng vụ trọn vẹn.
Rõ ràng là ngay từ đầu ta
đã gặp phải một khó khăn. Bởi vì từ ngữ ‘phụng vụ’ rất ít
khi được sử dụng trong Tân ước theo cách Vatican II đã
dùng. Thánh Kinh Do Thái đã thu hẹp nghĩa của từ ngữ ấy
trong việc thờ phượng của các thầy Lê-vi, một lối thờ
phượng mang tính chất nghi lễ; vì thế, cách thờ phượng
chân chính trong Kitô giáo hiếm khi hoặc không bao giờ
được Tân ước gọi là ‘phụng vụ’. Các ngôn sứ trong Thánh
Kinh Do Thái đã từng nhấn mạnh rằng: việc thờ phượng đích
thực là sự thánh thiện cá nhân và tập thể; nghĩa là trung
thành với giao ước, vâng phục Thiên Chúa và thực thi công
bình hơn là những lễ tế bên ngoài (Gr 7,21; Am 5,22-24; Is
10,10-20; Hs 6,6-tt). Đức Giê-su, tiếp tục truyền thống
các ngôn sứ, đã rao giảng một phương thức thờ phượng phi
đền thờ, phi lễ nghi (Ga 4,19-26). Lòng trung
thành với giao ước mới, Phúc âm của tình yêu, trở
nên tôn chỉ cho sự thánh thiện.
Trên thực tế, chính vì bảo
vệ quan niệm linh đạo này mà Đức Giê-su đã bị giết (Mt 26,
61), mà Stêphanô bị xử tử (Cv 6,12-14; 7,47-53) và các
Tông đồ bị bắt bớ (Cv 8,1). Bởi lẽ từ ngữ ‘phụng vụ’ không
thể chuyên chở được khái niệm mới về linh đạo Ki-tô giáo,
nên các tác giả Tân ước đã tránh dùng từ ấy, trừ một hai
trường hợp ngoại lệ (Rm 15,16; Pl 2, 17), và chỉ dùng một
lần duy nhất để chỉ cách thờ phượng của cộng đoàn tín hữu
(Cv 13,2).
Phụng vụ đã được gán một ý
nghĩa mới vào thế kỷ XX này, đặc biệt là trong Hiến chế
Phụng vụ của Vatican II. Phụng vụ có nghĩa là sự thánh
thiện của cuộc sống Ki-tô hữu biến thành hy lễ tự hiến
thiêng liêng dâng lên Cha do toàn nhiệm thể Đức Ki-tô hợp
nhất, trong Thần Khí, với Người là Đầu (phụng vụ trong đời
sống) và biểu hiện trong Giáo hội qua các bí tích, đặc
biệt là bí tích Thánh Thể (phụng vụ như ‘nguồn mạch và tột
đỉnh’). Định nghĩa này rất gần (tuy chưa đủ) với lời giáo
huấn Tân ước về cách thờ phượng của Ki-tô hữu (sẽ nói thêm
ở phần sau). Ta hãy nhớ lại rằng, đối với Phao-lô, phép
rửa không đơn thuần là một nghi lễ, nhưng là sự hợp nhất
(bí nhiệm) với Đức Ki-tô, nghĩa là chết và sống lại với
Người trong cuộc sống từng ngày. Thánh lễ là một hành động
tạ ơn gồm hành vi bẻ bánh, chia sẻ và dâng hiến đời sống
mình cho tha nhân. Ăn uống linh đình trong khi kẻ khác đói
là một hành vi phản Thánh Thể và phản Giáo hội, ‘một trọng
tội đối với thân thể của Chúa’ (xc. IC 11,21-27). Nếu sử
dụng ba khái niệm hiện đại, đó là (1) bí tích (2)
mầu nhiệm cho (3) cuộc sống dấn thân vào đời
(để đáp trả những yêu cầu của giao ước tình yêu), thì yếu
tố cuối cùng (tức cuộc sống dấn thân) là điểm hội
tụ của hai yếu tố đầu. Bởi vì bí tích và mầu nhiệm là
những thời điểm cô đọng của cuộc đời tự hiến mà nhờ đó
ta sống phù hợp với Phúc âm.
Khi bí tích dần dần trở
nên một bộ máy điều khiển từ xa của giai cấp giáo sĩ
(nghĩa là giai cấp những người ‘mặc lấy’ chức vụ tư tế của
Đức Ki-tô mà không hề chia sẻ cuộc hiến tế của Người) thì
giáo dân bỏ rơi thế giới của giáo sĩ để đi tìm một sự sống
thiêng liêng trong hoang địa (điều này đã xảy ra vào thế
kỷ IV để chống lại một Giáo hội bị cuốn hút vào những việc
thế gian của triều đình La-mã). Phụng vụ của các linh mục
và tu đức của những nhà thấn bí, hai yếu tố ấy đã không
còn chung sống được nữa. Nếu không cắm rễ vào cuộc đấu
tranh từng ngày mà giao ước mới của tình yêu đòi hỏi nơi
lương tâm người Ki-tô hữu (phụng vụ trong đời sống), thì
bí tích và mầu nhiệm sẽ chẳng bao giờ gặp gỡ nhau. Đó là
lý do vì sao thần học tiến bộ hậu Vatican II đã thất bại
khi muốn kết duyên chúng với nhau.
Thánh đường Chartres minh
họa, qua hình ảnh điêu khắc, quan điển phân hai này, một
quan điểm mà thời Trung cổ cho là đương nhiên: Thân hình
gầy guộc của các thánh thì vượt ra khỏi thế gian để chạm
đến Thiên Chúa trên cao, và gương mặt phì nộn, căng phồng
của đám thợ thuyền và nông dân (giai cấp công nhân mà Đức
Giê-su đã xuất thân) dưới thế gian này thì đang đổ mồ hôi
sôi nước mắt để nâng cao giai cấp nhàn rỗi, có thì giờ và
năng lực dành cho phụng vụ và chiêm niệm thiêng liêng. Đây
cũng là một quan niệm linh đạo đã được khắc ghi không thể
nào tẩy xoá trong thánh đường vô thức của tập thể chúng
ta.
Cách sử dụng những khái
niệm không gian, chiều dọc và chiều ngang, phản ảnh quan
niệm thời Trung cổ về một Thiên Chúa tác động từ trên cao
theo chiều dọc, và con người liên hệ với nhau theo chiều
ngang. Do đó, các thánh nhân ở thánh đường Chartres được
kéo dài theo chiều dọc và rất gầy theo chiều ngang, trong
khi đó người nghèo nuôi sống các thánh ấy thì rất thấp
chiều dọc và phình ra theo chiều ngang: các đấng chiêm
niệm sống trong thế giới ‘thiêng liêng’, còn công nhân và
nông dân thì chiến đấu với các lo toan ‘vật chất’. Họ là
những ‘gia nô’ sống nhờ các mảnh vụn thiêng liêng rơi vãi
từ bàn ăn của những ‘lãnh chúa’ chiêm niệm. Đúng là một
linh đạo phong kiến.
Về mục lục >

CẦU
NGUYỆN
THẤN LỰC CHỮA LÀNH CỦA LỜI CẦU NGUYỆN THEO KINH THÁNH
(tiếp
theo)
Hoàng Quý
Bí quyết thành đạt của việc cầu nguyện chữa lành cũng như
cầu nguyện theo Thánh Kinh đặt nền tảng nơi chúng ta khi
chúng ta biết trao đổi con tim với người khác trong mọi
lúc. Linh mục Linn kể lại một đôi khi ngài đi tới buổi hội
họp với một tâm sự không vui: “Tôi thực sự mệt nhọc và
muốn đi ngủ sớm hơn. Tôi đuối sức đứng hát thánh ca. Nhưng
rồi tôi cũng cố gắng tham gia đứng hát ca ngợi Chúa với
các anh chị em khác hơn là tôi thực tâm muốn ca ngợi. Khi
hát đến bài thứ tư, tôi không còn cảm thấy mình bị ép uổng
nữa, nhưng những lời ca ngợi Chúa đã làm bốc cháy trái tim
tôi. Cũng thế, khi tôi mệt nhọc, tôi dễ trở thành một con
người thụ động, chán nản, và tôi phải tìm cách bỏ đi những
tình cảm thụ động và chán nản này.”
Đó là diễn tiến của việc trao đổi con tim. Như vậy, trong
việc cầu nguyện theo Thánh Kinh, chúng ta cần trao đổi
trái tim với Chúa Giêsu, hòa nhập trái tim với Ngài, cho
đến khi chúng ta suy nghĩ và rung cảm như Ngài đã suy nghĩ
và rung cảm trong đoạn Tin Mừng đó.
Cách thức cầu nguyện theo Thánh Kinh như vừa kể trên cũng
có thể áp dụng trong gia đình. Linh mục Linn kể lại trường
hợp của cặp vợ chồng bác sĩ, bạn của ngài. Họ thức dậy mỗi
buổi sáng vào lúc 5 giờ để lắng nghe Chúa Giêsu nói với họ
qua Thánh Kinh. Họ bắt đầu đọc một đoạn Thánh Kinh của
ngày lễ hôm đó hoặc một đoạn nào họ cảm thấy Chúa muốn
trao đổi với họ. Sau đó họ dành ra khoảng 20 phút thinh
lặng để thấm nhập trái tim Chúa Giêsu trong đoạn này. Rồi
họ chia sẻ cho nhau những gì đoạn Kinh Thánh này đánh động
họ nhất. Sau cùng, họ cầu nguyện với nhau theo tinh thần
của đoạn Thánh Kinh này.
Giờ
cầu nguyện chất lượng này dùng để trao đổi con tim với
Chúa Giêsu và với nhau đã làm thay đổi mối giây thân tình
giữa hai người thật mãnh liệt, đến nỗi họ
quyết định tuần nào cũng
dành
một giờ cầu nguyện như thế với từng người con của họ.
Trong giờ cầu nguyện với con cái như thế, họ thúc đẩy con
cái trao đổi con tim với họ. Muốn có thời giờ dành ra cho
con cái như thế, họ quyết định bớt một phần tư thời giờ
khám bệnh. Gia đình họ hao hụt lợi tức, nhưng cuộc sống
gia đình của họ trở thành phong phú và đầm ấm hơn nhiều.
Những
đau
khổ ray rứt nội tâm cũng được chữa lành nhờ cầu nguyện với
Thánh Kinh, không những khi cầu nguyện với người khác,
nhưng cả khi cầu nguyện một mình nữa. Linh mục Linn kể lại
trường hợp một linh mục bạn đã phải giao tranh với một
cuộc sống bạc nhược, và nay đã thay đổi thành tự do thoải
mái. Ngài hỏi nguyên do nào đã đưa đến những thay đổi khác
biệt này. Vị linh mục bạn chia sẻ tâm tư sau khóa tĩnh tâm
mới đây nhất:
“Cách
đây một thời gian, tôi trình bầy với linh mục giám đốc là
tôi chán nản với chính mình vì đã sinh trưởng trong một
gia đình nghiện rượu, cha tôi bỏ rơi tôi và từ đó tôi học
hành thất bại. Tôi đã cố công làm mọi chuyện, nhưng đều
thất
bại. Hãy nhìn tôi này, người thì mập phì quá tải tám chục
pounds. Tôi biết mình là kẻ xấu xí hơn ai hết. Anh có
biết
linh mục giám đốc trả lời tôi làm sao không? Ngài bảo tôi:
‘Con hãy dành ngày mai chiêm ngắm cách
Chúa Giêsu trả lời thế nào cho một người xấu xí nhất trong
Thánh Kinh, người xứ Ghêrasa bị quỷ nhập.’
( Mc 5:1-20).
Ngày hôm sau, tôi thi hành những gì linh mục giám đốc
khuyên tôi và liên tiếp trong cả tuần tĩnh tâm tám ngày.
Tôi thật khó tin Chúa Giêsu lại có thể yêu thương một con
người kinh tởm và man rợ như thế. Ngài làm nổi bật vẻ đẹp
tiềm tàng trong con người xấu xí này sau khi anh được chữa
lành, anh đã được Ngài sai đi rao giảng Tin Mừng thật
nhiệt thành. Rồi tôi bắt đầu nhìn xem Chúa Giêsu sử dụng
cái quá trình nghiền rượu và côi cút của tôi để giúp tôi
lên đường hoạt động truyền giáo nơi người da đỏ, những
người cũng bị nạn nghiền rượu và mất mát người thân như
tôi. Tôi thực sự thương cảm được những bất hạnh và đớn đau
như họ, vì tôi cũng xuất thân từ một gia đình tương tự như
họ và tôi có bổn phận phải biến đổi họ trở thành gia đình
của tôi. Đó là khúc quẹo quan trọng cuộc đời tôi khi tôi
nhìn ra cách thức Chúa Giêsu đối xử với con người bất hạnh
này vốn cũng giống như tôi. Rồi tôi bắt đầu cảm thương
được với chính mình và với người khác sống chung quanh
tôi. Đó là lần đầu tiên tôi thực sự cảm nhận được mình
hạnh phúc và tôi vui sướng với chính mình.”
Những đổi thay kỳ diệu như thế nơi bản thân tôi, nơi gia
đình, nơi người khác, nhờ việc cầu nguyện theo Thánh Kinh
đã đẩy linh mục Linn đi tới chỗ tin rằng việc cầu nguyện
này sẽ đổi thay được xã hội và thế giới. Ngài kể lại thời
gian đang ở Anh Quốc vào thời điểm tại Hoa Kỳ đang bùng nổ
những cuộc bạo động da mầu tại Brixton, ngài nhìn thấy
truyền hình Anh Quốc chiếu lại câu chuyện ông Daddy King,
cha ruột của mục sư Martin Luther King. Ông Daddy King
chia sẻ về việc cuộc sống của ông đã được hoán đổi hoàn
toàn như thế nào. Hồi còn thơ trẻ, ông phải ngồi ăn ở
ngoài cửa sau, trong lúc người bạn học da trắng con điền
chủ lại chỗm chệ ngồi bàn ăn trong phòng. Từ tuổi thơ ấu
ấy, ông ghen ghét và nuôi ý đồ trả thù người da trắng.
Vào
một ngày kia, lúc ông mười tám tuổi, tình cờ ông nhìn lên
cây thánh giá trong nhà thờ. Từ thâm tâm ông nghe thấy lời
Chúa Giêsu nói trên thập giá,
“Lạy
Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.”
(Lc 23:34). Vào giây phút ấy Daddy King bị niềm ao ước tha
thứ cho người da trắng tràn ngập tâm hồn cho
dẫu bao
xử đãi tàn tệ và bất công đã gây ra cho ông và
những người
da
đen như ông. Những lời Tin Mừng ấy làm tan chảy đống núi
thù ghét và định kiến trong ông.
Những lời Tin Mừng ấy đã biến hạt giống phản kháng bất bạo
động thành hạt giống yêu thương kẻ thù. Martin Luther
King, người con yêu quý của ông thừa hưởng thái độ tha thứ
thâm sâu của ông và đứng ra lãnh đạo người da đen giúp họ
yêu thương kẻ thù của mình, cả những khi họ bị cảnh sát
đàn áp dã man. Hành động sống Tin Mừng như thế đã thực sự
chữa lành được các trái tim của người Hoa Kỳ, và sau đó
chẳng bao lâu, bản Hiến Chương Nhân Quyền đem lại bình
đẳng và tôn trọng người da đen, trở thành một thực tại kéo
dài tới ngày nay tại Hoa Kỳ.
Những kinh nghiệm kể trên cho chúng ta thấy rằng các biến
cố trong đời sống Chúa Giêsu đang trở nên sống động, linh
hoạt khi chúng ta đem cuộc chiến đấu hiện hành của chúng
ta đến trước Chúa Giêsu và hỏi Ngài xem Ngài hoặc những
nhân vật khác trong Tin Mừng có hành xử như chúng ta đang
hành xử không? Cứ thế, trong những giờ phút cầu nguyện mỗi
ngày, chúng ta hãy hỏi Chúa Giêsu xem Ngài thường xử đối
thế nào trong từng hoàn cảnh sống thực tiễn của chúng ta
hàng ngày. Và lần lượt qua các đoạn Tin Mừng, Ngài dẫn dắt
chúng ta trở thành sống động và đem ơn chữa lành cho người
khác.
Về mục lục >

MẸ
MARIA
MẸ CỦA LÒNG
THƯƠNG XÓT
Đức Gioan
Phaolô II
Qua bài hát
phục sinh của Giáo Hội, vang lên, với trọn vẹn ý nghĩa
tiên tri, những lời mà Đức Maria đã thốt ra khi đến thăm
bà chị Elisabeth, vợ của Zacharia : “Lòng thương xót
Người trải dài từ thế hệ này sang thế hệ kia”. Ngay
giây phút nhập thể, những lời ấy mở ra một viễn ảnh mới
cho lịch sử cứu độ. Sau khi Chúa Kitô phục sinh, viễn ảnh
mới đó trở thành một viễn ảnh lịch sử, đồng thời mang lấy
một ý nghĩa cánh chung. Kể từ giờ phút ấy, những thế hệ
con người ngày càng đông nối tiếp nhau trong đại gia đình
nhân loại, và những thế hệ Dân Chúa cũng nối tiếp nhau,
với dấu ấn của thập giá và phục sinh, và họ được ‘đóng
ấn’, ấn của mầu nhiệm phục sinh Chúa Kitô, nghĩa là một
mặc khải tuyệt đối về lòng thương xót mà Đức Marie đã công
bố nơi ngưỡng cửa nhà người chị họ mình: “Lòng thương
xót Người trải dài từ thế hệ này đến thế hệ kia”
Đức Maria là
người hơn ai hết đã cảm nghiệm lòng thương xót một cách
đặc biệt và phi thường, đồng thời đã hy sinh tự thâm sâu
đế có thể tham gia, cũng một cách phi thường, vào mặc khải
về lòng thương xót của Thiên Chúa. Sự hy sinh đó liên kết
mật thiết với thập giá của Con Mẹ, và Mẹ phải đứng trên
Núi Sọ dưới chân thập giá. Sự hy sinh của Đức Maria là một
sự tham gia đặc thù vào mặc khải về lòng thương xót, nghĩa
là về sự trung tín tuyệt đối của Thiên Chúa đối với tình
yêu của Người, với giao ước mà Người đã tiền định từ thuở
đời đời và đã ký kết trong lịch sử với con người, với
người dân, với nhân loại; sự hy sinh ấy là sự tham gia vào
mặc khải đã được hoàn tất vĩnh viễn qua thập giá. Không ai
cảm nghiệm mầu nhiệm thập giá cho bằng Mẹ Đấng Chịu Đóng
Đinh, mầu nhiệm của sự gặp gỡ gây bàng hoàng giữa sự công
bình siêu việt và tình yêu của Thiên Chúa: ‘nụ hôn’ mà
lòng thương xót đã hôn vào sự công chính. Không ai đón
nhận mầu nhiệm này vào lòng một cách sâu xa như Mẹ: Mầu
nhiệm Thiên Chúa Cứu Độ, được thực hiện trên Núi Sọ qua
cái chết của Con Một Người, kèm theo sư hy sinh của trái
tim người mẹ, của tiếng ‘fiat’ triệt để.
Như vậy, Đức
Maria là Đấng thông hiểu một cách sâu thẳm nhất về Mầu
Nhiệm của Lòng Thương Xót Thiên Chúa. Ngài đã biết đến giá
trả, và trả cao giá đến độ nào. Theo chiều hướng này,
chúng ta gọi Ngài là Mẹ của lòng thương xót:
Đức Bà của lòng thương xót, hay Mẹ của lòng
thương xót Thiên Chúa. Mỗi danh hiệu ấy đều có một
ý nghĩa thần học sâu xa, vì chúng diễn đạt tâm tình đặc
biệt sẵn sàng của tâm hồn Ngài, của toàn thể con người
Ngài, khiến Ngài có khả năng khám phá - trước tiên qua các
biến cố phức tạp của Israel, sau đó qua những biến cố liên
quan đến từng con người và toàn thể nhân loại - lòng
thương xót mà mọi người được tham dự ‘từ thế hệ
này sang thế hệ kia’, theo chương trình muôn đời của Ba
Ngôi Chí Thánh.
Tuy nhiên,
những tước hiệu mà chúng ta dành cho Mẹ Thiên Chúa thì chủ
yếu xem Ngài là Mẹ Đấng Chịu Đóng Đinh và Phục Sinh; là
Đấng đã từng cảm nghiệm lòng thương xót một cách phi
thường, nên ‘xứng đáng’ hưởng lòng thương xót ấy suốt cuộc
đời trần thế của Ngài, và đặc biệt dưới chân thập giá của
Con Ngài; cuối cùng chúng ta nói về Ngài như là Đấng, mà
qua việc tham dự âm thầm nhưng đồng thời vô song vào nhiệm
vụ cứu độ của Con Ngài, đã được mời gọi một cách đặt biệt
để đem đến gần với con người tình yêu mà Chúa đã đến mặc
khải: tình yêu được thể hiện cụ thể đối với người đau khổ,
nghèo đói, bị giam cầm, đui mù, bị áp bức và tội lỗi, như
Chúa Kitô đã dùng lời tiên tri Isaia mà nói, trước tiên
trong hội đường Nazareth, rồi kế đến để trả lời cho những
người mà Gioan Tẩy Giả sai đến.
Trái tim của
Mẹ Đấng Chịu Đóng Đinh và Phục Sinh tham dự một cách độc
nhất và đặc biệt vào tình yêu ‘đầy thương xót’ đó, một
tình yêu thể hiện rõ nhất khi tiếp xúc với nỗi đau thể lý
và tinh thần - Đức Maria đã tham dự vào tình yêu đó. Và
tình yêu này, trong Ngài và nhờ Ngài, không ngừng tỏ hiện
trong lịch sử Giáo Hội và nhân loại. Sự tỏ hiện đó rất
hiệu quả, bởi vì trong Mẹ Thiên Chúa, nó được đặt nền tảng
trên sự tế nhị đặc biệt của trái tim hiền mẫu, trên sự
nhạy cảm đặc biệt, trên khả năng đặc biệt của Ngài để đến
với những ai cảm thấy đón nhận tình yêu đầy lòng thương
xót từ một người mẹ thì dễ dàng hơn. Đấy là một trong
những mầu nhiệm Kitô giáo vĩ đại và ban sự sống, mầu nhiệm
gắn liền mật thiết với mầu nhiệm nhập thể.
Công đồng
Vatican II tuyên bố: “Trong nhiệm cục ân sủng, Đức
Maria luôn tiếp tục thiên chức làm mẹ, từ khi Ngài tin
tưởng ưng thuận trong ngày Truyền Tin - sự ưng thuận mà
Ngài đã không ngần ngại giữ vững bên thập giá - cho tới
lúc vĩnh viễn hoàn tất việc cứu rỗi mọi người được tuyển
chọn. Thực vậy, sau khi về trời, vai trò của Ngài trong
việc cứu độ không chấm dứt, nhưng Ngài vẫn luôn tiếp tục
cầu bầu để đem lại cho chúng ta những ân huệ giúp chúng
chúng ta được phần rỗi đời đời. Với tình mẹ hiền, Ngài
chăm sóc những anh em của Con Ngài đang lữ hành trên dương
thế và đang gặp bao nguy hiểm thử thách, cho đến khi họ
đạt tới hạnh phúc quê trời.”
Thông điệp Dives in
Misericordia (về
lòng thương xót Thiên Chúa) - số 9 (30-11-1980)
Maranatha dịch
Về mục lục >

KINH MÂN CÔI,
MẦU NHIỆM ÁNH SÁNG
Lm Joseph Nguyễn Thanh
Tín hữu chúng ta được Giáo
hội dành cho tháng Năm và tháng Mười trong năm phụng vụ để
đặc biệt tôn kính Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa và Mẹ mỗi người
chúng ta.
Chúng ta có một số thực
hành đạo đức trong việc sùng kính “Mẹ Maria Đầy Ơn Phúc,
Đức Chúa Trời ở cùng Bà, Bà có phước lạ hơn mọi người nữ”;
trong số đó là cầu nguyện bằng kinh Mân Côi.
Kinh Mân Côi kính Đức
Trinh Nữ Maria đã “dần dần được hình thành trong Ngàn năm
thứ hai, dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần Thiên Chúa, là
một lời kinh được vô vàn các vị thánh yêu thích và được
huấn quyền khuyến khích.”
Kinh Mân Côi “đơn sơ nhưng
sâu sắc, lời kinh này vẫn là một lời kinh có ý nghĩa lớn
lao vào buổi hừng đông của Ngàn năm thứ ba này, vì mang
lại hoa quả thánh thiện.”
Kinh Mân Côi “dễ hòa nhập
vào cuộc hành trình thiêng liêng của đời sống Kitô hữu;
đời sống này, sau 2000 năm vẫn không đánh mất sự tươi trẻ
của buổi ban đầu và cảm thấy được Thánh Thần Thiên Chúa
lôi kéo chèo ra chỗ sâu (duc in altum!) để một lần nữa
loan báo, và cả đến hô to lên, trước thế gian rằng, Đức
Giêsu Kitô là Chúa và Đấng Cứu Độ, là Đường, Sự Thật và Sự
Sống (Gioan 14:6), mục tiêu của lịch sử nhân loại, và đích
điểm mà các khát vọng của lịch sử và văn minh hướng về.”
Kinh Mân Côi “dầu rõ ràng
gắn liền với Đức Maria, chủ yếu là một lời kinh lấy Đức
Kitô làm trung tâm. Qua vẻ giản dị của các yếu tố, lời
kinh có được chiều sâu của toàn bộ sứ điệp Tin Mừng, mà ta
có thể gọi là một bản tóm lược. Qua lời kinh ấy vang vọng
lại lời kinh của Đức Maria, kinh Magnificat ca ngợi việc
Nhập thể cứu chuộc đã khởi sự trong cung lòng trinh khiết
của Mẹ.”
Với kinh Mân Côi, “Dân
Kitô giáo theo học tại ngôi trường của Đức Maria, được dẫn
đến chiêm ngưỡng vẻ đẹp trên dung nhan của Đức Kitô, và
kinh nghiệm một cách sâu thẳm tình yêu của Ngài. Qua kinh
Mân Côi các tín hữu lãnh nhận vô vàn ơn thiêng, hầu như
qua chính đôi tay của Mẹ Đấng Cứu Thế.” (Tông Thư
“Rosarium Virginis Mariae”, chương 1, đoạn 1)
Trong Tông Thư “Rosarium
Virginis Mariae” về Kinh Rất Thánh Mân Côi, được ấn ký tại
Vatican ngày 16-10-2002, Giáo chủ Gioan-Phaolô II đã đề
nghị bổ sung vào hình thức truyền thống: Năm Mầu nhiệm Ánh
sáng.
Tông Thư viết (trong
chương II đoạn 19):
Trong số các mầu nhiệm của
cuộc đời Đức Giêsu, chỉ một ít mầu nhiệm được suy ngắm qua
lời kinh Mân Côi, trong hình thức phổ biến được Giáo hội
phê chuẩn. Việc chọn lựa được xác định bởi nguồn gốc của
lời kinh, đặt nền tảng trên con số 150, con số Thánh Vịnh
trong tập Thánh Vịnh.
Thế nhưng, để làm cho kinh
Mân Côi có chiều kích Kitô học thâm sâu hơn, tôi nghĩ rằng
ta cần bổ sung thêm vào hình thức truyền thống, trong khi
đó vẫn để cho mỗi người và cộng đoàn được tự do, để có thể
suy gẫm các mầu nhiệm trong cuộc đời công khai của Đức
Kitô, từ khi Ngài lãnh nhận Phép rửa cho đến cuộc Khổ nạn.
Chính trong khung cảnh của
các mầu nhiệm ấy mà chúng ta chiêm ngưỡng các khía cạnh
quan trọng nơi con người Đức Kitô như là mạc khải chung
cuộc của Thiên Chúa. Được Chúa Cha tuyên bố là “Con Yêu
Dấu” trong biến cố Phép rửa tại sông Gióc-đan, Đức Kitô là
Đấng loan báo Nước Trời đang đến, làm chứng cho Nước Trời,
bằng những việc làm của Ngài, và công bố những đòi hỏi của
Nước Trời. Chính qua những năm tháng hoạt động công khai
mà mầu nhiệm Đức Kitô tỏ ra một cách hiển nhiên là mầu
nhiệm Ánh sáng: “Bao lâu Thầy còn ở thế gian, Thầy là ánh
sáng thế gian” (Gioan 9,5).
Bởi thế, để cho kinh Mân
Côi trở thành bản tóm lược Tin Mừng một cách đầy đủ hơn,
ta phải bổ sung, tiếp sau phần suy ngắm về mầu nhiệm Nhập
thể, và cuộc đời ẩn dật của Đức Kitô (các sự Vui), và
trước khi suy ngắm về các nỗi thống khổ trong cuộc Khổ nạn
của Ngài (các sự Thương), và cuộc vinh thắng Phục sinh
(các sự Mừng), thêm phần suy ngắm về các biến cố hết sức
quan trọng trong sứ vụ công khai của Đức Kitô (các mầu
nhiệm Ánh sáng).
Việc bổ sung thêm những
mầu nhiệm mới này, không hề làm phương hại đến khía cạnh
chính yếu nào của hình thức cầu nguyện truyền thống, trái
lại có mục đích làm cho hình thức cầu nguyện đó có một sức
sống tươi mới, và khơi dậy một sự quan tâm mới về chỗ đứng
của kinh Mân Côi trong đời sống thiêng liêng của Kitô hữu,
như một con đường đúng đắn để đi vào Trái Tim Đức Kitô,
đại dương của niềm vui và ánh sáng, đau khổ và vinh quang.
CÁC MẦU
NHIỆM ÁNH SÁNG
Đi từ cuộc đời thơ ấu và
ẩn dật tại làng Nazareth đến cuộc đời công khai của Đức
Giêsu, việc chiêm ngưỡng dẫn chúng ta đến những mầu nhiệm
có thể được gọi một cách đặc biệt là các mầu nhiệm Ánh
sáng. Dĩ nhiên, toàn thể các mầu nhiệm Đức Kitô là một mầu
nhiệm Ánh sáng. Ngài là “ánh sáng thế gian” (Ga 8,12).
Tuy nhiên, chân lý này tỏ
hiện một cách đặc biệt qua những năm tháng của cuộc đời
công khai, khi Ngài công bố Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Để
đề nghị cho cộng đoàn Kitô hữu năm thời điểm quan trọng –
các mầu nhiệm chói sáng – trong giai đoạn này của cuộc đời
Đức Kitô, tôi nghĩ nên chọn ra những mầu nhiệm sau đây:
1. Chịu phép rửa tại sông
Gióc-đan.
2. Tỏ mình ra tại tiệc
cưới Cana.
3. Công bố Nước Thiên
Chúa, và kêu mời sám hối.
4. Hiển dung.
5. Thiết lập Bí tích Thánh
Thể như là một biểu hiện có tính Bí tích của Mầu nhiệm
Vượt qua.
Mỗi mầu nhiệm trên là một
mặc khải về Nước Thiên Chúa đang hiện diện trong chính bản
thân Đức Giêsu. Phép rửa tại sông Gióc-đan tiên vàn là một
mầu nhiệm Ánh sáng. Tại đây, khi Ngài bước xuống sông
Gióc-đan, Đấng vô tội đã “trở thành tội vì chúng ta” (x.
2Cr 5,21), cửa trời rộng mở và có tiếng Chúa Cha tuyên
nhận Ngài là “Con yêu dấu” (x. Mt 3,17 và song song),
trong khi đó, Thánh Thần ngự xuống trên Ngài, và trao cho
Ngài sứ mạng mà Ngài phải thi hành.
Một mầu nhiệm ánh sáng
khác là dấu chỉ đầu tiên tại Cana (x. Ga 2,1-12), khi Ngài
biến nước thành rượu, và mở rộng tâm hồn các môn đệ để đón
nhận đức tin, nhờ sự can thiệp của Đức Maria, người tín
hữu đầu tiên.
Một mầu nhiệm ánh sáng
khác là lời giảng dạy, qua đó Đức Giêsu loan báo Nước
Thiên Chúa đang đến, kêu mời sám hối (x. Mc 1,15), và tha
thứ tội lỗi cho tất cả những ai đến với Ngài trong tâm
tình tin tưởng khiêm hạ (x. Mc 2,3-13; Lc 7,47-48): đó là
khởi đầu của tác vụ bày tỏ lòng thương xót mà Ngài tiếp
tục thi hành cho đến ngày tận thế, nhất là qua Bí tích Hòa
giải mà Ngài ủy thác cho Giáo hội (x. Ga 20,22-23).
Mầu nhiệm Ánh sáng trỗi
vượt hơn cả là biến cố Hiển dung, mà truyền thống tin là
đã xảy ra trên núi Ta-bo. Vinh quang Thiên Chúa chói ngời
trên dung nhan Đức Kitô, trong khi Chúa Cha truyền lệnh
cho các tông đồ đang kinh hãi phải nghe lời Ngài (x. Lc
9,35 và song song), và chuẩn bị cho họ cùng với Ngài kinh
nghiệm nỗi thống khổ trong cuộc Thương khó, để đến với
Ngài trong niềm vui phục sinh, và trong cuộc sống được
biến hình, nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần.
Mầu nhiệm Ánh sáng cuối
cùng là việc thiết lập Bí tích Thánh Thể, qua đó Đức Kitô
trao ban mình và máu Ngài dưới hình bánh và rượu, và khẳng
định Ngài yêu thương nhân loại cho đến cùng (x. Ga 13,1),
Ngài sẽ hi sinh hiến mình để cứu chuộc nhân loại.

CÁCH LẦN
HẠT 5 MẦU NHIỆM ÁNH SÁNG:
1. Đức Chúa Giêsu chịu Phép Rửa tại sông Gióc-đan.
Ta hãy xin cho được sống xứng đáng là con cái Chúa.
2. Đức Chúa Giêsu dự tiệc cưới Cana.
Ta hãy xin cho được vững tin vào quyền năng của Ngài.
3. Đức Chúa Giêsu rao giảng Nước và kêu gọi sám hối.
Ta hãy xin cho được hoán cải và đón nhận Tin Mừng.
4. Đức Chúa Giêsu biến hình trên núi.
Ta hãy xin cho được lắng nghe và thực hành Lời Chúa.
5. Đức Chúa Giêsu lập Bí tích Thánh Thể.
Ta hãy xin cho được năng kết hiệp cùng Chúa Giêsu Thánh
Thể.
Về mục lục >

CÂY TÁO
Ngày xửa ngày xưa có một cây Táo thật
lớn. Một cháu bé thích đến chơi mỗi ngày với cây. Cháu leo
lên cành, hái Táo mà ăn, ngủ trưa dưới bóng mát... Cháu
yêu mến cây Táo và cây Táo thích chơi vui với cháu.
Ngày qua ngày... cháu bé
lớn lên và không còn mỗi ngày đến chơi với cây Táo nữa.
Một hôm cậu quay về với vẻ u buồn.
Cây Táo bảo cậu: “Đến chơi
với tôi đi.” Cậu thiếu niên trả lời: “Mình không còn con
nít, mình không chơi với cây nữa. Mình muốn chơi với đồ
chơi, mình cần tiền để mua”.
“Rất tíếc là tôi không có
tiền... nhưng cậu có thể hái tất cả trái Táo của tôi đem
đi bán, cậu sẽ có tiền đấy.” Cậu thiếu niên vui mừng. Cậu
hái hết trái trên cây và vui vẻ ra đi. Sau khi hái hết
Táo, cậu không còn trở lại nữa. Cây Táo cảm thấy buồn.
Một ngày kia, thấy chàng
trai trở lại, cây Táo rất vui mừng.
Nó nói: “Đến chơi với tôi
đi.” “Mình không có thì giờ chơi đùa. Mình phải lo lắng
cho gia đình. Gia đình mình cần một căn nhà để trú nắng
che mưa. Cây giúp mình được không?” “Rất tiếc là mình
không có nhà. Nhưng anh có thể chặt cành của mình để làm
nhà” Thế là chàng trai chặt trụi các cành cây và ra đi vui
vẻ.
Cây Táo vui mừng vì thấy
chàng sung sướng, nhưng chàng trai không hề trở lại. Và
một lần nữa, cây Táo lại buồn bã cô đơn.
Một ngày hè nóng bức,
chàng trung niên trở lại và cây Táo vui lắm. Cây bảo: “Đến
chơi với tôi đi!” “Tôi lớn tuổi rồi nhưng buồn lắm.
Tôi muốn chèo thuyền để ngao du. Cây có thể cho tôi chiếc
thuyền không?” “Hãy lấy thân của tôi mà làm thuyền. Anh có
thể chèo đi thật xa và cảm thấy vui thích.” Thế là chàng
trung niên chặt thân cây để làm thuyền. Chàng lên thuyền
ra đi và không hề quay lại trong một thời gian thật dài.
Cuối cùng, chàng trai xưa
kia đã trở về sau bao năm xa vắng. Cây Táo nói: “Bạn ơi,
tôi rất tíếc, nhưng tôi không còn gì để trao tặng bạn nữa.
Không còn trái Táo nào...”
Chàng trai giờ đã già nua
liền nói: “Mình không còn răng để ăn”.
- Tôi không còn thân cho
bạn trèo.
- Mình già quá rồi, không
còn sức để leo.
Cây Táo nức nở nói:
- Tôi thực sự không còn gì
để tặng bạn... Tôi chỉ còn cái gốc đang chết dần chết mòn
thôi.
Người kia nói:
- Mình không cần gì nhiều
nữa, chỉ cần một nơi để yên nghỉ thôi. Mình đã mệt mỏi rã
rời sau bao nhiêu năm tháng.
- Thế thì hay quá. Đến
ngồi bên tôi mà nghỉ ngơi.
Cụ già ngồi xuống và cây
Táo vui mừng mỉm cười mà lệ cứ trào dâng...
Câu chuyện trên đây là câu
chuyện của mỗi một chúng ta. Cây Táo là cha hay mẹ mình.
Khi ta còn bé, ta yêu thương cha mẹ... Lớn lên rồi, ta bỏ
họ ra đi... và chỉ trở về khi ta cần đến họ hoặc khi ta
gặp khó khăn. Dù chúng ta có thế nào đi nữa, cha mẹ luôn
sẵn sàng trao tặng chúng ta mọi sự để cho ta vui lòng.
Hẳn bạn nghĩ rằng cậu trai
kia tàn nhẫn quá…
Nhưng đấy là cách mà tất
cả chúng ta đã đối xử với cha mẹ mình, dưới trần gian.
Đấy cũng là cách mà tất cả
chúng ta đối xử với Thiên Chúa, Cha chúng ta ở trên trời.
Đấy cũng là cách mà tất cả
chúng ta đối xử với Đức Maria, Mẹ chúng ta ở trên trời.
www.quizcorner.com/anct_parents.htm
Về mục lục >

Tâm
Tình Cùng Độc Giả
Tuần qua, chúng tôi nhận
được rất nhiều thư của các độc giả từ khắp nơi gửi về. Xin
chân thành cám ơn về sự quan tâm và ủng hộ của quý độc giả
qua những thư đó. Nội dung chung của các thư là hoan
nghênh sự ra đời của Maranatha
và niềm vui khi nhận được tuần san này vì nó thật
sự giúp ích cho đời sống tâm linh của độc giả. Một số độc
giả tỏ ra sẵn sàng cộng tác với chúng tôi về mặt bài vở.
Một số khác đặt một vài câu hỏi liên quan đến nhóm chủ
trương Maranatha: Họ là
ai? Giáo Dân hay Giáo Sĩ? Họ ở đâu? Việt Nam hay hải
ngoại? Làm sao biết được địa chỉ của họ?... Trong mục tâm
tình này, chúng tôi xin trả lời chung cho mọi độc giả
những vấn đề nêu trên.
1. Về các bài viết được
chuyển đến Maranatha.
Chúng tôi luôn luôn hoan
nghênh những bài viết của các độc giả, nhưng không hứa là
sẽ đăng tất cả mọi bài trên tuần san này. Lý do là có
nhiều bài quá dài, mà số trang của tuần san thì đã được
giới hạn. Đó là chưa nói đến chất lượng và nội dung bài
viết chưa đến mức độ cần thiết phải gửi đến độc giả hay đã
được đăng trên một tuần báo website nào khác. Chúng tôi cố
gắng hết sức để đáp ứng các độc giả yêu cầu
Maranatha phải thật sự có
chất lượng, và chỉ đăng những bài thật sự cần thiết hay
thật sự ích lợi cho đời sống tâm linh. Dẫu sao, tất cả mọi
bài viết gửi cho chúng tôi, nếu không đi ngược với đường
lối của Maranatha, thì
đều được đăng trên website
của Maranatha, và từ đó
chúng tôi sẽ chọn lọc những bài thích hợp nhất để đăng
trên tuần báo Maranatha.
2. Về nhóm chủ trương.
Như đã nêu trong thư tòa
soạn số ra mắt, Maranatha
chủ trương “cùng với anh chị em
Giáo Dân căn cứ vào Giáo Huấn của Giáo Hội, qua sự hướng
dẫn của hàng giáo phẩm, để tích cực tìm ra một linh đạo và
một nếp sống vừa phù hợp với Tin Mừng vừa phù hợp với ơn
gọi giữa thế gian”
Nhóm
chủ trương gồm một số người khá
ít (dưới 10 người), vừa đủ
đông để
có một
cái nhìn tổng quát nhưng vừa đủ
ít để
làm việc hiệu quả. Họ ở Việt
Nam
và vài tiểu
bang khác nhau tại Hoa Kỳ, nhưng trao đổi với nhau hằng
ngày
qua
email. Đây
là một
công trình tập
thể nên không
có một người nào lãnh trách nhiệm
chủ
bút
hay tổng biên tập.
Tên tuổi của họ
thế nào? Điều cần thiết đối với quí vị độc
giả
là Maranatha
có
đáng để cho quí vị bỏ
thì
giờ đọc
hay không;
còn
ai
chủ trương
thì
có lẽ không cần thiết phải nêu
tên. Vả lại, mong ước của
Maranatha
là nhận được nhiều bài viết từ chính các độc
giả, để nội
dung càng ngày càng phong phú, đồng thời
đáp ứng được
chủ trương
mà Maranatha đã đề
ra.
3. Về các điện thư của
độc giả.
Cũng như lần trước, chúng
tôi nhận được khá nhiều thư bị trả về do mailbox của người
nhận đã quá tải. Việc này là một trong những nguyên nhân
gây ra một sự cố kỹ thuật khiến cho hộp thư
Maranatha ngưng hoạt động
trong hơn 48 giờ. Vì thế,
- Những vị nào gửi email
cho Maranatha mà bị trả
về với lời ghi ‘account deactivated’ vui lòng gửi lại cho
chúng tôi những email ấy. Xin nhắn riêng với vị linh mục
Maryknoll ở Tokyo : Xin cha gửi lại email của mình, vì
email của cha đã bị xóa trước khi chúng tôi đọc kỹ nội
dung.
- Có những vị không hiểu
vì sao mà Maranatha biết
địa chỉ mình, và lấy làm phiền khi phải nhận Tuần Báo này
ngoài ý muốn. Sở dĩ như thế là vì có một thân hữu nào của
quí vị đã yêu cầu chúng tôi gửi
Maranatha đến địa chỉ của quí vị. Dù rất vui khi
được độc giả giới thiệu các địa chỉ thân hữu của mình,
nhưng để tránh việc một số người nhận
Maranatha ngoài ý muốn
(và sau đó chúng tôi lại phải xóa địa chỉ trong mail
list); từ nay, xin quí vị trực tiếp gửi
Maranatha đến cho thân
hữu mình và yêu cầu họ tự ý đăng ký.
Maranatha sẽ không ghi vào mail
list bất cứ một địa chỉ nào không trùng khớp với địa chỉ
người gửi email đăng ký.
Chân thành cám ơn,
MARANATHA
Về
mục lục >