Số 4, Ngày 22-5-2004

 

 MỤC LỤC


Thư Tòa Soạn

Lý tưởng nên thánh của người Kitô hữu - Nguyễn Chính Kết

Sáu tân hiến thánh - Sông Thu

Danh ngôn

Linh đạo và Phụng vụ - Aloysius Pieris

Thần lực chữa lành của lời cầu nguyện theo Kinh Thánh - Hoàng Quý

Mẹ của lòng Thương Xót - Thông điệp Dives in Misericordia

Kinh Mân côi - Mầu Nhiệm Ánh Sáng - Lm Joseph Nguyễn Thanh

Cây táo - TDN dịch

Tâm tình cùng độc giả

 

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

MARANATHA! Lạy Chúa xin ngự đến!

Đó là lời cầu nguyện của các tín hữu đầu tiên biểu lộ niềm mong chờ Chúa Giêsu trở lại trần gian, nghĩa là tái lâm trong vinh quang, để ân thưởng các tôi trung của Ngài.

Thực ra, Chúa lúc nào cũng ngự trong tâm hồn ta, vì tâm hồn và thân xác chúng ta chính là đền thờ sống động của Thiên Chúa, và Thiên Chúa luôn ngự trong đó. Vấn đề quan trọng là chúng ta có ý thức điều đó hay không. Nếu không thường xuyên ý thức điều đó, thì sự hiện diện của Ngài ở trong ta trở nên thụ động, không khác gì Ngài hiện diện nhưng lại ngủ say trên thuyền của các tông đồ khi thuyền đang bị sóng gió vùi dập (x. Mt 8,2327), hay như thân xác Ngài hiện diện trong nấm mồ của ông Giôxếp, người Arimathê (x. Lc 23,5053).

Việc cầu xin Ngài hãy đến dường như phủ nhận sự hiện diện có sẵn của Ngài ở trong tâm hồn ta. Thật ra, lời cầu nguyện ấy không phải để xin Ngài đến cho bằng để đánh thức ý thức của ta về sự hiện diện có sẵn của Ngài ở trong ta. Ý thức thường xuyên sự hiện diện của Ngài ở trong ta là bước đầu để đi đến sự cảm nghiệm thật sự về Ngài, về hoạt động của Ngài ở trong ta. Sự cảm nghiệm ấy chính là một trong những yếu tố quan trọng để nhận được sức mạnh của Thiên Chúa hầu nên thánh.

NÊN THÁNH, chính là mục đích quan trọng nhất của cuộc đời ta, chứ không phải nên bất cứ điều gì khác. Thử hỏi làm vua, làm tổng thống, làm bộ trưởng, làm tỉ phú, hay làm giáo hoàng, làm giám mục, làm linh mục, hay làm một chức vụ thật quan trọng trong Giáo Hội hay xã hội mà không nên thánh, thì được ích lợi gì? (x. Mt 16,26) Trước mặt Thiên Chúa, người thật sự thánh thiện vẫn là người có giá trị hơn tất cả những người khác. Vì thế, MARANATHA_4 đặc biệt bàn về vấn đề nên thánh.

Một trong những chủ trương quan trọng của tuần báo MARANATHA là giúp người giáo dân nên thánh theo ơn gọi riêng của mình ở giữa đời, giữa lòng trần thế, với đời sống hôn nhân gia đình, với nghề nghiệp, với xã hội. Nghĩa là người giáo dân có đường lối nên thánh riêng, khác với cách nên thánh của các bậc sống khác (giáo sĩ hay tu sĩ). Vì thế, đặc biệt từ số này, chúng tôi bắt đầu loạt bài "Linh đạo giáo dân" với mục đích ấy.

Ngoài ra, chúng ta còn ở trong tháng 5, là tháng hoa đặc biệt kính Đức Maria. Vì thế, chúng ta cũng dành thì giờ để tưởng nhớ đến người Mẹ chung trên thiên quốc của tất cả Kitô hữu chúng ta. Đồng thời chúng ta cũng nhớ đến người mẹ riêng của mỗi người chúng ta ở trong cuộc sống này. Đó cũng là người yêu thương và nâng đỡ chúng ta nhiều nhất trên cõi đời này.

MARANATHA

 

 CON ĐƯỜNG NÊN THÁNH

LÝ TƯỞNG NÊN THÁNH CỦA NGƯỜI KITÔ HỮU


Nguyễn Chính Kết

LTS. Bài viết của tác giả Nguyễn Chính Kết dài 6 trang và chúng tôi đã cho đăng toàn bộ trên website Maranatha. Tuy nhiên, trong Tuần Báo này, vì phải giới hạn số trang, nên chúng tôi chỉ đăng lại phần cuối của bài viết ấy, để minh họa cho chủ đề của Maranatha tuần này.

Con người được mời gọi nên thánh như Thiên Chúa

Đức Giêsu đã mời gọi mọi người Kitô hữu, không trừ ai: «Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện» (Mt 5,48). Nếu đọc và suy nghĩ sâu xa về câu Kinh Thánh này, chúng ta không khỏi ngạc nhiên về chữ «như» ở trong câu. Và chúng ta có thể tự hỏi: liệu Đức Giêsu có lầm không, hoặc có nói quá đáng không khi mời gọi chúng ta nên hoàn thiện ở mức độ «như Cha trên trời» ? Con người làm sao sánh ví với Thiên Chúa được? Ngài có phạm thượng không? Hay chúng ta phải hiểu câu này theo kiểu nói quá như trong những thành ngữ: «trắng như tuyết», «cao như núi» , v.v…? hay như kiểu «hắn hút thuốc y như ống khói tàu» ? – Nếu ta ý thức được bản tính của Thiên Chúa đã được ươm sẵn ngay trong bản tính của ta từ khi ta sinh ra, thì ta thấy lời mời gọi nên thánh của Đức Giêsu không nên hiểu theo nghĩa «nói quá», hoặc theo nghĩa bóng! Tôi nghĩ cần phải hiểu lời ấy của Ngài theo nghĩa đen!

Chúng ta không phải là một phàm nhân thuần túy: một phàm nhân thuần túy không bao giờ trở nên thánh hay nên con cái Thiên Chúa được. Cũng như một con thú – vốn không có bản tính người – không bao giờ có thể sống như một con người, hay trở nên người được. Tương tự như vậy, con người làm sao có thể nên thánh, nếu bản tính của mình vốn không phải là thánh? May thay, chúng ta được Thiên Chúa dựng nên giống Ngài, theo hình ảnh của Ngài, được thông phần bản tính của Ngài, nghĩa là tự bản chất chúng ta đã là thần, là thánh. Nhưng chúng ta mới chỉ là thánh hay thần linh trong tiềm năng, nghĩa là có thể trở nên thánh, chứ chưa phải là thánh trong hiện thực. Nói cách khác, chúng ta chưa sống cho ra thần ra thánh, đúng với bản chất của mình. Vậy, chúng ta cần phải ý thức ơn gọi nên thánh của mình, khả năng nên thánh và nhất là ý thức bản chất thánh của chúng ta. Có thế, việc nên thánh của ta mới có thể trở thành hiện thực.

1. Ơn gọi lớn nhất của con người: nên thánh

Thông thường, khi nói về ơn gọi, người ta nghĩ ngay tới ơn gọi linh mục, ơn gọi tu sĩ. Và tới thế kỷ 20, giáo dân cũng bắt đầu được coi là một ơn gọi: ơn gọi giáo dân . Nhưng cho tới nay, một chủng sinh hay tu sĩ mà bỏ tu ra làm giáo dân, thì nhiều người – kể cả linh mục, giám mục, hay những nhà trí thức trong Giáo Hội – nói rằng người đó «mất ơn gọi». Người ta làm như thể chỉ có linh mục, giám mục, tu sĩ là có ơn gọi, và họ coi ơn gọi của những vị ấy hết sức cao cả, bỏ ơn gọi ấy mà ra làm giáo dân thì thật là đáng tiếc! Còn giáo dân thì chẳng sợ bị mất ơn gọi, vì giáo dân có ơn gọi đâu mà mất! Thật ra người ta quên rằng bất cứ Kitô hữu nào cũng có một ơn gọi rất cao cả là nên thánh.

Sau Công Đồng Vatican II, quan niệm coi trọng và đề cao ơn gọi linh mục cũng như các «chức thánh» hơn cả ơn gọi chung của người Kitô hữu là nên thánh, đã trở nên lỗi thời và không có nền tảng. Hiện nay Giáo Hội quan niệm rằng ơn gọi lớn nhất, cao cả nhất của mọi Kitô hữu là nên thánh, như Đức Giê-su từng mời gọi mọi Kitô hữu không trừ ai: «Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện» (Mt 5,48). Công Đồng Vatican II cũng lập lại ý tưởng đó: «Mọi Kitô hữu, dù ở địa vị nào, bậc sống nào, đều được Chúa kêu gọi đạt tới sự trọn lành thánh thiện như Chúa Cha trọn lành, tùy theo con đường của mỗi người» (GH 11§3).

2. Không hẳn cứ phải làm linh mục / tu sĩ mới nên thánh được

Nên thánh là ơn gọi chung cho tất cả mọi người, dù là giáo dân, linh mục, giám mục, hay giáo hoàng, và là ơn gọi cao cả nhất . Tất cả mọi người – chứ không phải chỉ các giáo sĩ và tu sĩ – đều được Thiên Chúa kêu gọi nên thánh. Nhưng không phải tất cả mọi người đều được kêu gọi làm tu sĩ hay giáo sĩ (tức làm linh mục, giám mục, hồng y hay giáo hoàng). Đây chỉ là những con đường nên thánh cá biệt, chứ không phổ quát. Làm tu sĩ hay giáo sĩ thiết tưởng là việc tương đối dễ và không hẳn là cần thiết và quan trọng lắm. Làm thánh mới là khó, nhưng cần thiết, quan trọng và cao cả hơn rất nhiều.

Đối với mỗi cá nhân Kitô hữu, ơn gọi nên thánh quan trọng hơn rất nhiều so với ơn gọi làm các chức vụ trong Giáo Hội, cho dù cao đến đâu! Vì thử hỏi: làm linh mục, giám mục, hồng y hay giáo hoàng, dù có hiển hách lẫy lừng đến đâu, nếu bản thân không nên thánh thì có ích lợi gì? Trước tòa Chúa phán xét, có ai lấy chức linh mục, giám mục hay giáo hoàng ra mà cứu được linh hồn mình chăng? Tương tự như lời Đức Giêsu: «Được cả trần gian mà mất linh hồn thì được ích gì? có thể lấy những thứ ấy mà cứu được linh hồn mình không?» (Mt 16,26). Tóm lại, để nên thánh thì không nhất thiết là phải làm linh mục hay tu sĩ; và cũng không phải hễ linh mục hay tu sĩ thì tất nhiên là thánh.

Trong Giáo Hội hiện nay, vẫn còn có những quan niệm sai lầm, nhưng rất phổ biến, nhất là tại Việt Nam, là làm như ơn gọi làm linh mục, giám mục… thì cao trọng hoặc quí trọng hơn ơn gọi nên thánh phổ quát của mọi Kitô hữu! Thiết tưởng, dưới con mắt của Thiên Chúa, một vị thánh – cho dù là giáo dân, dù là một người có địa vị thật thấp kém trong xã hội – vẫn luôn luôn cao cả và giá trị hơn một linh mục, giám mục, hay giáo hoàng mà không thánh thiện , thậm chí giá trị hơn vô vàn lần! Nhưng người ta – kể cả những người dạy dỗ về siêu nhiên – vẫn thích nhìn bằng con mắt của người đời hơn bằng con mắt của Thiên Chúa!

Sở dĩ có quan niệm này là vì đã một thời Giáo Hội có khuynh hướng thượng tôn các chức thánh, chẳng hạn coi chức linh mục còn cao trọng hơn cả chức vị các thiên thần, thậm chí hơn cả Đức Maria… (xem cuốn Tôi muốn làm linh mục, và cuốn Con tôi làm linh mục, xuất bản trước 1975). Hiện nay, nhiều giáo dân và một số linh mục vẫn còn có khuynh hướng thượng tôn các chức thánh như thế! Thiết tưởng những người này cần tự hỏi và xác định: Thiên Chúa muốn ta nên thánh hay muốn ta làm tu sĩ, linh mục, giám mục… hơn? Nên thánh, và nên linh mục, giám mục… cái nào cần thiết cho chúng ta hơn? – Cần phải quan niệm cho đúng: quan niệm có đúng thì hành xử mới đúng được!

3. Hãy cố gắng nên thánh trong đời sống của mình

Như vậy, dù là giáo dân hay giáo sĩ, mọi Kitô hữu đều được Thiên Chúa kêu gọi nên thánh y như nhau, và ai cũng có khả năng nên thánh. Nên thánh chính là trở nên «hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện» (Mt 5,48). Đó là ơn gọi chung và cao cả nhất của con người, cao cả hơn bất kỳ một ơn gọi cá biệt nào. Vì thế, điều quan trọng nhất mà ta phải làm trong cuộc đời của chúng ta là nên thánh, chứ không phải là làm vua, làm tổng thống, bộ trưởng, làm anh hùng, hoặc làm giáo hoàng, giám mục hay linh mục… Lý tưởng nên thánh đáng cho ta dành tất cả nỗ lực và trọn cả cuộc đời để thực hiện. Tuy nhiên, dù làm giáo sĩ hay giáo dân, dù làm vua, làm tướng hay làm dân quèn, trong bất kỳ ngành nghề hay địa vị nào, ta vẫn có thể nên thánh. Thà làm một người dân quèn hay một giáo dân hạng bét mà nên thánh thì vẫn giá trị trước mặt Thiên Chúa cả triệu lần hơn là làm vua làm tướng, làm giáo hoàng hay giám mục mà không nên thánh.

Điều rất quan trọng để có thể nên thánh, đó là ý thức bản chất thần linh hay thánh thiện của mình. Chúng ta đã là thánh từ trong bản chất, và chúng ta chỉ chưa sống cho đúng với bản chất ấy thôi (tương tự như con sư tử nai trong một câu chuyện ngụ ngôn Ấn Độ nọ – là sư tử được nai mẹ nuôi từ nhỏ và tiếp tục sống giữa bầy nai – vẫn sống như một con nai, chứ chưa sống đúng như một con sư tử). Không ai có thể nên thánh nếu không có tiềm năng để nên thánh. Nên thánh chính là sống cho đúng với bản chất thánh mà chúng ta đang có sẵn. Ý thức sâu xa về điều này sẽ là một nguồn trợ lực mạnh mẽ cho việc nên thánh.

Trong tất cả mọi biểu hiện của sự thánh thiện, thì đức ái hay tình yêu thương đích thực là quan trọng nhất. Hiến chế Giáo Hội của Công đồng Vatican II nói: “Đức ái chi phối mọi phương thế nên thánh, là linh hồn của những phương thế ấy và đưa chúng đến cùng đích.” (Lumen Gentium, số 42). Rất nhiều Kitô hữu coi các nghi thức tôn giáo quan trọng hơn việc sống đức ái. Thật ra, tất cả mọi nghi thức tôn giáo đều chỉ là những phương tiện đem lại ơn Chúa, giúp ta có sức mạnh để thực hiện đức ái. Nếu chúng ta lại coi những nghi thức tôn giáo ấy – chứ không phải đức ái – mới là điều chính yếu phải làm, thì chúng ta đã không phân biệt được đâu là mục đích đâu là phương tiện, đâu là chính đâu là phụ. Sự sai lầm ấy sẽ dẫn chúng ta đến một thứ thánh thiện giả hiệu, chỉ ở bề ngoài mà thôi!

Để kết thúc, xin nêu lại gương của Phanxicô Salê. Lúc sinh thời, ngài từng nói: “Ông kia bà nọ nên thánh được, tại sao tôi không? Đã có thánh Phanxicô Assisi, thánh Phanxicô Xaviê, thánh Phanxicô Phaolô; tại sao tôi lại không thể là thánh Phanxicô Salê?” Và quả thật một ngày kia, Phanxicô Salê đã được Giáo Hội vinh phong hiển thánh. Vấn đề hết sức quan trọng là phải quyết tâm nên thánh. Bạn đã quyết tâm chưa?

Về mục lục >

 

SÁU TÂN HIỂN THÁNH

Sông Thu

Sáng Chúa nhật VI Phục Sinh, ngày 16-5, dưới nắng đẹp mùa xuân, tại quảng trường Thánh Phêrô ở Giáo đô Rôma, với khoảng 80.000 tín hữu tham dự, Giáo chủ Gioan-Phaolô II đã vui mừng cử hành Lễ Tôn Phong Hiển Thánh cho 6 Chân Phước:

1. GIANNA BERETTA MOLLA (1922-1962), nữ bác sĩ người Ý. Bà qua đời vì ung thư năm 1962, sau khi không chịu được chữa trị, vì nếu chữa trị bà phải phá bào thai trong bụng mình. Bà chết năm 39 tuổi, không lâu sau khi hạ sinh một con trai khỏe mạnh. Bà là phụ nữ có gia đình đầu tiên trở thành một Vị Thánh của Giáo hội Công giáo Rôma thời hiện đại.

Tòa Thánh Vatican đã nhìn nhận Gianna Beretta Molla là một “tấm gương sáng”, hay “biểu tượng của phong trào chống phá thai”, và các phóng viên nhận xét việc bà được phong thánh cho thấy lập trường tuyệt đối của Giáo hội là “chống phá thai”. Nhưng, những người chỉ trích nói “Giáo hội đã coi trọng sinh mạng của đứa bé chưa chào đời hơn là sự an toàn của người mẹ”. (Theo radio BBC, 16-5-04) 

2. LM. JOSEPH MANYANET Y VIVES (1833-1901), người Catalan, nổi tiếng là “Ngôn sứ gia đình” (“Prophet of the family”), và “Vị Cổ võ Thánh Gia Thất” (“Promoter of the Holy Family”) ở thành phố Barcelona, Tây Ban Nha, đã sáng lập hai dòng tu.

3. LM. LUIGI ORIONE (1872-1940), người Ý, đã sáng lập tổ chức “Little Work of Divine Providence” (“Công Việc Nhỏ của Quan Phòng Thánh”) nhằm trợ giúp các người nghèo, cách riêng các kẻ tàn tật.

4. LM. ANNIBALE MARIA DI FRANCIA (1851-1927), một trong những chân dung tinh thần quan trọng nhất của Ý vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Ngài đã sáng lập dòng “Các Linh Mục Rogatiô Thánh Tâm Chúa Giêsu” (“Rogationist Fathers of the Heart of Jesus”), và “Các Nữ Tử Nhiệt Thành Thánh Thiêng” (“Daughters of Divine Zeal”).

5. LM. NIMATULLAH KASSAB AL-HARDINI (1808-1858), người Li-băng, được ca tụng là người có “lòng bao dung đối với các tôn giáo khác”.

6. Bà PAOLA ELIZABETTA CERIOLI (1816-1865), người Ý, góa bụa và là người mẹ gia đình, đã sáng lập hai dòng nữ hiến thân giúp đỡ các gia đình.

Trong số Sáu Tân Thánh đã có tới bốn linh mục và một bà góa tu sĩ! Điều này cho thấy Giáo hội muốn đề cao đời sống linh mục và tu sĩ, trong thời buổi “khan hiếm”, “củi châu gạo quế” các ơn gọi này. Ngài đã đặc biệt ngỏ lời với giới trẻ hiện diện trong buổi lễ lịch sử hôm nay: “Các con hãy say mê Chúa Giêsu Kitô!” (“Be enamoured of Jesus Christ”).

Ngài nhắc nhở họ đó là bí mật của ơn gọi linh mục, tu sĩ.

Trong bài giảng thuyết bằng các thứ tiếng Ý, Tây Ban Nha, Pháp và Catalan, vị Chủ Phong đã mô tả Sáu Tân Thánh là “Các Chứng Nhân cho hòa bình Đức Kitô” (“The Witnesses of the peace of Christ”)

Cho tới nay, trong 25 năm dài trị vì, Giáo Chủ đã Phong Thánh cho 483 Vị.

Trong suốt buổi cử hành long trọng kéo dài trên 2 giờ đồng hồ, Giáo chủ Gioan-Phaolô II đã không hề tỏ ra một dấu hiệu mệt nhọc nào. Phải chăng đó là ơn huệ lớn lao Thiên Chúa ban cho Giáo Chủ già lão, đau yếu, đáng kính của chúng ta, qua những lời “nguyện giúp cầu thay” của Sáu Tân Thánh được ngài “đưa lên” Bàn Thờ hôm nay?

* * *

Sáng hôm sau, ngày 17-5, Giáo chủ Gioan-Phaolô II đã tiếp chung, tại quảng trường Thánh Phêrô, tất cả các tín hữu đã đến Rôma để tham dự lễ Phong Thánh cho 6 vị Chân Phước. Ngỏ lời với cộng đoàn tín hữu hiện diện, Giáo Chủ khuyến khích:

“Anh chị em hãy tiến bước theo vết chân của những vị Tân Hiển Thánh; và nhất là hãy noi gương các Ngài có lòng sùng kính con thảo đối với Đức Nữ Đồng Trinh Maria, ngõ hầu tiến tới trên con đường thánh thiện”.

Về mục lục >


DANH NGÔN

·         Nên thánh không phải là một sự làm sang mà là một bổn phận.

Thánh Maximilianô Kolbê

·         Hiệp nhất và thánh thiện đi đôi với nhau trong Giáo Hội.

Đức Gioan Phaolô II

·         Chỉ khi nào yêu thương kẻ thù ta mới biết được Thiên Chúa và cảm nghiệm được thế nào là thánh thiện.

Mục sư Martin Luther King

·         Giáo Hội không cần những nhà cải cách, mà cần những thánh nhân.

Lamartine

 

LINH ĐẠO VÀ PHỤNG VỤ

Aloysius Pieris, S.J.

Trần Duy Nhiên dịch

Suốt 50 năm trước Vatican II, hai giải pháp song song được đề xuất qua các luận chứng đối ngược về linh đạo của Dòng Tên và Dòng Biển Đức mà ai cũng biết.  Codex Juris Canonici (Giáo luật) năm 1917 đã nhấn mạnh đến những hành vi cụ thể trong việc thờ phượng Ki-tô giáo trên các lãnh vực nghi lễ, luật lệ, biểu hiện, phẩm trật. Những sách vở thần học sau đó đã đẩy khái niệm này đến những mức độ ngớ ngẩn, qua việc định nghĩa phụng vụ chỉ đơn thuần là phần nghi lễ bên ngoài, tô điểm cho việc thờ phượng của người Công giáo hoặc là một phương tiện hàng giáo sĩ  dùng để kiểm soát kết quả việc thờ phượng của quần chúng.Ta hiểu vì sao Dòng Tên muốn bổ túc cho phụng vụ bằng một linh đạo cá nhân, hướng về chiêm niệm, để nhờ đó phụng vụ không chỉ là một mớ lễ nghi.

Trường phái Biển Đức, do Beauhiu lãnh đạo (nối gót Guéranger ở thế kỷ XIX), cố gắng cứu phụng vụ khỏi những nghi lễ rườm rà bằng cách định nghĩa lại: phụng vụ là việc Giáo hội (rõ ràng không phải chỉ là giáo sĩ) tiếp nối mầu nhiệm Đức Ki-tô. Tham dự vào mầu nhiệm này chính là linh đạo đích thực.

Khi phê bình linh thao của thánh I-nhã, một vài linh mục Biển Đức nhấn mạnh rằng một linh đạo mà không mang tính phụng vụ thì cũng không mang tính Giáo hội (và như thế làm sao có thể gọi là Ki-tô giáo?). Phụng vụ không gì khác hơn việc Đức Ki-tô toàn thể – với Đầu và các chi thể – thực thi chức vụ tư tế của mình. Do đó, linh đạo không phải là một khúc nhạc dạo hay nhạc đệm hoặc một cái gì đó bổ túc cho phụng vụ, nhưng nó hợp nhất với phụng vụ, nghĩa là với sự thờ phượng của Ki-tô hữu. Ta có thể nói rằng Dòng Tên đã nhấn mạnh việc tham gia cá nhân vào điều mà họ cho là nghi lễ ‘tập thể’, trong khi đó Dòng Biển Đức tháp nhập tính chất Giáo hội vào đường hướng ‘linh đạo’ cá nhân. Cuối cùng các linh mục Biển Đức đã thắng cuộc.

Cách hiểu mới về phụng vụ đã được đề cao trong Thông điệp Mediator Dei (1947). Từ đó, chỉ cần bước một bước là đến Hiến chế Phụng vụ của Vatican II; một phần nhờ vào các ‘cải tổ’ từ trên xuống và sự ‘canh tân’ từ dưới lên trong lòng Giáo hội. Vatican II không do dự khi tuyên bố rằng phụng vụ là ‘nguồn mạch và tuyệt đỉnh’ (fons et culmen) của đời sống Ki-tô hữu. Trước đó, chưa bao giờ Giáo hội liên kết linh đạo và phụng vụ một cách chặt chẽ như thế.

Vì vậy, khi Hiến chế Phụng vụ được chấp thuận một cách vẻ vang ở Công đồng, các nhà phụng vụ hy vọng tràn trề rằng cuộc canh tân phụng vụ sẽ kéo theo cuộc canh tân linh đạo trong Giáo hội. Nhưng sau 20 năm, Công đồng thành thật nhận định rằng kết quả đã không được như thế. Instructiones (các chỉ giáo) của Công đồng thường được tiếp thu và áp dụng với một não trạng tiền công đồng. Giáo Triều La Mã đã thất bại trong việc đưa ra một ‘thay đổi mẫu mực’ từ định nghĩa phụng vụ theo Giáo luật đến tinh thần Công đồng về việc thờ phượng. Và nhiều nhà canh tân đã năng nổ di chuyển bàn thờ, đưa ngôn ngữ địa phương vào, soạn những bài kinh và bài hát mới, đơn giản hoá y trang, nâng cao chất lượng các cử điệu v.v. Kết quả là phụng vụ nhiều khi trở thành một loạt lời nói và hành vi ngăn cản không cho Ngôi Lời lên tiếng và hoạt động dưới dạng bí tích bên trong cộng đoàn.

Ngược với lời giáo huấn Công đồng về phụng vụ, điều xảy ra thường là một sự thay đổi lễ nghi chứ không phải thay đổi đời sống. Và một khi nghi lễ mới mất đi tính chất mới mẻ, thì Giáo hội lại trở về vị trí cũ. Thế là linh đạo (= đời sống thiêng liêng) một lần nữa phải đi du nhập từ bên ngoài để tạo sức sống cho phụng vụ. Những canh tân bằng đặc sủng, những phương thức thần bí phương Đông tràn ngập vào Giáo hội phương Tây, làm nổi bật trở lại không những tính chất cá nhân mà còn cả tính chất phi chính trị truyền thống của cả linh đạo lẫn phụng vụ. Muốn có sự liên kết giữa phụng vụ và linh đạo, Giáo hội La-mã lại tuột về cái nhị nguyên cũ xưa. Trên bình diện này, trái với mọi chờ mong, tình trạng hậu Vatican II chỉ hơi khá hơn thời hậu Tridentino mà thôi, thời mà phụng vụ vẫn được bổ túc bằng bao nhiêu hành vi sùng kính và ‘các việc đạo đức’.

Vì sao chúng ta không ngừng đi vào vết xe cũ? Vì sao có vòng luẩn quẩn này? Theo thiển ý của người viết, lý do như sau: có một lúc nào đó trong quá trình lịch sử, Giáo hội La-mã đã hạ giá chiều kích cốt lõi của linh đạo - phụng vụ trong đời sống (= sống đạo), đây là nguồn mạch của mọi biểu hiện bí tích, vì đó là bối cảnh của cuộc gặp gỡ sống động và thường xuyên trong cuộc sống trần thế với Thiên Chúa trong Đức Ki-tô. Đời sống bí tích và đời sống thiêng liêng không thể nào được kết hợp trong bản thân mỗi người nếu cả hai đều bị bứng rễ khỏi môi trường tự nhiên của mình, nơi mà mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Ki-tô đang tiếp diễn trong những cuộc đời (trần thế) và những cuộc đấu tranh, trong những cái chết và những chiến thắng của chi thể Người. Bởi lẽ Đức Ki-tô không phải đã chết trong đền thờ nơi cử hành phụng vụ truyền thống, nhưng chết ở ngoài đền thờ và Ubi Christus, Ibi Ecclesia (đâu có Đức Ki-tô, ở đấy có Giáo hội) chứ không phải là ngược lại. Ngày nay, bất cứ nơi nào mà mầu nhiệm Vượt Qua được cử hành, ở đấy Đức Ki-tô hợp nhất với chi thể của Người; đấy là nơi Giáo hội đích thực được tập hợp; đấy là nơi mà phụng vụ đúng nghĩa được cử hành; đấy là nơi linh đạo chân chính được sống. Bởi lẽ Đức Ki-tô thực thi chức vụ tư tế của mình trong khi biến mình thành của lễ hiến tế.

……

Muốn quán triệt sự khác biệt giữa hai quan điểm, ta cần trở lại ý nghĩa mà các Ki-tô hữu tiên khởi hiểu phụng vụ, linh đạo và dấn thân vào đời. Vatican II đã sao lại ý nghĩa đó gần như trung thành. Tôi bảo là ‘gần như’, vì tinh thần giáo sĩ cũ vẫn còn được phép xuất hiện, bởi lẽ sự thờ phượng đích thực của toàn thể Hội thánh (hy lễ thiêng liêng) còn lệ thuộc vào chức vụ tư tế thừa tác và, như thế, chức vụ tư tế của tín đồ - nghĩa là phụng vụ trong đời sống của họ - không thể đạt được một giá trị phụng vụ trọn vẹn.

Rõ ràng là ngay từ đầu ta đã gặp phải một khó khăn. Bởi vì từ ngữ ‘phụng vụ’ rất ít khi được sử dụng trong Tân ước theo cách Vatican II đã dùng. Thánh Kinh Do Thái đã thu hẹp nghĩa của từ ngữ ấy trong việc thờ phượng của các thầy Lê-vi, một lối thờ phượng mang tính chất nghi lễ; vì thế, cách thờ phượng chân chính trong Kitô giáo hiếm khi hoặc không bao giờ được Tân ước gọi là ‘phụng vụ’. Các ngôn sứ trong Thánh Kinh Do Thái đã từng nhấn mạnh rằng: việc thờ phượng đích thực là sự thánh thiện cá nhân và tập thể; nghĩa là trung thành với giao ước, vâng phục Thiên Chúa và thực thi công bình hơn là những lễ tế bên ngoài (Gr 7,21; Am 5,22-24; Is 10,10-20; Hs 6,6-tt). Đức Giê-su, tiếp tục truyền thống các ngôn sứ, đã rao giảng một phương thức thờ phượng phi đền thờ, phi lễ nghi (Ga 4,19-26). Lòng trung thành với giao ước mới, Phúc âm của tình yêu, trở nên tôn chỉ cho sự thánh thiện.

Trên thực tế, chính vì bảo vệ quan niệm linh đạo này mà Đức Giê-su đã bị giết (Mt 26, 61), mà Stêphanô bị xử tử (Cv 6,12-14; 7,47-53) và các Tông đồ bị bắt bớ (Cv 8,1). Bởi lẽ từ ngữ ‘phụng vụ’ không thể chuyên chở được khái niệm mới về linh đạo Ki-tô giáo, nên các tác giả Tân ước đã tránh dùng từ ấy, trừ một hai trường hợp ngoại lệ (Rm 15,16; Pl 2, 17), và chỉ dùng một lần duy nhất để chỉ cách thờ phượng của cộng đoàn tín hữu (Cv 13,2).

Phụng vụ đã được gán một ý nghĩa mới vào thế kỷ XX này, đặc biệt là trong Hiến chế Phụng vụ của Vatican II. Phụng vụ có nghĩa là sự thánh thiện của cuộc sống Ki-tô hữu biến thành hy lễ tự hiến thiêng liêng dâng lên Cha do toàn nhiệm thể Đức Ki-tô hợp nhất, trong Thần Khí, với Người là Đầu (phụng vụ trong đời sống) và biểu hiện trong Giáo hội qua các bí tích, đặc biệt là bí tích Thánh Thể (phụng vụ như ‘nguồn mạch và tột đỉnh’). Định nghĩa này rất gần (tuy chưa đủ) với lời giáo huấn Tân ước về cách thờ phượng của Ki-tô hữu (sẽ nói thêm ở phần sau). Ta hãy nhớ lại rằng, đối với Phao-lô, phép rửa không đơn thuần là một nghi lễ, nhưng là sự hợp nhất (bí nhiệm) với Đức Ki-tô, nghĩa là chết và sống lại với Người trong cuộc sống từng ngày. Thánh lễ là một hành động tạ ơn gồm hành vi bẻ bánh, chia sẻ và dâng hiến đời sống mình cho tha nhân. Ăn uống linh đình trong khi kẻ khác đói là một hành vi phản Thánh Thể và phản Giáo hội, ‘một trọng tội đối với thân thể của Chúa’ (xc. IC 11,21-27). Nếu sử dụng ba khái niệm hiện đại, đó là (1) bí tích (2) mầu nhiệm cho (3) cuộc sống dấn thân vào đời (để đáp trả những yêu cầu của giao ước tình yêu), thì yếu tố cuối cùng (tức cuộc sống dấn thân) là điểm hội tụ của hai yếu tố đầu. Bởi vì bí tích và mầu nhiệm là những thời điểm cô đọng của cuộc đời tự hiến mà nhờ đó ta sống phù hợp với Phúc âm.

Khi bí tích dần dần trở nên một bộ máy điều khiển từ xa của giai cấp giáo sĩ (nghĩa là giai cấp những người ‘mặc lấy’ chức vụ tư tế của Đức Ki-tô mà không hề chia sẻ cuộc hiến tế của Người) thì giáo dân bỏ rơi thế giới của giáo sĩ để đi tìm một sự sống thiêng liêng trong hoang địa (điều này đã xảy ra vào thế kỷ IV để chống lại một Giáo hội bị cuốn hút vào những việc thế gian của triều đình La-mã). Phụng vụ của các linh mục và tu đức của những nhà thấn bí, hai yếu tố ấy đã không còn chung sống được nữa. Nếu không cắm rễ vào cuộc đấu tranh từng ngày mà giao ước mới của tình yêu đòi hỏi nơi lương tâm người Ki-tô hữu (phụng vụ trong đời sống), thì bí tích và mầu nhiệm sẽ chẳng bao giờ gặp gỡ nhau. Đó là lý do vì sao thần học tiến bộ hậu Vatican II đã thất bại khi muốn kết duyên chúng với nhau.

Thánh đường Chartres minh họa, qua hình ảnh điêu khắc, quan điển phân hai này, một quan điểm mà thời Trung cổ cho là đương nhiên: Thân hình gầy guộc của các thánh thì vượt ra khỏi thế gian để chạm đến Thiên Chúa trên cao, và gương mặt phì nộn, căng phồng của đám thợ thuyền và nông dân (giai cấp công nhân mà Đức Giê-su đã xuất thân) dưới thế gian này thì đang đổ mồ hôi sôi nước mắt để nâng cao giai cấp nhàn rỗi, có thì giờ và năng lực dành cho phụng vụ và chiêm niệm thiêng liêng. Đây cũng là một quan niệm linh đạo đã được khắc ghi không thể nào tẩy xoá trong thánh đường vô thức của tập thể chúng ta.

Cách sử dụng những khái niệm không gian, chiều dọc và chiều ngang, phản ảnh quan niệm thời Trung cổ về một Thiên Chúa tác động từ trên cao theo chiều dọc, và con người liên hệ với nhau theo chiều ngang. Do đó, các thánh nhân ở thánh đường Chartres được kéo dài theo chiều dọc và rất gầy theo chiều ngang, trong khi đó người nghèo nuôi sống các thánh ấy thì rất thấp chiều dọc và phình ra theo chiều ngang: các đấng chiêm niệm sống trong thế giới ‘thiêng liêng’, còn công nhân và nông dân thì chiến đấu với các lo toan ‘vật chất’. Họ là những ‘gia nô’ sống nhờ các mảnh vụn thiêng liêng rơi vãi từ bàn ăn của những ‘lãnh chúa’ chiêm niệm. Đúng là một linh đạo phong kiến.

Về mục lục >

 CẦU NGUYỆN

THẤN LỰC CHỮA LÀNH CỦA LỜI CẦU NGUYỆN THEO KINH THÁNH

(tiếp theo)

Hoàng Quý

Bí quyết thành đạt của việc cầu nguyện chữa lành cũng như cầu nguyện theo Thánh Kinh đặt nền tảng nơi chúng ta khi chúng ta biết trao đổi con tim với người khác trong mọi lúc. Linh mục Linn kể lại một đôi khi ngài đi tới buổi hội họp với một tâm sự không vui: “Tôi thực sự mệt nhọc và muốn đi ngủ sớm hơn. Tôi đuối sức đứng hát thánh ca. Nhưng rồi tôi cũng cố gắng tham gia đứng hát ca ngợi Chúa với các anh chị em khác hơn là tôi thực tâm muốn ca ngợi. Khi hát đến bài thứ tư, tôi không còn cảm thấy mình bị ép uổng nữa, nhưng những lời ca ngợi Chúa đã làm bốc cháy trái tim tôi. Cũng thế, khi tôi mệt nhọc, tôi dễ trở thành một con người thụ động, chán nản, và tôi phải tìm cách bỏ đi những tình cảm thụ động và chán nản này.”

Đó là diễn tiến của việc trao đổi con tim. Như vậy, trong việc cầu nguyện theo Thánh Kinh, chúng ta cần trao đổi trái tim với Chúa Giêsu, hòa nhập trái tim với Ngài, cho đến khi chúng ta suy nghĩ và rung cảm như Ngài đã suy nghĩ và rung cảm trong đoạn Tin Mừng đó.

Cách thức cầu nguyện theo Thánh Kinh như vừa kể trên cũng có thể áp dụng trong gia đình. Linh mục Linn kể lại trường hợp của cặp vợ chồng bác sĩ, bạn của ngài. Họ thức dậy mỗi buổi sáng vào lúc 5 giờ để lắng nghe Chúa Giêsu nói với họ qua Thánh Kinh. Họ bắt đầu đọc một đoạn Thánh Kinh của ngày lễ hôm đó hoặc một đoạn nào họ cảm thấy Chúa muốn trao đổi với họ. Sau đó họ dành ra khoảng 20 phút thinh lặng để thấm nhập trái tim Chúa Giêsu trong đoạn này. Rồi họ chia sẻ cho nhau những gì đoạn Kinh Thánh này đánh động họ nhất. Sau cùng, họ cầu nguyện với nhau theo tinh thần của đoạn Thánh Kinh này.

Giờ cầu nguyện chất lượng này dùng để trao đổi con tim với Chúa Giêsu và với nhau đã làm thay đổi mối giây thân tình giữa hai người thật mãnh liệt, đến nỗi họ quyết định tuần nào cũng dành một giờ cầu nguyện như thế với từng người con của họ. Trong giờ cầu nguyện với con cái như thế, họ thúc đẩy con cái trao đổi con tim với họ. Muốn có thời giờ dành ra cho con cái như thế, họ quyết định bớt một phần tư thời giờ khám bệnh. Gia đình họ hao hụt lợi tức, nhưng cuộc sống gia đình của họ trở thành phong phú và đầm ấm hơn nhiều.

Những đau khổ ray rứt nội tâm cũng được chữa lành nhờ cầu nguyện với Thánh Kinh, không những khi cầu nguyện với người khác, nhưng cả khi cầu nguyện một mình nữa. Linh mục Linn kể lại trường hợp một linh mục bạn đã phải giao tranh với một cuộc sống bạc nhược, và nay đã thay đổi thành tự do thoải mái. Ngài hỏi nguyên do nào đã đưa đến những thay đổi khác biệt này. Vị linh mục bạn chia sẻ tâm tư sau khóa tĩnh tâm mới đây nhất:

“Cách đây một thời gian, tôi trình bầy với linh mục giám đốc là tôi chán nản với chính mình vì đã sinh trưởng trong một gia đình nghiện rượu, cha tôi bỏ rơi tôi và từ đó tôi học hành thất bại. Tôi đã cố công làm mọi chuyện, nhưng đều thất bại. Hãy nhìn tôi này, người thì mập phì quá tải tám chục pounds. Tôi biết mình là kẻ xấu xí hơn ai hết. Anh có biết linh mục giám đốc trả lời tôi làm sao không? Ngài bảo tôi: ‘Con hãy dành ngày mai chiêm ngắm cách Chúa Giêsu trả lời thế nào cho một người xấu xí nhất trong Thánh Kinh, người xứ Ghêrasa bị quỷ nhập.’ ( Mc 5:1-20).

Ngày hôm sau, tôi thi hành những gì linh mục giám đốc khuyên tôi và liên tiếp trong cả tuần tĩnh tâm tám ngày. Tôi thật khó tin Chúa Giêsu lại có thể yêu thương một con người kinh tởm và man rợ như thế. Ngài làm nổi bật vẻ đẹp tiềm tàng trong con người xấu xí này sau khi anh được chữa lành, anh đã được Ngài sai đi rao giảng Tin Mừng thật nhiệt thành. Rồi tôi bắt đầu nhìn xem Chúa Giêsu sử dụng cái quá trình nghiền rượu và côi cút của tôi để giúp tôi lên đường hoạt động truyền giáo nơi người da đỏ, những người cũng bị nạn nghiền rượu và mất mát người thân như tôi. Tôi thực sự thương cảm được những bất hạnh và đớn đau như họ, vì tôi cũng xuất thân từ một gia đình tương tự như họ và tôi có bổn phận phải biến đổi họ trở thành gia đình của tôi. Đó là khúc quẹo quan trọng cuộc đời tôi khi tôi nhìn ra cách thức Chúa Giêsu đối xử với con người bất hạnh này vốn cũng giống như tôi. Rồi tôi bắt đầu cảm thương được với chính mình và với người khác sống chung quanh tôi. Đó là lần đầu tiên tôi thực sự cảm nhận được mình hạnh phúc và tôi vui sướng với chính mình.”

Những đổi thay kỳ diệu như thế nơi bản thân tôi, nơi gia đình, nơi người khác, nhờ việc cầu nguyện theo Thánh Kinh đã đẩy linh mục Linn đi tới chỗ tin rằng việc cầu nguyện này sẽ đổi thay được xã hội và thế giới. Ngài kể lại thời gian đang ở Anh Quốc vào thời điểm tại Hoa Kỳ đang bùng nổ những cuộc bạo động da mầu tại Brixton, ngài nhìn thấy truyền hình Anh Quốc chiếu lại câu chuyện ông Daddy King, cha ruột của mục sư Martin Luther King. Ông Daddy King chia sẻ về việc cuộc sống của ông đã được hoán đổi hoàn toàn như thế nào. Hồi còn thơ trẻ, ông phải ngồi ăn ở ngoài cửa sau, trong lúc người bạn học da trắng con điền chủ lại chỗm chệ ngồi bàn ăn trong phòng. Từ tuổi thơ ấu ấy, ông ghen ghét và nuôi ý đồ trả thù người da trắng.

Vào một ngày kia, lúc ông mười tám tuổi, tình cờ ông nhìn lên cây thánh giá trong nhà thờ. Từ thâm tâm ông nghe thấy lời Chúa Giêsu nói trên thập giá, “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” (Lc 23:34). Vào giây phút ấy Daddy King bị niềm ao ước tha thứ cho người da trắng tràn ngập tâm hồn cho dẫu bao xử đãi tàn tệ và bất công đã gây ra cho ông và những người da đen như ông. Những lời Tin Mừng ấy làm tan chảy đống núi thù ghét và định kiến trong ông.

Những lời Tin Mừng ấy đã biến hạt giống phản kháng bất bạo động thành hạt giống yêu thương kẻ thù. Martin Luther King, người con yêu quý của ông thừa hưởng thái độ tha thứ thâm sâu của ông và đứng ra lãnh đạo người da đen giúp họ yêu thương kẻ thù của mình, cả những khi họ bị cảnh sát đàn áp dã man. Hành động sống Tin Mừng như thế đã thực sự chữa lành được các trái tim của người Hoa Kỳ, và sau đó chẳng bao lâu, bản Hiến Chương Nhân Quyền đem lại bình đẳng và tôn trọng người da đen, trở thành một thực tại kéo dài tới ngày nay tại Hoa Kỳ.

Những kinh nghiệm kể trên cho chúng ta thấy rằng các biến cố trong đời sống Chúa Giêsu đang trở nên sống động, linh hoạt khi chúng ta đem cuộc chiến đấu hiện hành của chúng ta đến trước Chúa Giêsu và hỏi Ngài xem Ngài hoặc những nhân vật khác trong Tin Mừng có hành xử như chúng ta đang hành xử không? Cứ thế, trong những giờ phút cầu nguyện mỗi ngày, chúng ta hãy hỏi Chúa Giêsu xem Ngài thường xử đối thế nào trong từng hoàn cảnh sống thực tiễn của chúng ta hàng ngày. Và lần lượt qua các đoạn Tin Mừng, Ngài dẫn dắt chúng ta trở thành sống động và đem ơn chữa lành cho người khác.

Về mục lục >

 MẸ MARIA

MẸ CỦA LÒNG THƯƠNG XÓT

Đức Gioan Phaolô II

Qua bài hát phục sinh của Giáo Hội, vang lên, với trọn vẹn ý nghĩa tiên tri, những lời mà Đức Maria đã thốt ra khi đến thăm bà chị Elisabeth, vợ của Zacharia : “Lòng thương xót Người trải dài từ thế hệ này sang thế hệ kia”. Ngay giây phút nhập thể, những lời ấy mở ra một viễn ảnh mới cho lịch sử cứu độ. Sau khi Chúa Kitô phục sinh, viễn ảnh mới đó trở thành một viễn ảnh lịch sử, đồng thời mang lấy một ý nghĩa cánh chung. Kể từ giờ phút ấy, những thế hệ con người ngày càng đông nối tiếp nhau trong đại gia đình nhân loại, và những thế hệ Dân Chúa cũng nối tiếp nhau, với dấu ấn của thập giá và phục sinh, và họ được ‘đóng ấn’, ấn của mầu nhiệm phục sinh Chúa Kitô, nghĩa là một mặc khải tuyệt đối về lòng thương xót mà Đức Marie đã công bố nơi ngưỡng cửa nhà người chị họ mình: “Lòng thương xót Người trải dài từ thế hệ này đến thế hệ kia

Đức Maria là người hơn ai hết đã cảm nghiệm lòng thương xót một cách đặc biệt và phi thường, đồng thời đã hy sinh tự thâm sâu đế có thể tham gia, cũng một cách phi thường, vào mặc khải về lòng thương xót của Thiên Chúa. Sự hy sinh đó liên kết mật thiết với thập giá của Con Mẹ, và Mẹ phải đứng trên Núi Sọ dưới chân thập giá. Sự hy sinh của Đức Maria là một sự tham gia đặc thù vào mặc khải về lòng thương xót, nghĩa là về sự trung tín tuyệt đối của Thiên Chúa đối với tình yêu của Người, với giao ước mà Người đã tiền định từ thuở đời đời và đã ký kết trong lịch sử với con người, với người dân, với nhân loại; sự hy sinh ấy là sự tham gia vào mặc khải đã được hoàn tất vĩnh viễn qua thập giá. Không ai cảm nghiệm mầu nhiệm thập giá cho bằng Mẹ Đấng Chịu Đóng Đinh, mầu nhiệm của sự gặp gỡ gây bàng hoàng giữa sự công bình siêu việt và tình yêu của Thiên Chúa: ‘nụ hôn’ mà lòng thương xót đã hôn vào sự công chính. Không ai đón nhận mầu nhiệm này vào lòng một cách sâu xa như Mẹ: Mầu nhiệm Thiên Chúa Cứu Độ, được thực hiện trên Núi Sọ qua cái chết của Con Một Người, kèm theo sư hy sinh của trái tim người mẹ, của tiếng ‘fiat’ triệt để.

Như vậy, Đức Maria là Đấng thông hiểu một cách sâu thẳm nhất về Mầu Nhiệm của Lòng Thương Xót Thiên Chúa. Ngài đã biết đến giá trả, và trả cao giá đến độ nào. Theo chiều hướng này, chúng ta gọi Ngài Mẹ của lòng thương xót: Đức Bà của lòng thương xót, hay Mẹ của lòng thương xót Thiên Chúa. Mỗi danh hiệu ấy đều có một ý nghĩa thần học sâu xa, vì chúng diễn đạt tâm tình đặc biệt sẵn sàng của tâm hồn Ngài, của toàn thể con người Ngài, khiến Ngài có khả năng khám phá - trước tiên qua các biến cố phức tạp của Israel, sau đó qua những biến cố liên quan đến từng con người và toàn thể nhân loại - lòng thương xót mà mọi người được tham dự ‘từ thế hệ này sang thế hệ kia’, theo chương trình muôn đời của Ba Ngôi Chí Thánh.

Tuy nhiên, những tước hiệu mà chúng ta dành cho Mẹ Thiên Chúa thì chủ yếu xem Ngài là Mẹ Đấng Chịu Đóng Đinh và Phục Sinh; là Đấng đã từng cảm nghiệm lòng thương xót một cách phi thường, nên ‘xứng đáng’ hưởng lòng thương xót ấy suốt cuộc đời trần thế của Ngài, và đặc biệt dưới chân thập giá của Con Ngài; cuối cùng chúng ta nói về Ngài như là Đấng, mà qua việc tham dự âm thầm nhưng đồng thời vô song vào nhiệm vụ cứu độ của Con Ngài, đã được mời gọi một cách đặt biệt để đem đến gần với con người tình yêu mà Chúa đã đến mặc khải: tình yêu được thể hiện cụ thể đối với người đau khổ, nghèo đói, bị giam cầm, đui mù, bị áp bức và tội lỗi, như Chúa Kitô đã dùng lời tiên tri Isaia mà nói, trước tiên trong hội đường Nazareth, rồi kế đến để trả lời cho những người mà Gioan Tẩy Giả sai đến.

Trái tim của Mẹ Đấng Chịu Đóng Đinh và Phục Sinh tham dự một cách độc nhất và đặc biệt vào tình yêu ‘đầy thương xót’ đó, một tình yêu thể hiện rõ nhất khi tiếp xúc với nỗi đau thể lý và tinh thần - Đức Maria đã tham dự vào tình yêu đó. Và tình yêu này, trong Ngài và nhờ Ngài, không ngừng tỏ hiện trong lịch sử Giáo Hội và nhân loại. Sự tỏ hiện đó rất hiệu quả, bởi vì trong Mẹ Thiên Chúa, nó được đặt nền tảng trên sự tế nhị đặc biệt của trái tim hiền mẫu, trên sự nhạy cảm đặc biệt, trên khả năng đặc biệt của Ngài để đến với những ai cảm thấy đón nhận tình yêu đầy lòng thương xót từ một người mẹ thì dễ dàng hơn. Đấy là một trong những mầu nhiệm Kitô giáo vĩ đại và ban sự sống, mầu nhiệm gắn liền mật thiết với mầu nhiệm nhập thể.

Công đồng Vatican II tuyên bố: “Trong nhiệm cục ân sủng, Đức Maria luôn tiếp tục thiên chức làm mẹ, từ khi Ngài tin tưởng ưng thuận trong ngày Truyền Tin - sự ưng thuận mà Ngài đã không ngần ngại giữ vững bên thập giá - cho tới lúc vĩnh viễn hoàn tất việc cứu rỗi mọi người được tuyển chọn. Thực vậy, sau khi về trời, vai trò của Ngài trong việc cứu độ không chấm dứt, nhưng Ngài vẫn luôn tiếp tục cầu bầu để đem lại cho chúng ta những ân huệ giúp chúng chúng ta được phần rỗi đời đời. Với tình mẹ hiền, Ngài chăm sóc những anh em của Con Ngài đang lữ hành trên dương thế và đang gặp bao nguy hiểm thử thách, cho đến khi họ đạt tới hạnh phúc quê trời.”

Thông điệp Dives in Misericordia (về lòng thương xót Thiên Chúa) - số 9 (30-11-1980)

Maranatha dịch

Về mục lục >

 

KINH MÂN CÔI, MẦU NHIỆM ÁNH SÁNG

 

Lm Joseph Nguyễn Thanh

Tín hữu chúng ta được Giáo hội dành cho tháng Năm và tháng Mười trong năm phụng vụ để đặc biệt tôn kính Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa và Mẹ mỗi người chúng ta.

Chúng ta có một số thực hành đạo đức trong việc sùng kính “Mẹ Maria Đầy Ơn Phúc, Đức Chúa Trời ở cùng Bà, Bà có phước lạ hơn mọi người nữ”; trong số đó là cầu nguyện bằng kinh Mân Côi.

Kinh Mân Côi kính Đức Trinh Nữ Maria đã “dần dần được hình thành trong Ngàn năm thứ hai, dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần Thiên Chúa, là một lời kinh được vô vàn các vị thánh yêu thích và được huấn quyền khuyến khích.”

Kinh Mân Côi “đơn sơ nhưng sâu sắc, lời kinh này vẫn là một lời kinh có ý nghĩa lớn lao vào buổi hừng đông của Ngàn năm thứ ba này, vì mang lại hoa quả thánh thiện.”

Kinh Mân Côi “dễ hòa nhập vào cuộc hành trình thiêng liêng của đời sống Kitô hữu; đời sống này, sau 2000 năm vẫn không đánh mất sự tươi trẻ của buổi ban đầu và cảm thấy được Thánh Thần Thiên Chúa lôi kéo chèo ra chỗ sâu (duc in altum!) để một lần nữa loan báo, và cả đến hô to lên, trước thế gian rằng, Đức Giêsu Kitô là Chúa và Đấng Cứu Độ, là Đường, Sự Thật và Sự Sống (Gioan 14:6), mục tiêu của lịch sử nhân loại, và đích điểm mà các khát vọng của lịch sử và văn minh hướng về.”

Kinh Mân Côi “dầu rõ ràng gắn liền với Đức Maria, chủ yếu là một lời kinh lấy Đức Kitô làm trung tâm. Qua vẻ giản dị của các yếu tố, lời kinh có được chiều sâu của toàn bộ sứ điệp Tin Mừng, mà ta có thể gọi là một bản tóm lược. Qua lời kinh ấy vang vọng lại lời kinh của Đức Maria, kinh Magnificat ca ngợi việc Nhập thể cứu chuộc đã khởi sự trong cung lòng trinh khiết của Mẹ.”

Với kinh Mân Côi, “Dân Kitô giáo theo học tại ngôi trường của Đức Maria, được dẫn đến chiêm ngưỡng vẻ đẹp trên dung nhan của Đức Kitô, và kinh nghiệm một cách sâu thẳm tình yêu của Ngài. Qua kinh Mân Côi các tín hữu lãnh nhận vô vàn ơn thiêng, hầu như qua chính đôi tay của Mẹ Đấng Cứu Thế.” (Tông Thư “Rosarium Virginis Mariae”, chương 1, đoạn 1)

Trong Tông Thư “Rosarium Virginis Mariae” về Kinh Rất Thánh Mân Côi, được ấn ký tại Vatican ngày 16-10-2002, Giáo chủ Gioan-Phaolô II đã đề nghị bổ sung vào hình thức truyền thống: Năm Mầu nhiệm Ánh sáng.

Tông Thư viết (trong chương II đoạn 19):

Trong số các mầu nhiệm của cuộc đời Đức Giêsu, chỉ một ít mầu nhiệm được suy ngắm qua lời kinh Mân Côi, trong hình thức phổ biến được Giáo hội phê chuẩn. Việc chọn lựa được xác định bởi nguồn gốc của lời kinh, đặt nền tảng trên con số 150, con số Thánh Vịnh trong tập Thánh Vịnh.

Thế nhưng, để làm cho kinh Mân Côi có chiều kích Kitô học thâm sâu hơn, tôi nghĩ rằng ta cần bổ sung thêm vào hình thức truyền thống, trong khi đó vẫn để cho mỗi người và cộng đoàn được tự do, để có thể suy gẫm các mầu nhiệm trong cuộc đời công khai của Đức Kitô, từ khi Ngài lãnh nhận Phép rửa cho đến cuộc Khổ nạn.

Chính trong khung cảnh của các mầu nhiệm ấy mà chúng ta chiêm ngưỡng các khía cạnh quan trọng nơi con người Đức Kitô như là mạc khải chung cuộc của Thiên Chúa. Được Chúa Cha tuyên bố là “Con Yêu Dấu” trong biến cố Phép rửa tại sông Gióc-đan, Đức Kitô là Đấng loan báo Nước Trời đang đến, làm chứng cho Nước Trời, bằng những việc làm của Ngài, và công bố những đòi hỏi của Nước Trời. Chính qua những năm tháng hoạt động công khai mà mầu nhiệm Đức Kitô tỏ ra một cách hiển nhiên là mầu nhiệm Ánh sáng: “Bao lâu Thầy còn ở thế gian, Thầy là ánh sáng thế gian” (Gioan 9,5).

Bởi thế, để cho kinh Mân Côi trở thành bản tóm lược Tin Mừng một cách đầy đủ hơn, ta phải bổ sung, tiếp sau phần suy ngắm về mầu nhiệm Nhập thể, và cuộc đời ẩn dật của Đức Kitô (các sự Vui), và trước khi suy ngắm về các nỗi thống khổ trong cuộc Khổ nạn của Ngài (các sự Thương), và cuộc vinh thắng Phục sinh (các sự Mừng), thêm phần suy ngắm về các biến cố hết sức quan trọng trong sứ vụ công khai của Đức Kitô (các mầu nhiệm Ánh sáng).

Việc bổ sung thêm những mầu nhiệm mới này, không hề làm phương hại đến khía cạnh chính yếu nào của hình thức cầu nguyện truyền thống, trái lại có mục đích làm cho hình thức cầu nguyện đó có một sức sống tươi mới, và khơi dậy một sự quan tâm mới về chỗ đứng của kinh Mân Côi trong đời sống thiêng liêng của Kitô hữu, như một con đường đúng đắn để đi vào Trái Tim Đức Kitô, đại dương của niềm vui và ánh sáng, đau khổ và vinh quang.

CÁC MẦU NHIỆM ÁNH SÁNG

Đi từ cuộc đời thơ ấu và ẩn dật tại làng Nazareth đến cuộc đời công khai của Đức Giêsu, việc chiêm ngưỡng dẫn chúng ta đến những mầu nhiệm có thể được gọi một cách đặc biệt là các mầu nhiệm Ánh sáng. Dĩ nhiên, toàn thể các mầu nhiệm Đức Kitô là một mầu nhiệm Ánh sáng. Ngài là “ánh sáng thế gian” (Ga 8,12).

Tuy nhiên, chân lý này tỏ hiện một cách đặc biệt qua những năm tháng của cuộc đời công khai, khi Ngài công bố Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Để đề nghị cho cộng đoàn Kitô hữu năm thời điểm quan trọng – các mầu nhiệm chói sáng – trong giai đoạn này của cuộc đời Đức Kitô, tôi nghĩ nên chọn ra những mầu nhiệm sau đây:

1. Chịu phép rửa tại sông Gióc-đan.

2. Tỏ mình ra tại tiệc cưới Cana.

3. Công bố Nước Thiên Chúa, và kêu mời sám hối.

4. Hiển dung.

5. Thiết lập Bí tích Thánh Thể như là một biểu hiện có tính Bí tích của Mầu nhiệm Vượt qua.

Mỗi mầu nhiệm trên là một mặc khải về Nước Thiên Chúa đang hiện diện trong chính bản thân Đức Giêsu. Phép rửa tại sông Gióc-đan tiên vàn là một mầu nhiệm Ánh sáng. Tại đây, khi Ngài bước xuống sông Gióc-đan, Đấng vô tội đã “trở thành tội vì chúng ta” (x. 2Cr 5,21), cửa trời rộng mở và có tiếng Chúa Cha tuyên nhận Ngài là “Con yêu dấu” (x. Mt 3,17 và song song), trong khi đó, Thánh Thần ngự xuống trên Ngài, và trao cho Ngài sứ mạng mà Ngài phải thi hành.

Một mầu nhiệm ánh sáng khác là dấu chỉ đầu tiên tại Cana (x. Ga 2,1-12), khi Ngài biến nước thành rượu, và mở rộng tâm hồn các môn đệ để đón nhận đức tin, nhờ sự can thiệp của Đức Maria, người tín hữu đầu tiên.

Một mầu nhiệm ánh sáng khác là lời giảng dạy, qua đó Đức Giêsu loan báo Nước Thiên Chúa đang đến, kêu mời sám hối (x. Mc 1,15), và tha thứ tội lỗi cho tất cả những ai đến với Ngài trong tâm tình tin tưởng khiêm hạ (x. Mc 2,3-13; Lc 7,47-48): đó là khởi đầu của tác vụ bày tỏ lòng thương xót mà Ngài tiếp tục thi hành cho đến ngày tận thế, nhất là qua Bí tích Hòa giải mà Ngài ủy thác cho Giáo hội (x. Ga 20,22-23).

Mầu nhiệm Ánh sáng trỗi vượt hơn cả là biến cố Hiển dung, mà truyền thống tin là đã xảy ra trên núi Ta-bo. Vinh quang Thiên Chúa chói ngời trên dung nhan Đức Kitô, trong khi Chúa Cha truyền lệnh cho các tông đồ đang kinh hãi phải nghe lời Ngài (x. Lc 9,35 và song song), và chuẩn bị cho họ cùng với Ngài kinh nghiệm nỗi thống khổ trong cuộc Thương khó, để đến với Ngài trong niềm vui phục sinh, và trong cuộc sống được biến hình, nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần.

Mầu nhiệm Ánh sáng cuối cùng là việc thiết lập Bí tích Thánh Thể, qua đó Đức Kitô trao ban mình và máu Ngài dưới hình bánh và rượu, và khẳng định Ngài yêu thương nhân loại cho đến cùng (x. Ga 13,1), Ngài sẽ hi sinh hiến mình để cứu chuộc nhân loại.

 


CÁCH LẦN HẠT 5 MẦU NHIỆM ÁNH SÁNG:


1. Đức Chúa Giêsu chịu Phép Rửa tại sông Gióc-đan.
Ta hãy xin cho được sống xứng đáng là con cái Chúa.

2. Đức Chúa Giêsu dự tiệc cưới Cana.
Ta hãy xin cho được vững tin vào quyền năng của Ngài.

3. Đức Chúa Giêsu rao giảng Nước và kêu gọi sám hối.
Ta hãy xin cho được hoán cải và đón nhận Tin Mừng.

4. Đức Chúa Giêsu biến hình trên núi.
Ta hãy xin cho được lắng nghe và thực hành Lời Chúa.

5. Đức Chúa Giêsu lập Bí tích Thánh Thể.
Ta hãy xin cho được năng kết hiệp cùng Chúa Giêsu Thánh Thể.

Về mục lục >

CÂY TÁO

Ngày xửa ngày xưa có một cây Táo thật lớn. Một cháu bé thích đến chơi mỗi ngày với cây. Cháu leo lên cành, hái Táo mà ăn, ngủ trưa dưới bóng mát... Cháu yêu mến cây Táo và cây Táo thích chơi vui với cháu.

Ngày qua ngày... cháu bé lớn lên và không còn mỗi ngày đến chơi với cây Táo nữa.
Một hôm cậu quay về với vẻ u buồn.

Cây Táo bảo cậu: “Đến chơi với tôi đi.” Cậu thiếu niên trả lời: “Mình không còn con nít, mình không chơi với cây nữa. Mình muốn chơi với đồ chơi, mình cần tiền để mua”.

“Rất tíếc là tôi không có tiền... nhưng cậu có thể hái tất cả trái Táo của tôi đem đi bán, cậu sẽ có tiền đấy.” Cậu thiếu niên vui mừng. Cậu hái hết trái trên cây và vui vẻ ra đi. Sau khi hái hết Táo, cậu không còn trở lại nữa. Cây Táo cảm thấy buồn.

Một ngày kia, thấy chàng trai trở lại, cây Táo rất vui mừng.

Nó nói: “Đến chơi với tôi đi.” “Mình không có thì giờ chơi đùa. Mình phải lo lắng cho gia đình. Gia đình mình cần một căn nhà để trú nắng che mưa. Cây giúp mình được không?” “Rất tiếc là mình không có nhà. Nhưng anh có thể chặt cành của mình để làm nhà” Thế là chàng trai chặt trụi các cành cây và ra đi vui vẻ.

Cây Táo vui mừng vì thấy chàng sung sướng, nhưng chàng trai không hề trở lại. Và một lần nữa, cây Táo lại buồn bã cô đơn.

Một ngày hè nóng bức, chàng trung niên trở lại và cây Táo vui lắm. Cây bảo: “Đến chơi với tôi đi!”  “Tôi lớn tuổi rồi nhưng buồn lắm. Tôi muốn chèo thuyền để ngao du. Cây có thể cho tôi chiếc thuyền không?” “Hãy lấy thân của tôi mà làm thuyền. Anh có thể chèo đi thật xa và cảm thấy vui thích.” Thế là chàng trung niên chặt thân cây để làm thuyền. Chàng lên thuyền ra đi và không hề quay lại trong một thời gian thật dài.

Cuối cùng, chàng trai xưa kia đã trở về sau bao năm xa vắng. Cây Táo nói: “Bạn ơi, tôi rất tíếc, nhưng tôi không còn gì để trao tặng bạn nữa. Không còn trái Táo nào...”

Chàng trai giờ đã già nua liền nói: “Mình không còn răng để ăn”.

- Tôi không còn thân cho bạn trèo.

- Mình già quá rồi, không còn sức để leo.

Cây Táo nức nở nói:

- Tôi thực sự không còn gì để tặng bạn... Tôi chỉ còn cái gốc đang chết dần chết mòn thôi.

Người kia nói:

- Mình không cần gì nhiều nữa, chỉ cần một nơi để yên nghỉ thôi. Mình đã mệt mỏi rã rời sau bao nhiêu năm tháng.

- Thế thì hay quá. Đến ngồi bên tôi mà nghỉ ngơi.

Cụ già ngồi xuống và cây Táo vui mừng mỉm cười mà lệ cứ trào dâng...

Câu chuyện trên đây là câu chuyện của mỗi một chúng ta. Cây Táo là cha hay mẹ mình. Khi ta còn bé, ta yêu thương cha mẹ... Lớn lên rồi, ta bỏ họ ra đi... và chỉ trở về khi ta cần đến họ hoặc khi ta gặp khó khăn. Dù chúng ta có thế nào đi nữa, cha mẹ luôn sẵn sàng trao tặng chúng ta mọi sự để cho ta vui lòng.

Hẳn bạn nghĩ rằng cậu trai kia tàn nhẫn quá…

Nhưng đấy là cách mà tất cả chúng ta đã đối xử với cha mẹ mình, dưới trần gian.

Đấy cũng là cách mà tất cả chúng ta đối xử với Thiên Chúa, Cha chúng ta ở trên trời.

Đấy cũng là cách mà tất cả chúng ta đối xử với Đức Maria, Mẹ chúng ta ở trên trời.

www.quizcorner.com/anct_parents.htm

Về mục lục >

 

 Tâm Tình Cùng Độc Giả

Tuần qua, chúng tôi nhận được rất nhiều thư của các độc giả từ khắp nơi gửi về. Xin chân thành cám ơn về sự quan tâm và ủng hộ của quý độc giả qua những thư đó. Nội dung chung của các thư là hoan nghênh sự ra đời của Maranatha và niềm vui khi nhận được tuần san này vì nó thật sự giúp ích cho đời sống tâm linh của độc giả. Một số độc giả tỏ ra sẵn sàng cộng tác với chúng tôi về mặt bài vở. Một số khác đặt một vài câu hỏi liên quan đến nhóm chủ trương Maranatha: Họ là ai? Giáo Dân hay Giáo Sĩ? Họ ở đâu? Việt Nam hay hải ngoại? Làm sao biết được địa chỉ của họ?... Trong mục tâm tình này, chúng tôi xin trả lời chung cho mọi độc giả những vấn đề nêu trên.

1. Về các bài viết được chuyển đến Maranatha.

Chúng tôi luôn luôn hoan nghênh những bài viết của các độc giả, nhưng không hứa là sẽ đăng tất cả mọi bài trên tuần san này. Lý do là có nhiều bài quá dài, mà số trang của tuần san thì đã được giới hạn. Đó là chưa nói đến chất lượng và nội dung bài viết chưa đến mức độ cần thiết phải gửi đến độc giả hay đã được đăng trên một tuần báo website nào khác. Chúng tôi cố gắng hết sức để đáp ứng các độc giả yêu cầu Maranatha phải thật sự có chất lượng, và chỉ đăng những bài thật sự cần thiết hay thật sự ích lợi cho đời sống tâm linh. Dẫu sao, tất cả mọi bài viết gửi cho chúng tôi, nếu không đi ngược với đường lối của Maranatha, thì đều được đăng trên website của Maranatha, và từ đó chúng tôi sẽ chọn lọc những bài thích hợp  nhất để đăng trên tuần báo Maranatha.

2. Về nhóm chủ trương.

Như đã nêu trong thư tòa soạn số ra mắt, Maranatha chủ trương “cùng với anh chị em Giáo Dân căn cứ vào Giáo Huấn của Giáo Hội, qua sự hướng dẫn của hàng giáo phẩm, để tích cực tìm ra một linh đạo và một nếp sống vừa phù hợp với Tin Mừng vừa phù hợp với ơn gọi giữa thế gian

Nhóm chủ trương gồm một số người khá ít (dưới 10 người), vừa đủ đông để một cái nhìn tổng quát nhưng vừa đủ ít để làm việc hiệu quả. Họ ở Việt Nam vài tiểu bang khác nhau tại Hoa Kỳ, nhưng trao đổi với nhau hằng ngày qua email. Đây một công trình tập thể nên không một người nào lãnh trách nhiệm chbút hay tổng biên tập. Tên tuổi của họ thế nào? Điều cần thiết đối với quí vị độc gi Maranatha đáng để cho quí vị bỏ thì giờ đọc hay không; còn ai chủ trương thì lẽ không cần thiết phải nêu tên. Vả lại, mong ước của Maranatha nhận được nhiều bài viết từ chính các độc giả, để nội dung càng ngày càng phong phú, đồng thời đáp ứng được chủ trương Maranatha đã đề ra.

3. Về các điện thư của độc giả.

Cũng như lần trước, chúng tôi nhận được khá nhiều thư bị trả về do mailbox của người nhận đã quá tải. Việc này là một trong những nguyên nhân gây ra một sự cố kỹ thuật khiến cho hộp thư Maranatha ngưng hoạt động trong hơn 48 giờ. Vì thế,

- Những vị nào gửi email cho Maranatha mà bị trả về với lời ghi ‘account deactivated’ vui lòng gửi lại cho chúng tôi những email ấy. Xin nhắn riêng với vị linh mục Maryknoll ở Tokyo : Xin cha gửi lại email của mình, vì email của cha đã bị xóa trước khi chúng tôi đọc kỹ nội dung.

- Có những vị không hiểu vì sao mà Maranatha biết địa chỉ mình, và lấy làm phiền khi phải nhận Tuần Báo này ngoài ý muốn. Sở dĩ như thế là vì có một thân hữu nào của quí vị đã yêu cầu chúng tôi gửi Maranatha đến địa chỉ của quí vị. Dù rất vui khi được độc giả giới thiệu các địa chỉ thân hữu của mình, nhưng để tránh việc một số người nhận Maranatha ngoài ý muốn (và sau đó chúng tôi lại phải xóa địa chỉ trong mail list); từ nay, xin quí vị trực tiếp gửi Maranatha đến cho thân hữu mình và yêu cầu họ tự ý đăng ký. Maranatha sẽ không ghi vào mail list bất cứ một địa chỉ nào không trùng khớp với địa chỉ người gửi email đăng ký.

Chân thành cám ơn,

MARANATHA

 Về mục lục >

     

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn