Thư Tòa Soạn
Chúa Nhật tuần này 30-5, Giáo Hội mừng kính trọng thể
Đại Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống. Lời cầu nguyện
MARANATHA! Lạy Chúa, xin ngự đến! lại có ý nghĩa đặc biệt khẩn
thiết. Lời nguyện này vừa nhắc nhở cho chính chúng ta cùng lúc ta khẩn nài
với Chúa. Vì Thánh Thần Chúa đã thật sự xuống trên các tông đồ và Giáo Hội
cách hữu hình qua hình lưỡi lửa cách đây gần 2000 năm, và Ngài đã, đang và
sẽ tiếp tục hiện diện trong Giáo Hội để hướng dẫn và ủi an. Ngài luôn hiện
diện trong Giáo Hội, trong các cộng đoàn dân Chúa, trong cung lòng mỗi
người, và luôn sẵn sàng hoạt động mang lại những lợi ích cho tâm linh
chúng ta. Vấn đề còn lại là nơi con người. Ngài có hoạt động hữu hiệu để
sinh lợi ích cho chúng ta hay không tùy thuộc vào chúng ta có sẵn sàng mở
lòng ra, có lắng nghe tiếng Ngài nhắn nhủ từ đáy tâm hồn, có quảng đại và
dấn thân đáp lại lời mời gọi của Ngài hay không.
Thật là vô tâm và nghịch lý khi ta cứ cầu nguyện xin
Ngài đến, xin Ngài hành động để biến đổi và thánh hóa chúng ta, đang khi
Ngài đã chủ động làm hầu như tất cả mọi sự. Vấn đề chỉ còn là chúng ta có
cộng tác với Ngài hay không. Tương tự như cha mẹ đã lo liệu đủ mọi đồ ăn
thức uống cho con cái để chúng mau lớn, không thiếu thứ gì. Chỉ cần chúng
cho vào miệng, nhai và nuốt là chúng sẽ mau lớn. Nhưng những việc sau cùng
này cha mẹ không thể nào làm thay thế cho con cái được. Thật vô lý nếu
chúng không chịu đưa đồ ăn vào miệng, lại cứ tha thiết xin cha mẹ làm cho
chúng no. Vậy, chúng ta hãy nghiêm chỉnh xét lại xem chúng ta đã làm gì để
đáp lại lời nhắn nhủ và đề nghị của Thánh Thần, hơn là chỉ biết khẩn thiết
cầu xin Ngài hãy đến.
Vì thế, Maranatha tuần
này dành đặc biệt nói về Chúa
Thánh Thần, về sự hoạt động của Ngài
trong Giáo Hội và trong tâm hồn mỗi người.
Ngày 31-5 cũng là ngày lễ kính
Mẹ Maria thăm bà Êlisabét, thân mẫu
của thánh Gioan Tẩy Giả. Chúng ta sẽ cùng nhau suy niệm gương của Mẹ để áp
dụng vào việc thăm viếng tha nhân của chúng ta. Làm sao để những lần thăm
viếng ấy là những dịp ta đem Chúa cùng với niềm vui và sự chúc phúc của
Ngài đến cho tha nhân.
Maranatha cũng tiếp tục
chủ đề nên thánh và
cầu nguyện, đặc biệt về linh đạo giáo
dân với loạt bài rất có giá trị của Lm. Aloysius Pieris, nhà thần học Á
châu nổi tiếng ở Sri Lanka, mà chúng ta đã bắt đầu tìm hiểu từ
Maranatha_4. Sau hết, chúng ta cùng suy tư
về vấn đề truyền thông, một phương tiện mà Chúa Thánh Thần đang sử dụng
rất nhiều trong thời đại hiện nay, và môi trường đầu tiên là
truyền thông trong gia đình.
Xin Thánh Thần Chúa giúp chúng ta ý thức được sự hiện
diện với tràn đầy ân sủng của Ngài, phần việc của chúng ta phải làm, không
chỉ cầu nguyện xin Ngài ban ơn này ơn kia, mà còn mở lòng ra và cộng
tác với Ngài để Chúa ngự đến trong cuộc đời và thế giới hôm nay.
MARANATHA

CHÚA
THÁNH THẦN, ĐẤNG BẢO TRỢ
THÁNH
THẦN TRONG KẾ HOẠCH CỨU CHUỘC
CỦA THIÊN CHÚA
Nguyễn Chính
Kết
1. Thánh Thần hoạt
động mạnh mẽ, nhưng… bị quên lãng.
Từ khi Giáo Hội khai sinh, vai trò và hoạt động của
Thánh Thần mới được chú ý tới nhiều, qua sự ý thức và nhấn mạnh của Giáo
Hội, đặc biệt của Đức Giêsu, của các tông đồ. Trước khi về trời, Đức Giêsu
đã hứa ban Đấng Bảo Trợ, An Ủi cho Giáo Hội: «Thầy sẽ xin Chúa Cha và
Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi»
(Ga 14, 16). Và Đấng Bảo Trợ ấy chính là Thánh Thần: «Đấng Bảo Trợ là
Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi
điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em»
(Ga 14, 26). Đức Giêsu đã ra đi để giao nhân loại và Giáo Hội lại cho Chúa
Thánh Thần: «Thầy ra đi thì có lợi cho anh em. Thật vậy, nếu Thầy không
ra đi, Đấng Bảo Trợ sẽ không đến với anh em; nhưng nếu Thầy đi, Thầy sẽ
sai Đấng ấy đến với anh em» (Ga 15, 26).
Chính vì thế, hiện nay chúng ta đang sống trong thời
hoạt động của Thánh Thần, Ngài đang hoạt động mạnh mẽ trong Giáo Hội và
trong chính tâm hồn ta. Nhưng ta ít chú ý tới Ngài. Chúng ta thường tập
trung quan tâm của mình vào Chúa Cha, nhất là Đức Giêsu. Vì thế, Thánh
Thần trở thành vị Thiên Chúa bị quên lãng. Do đó, chúng ta ít hợp tác với
Thánh Thần, và Thánh Thần không biến đổi ta một cách hữu hiệu được. Vì dù
hoạt động mạnh mẽ thế nào, Thánh Thần vẫn luôn luôn tôn trọng tự do của
con người. Thánh Thần luôn luôn mời gọi, nhưng thường không phải bằng lời
nói thể chất, mà bằng lời âm thầm phát xuất từ đáy lòng mỗi người. Con
người vẫn luôn luôn có thể làm ngơ vì không quan tâm, hoặc từ chối lời mời
gọi đó. Chính vì thế, công việc của Thánh Thần thật hết sức khó khăn.
2. Kế hoạch của
Thiên Chúa.
Thánh Thần là Đấng tiếp tục công trình của Đức Giêsu
trong thế giới và Giáo Hội. Ngài luôn luôn thúc đẩy sự đổi mới trong Giáo
Hội, để Giáo Hội ảnh hưởng tốt đến thế giới. Nhưng để được làm điều ấy,
Thánh Thần luôn luôn phải hoạt động trong mỗi cá nhân. Cá nhân có thay đổi
thì Giáo Hội mới thay đổi, cá nhân có nên thánh thì Giáo Hội mới thánh
thiện. Tất cả mọi đều bắt đầu từ những cá nhân, và lan truyền từ cá nhân
này sang cá nhân khác. Kế hoạch của Thiên Chúa để xây dựng Nước Trời là
chiến lược «men trong bột» (x. Mt 13, 33), «muối ướp đời»
(x. Mt 5, 13) hay «đèn sáng cho trần gian» (x. Mt 5, 14). Men là
một chất có hoạt tính, có khả năng biến đổi chất bột tiếp xúc với mình trở
nên giống như mình. Mất hoạt tính này, men không còn là men nữa, nó trở
thành một thứ bột vô dụng. Muối hay đèn cũng có hoạt tính tương tự. Một
hình ảnh khác là lửa, nhưng lửa có tác dụng lan truyền mạnh mẽ và nhanh
chóng. Chính vì thế, Thánh Thần khi hiện xuống trên các tông đồ đã lấy
hình lưỡi lửa làm biểu trưng cho mình.
Trong quá trình phát triển từ xưa đến nay, Giáo Hội vẫn
theo chiến lược «men trong bột», nhưng phải nói rằng rất nhiều khi
Giáo Hội đã phát triển theo chiều rộng hơn chiều sâu. Nội dung lan truyền
chủ yếu là danh nghĩa, hình thức tôn giáo bên ngoài, hơn là đích thực sống
tinh thần Tin Mừng bên trong. Biết bao Kitô hữu chỉ giữ đạo theo tập tục
(siêng năng đọc kinh, dâng lễ, chịu các bí tích), nói chung là chuộng
những thực hành thấy được, và lấy đó làm đủ, mà ít sống đạo, ít đi vào
chiều sâu tâm linh, ít khi thật sự gặp gỡ Thiên Chúa. Việc thờ phượng
Thiên Chúa chưa đúng với tinh thần «thờ phượng Thiên Chúa trong thần
khí và sự thật» (Ga 4, 24), mà còn mang nặng tính thể lý, bên ngoài,
nên còn nhiều khi không trung thực (ngoài và trong khác nhau). Vì thế,
Giáo Hội dường như không còn phát triển mạnh như những thế kỷ trước nữa,
thậm chí dừng lại hoặc sút giảm về mặt tỷ lệ dân số (mặc dù số lượng vẫn
tăng theo đà phát triển dân số).
Chiến lược «men trong bột» đòi hỏi phải có những
cá nhân thật tốt, thật nhiệt thành. Những cá nhân tốt ấy sẽ ảnh hưởng tốt
sang những cá nhân khác bằng gương sáng, bằng những hoạt động nhiệt thành
và tích cực, biến họ nên tốt, nên nhiệt thành như mình. Nhờ đó, những cá
nhân tốt càng ngày càng được nhân lên. Càng nhiều cá nhân tốt thì Nước
Trời càng phát triển, càng lớn mạnh. Nhưng ai sẽ là men đây? Thánh Thần
luôn mời gọi chúng ta trở nên «men», không chỉ là «men» mà
còn là «men tốt». Mỗi khi lắng đọng tâm hồn lại, chúng ta đều nghe
thấy tiếng Ngài mời gọi.
3. Làm sao trở thành
men tốt?
Trong chiến lược phát triển Nước Trời, «men trong bột»
phải có một «hoạt tính» rất mạnh, nghĩa là có khả năng biến đổi
người khác nên tốt và nhiệt thành giống như mình. Như vậy, chính mình phải
là người tốt và nhiệt thành đã, chính mình phải thật sự sống tinh thần Tin
Mừng đã. Muốn thế, ta phải tiếp xúc với Thánh Thần, nguồn phát sinh «hoạt
tính» ấy. Nhưng làm sao tiếp xúc với Thánh Thần? Bằng cách kêu cầu
Ngài với những bài kinh hay những bài ca về Thánh Thần chăng? Phải nói đó
là những cách thấp nhất để tiếp xúc với Thánh Thần, thường chỉ dành cho
những người chưa thể cầu nguyện tự phát hay chưa biết cách cầu nguyện.
Muốn có một đời sống nội tâm thật sự, muốn tiến triển trên con đường tâm
linh, ta cần phải tiếp xúc với Thánh Thần một cách thật sự và hữu hiệu.
4. Làm sao để tiếp
xúc với Thánh Thần thật sự và hữu hiệu?
Muốn tiếp xúc với Ngài, trước hết phải biết Ngài ở đâu,
bản chất của Ngài thế nào. Thánh Thần là thần khí (spirit = tinh thần),
hiện diện khắp nơi, tràn đầy trong vũ trụ, trong không gian và thời gian.
Chúng ta có tinh thần, và tinh thần của ta cũng là thần khí. Một cách nào
đó, tinh thần của ta phần nào đồng bản chất với Ngài. Chính vì thế, muốn
gặp gỡ Thánh Thần, phải gặp bằng chính thần khí hay tinh thần của ta. Đức
Giêsu đã nhắc nhở: «Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng
Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật» (Ga 4, 24). Nếu ngày
xưa thánh Phaolô nói: «Chúng ta, những người thờ phượng Thiên Chúa nhờ
Thần Khí của Người, mới thật là những người được cắt bì» (Pl 3, 3),
thì ngày nay ta cũng có thể nói: chỉ những ai thờ phượng Thiên Chúa trong
Thần Khí mới là người Kitô hữu đích thực. Đó là những người thờ phượng
Thiên Chúa bằng tinh thần, bằng tâm hồn, bằng ý thức và bằng tình yêu,
bằng việc thật sự gặp gỡ và sống trong Thánh Thần, chứ không phải chỉ bằng
những nghi thức bề ngoài, dù những nghi thức này lắm khi cũng cần thiết.
Thờ phượng Thiên Chúa bên ngoài mà không có bên trong là thờ phượng trong
giả dối, không phải là trong chân lý.
Thánh Thần tuy tràn lan trong vũ trụ, nhưng lại hiện
diện «cô đọng» và tràn đầy nhất trong tâm hồn ta: «Nào anh em chẳng
biết rằng anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên
Chúa ngự trong anh em sao?» (1Cr 3, 16); «Thánh Thần đang ngự trong
anh em là Thánh Thần mà chính Thiên Chúa đã ban cho anh em» (1Cr 6,
19). Vì thế, muốn gặp gỡ Thánh Thần, không gì tốt hơn là gặp Ngài trong
chính bản thân mình, bằng tinh thần của mình. Việc gặp gỡ Ngài rất dễ
dàng: chỉ cần hồi tâm lại, ý thức Ngài đang hiện diện ngay trong bản thân
mình, và muốn được tan hòa vào trong Ngài. Điều quan trọng trong việc gặp
gỡ Thánh Thần là những ý thức và tâm tình có thực bên trong, chứ không
phải là những lời cầu nguyện phát biểu ra, dù là phát biểu trong tâm trí.
Tuy nhiên, nếu những lời ấy tự nhiên bộc phát ra từ đáy lòng, thì cũng là
điều rất tốt. Tuyệt đối không nên sáng tác ra bất kỳ lời nào khi không có
những tâm tình đích thực bên trong, vì cầu nguyện như thế là thờ phượng
trong giả dối. Lời bộc phát ra phải luôn luôn phù hợp với tâm tình có
thực bên trong mới là thờ phượng trong chân lý.
5. Ý thức và tâm
tình phải có khi tiếp xúc với Thánh Thần.
Khi hồi tâm để tiếp xúc với Thánh Thần, ngoài việc ý
thức sự hiện diện thật sự của Ngài trong tâm hồn ta, ta nên ý thức rằng
Ngài là nguồn sức mạnh, nguồn yêu thương của ta. Hãy giục lòng tin tưởng
rằng: nếu năng tiếp xúc với Ngài thì sức mạnh và khả năng yêu thương vô
biên của Ngài sẽ truyền sang ta, như năng lượng từ dòng điện truyền sang
dụng cụ điện, làm dụng cụ ấy hoạt động. Thường xuyên tiếp xúc với Ngài như
vậy, nội lực và tình thương của ta ngày càng tăng lên có thể cảm nghiệm
được.
Ngoài ra, ta cần tan hòa trong Thánh Thần bằng tâm tình
«tự hủy» (kenosis), «tự hiến tế» của Đức Giêsu. Nghĩa là có
sự quyết tâm muốn quên mình, xóa bỏ mình trước Thiên Chúa và tha nhân,
không tự coi bản thân mình, ý riêng của mình, và những gì của mình là quan
trọng. Tâm tình ta cần có là: «Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ đi»
(Ga 3, 30), nhỏ đi chừng nào tốt chừng nấy.
Song song với tâm tình «tự hủy» cần phải có là
tâm tình «vị tha». Nghĩa là có sự quyết tâm sống cho Thiên Chúa và
tha nhân, đặc biệt sẵn sàng làm tất cả những gì Thánh Thần đề nghị để gieo
tình thương và hạnh phúc nơi nơi, cho tất cả mọi người chung quanh ta.
Và cuối cùng là lắng nghe tiếng của Thánh Thần vang dội
trong lòng mình. Tiếng của Ngài ngày càng trở nên rõ ràng và mạnh mẽ nếu
ta luôn luôn quảng đại đáp lại lời mời gọi của Ngài. Tiếng của Ngài sẽ dần
dần yếu đi nếu ta bỏ lơ hay không đáp lại lời mời gọi ấy.
Thường xuyên gặp gỡ Ngài như thế, chắc chắn cuộc đời của
ta sẽ biến đổi và trở nên men tốt, muối tốt và ánh sáng
rực rỡ cho xã hội, Giáo Hội và đặc biệt cho môi trường chung quanh ta.
Và đó chính là cách ta «thờ phượng Thiên Chúa trong thần khí và sự thật».
Về mục lục >

ĐẤNG
BẢO TRỢ
Lm. Joseph Nguyễn Thanh
«Nhưng, Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai
đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em
nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em». (Gioan 14:26)
Qua lời trên, Chúa Giêsu đã mạc khải cho các môn đồ đầy
đủ Ba Ngôi Vị Thiên Chúa: Chúa Cha, Chúa Con và Thánh Thần.
Đó là mầu nhiệm lớn lao nhất của Kitô giáo mà những bộ
óc «vĩ đại» và «siêu việt» như của Thánh Tiến Sĩ Augustinô
(354-430) cũng phải… «đầu hàng» trong sự tìm kiếm ý nghĩa!
Chúa Cứu Thế tuyệt nhiên đã không «bỏ» các
môn đồ [Ngài tuyển chọn từ giữa muôn muôn người] «mồ côi», «hụt
hẫng», «bơ vơ» giữa chợ đời (c. 18):
«Thầy sẽ không để anh em mồ côi, Thầy đến cùng anh em».
Trái lại, Ngài đã trấn an, cùng giải thoát các ông khỏi
«xao xuyến» (x. 14,1), bằng cách tiên báo cho các ông:
«Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân
danh Thầy». (Ga 14,26)
Từ «Đấng Bảo Trợ» (Hy-lạp «parakletos»)
có nghĩa: «trạng sư», «người bào chữa», «người trợ
giúp», «người bênh vực» (đối với một bị cáo); về sau, từ «parakletos»
có 2 nghĩa khác xuất hiện: «người an ủi» và «người chuyển cầu».
Trong sách Phúc Âm thứ tư, tức Phúc Âm theo Thánh Gioan, nghĩa thứ nhất
nổi bật hơn hai nghĩa sau.
«Đấng Bảo Trợ» đầu tiên, chính là Đức Giêsu :
«Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của tôi, tôi
viết cho anh em những điều này, để anh em đừng phạm tội. Nhưng nếu ai phạm
tội, thì chúng ta có một Đấng Bảo Trợ trước mặt Chúa Cha». (1Ga
2,1)
Đức Giêsu đã được tôn vinh là Đấng bảo trợ các tín hữu
bằng cách cầu bầu, chuyển cầu cho họ trước mặt Chúa Cha.
Khi sinh tiền, Chúa Cứu Thế Giêsu đã huấn-dạy các môn đồ
rất nhiều điều, nhưng vẫn còn chưa đủ, chưa thấm vào đâu! Vì thế, Đấng Bào
Chữa «sẽ dạy anh em mọi điều, và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều
Thầy đã nói với anh em».
Vậy, vai trò chính yếu của Thánh Thần sẽ là giáo huấn,
dậy bảo các môn đồ tất cả những gì các ông phải biết mà Đức Giêsu
chưa nói ra.
«Đấng Bào Chữa» cũng sẽ giúp các ông hiểu ý nghĩa của
lời rao giảng và các dấu lạ của Chúa Giêsu, mà các ông trước đây chưa nắm
được, ví dụ lời Chúa Giêsu nói với ông Simôn Phêrô :
«Việc Thầy làm, bây giờ anh chưa hiểu, nhưng sau này
anh sẽ hiểu».(Ga 13,7)
* * *
Khi hoan hỉ mừng Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, các tín
hữu thành tâm thiện chí hãy tha thiết cầu xin Ngôi Ba Thiên Chúa giáo
huấn, dạy dỗ mình, hầu mình hiểu được tường tận tất cả giáo
huấn của Chúa Cứu Thế đã được giữ lại cho chúng ta trong bốn sách Phúc Âm
theo Thánh Mathêô, Marcô, Luca và Gioan.
Không được Thánh Linh khai mở tâm trí mình, chúng ta làm
sao có thể hiểu được lời hằng sống của Thầy Chí Thánh?
Chúng ta cần có «Thầy» biết bao cho đời
sống làm con cái đích thật của Cha yêu thương trên trời!
Chúng ta hãy dâng lên «Thầy» lời cầu nguyện sau:
«Xin hãy đến!
Lạy Chúa Thánh Thần, xin Ngài
hãy đến!
Xin hãy đến làm ánh sáng
hướng dẫn chúng con.
Xin hãy đến làm sức mạnh nâng
đỡ chúng con.
Xin hãy đến, lạy Chúa Thánh
Thần.
Xin Ngài hãy đến!
Xin hãy giúp chúng con đổi
mới bộ mặt trái đất»
(Lm. Mark Link, S.J.)
Về mục lục >

CON
ĐƯỜNG NÊN THÁNH
ĐẤNG BẢO TRỢ,
ƠN GỌI NÊN THÁNH.
Trần Duy Nhiên
Một bà thánh không làm gì cả?
Sáng ngày 21-04-1962, cô bé Jeanne Emmanuelle Molla ra
đời, và bảy ngày sau, ngày 28-04-1962, mẹ của cô đã qua đời. Bảy tháng trước
đó, người mẹ của cô đã bị u xơ
tử cung, nhưng với tư cách
là một bác sĩ, bà yêu cầu giữ con mình lại. Trước
ngày sinh nở, bà biết rằng sinh mạng mình có thể bị đe dọa nếu tập trung
vào mạng sống đứa con. Bà nói với các bác sĩ: «Nếu quí vị phải lựa chọn
giữa con tôi và tôi, thì hãy chọn con tôi, tôi đòi hỏi như thế. Hãy cứu
lấy nó». Người phụ nữ ấy chết năm 39 tuổi. Bà không làm gì cả ngoại
trừ chết đi để bảo vệ mạng sống của con ruột mình. Ngày 15-05-2004, bà đã
được phong thánh: thánh Gioanna Baretta Molla. Trong giờ kinh Truyền Tin
ngày 23-12-1973, Đức Phaolô VI đã nói như sau: «Một người mẹ còn trẻ
thuộc giáo phận Milan, vì muốn cứu mạng sống con gái mình, đã hy sinh mạng
sống mình trong một cuộc hiến tế có tính toán trước». Thế đấy, chỉ cần
là một người mẹ trọn vẹn ý nghĩa cũng đủ được phong thánh. Thậm chí, một
tay sát nhân cũng có thể làm thánh.
Một ông thánh sát nhân?
Ngày 25-02-1954, Jacques Fesch cầm súng bước vào một chi
nhánh ngân hàng để cướp hơn hai triệu franc Pháp. Vụ cuớp bất thành. Một
cảnh sát rượt đuổi anh, anh bắn chết viên cảnh sát ấy. Anh bị bắt giam vào
nhà tù Santé ở Paris, và ở đấy trong ba năm trước khi bị kết án tử hình.
Ngày 01- 10- 1957 anh bước lên ghế điện để đền tội khi mới được 27 tuổi.
Thế nhưng thời gian ngồi tù đã giúp anh hoán cải. Ngày
01-05-1955, anh viết vào nhật ký trong tù của mình : « Tôi đã nghe một
tiếng nói không xuất phát từ mặt đất nói với tôi rằng : Jacques, con nhận
được ân sủng để chết. » Đấy là biến cố đã giúp anh hoán cải, và kể từ
đấy anh sống một đời sống thiêng liêng kết hiệp với Thiên Chúa. Sau này,
anh công bố : « Tôi được ban đầy dẫy ơn lành. Người ta đã cứu thoát tôi
ngoài ý muốn của mình, người ta đưa tôi thoát khỏi cái thế gian chực làm
cho tôi hư mất ». Sau khi qua đời, anh đã để lại 4 tác phẩm phản ảnh
đức tin sống động của mình : Journal spirituel (Nhật ký thiêng
liêng), Lumière sur l’échafaud (Ánh sáng trên đoạn đầu đài),
Cellule 18 (Xà lim 18), Dans cinq heures je verrai Jésus (Năm
giờ nữa tôi sẽ gặp Chúa Giêsu). Các tác phẩm này đã khiến cho Giáo hội
tiến hành một cuộc điều tra sơ khởi nhằm phong thánh cho anh, một người mà
Đức Hồng Y Lustiger hy vọng rằng một ngày nào đó sẽ được Kitô hữu tôn kính
như một «điển hình cho sự thánh thiện». Ta có nên giam cầm mãi một
tên tội phạm trong tội ác của mình, dù cho sau đó người ấy có làm gì đi
nữa, hay ngược lại, ta phải khẳng định rằng một người đã phạm tội ác có
thể trở được biến đổi sau khi ý thức việc mình làm và hoán cải thâm sâu ?
Con đường nên thánh
Hẳn là điều nghịch lý khi suy nghĩ về con đường nên
thánh mà lại minh họa bằng một kẻ sát nhân. Dù cho người ta đang tiến hành
hồ sơ phong thánh cho anh, thì hàng loạt vấn đề đã được đặt ra. Các công
đoàn của giới cảnh sát chống lại đề nghị của đức Hồng Y Lustiger, vì họ
muốn bảo vệ danh dự và vinh quang cho người đồng nghiệp đã bị Jacques
Fesch giết… Phải tin tưởng vào ơn tha thứ, nhất là khi hiểu rằng sự tha
thứ chỉ thực sự trọn vẹn khi phải tha thứ những gì không thể nào tha thứ
được. Và khi chúng ta nêu lên một ví dụ đi ngược lại với mọi lôgíc con
người như thế, thì mới thấy được lòng thương xót của Thiên Chúa và hiểu
được sự thánh thiện mà Chúa đã dành cho mỗi một con người, dù cho người ấy
được xem như là anh «trộm lành» trong thời đại hôm nay. Và điều này
có thể giải thích được phần nào một khía cạnh cũng không kém phần nghịch
lý của Giáo Hội, ấy là Giáo Hội được mời gọi nên thánh, dù cho Giáo Hội
bao gồm những chi thể tội lỗi.
Đấy là điều mà Đức Gioan Phaolô II đã muốn nói lên trong
tông thư «Đầu thiên niên kỷ mới»: «Đừng hiểu lầm về lý tưởng trọn lành
này như thể đời sống thánh thiên đòi hỏi phải có một cuộc sống phi thường
mà chỉ vài người xuất chúng mới đạt được. Đường nên thánh thì có
nhiều và thích hợp với ơn gọi của từng người. Tiến trình nên thánh là một
tiến trình cá nhân, đòi hỏi phải có một sư phạm đúng đắn về sự thánh
thiện, để có thể thích nghi với nhịp sống của từng người».
Đức Giáo Hoàng cũng nhấn mạnh rằng tất cả mọi người đều
được mời gọi nên thánh dù ở bất cứ giai đoạn nào trong cuộc đời: vào mùa
xuân của tuổi thanh niên, mùa hè của tuổi trưởng thành, mùa thu và mùa
đông của tuổi già yếu, vào giờ chết và, cuối cùng, sau cái chết nữa. Ngài
tuyên bố: «Ơn gọi của Kitô hữu là nên thánh. Ơn gọi ấy bắt nguồn từ
Phép Rửa và được canh tân nhờ các bí tích khác, đặc biệt là bí tích Thánh
Thể».
Về mục lục >

LINH ĐẠO
TRONG NẾP SỐNG DẤN THÂN GIỮA ĐỜI
Aloysius Pieris, S.J.
Trần Duy Nhiên
dịch
Cái nhìn truyền thống có khuynh hướng tách biệt giữa
chiêm niệm và hoạt động… Trong một vài linh đạo tiên khởi, hoạt động có
nghĩa là một sinh hoạt của trí tuệ giúp tâm hồn vươn lên đỉnh cao của
chiêm niệm. Hoạt động được hiểu như là «giai đoạn» khổ luyện để đi
vào trạng thái thần bí của tâm nguyện. Thuật ngữ «hoạt động» nhấn
mạnh vào nét «chủ động» còn thuật ngữ «chiêm niệm» chú ý đến
tính chất «thụ động» trong hành trình con người tìm gặp Thiên Chúa.
Như thế, cả sự tự do của con người lẫn ơn nhưng không của Thiên Chúa đều
được bảo toàn nguyên vẹn.
Hiện nay, «hoạt động» có nghĩa là một hành động
phi chính trị và ở bên trong Giáo hội. Đức Thánh Cha đã dùng từ ngữ này
qua lời khuyên nhủ gửi đến các linh mục và tu sĩ. Do đó, hoạt động sẽ
không giá trị nếu không có chiệm niệm đi trước hay đi kèm. Thế nhưng, từ
ngữ «hoạt động» này không có nghĩa đơn thuần là «hoạt động tông
đồ» mà bao gồm cả sự dấn thân vào đời. Từ ngữ «chiêm niệm» theo
nghĩa Hy Lạp, không diễn đạt được hết chiều kích chính trị xã hội ẩn chứa
trong giáo huấn của Thánh Kinh về cầu nguyện và tôn thờ. Do đó, dùng cặp
từ ngữ này (chiêm niệm và hành động) để nói về cuộc khủng hoảng thiêng
liêng hiện nay là một việc làm không ổn. Rủi thay «cầu nguyện» hiểu
như là chiêm niệm thường được xem như là một sự cảm nghiệm Thiên Chúa, và
đối lập với «hành động» dùng để chỉ những tương quan thuần túy giữa
người với người.
Cách sử dụng những khái niệm không gian, chiều dọc và
chiều ngang, để chỉ định hai khía cạnh đó, phản ảnh quan niệm thời Trung
cổ về một Thiên Chúa tác động từ trên cao theo chiều dọc, và con người
liên hệ với nhau theo chiều ngang. I-nhã Loyola là một nhà chiêm niệm
trong hành động. Ngài đã tổng hợp một cách đầy ý nghĩa những điều mà ta
cần phải khai triển và đào sâu, bởi vì ngài đề xuất một nền tảng cho vấn
đề này. Ngài đã đề ra một yếu tố cho cả cầu nguyện lẫn hoạt động để kiểm
nghiệm xem chúng chân chính hay là giả hiệu. Yếu tố đó là tinh thần tự hủy
(kenosis hay self-abnegation). Yếu tố này sẽ cho chúng ta biết được một
tình yêu có đích thực hay không. Mọi linh đạo chân chính đều bắt nguồn từ
tinh thần của Đức Ki-tô chịu đóng đinh (và được vinh thăng). Cả chiêm niệm
lẫn hoạt động đều có thể bị lệch hướng do sự tìm kiếm chính mình, do sự từ
chối tiềm tàng không muốn uống chén đắng của Đức Ki-tô hoặc chịu phép Rửa
của thập giá. Ta nhớ lại lời dặn dò mà I-nhã thường lặp lại với anh em
Dòng Tên trẻ tuổi từng tìm nhiều thời gian để cầu nguyện (một công việc
hợp thời thuở ấy, được cổ võ như tinh thần nhập thế Á Châu và phong trào
đặc sủng thời đại hôm nay). Ngài yêu cầu họ lao vào bổn phận hằng ngày với
tinh thần tự hiến tế, một phản ảnh đúng đắn cho giáo huấn Tân Ước về việc
thờ phượng của Ki-tô hữu như là «một hy lễ thánh» (Rm 12,1). Ngài
dạy rằng khi ta tự hủy thì chẳng bao lâu ta sẽ gặp Thiên Chúa. Đường lối
quý báu này từng ăn sâu vào truyền thống thiêng liêng của phương Tây, nay
cần phải được khơi dậy trong thời đại chúng ta như một tiêu chuẩn đúng đắn
cho mọi linh đạo chân chính.
Nền tảng Ki-tô học của tư tưởng đó không bao giờ được
nhấn mạnh quá mức, đó là (1) trong Đức Giê-su, vừa là Con Người vừa là
Thiên Chúa, Thiên Chúa và nhân loại đã giao hòa để trở nên một mầu nhiệm
cứu độ duy nhất và (2) sự giao hòa này được thực hiện qua sự tự hủy trên
thập giá, khiến cho sự tự hủy của việc nhập thể trở thành hữu hình
và kiểm chứng được; và do đó (3) ta có thể nói rằng, Đức Ki-tô chịu đóng
đinh đã làm một gạch nối giữa thực tại Thiên Chúa và thực tại con người;
vì thế ta có thể chạm đến Thiên Chúa qua nhân loại và chạm đến nhân loại
qua Thiên Chúa, miễn là ta chọn lấy thánh giá, bởi lẽ chỉ tại nơi đó thì
tình yêu đối với Thiên Chúa và tình yêu đối với con người mới có thể hoán
chuyển lẫn nhau. Tìm kiếm Thiên Chúa trong tinh thần tự hủy ta sẽ chạm đến
chiều sâu của nhân loại, của chính mình và của người khác. Ngược lại, dấn
thân vào công việc giải phóng con người mà không hề tìm kiếm chính mình là
ta đã cảm nghiệm được Thiên Chúa. Thiếu tinh thần tự hủy, cả cầu nguyện
lẫn hoạt động đều là lừa dối chính mình: gọi là sống nội tâm nhưng thực ra
quy hướng về mình như trung tâm điểm; gọi là dấn thân vào đời nhưng thực
ra là không ngừng phô trương cái tôi của mình.
Do đó, điều cốt yếu là lời kêu gọi chói tai của Phúc âm:
hãy từ bỏ, hãy «phủ nhận chính mình», «mang lấy thánh giá».
Đó là điều kiện không thể thiếu được của con đường trở nên môn đệ đích
thực, nghĩa là của một linh đạo chân chính. Lý do khủng hoảng hiện nay
không phải là vì người ta không cầu nguyện đủ, điều này không bao giờ có
thể kiểm chứng được. Nhưng vì hiện nay, nhiều người có khuynh hướng trình
bày một Đức Kitô hư cấu, một đức Kitô thiếu thập giá, hoặc tìm kiếm Người
nơi người không có mặt, hoặc che khuất thế giới hiện thực (bất công) nơi
mà Người đang bị treo trên thập giá và kêu gọi chúng ta tiếp tay để tranh
đấu với Người.
Tôi muốn minh hoạ bằng hai mẫu người trong kinh thánh:
mẫu thứ nhất là Abraham và mẫu thứ hai là Môsê. Abraham đã tìm kiếm Thiên
Chúa bằng đức tin còn Môse thì tranh đấu vì công lý cho dân mình. Hai nhân
vật ấy cho ta thấy điều này: gặp gỡ Thiên Chúa cũng có nghĩa là gặp gỡ con
người. Người nào tìm kiếm Thiên Chúa thì nhất thiết sẽ gặp gỡ con người và
người nào phục vụ con người thì cuối đường cũng sẽ gặp Thiên Chúa. Tại Á
Châu, hai quan điểm này giúp ta nhìn qua lăng kính Kinh Thánh hai mẫu «từ
bỏ» mà các tôn giáo giác ngộ và các ý thức hệ xã hội chủ nghĩa đề ra.
Trong phúc âm thánh Gioan (8,56) Đức Giê-su cho biết
rằng Abraham đã gặp Người trong lịch sử bởi vì «trước khi có Abraham,
đã có Ta» (Ga 8,58). Đức tin của Abraham chất chứa những khắc khoải
trong cuộc tìm kiếm lâu dài để hiểu thấu tiếng gọi nội tâm và vâng theo
tiếng gọi đó: ông từ bỏ gia đình và tình cảm để ra đi mà không biết đi về
đâu. Ông được chuẩn bị để từ bỏ tất cả, thậm chí đứa con độc nhất của
mình, để dâng cho Thiên Chúa, Đấng càng ngày càng lớn lên trên chân trời
của Abraham - đến độ người tỏ mình như là Thiên Chúa của toàn thể nhân
loại. Sự từ bỏ này của Abraham nâng đỡ đức vâng lời của ông đối với Thiên
Chúa, đó là mẫu mực của đức tin. Sau này, nơi nào thánh lễ được cử
hành, thì Kitô hữu của mọi quốc gia và của mọi thời đại đều gọi ông là «cha
trong đức tin». Hành trình của ông đi đến với Thiên Chúa đã đạt cao
điểm trong việc khai sinh một dân tộc. Được như vậy là vì ông đã từ bỏ mọi
sự trong khi đi tìm kiếm và đã gặp Chúa Giêsu, bởi vì trong Ngài, Thiên
Chúa và người dân là một.
Ngược lại với Abraham, Môsê bắt đầu cuộc hành trình từ
việc dấn thân cho người dân và cuối cùng ông đã gặp Thiên Chúa, vì ông ra
đi với một tình yêu quên mình. Cách giải thích Kitô học này về hiện tượng
Môsê đã được trình bày rõ ràng trong thư Do thái. Cũng như Abraham, ông
được xem như một người đã gặp gỡ Đức Kitô trước khi đức Giêsu giáng trần;
cố nhiên, trong tương quan với Giêsu Nagiarét là đỉnh cao của lịch sử, nơi
mà thập giá đức Kitô đứng vững cho đến khi vương quốc của công chính và
bình an được viên mãn. Lớn lên trong một môi trường vô tín, Môsê đã không
hề biết đến Giavê khi ông gặp Đức Kitô trên thập giá qua hành động từ bỏ
anh hùng phát sinh từ tinh thần liên đới với thập giá của những anh em đau
khổ của mình.
«Nhờ đức tin mà, khi lớn lên, Môsê đã từ khước không
nhìn nhận mình là con của con gái vua Pharaô, ông chọn lựa chịu đàn áp
cùng với dân Chúa hơn là hưởng thụ những thú vui tội lỗi và phù du. Ông
xem những khổ nhục gánh chịu vì đức Kitô (đấng Messia và dân Messia) có
giá trị hơn mọi sự giàu sang của Ai cập» (Dt 11,26).
Ông từ chối không tham gia vào bộ máy đàn áp và chọn lựa
đứng về phe người dân bị áp bức. Tân ước xem sự chọn lựa này như là sự
chọn lựa đứng về phía Đức Kitô, bởi lẽ đã ông được công chính hoá nhờ sự
từ bỏ tình trạng yên hàn của bản thân. Không có gì ngạc nhiên khi đỉnh cao
của tình yêu tha nhân là cuộc gặp gỡ mặt giáp mặt với Giavê ở Sinai.
Thần học hiện đại đã góp phần để cho Giáo Hội hậu
Vatican II phục hồi thần học về thập giá. Chiêm niệm và hoạt động nhận
được ý nghĩa đích thực của mình, không phải nhờ tác động lẫn nhau, mà nhờ
thánh giá đã được dựng lên chính nơi người ta xây cất bàn thờ cho mammon,
trên ngôi mộ người nghèo của Thiên Chúa. Do đó, linh đạo chân chính được
thiết lập bằng sự siêu nhiên hóa bản thân - từ bỏ chính mình - để lớn lên
và đạt sự viên mãn trong và qua tha nhân, không chỉ là tha nhân tiềm ẩn
trong bản thân mình và cần được tìm gặp qua cầu nguyện, nhưng còn là tha
nhân đang ẩn mình trong người khác và cần được phục vụ qua hành động.
Gương mẫu linh đạo của cả Abraham lẫn Môsê hội tụ ở điểm này: Ta có thể
gặp gỡ Đức Kitô trên thập giá, với tư cách vừa là Thiên Chúa vừa là con
người, nơi nào công cuộc tìm kiếm Thiên Chúa và nỗi khắc khoải cho con
người trở thành một quá trình cứu độ, nghĩa là một công cuộc giải thoát.
Về mục lục >

DANH NGÔN
·
Ông kia bà nọ nên thánh được, tại
sao tôi không?
Thánh Phanxicô Salê
·
Đức ái chi phối mọi phương thế nên
thánh, là linh hồn của những phương thế ấy và đưa chúng đến cùng đích.
Lumen Gentium, số 42

CẦU
NGUYỆN
NHỮNG PHƯƠNG THỨC CẦU
NGUYỆN GIẢN DỊ
Hoàng Quý
Khai dẫn
Ba tác giả cùng mang tên Linn kể lại câu chuyện cách đây
hai ngàn năm Chúa Giêsu đã chữa lành cho ba người mù được xem thấy. Họ gặp
nhau tại hồ Siloê và bàn về việc viết cuốn sách mô tả lại cách thức Chúa
đã chữa lành bệnh mù.
Người thứ nhất phát biểu, «Tôi nhớ buổi gặp gỡ bên hồ
Siloê này, vì tại đây Chúa Giêsu cầu nguyện cho tôi, Ngài chỉ cho tôi cách
thức phải luôn luôn cầu nguyện cho người mù. Chúng ta phải nhào bùn với
nước bọt rồi quệt vào mắt người mù và sau đó lấy nước rửa mắt».
Người thứ hai ngắt ngang, «Không, đâu có phải thế!
Lúc đó anh đang mù làm sao anh biết Chúa Giêsu đã làm những gì? Ngài xử
dụng nước bọt chứ đâu có phải bùn. Ngài đặt tay trên anh và bảo, “Anh có
nhìn thấy gì không?” Anh chỉ mới nhìn thấy người ta như các cây cối
biết đi, do đó Ngài cầu nguyện thêm một lần nữa. Và lần này việc chữa lành
hoàn tất».
Nhưng người thứ ba phản bác, «Không, Chúa Giêsu đâu
cần tới nước bọt hay đặt tay cầu nguyện. Và tôi chỉ cần thưa với Ngài,
“Lậy Thầy, con muốn được nhìn thấy,” và Chúa Giêsu nói với tôi, “Con được
toại nguyện đấy, vì đức tin của con đã chữa lành con”. Tất cả chỉ cần tới
niềm tin».
Nhưng người thứ nhất phản bác, «Không, tại hồ Siloê
tôi đâu có nài xin Ngài chữa lành cũng như tôi đâu có tin vào Ngài như
thế, vì nào tôi có biết ai chữa lành cho tôi!»
Cứ thế, họ tranh luận với nhau không ngừng và cuốn sách
không hoàn thành nổi, vì tất cả họ chỉ tập trung vào việc tìm xem cách
thức chữa lành nào là đúng, hơn là tìm đến Đấng Chữa Lành. Thực ra có bao
nhiêu cách thức người ta nhận lãnh và ban phát tình yêu thương của Đấng
Chữa Lành là có bấy nhiêu phương thức chữa lành. (Ga 9; Mc 8,22-26;
10,46-52).
Tương tự như trường hợp ba người mù vừa rồi bàn về
phương thức phải chữa lành như thế nào, nhiều người trong chúng ta cũng lo
ngại không biết mình phải cầu nguyện xin ơn chữa lành thế nào đem kết quả.
Ba tác giả tên Linn trong cuốn «Prayer Course for Healing Life’s Hurts»
dậy về các cách thức chữa lành đã đưa ra tám phương thức chữa lành khác
nhau áp dụng cho tám người khác nhau. Đây là những phương thức chữa lành
tương đối còn mới mẻ với chúng ta. Ở đây chúng ta sẽ được hướng dẫn chỉ
cần năm phút hoặc mười phút để cầu nguyện với các người mang các loại tật
bệnh khác nhau trong nhiều trường hợp chúng ta không có thời giờ, hơn là
đòi hỏi phải có một thời giờ lý tưởng một giờ hoặc nhiều hơn nữa để cầu
nguyện xin ơn chữa lành. Ở đây các ba tác giả giới thiệu với chúng ta cách
thức cầu nguyện giản dị nhất, ai cũng có thể cầu nguyện được, thí dụ như
lặp lại một vài chữ, nhìn đăm chiêu tấm hình, biểu lộ một cử điệu hoặc một
tư thế đặc biệt.
Dầu chỉ trong một thời gian hạn chế ngắn ngủi như thế,
mỗi người đều có thể cảm nghiệm được tình yêu thương của Chúa Giêsu và cảm
nghiệm được việc chữa lành đang khởi sự. Tất cả việc cầu nguyện xin ơn
chữa lành đều phải được bao bọc trong bầu không khí yêu thương đầm ấm. Và
như vậy khi cầu nguyện xin ơn chữa lành cho một ai chúng ta không còn phải
lo ngại hoặc hồ nghi nữa, nhưng chúng ta có thể tự xác quyết với mình, «Tôi
có thể cầu nguyện xin ơn chữa lành theo nhiều cách thức tùy theo tôi có
thể nhận lãnh và ban phát tình yêu thương của Chúa Giêsu cho người tôi
muốn cầu nguyện. Và bây giờ tôi bắt đầu với phương thức này». (Matthew
Linn - Dennis Linn & Sheila Fabricant, Prayer Course for Healing Life’s
Hurts, Paulist Press, New York, 1983, tr. 7).
Trong tài liệu giảng huấn này, ba tác giả đưa ra những
trường hợp thật bình thường, với những con người cũng thật bình thường như
chúng ta. Trường hợp đầu tiên ba tác giả đưa ra chính là trường hợp của bà
Judy mắc bệnh đau lưng. Việc cầu nguyện cho bà Judy sẽ có hiệu quả tốt đẹp
hơn nếu mời được ba người sau đây cùng cầu nguyện xin ơn chữa lành với
mình: người bạn thân nhất của bà, một người đã được chữa lành khỏi bệnh
đau lưng và một người hiện giờ cũng đang mắc chứng bệnh đau lưng.
Với ba người này cùng đồng tâm cầu nguyện, thường lời
cầu nguyện của họ sẽ rung động thâm sâu hơn vì họ cùng đồng cảm với nhau,
cùng thương cảm cho nhau thật khăng khít khiến Thiên Chúa của Tình Thương
đến hiện diện với họ thật chan hòa yêu thương (1Ga 4:16). Họ không cần
phải thuyết phục Chúa đến yêu thương họ nữa, nhưng họ đã trở thành máng
chuyên chở cho Ngài tuôn đổ hồng ơn chữa lành của Ngài xuống cho người
bệnh.
Ở đây, người bạn thân là một trong những máng chuyên chở
ơn phúc hiệu lực nhất Chúa muốn xử dụng. Tiếp tới Chúa sẵn sàng muốn xử
dụng lòng thương cảm của một người đồng bệnh, vì khi đó người này cầu
nguyện với một tấm lòng thật rung động và tha thiết. Và sau cùng là người
thứ ba đã được chữa lành khỏi bệnh đau lưng, họ cầu nguyện với tràn đầy
lòng thương cảm và nhất là với một thái độ ngưỡng vọng nài xin Chúa chữa
cho người bệnh như Chúa đã chữa cho chính mình. Như vậy việc cầu nguyện
càng thực hiện trong tình thương cảm, càng dễ lôi kéo được lòng thương xót
của chính Đấng Chữa Lành. Bí quyết của việc cầu nguyện xin ơn chữa lành
nằm ở thần lực kỳ diệu của tình yêu thương này.
Bà Judy là một nữ nhân công bị sút lưng khi bà bưng một
khay chén đĩa quá nặng. Ngay lúc đó bà cầu nguyện, nhưng vẫn không đứng
thẳng lên được. Phải chờ tới mười phút cầu nguyện, lưng bà mới được chữa
lành hoàn toàn. Tương tự như thế, khi người đàn ông cũng mắc chứng đau
nhức cầu nguyện cho bà Judy, ông cũng được chữa lành tới 90% căn bệnh đau
nhức đã hoành hành ông trong nhiều năm trời. Bà Judy cảm thấy khỏe mạnh
như xưa và chỉ vài ngày sau đó, bà lại tiếp tục bưng một khay chén đĩa
nặng nề như trước, bà liền qụy xuống giẫy giụa thật đau đớn như trong cơn
hấp hối. Bác sĩ bắt bà phải nghỉ ngơi trên giường và thư giãn các bắp thịt
trong vòng hai tuần lễ.
Ngay sau khi bà Judy được lệnh phải nằm nghỉ ngơi, ông
Joan gọi lại thăm bà, «Tôi nghe tin lưng chị đã được chữa lành. Còn cái
lưng của tôi đã hành hạ tôi suốt 20 năm. Chị cho phép tôi đến xin chị cầu
nguyện nhé!» Bà Judy hiểu biết rằng nếu người đàn ông mắc bệnh đau
nhức đã được Chúa sử dụng đến cầu nguyện chữa lành cho lưng bà vào tuần
trước, như vậy có lẽ lời cầu nguyện của một người bệnh hoạn như bà cũng có
thể giúp ích cho người khác. Và khi bà Judy vừa cầu nguyện, lưng của ông
Joan được chữa lành ngay vào thời điểm đó, đồng thời bà cũng thật ngạc
nhiên khi thấy chính lưng của bà cũng được chữa lành luôn khi vừa cầu
nguyện xong. Cả hai người đều được Chúa chữa lành cùng một lúc.
Linh mục Matthew Linn hỏi bà Judy cắt nghĩa thử xem lý
do tại sao cái lưng của bà lại cần đến hai lần chữa lành. Bà cho rằng bà
vẫn tin việc cầu nguyện có thể chữa lành bệnh tình của bà, nhưng chưa bao
giờ bà dám tin lời cầu nguyện của bà có thể cứu chữa được người khác.
Nhưng rồi đến con đường cùng khi bà đau đớn quá bà nhận ra ông Joan cũng
đang đau dữ dội như thế và niềm cảm thương dâng lên dạt dào khiến bà đánh
liều cầu nguyện cho ông. Và chúng ta hãy nghe bà chia sẻ:
«Tôi nghĩ Chúa muốn tỏ cho tôi biết Ngài sẽ chữa lành
cho tôi không phải chỉ vì tôi nài nỉ kêu xin Ngài, nhưng còn vì tôi cần
phải bước đi ra cầu nguyện cho người khác nữa. Ngài đã chữa lành không chỉ
cái lưng của tôi, nhưng quan trọng hơn, Ngài muốn chữa lành quả tim còn
oán hờn, giận ghét thâm sâu của tôi nữa. Với lời cầu nguyện đầy hiệu lực
như thế, tôi đã nghỉ công việc lao công để làm việc trong viện dưỡng lão
với số lương thấp kém hơn, nhưng tôi lại có thể cùng cầu nguyện với những
con người đang sống trong chán nản và thất đảm. Tôi rất yêu thích công
việc này do đó tôi sắp sửa theo học khóa nữ điều dưỡng».
Với khóa đào luyện này, quá trình của việc chữa lành
không chỉ là nhận lãnh tình yêu thương của Đấng Chữa Lành, nhưng còn phải
là trao tặng tình yêu thương đó nữa. Phương pháp hay phương thức chữa lành
không phải là trọng yếu, chính Đấng Chữa Lành mới là yếu tố then chốt và
chủ động.
Sau đây ba tác giả hướng dẫn
chúng ta đi vào các cách thức cầu nguyện xin ơn chữa lành trong buổi sinh
hoạt nhóm hoặc cầu nguyện tại nhà.
I. Buổi Họp Nhóm
Buổi họp diễn tiến theo tiến trình như sau:
A. Cầu nguyện khai mạc hoặc hát ca ngợi chung (5 phút)
B. Giới thiệu nhau. Dùng một số thời giờ cho mọi người
hiện diện tự giới thiệu nhau và chia sẻ lý do mình tới tham dự khóa huấn
luyện. Nếu buổi họp ít người, mỗi người có thể chia sẻ thêm về hoàn cảnh
sống hoặc niềm vui của mình. Người nhóm trưởng nên tự bắt đầu trước rồi
sau đó mọi người lần lượt theo vòng tròn.
C. Giải thích Khóa Huấn Luyện. Người nhóm trưởng nên tóm
lược các lý do mọi người vừa chia sẻ về lý do tới tham dự buổi họp và lái
vào mục tiêu của khóa học, nhằm mục đích hướng dẫn mọi người biết cách
thức cầu nguyện xin ơn chữa lành cách giản dị một mình hoặc với người
khác. Người trưởng nhóm nên vạch ra các ngưỡng vọng khoá học nhắm đạt tới
như đã trình bầy ở trên và đi theo lịch trình dưới đây:
1. Tham dự đều đặn các buổi học tập theo thứ tự:
a/ 30 phút trình bầy đề tài hoặc xem băng
hình
b/ 30 phút chia sẻ Đồng Bạn (Companion
Sharing) và Cầu nguyện Đồng Bạn (Companion Prayer)
c/ Lựa chọn một hoặc nhiều Trao đổi cảm
nghiệm bao gồm Đọc Sổ Tay, Chia Sẻ Nhóm, Giải Lao, và Cử Hành Lễ
(Celebration)
2. Các Kinh nghiệm tại gia (Home Experiences):
a/ 10 phút cầu nguyện riêng mỗi ngày, có thể
xử dụng các Lời Nguyện Xin Ơn Chữa lành.
b/ 5 phút viết sổ tay hoặc nhật ký thiêng
liêng (sẵn sàng chia sẻ trong tuần những gì đánh động mình nhất trong các
buổi cầu nguyện hàng ngày trong tuần.
c/ Lựa chọn một hoặc nhiều cảm nghiệm tại
gia bao gồm các Câu Hỏi Gợi ý suy niệm, đọc Kinh Thánh, đọc Sách Thiêng
Liêng.
3. Xem Băng Hình hoặc nghe trình bầy đề tài: «Các
phương thức cầu nguyện giản dị» (30 phút).
Sau đây là bản tóm lược các phương thức cầu nguyện xin
ơn chữa lành thật giản dị, do ba tác giả trình bầy trong bộ băng hình và
băng nói đi kèm với tài liệu học tập này.
Theo ba tác giả, thần lực chữa lành chính là thần lực
của yêu thương. Càng yêu thương nhiều khi cầu nguyện chữa lành, Chúa càng
tác động chữa lành mãnh liệt. Như vậy có bao nhiều cách thức bộc lộ tình
yêu thương khi chữa lành, là có bấy nhiêu cách thức chữa lành. Dưới đây là
8 phương thức thường được ba tác giả này tận dụng.
1/ Cầu nguyện qua hơi thở, khỏa trông vùng tăm tối trong
con người chúng ta khi chúng ta thở ra và hít vào tình yêu thương Chúa
Giêsu cho đến khi cảm thấy mình có thể thở lên tình yêu của Ngài dâng lên
Chúa Cha (vd. người đàn bà đắm đuối trong sợ hãi).
2/ Cầu nguyện thanh lặng giữa ba người: một người đồng
bệnh cũng đang đau đớn - một người đã được Chúa chữa lành cũng căn bệnh ấy
- một người thân thiết yêu thương mình người bệnh nhất (vd. bà Judy bị sút
lưng).
3/ Biến hóa thành người khác và để phó mặc cho tình yêu
Chúa Cha cuốn hút (vd. Leo và Frank, cha của Leo).
4/ Gợi nhớ lại một kỷ niệm đớn đau và mời Chúa Giêsu
bước vào: lối cầu nguyện xử dụng óc tưởng tượng sáng tạo (vd. Tommy và
Scott, cậu con trai).
5/ Tuôn trào tình yêu thương của Chúa vào người khác và
để mặc cho nước mắt họ chảy ra như lời cầu nguyện thống thiết (vd. người
đàn bà cầu nguyện cho người cha).
6/ Viết ra niềm xúc động và lắng nghe lời Chúa vọng lại
(vd. người đàn ông đã viết lại các khổ đau và giận dữ của mình).
7/ Cầu nguyện cho một ai mình yêu thương bằng cách trao
phó người này trong bàn tay từ nhân của Chúa Cha (vd. người phục nữ cầu
nguyện cho Denny, chồng của cô).
8/ Cầu nguyện cho người khác khi nhìn vào hình của họ
bằng ánh mắt của Chúa Giêsu và cầu nguyện kinh Lạy Cha của Chúa Giêsu cho
họ. (vd. người thiếu phụ cầu nguyện cho Bill, con của bà).
4. Im lặng Suy niệm (3 phút).
Lắng đọng tâm hồn để hấp thụ những gì đánh động mình
nhất qua băng hình hoặc lời trình bầy vừa rồi.
5. Viết Nhật Ký hoặc Sổ Tay (10 phút)
Đây là hình thức thu thập hoặc ghi giữ lại những suy tư,
những rung động trong khóa huấn luyện, được hướng dẫn viết theo phương
pháp.
1/ Viết lại những gì còn lắng đọng trong tâm tư. Bạn hãy
viết như bạn viết lá thư tình cho người bạn Giêsu khả ái nhất để chia sẻ
những cảm xúc thâm sâu và trìu mến nhất của mình. Đừng bận tâm tới chuyện
phải dùng danh từ nào cho đúng, cho chuẩn xác, nhưng chỉ quan tâm tới việc
bộc lộ tâm tư của mình.
2/ Bạn hãy đi vào đụng chạm lời Chúa vang vọng nơi bạn
như Ngài đang nói trong bạn. Bạn hãy làm như xin Ngài nói với bạn những
lời nói thân tình nhất như trả lời cho bạn, hoặc bạn hình dung ra những gì
bạn viết chính là những lời tâm huyết của người nào yêu thương bạn nhất,
và bạn muốn đáp lời lại Ngài bằng những từ ngữ thân tương nhất.
3/ Bạn hãy viết xuống lời Chúa trả lời cho bạn. Có thể
đây chỉ là một chữ hoặc một câu. Bạn hãy chắc chắn rằng những gì bạn viết
ra sẽ giúp bạn nhận biết rõ ràng hơn rằng bạn được Ngài yêu thương, và đó
không phải là sản phẩn suy nghĩ hoặc tưởng tượng của bạn, nhưng thực sự là
những gì Chúa Giêsu muốn nói với bạn.
4/ Hẳn cũng sẽ có một hoặc đôi ba người trong nhóm muốn
chia sẻ những gì mình đã viết trong nhật ký hoặc sổ tay.
6. Phần chia sẻ hoặc thảo luận kết thúc
1/ Bất cứ ai muốn cũng có thể chia sẻ những suy tư của
mình về cuốn băng hình hoặc phần trình bầy đề tài.
2/ Bạn có thể đưa ra thảo luận một số câu hỏi liên quan
đến đề tài vừa học hỏi. Nhóm trưởng nên tiên đoán để trả lời một số các
câu hỏi có thể được đặt ra hoặc dời vào kỳ tới.
7. Phần liên hoan kết thúc
Nên dành ra thời gian cuối buổi học tập bằng việc ăn
uống nhẹ trao đổi tình thân thiện và chia sẻ tâm tư.
(Còn
tiếp)
Về mục lục >

THÁNG ĐỨC MẸ
NĂNG THĂM VIẾNG THA NHÂN THEO
GƯƠNG ĐỨC MARIA
Huyền Vi
Việc Đức Maria đến thăm bà Êlisabét đã được thánh sử
Luca ghi lại như sau:
Hồi ấy, Maria vội vã lên đường, đến miền núi, vào một
thành thuộc chi tộc Giuđa. Cô vào nhà ông Dacaria và chào hỏi bà Êlisabét.
Bà Êlisabét vừa nghe tiếng Maria chào thì đứa con trong bụng nhảy lên, và
bà được đầy tràn Thánh Thần, liền kêu lớn tiếng: «Em được chúc phúc
hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc.
Bởi đâu tôi được thân mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này? Vì này đây tai tôi
vừa nghe tiếng em chào, thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vui sướng. Em
thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với
em». (…) Maria ở lại với bà Êlisabeth độ ba
tháng, rồi trở về nhà (Lc 1,39-45.56).
1. Tình thương được biểu lộ thành hành động của Đức
Maria.
Khi truyền tin cho Đức Maria, sứ thần cho biết bà
Êlisabét đã mang thai được 6 tháng. Sự việc này chắc chắn chỉ có hai vợ
chồng Dacaria và Êlisabét biết với nhau. Hai ông bà không thể ngờ được nay
lại có thêm Maria cũng biết khi thấy Maria đến thăm.
Điều đáng ta suy nghĩ là thái độ của Maria: Vừa nghe sứ
thần truyền tin cho biết bà Êlisabét có thai được sáu tháng, Maria liền «vội
vã lên đường» đến thăm bà, đang khi chính mình cũng bắt đầu mang thai.
Người trong thời kỳ đầu mang thai như Đức Maria lúc ấy thường có triệu
chứng mỏi mệt, buồn nôn, khó chịu, dễ buồn bực, v.v…
Đoạn Tin Mừng Lc 1,39-45 cho biết nhà bà Êlisabét ở «một
thành thuộc chi tộc Giuđa», tức vùng Giuđê ở miền nam Do Thái, đang
khi Maria ở làng Nadarét thuộc vùng Galilê ở miền bắc. Như vậy, hành trình
của Maria phải dài trên 100km, qua nhiều vùng đồi núi. Hành trình ấy chắc
chắn phải vất vả đối với một phụ nữ có thai như nàng. Điều đó cho thấy
Maria yêu quí chị họ mình biết chừng nào. Sự yêu quí ấy không phải chỉ do
cảm tình tự nhiên, mà còn do tình yêu thương mà nàng đối xử với tất cả mọi
người.
Nếu Maria không đến thăm thì bà Êlisabét chẳng trách
nàng được, lý do là bà ấy đâu biết rằng Maria biết bà mang thai. Vả lại
nàng có lý do chính đáng để không đến thăm bà, vì chính nàng cũng đang
mang thai mà đường sá lại xa xôi. Nhưng chính tình thương tràn ngập tâm
hồn Maria đã thúc đẩy nàng ra đi. Và cũng chính vì Maria là Mẹ của Đức
Giêsu, hiện thân của tình yêu Thiên Chúa. nên giàu tình thương như thế.
2. Thăm viếng là đem niềm vui và chính Đức Kitô đến cho
người khác.
Đến thăm Êlisabét, Maria không chỉ đến với tình yêu chân
thật của mình, mà còn đem Đức Giêsu đến với mẹ con bà. Vì thế, không chỉ
bà Êlisabét vui mừng, mà hài nhi Gioan trong bụng bà cũng vui theo, vui
đến nỗi phải «nhảy lên» trong bụng mẹ. Chắc chắn vì Maria mang Chúa
đến, nên niềm vui của bà Êlisabét và hài nhi mới tăng lên một cách lạ
thường như thế. Sự hiện diện của Maria cùng với bào thai Giêsu còn biến
đổi hai mẹ con bà Êlisabét, khiến hai người được tràn đầy Thánh Thần.
Đến thăm không chỉ là một phương cách biểu lộ tình yêu
và sự quan tâm, mà còn là một dịp thuận lợi để đem Chúa đến cho người mình
yêu thương. Khi ta đến thăm ai do tình thương thúc đẩy, lúc ấy ta có Chúa
trong lòng. Lúc ấy đến thăm họ chính là đem Chúa đến cho họ. Tình thương
của ta sẽ giúp họ cảm nhận được Chúa ở trong ta, và nhờ đó họ được biến
đổi, được lãnh nhận niềm vui, sức mạnh, hạnh phúc, và nhiều ơn lành khác
từ Thiên Chúa. Nhờ Chúa cùng đến với ta, niềm vui của họ tăng lên gấp bội,
và họ sẽ nhận lãnh được Thánh Thần. Chính Thánh Thần sẽ thánh hóa, biến
đổi họ nên tốt lành, thánh thiện, chứ không phải ta.
Đem Chúa đến cho họ, đó là điều tốt nhất mà ta có thể
làm cho họ, nhất là khi họ đang gặp đau khổ, nghịch cảnh, đang chán nản,
thất vọng. Rất có thể nhờ đó, ta kéo họ ra khỏi tình trạng ấy, nhờ sức
mạnh của Chúa ban cho họ qua sự thăm viếng của ta.
Đem Chúa đến cho người mình thăm viếng, không có nghĩa
là mình phải nói thật nhiều thật hay về Chúa cho họ nghe. Có những người
nói về Chúa rất nhiều rất hay nhưng lại không có Chúa ở trong mình. Chúa
là tình thương, mình chỉ mang Chúa đến cho họ, khi chính mình thật sự yêu
thương họ bằng một tình yêu chân thực. Đức Maria có nói gì về Chúa với bà
Êlisabét đâu, thế mà cả hai mẹ con vui khôn tả! Ta chỉ mang Chúa đến cho
người khác khi ta muốn làm hiện thân của Chúa đến với họ.
3. Hãy là hiện thân
của Chúa khi đi thăm viếng
Thiên Chúa yêu thương nhân loại vô cùng, nên Ngài đã đến
với con người trong lịch sử, cách đây 2000 năm, để cứu độ và đem hạnh phúc
đến cho mọi người và từng người. Khi còn tại thế, Ngài đã đến thăm nhiều
người, săn sóc nhiều người, cải hóa nhiều người, biểu lộ tình yêu thương
cho nhiều người. Nhưng vì nhập thể làm người, Ngài bị giới hạn trong không
gian và thời gian, Ngài chỉ sống tại thế có 33 năm, chỉ quanh quẩn trong
đất nước Do Thái, và chỉ có thể tiếp xúc được với một số rất ít người.
Nhưng tình yêu vô biên và phổ quát của Ngài khiến Ngài muốn tiếp xúc với
tất cả mọi người trên trần gian, để phục vụ, săn sóc họ, từng người một.
Ngài không thể làm điều đó bằng chính thân xác của Ngài. Vì thế, Ngài muốn
nhờ chính ta làm điều ấy. Ngài muốn trở thành chính bản thân ta để làm
những công việc ấy, và ta có thể giúp Ngài được toại nguyện ý đó.
Ngài muốn dùng chính bản thân ta để thăm viếng những
người ta quen biết, yêu thương. Ngài muốn an ủi, vỗ về, khuyến khích,
khuyên lơn, cảnh tỉnh họ bằng miệng lưỡi của ta. Ngài muốn săn sóc, làm
việc phục vụ họ bằng chính bàn tay của ta. Ngài muốn yêu thương họ bằng
chính trái tim của ta. Ngài muốn quan tâm tới họ bằng chính tâm trí của
ta. Qua ta, Ngài muốn biểu lộ tình thương vô biên của Ngài cho họ. Muốn
thế, Ngài mong muốn ta trở thành hiện thân của yêu thương, thứ yêu thương
bằng hành động chứ không phải chỉ bằng lời nói. Ta có là hiện thân của
tình thương, thì ta mới trở nên hiện thân của Ngài. Và chính lúc ấy, ý
muốn của Ngài là yêu thương phục vụ họ mới được thỏa mãn hoàn toàn.
Vấn đề là ta có muốn trở nên hiện thân của Ngài hay
không. Ngài không bao giờ muốn ép buộc ta, thúc bách ta, nhưng luôn luôn
mời gọi ta. Ta có nghe thấy tiếng Ngài mời gọi không? Nếu có, hãy đáp lại
lời mời ấy một cách quảng đại. Đó là cách chứng tỏ cụ thể nhất rằng ta yêu
mến Ngài. Yêu mến Ngài thì phải yêu thương giống như Ngài, chứ không phải
yêu Ngài bằng cách dâng lên Ngài thật nhiều thánh lễ, đọc thật nhiều kinh
kệ, và quỳ hàng giờ trước nhà tạm. Nếu ta yêu Ngài thật sự, thì hãy yêu
Ngài, phục vụ Ngài trong những người anh chị em gần gũi ta.
4. Hãy yêu thương bằng hành động cụ thể
Maria rất yêu thương người chị họ mình. Ta chỉ biết được
điều ấy khi thấy Maria vừa biết tin chị mình mang thai là vội vã lên đường
đi thăm chị, bất chấp đường xá xa xôi và tình trạng sức khỏe bất bình
thường của mình. Tình yêu ấy không chỉ dấu kín trong lòng, mà được biểu lộ
thành hành động. Đúng là «yêu nhau tam tứ núi cũng trèo, thất bát sông
cũng lội, cửu thập đèo cũng qua».
Tình yêu tuy ẩn sâu kín đáo trong lòng mỗi người không
ai thấy được. Nhưng nếu là tình yêu đích thực thì nó luôn luôn được biểu
lộ ra ngoài thành những ánh mắt trìu mến, cử chỉ yêu thương, lời nói dịu
dàng, và nhất là thành sự quan tâm, giúp đỡ, hy sinh thật sự cho người
mình yêu. Tình yêu đòi hỏi phải biểu lộ ra, chứ không giữ kín bên trong.
Tình yêu dấu kín trong lòng là tình yêu đáng nghi ngờ. Nếu «đức tin
không có hành động là đức tin chết» (Gc 2,17.26), thì một cách tương
tự, tình yêu không được biểu lộ cụ thể là tình yêu giả hiệu. Chính «Thiên
Chúa, Đấng cứu độ ta, đã biểu lộ lòng nhân hậu và lòng yêu thương
của Người đối với nhân loại» (Tt 3,4), và «Tình yêu của Thiên Chúa
đối với ta được biểu lộ như thế này: Thiên Chúa đã sai Con Một đến
thế gian để nhờ Con Một của Người mà ta được sống» (1Ga 4,9). Vì thế,
ta hãy biểu lộ tình yêu của mình đối với mọi người bằng những cử chỉ, lời
nói và hành động cụ thể.
Tình yêu đích thực đòi hỏi phải năng gặp nhau, nhất là
những lúc người mình yêu có chuyện vui hoặc buồn. Đức Phật nói: «Yêu mà
không được ở gần nhau thì sẽ đau khổ». Tục ngữ có câu: «Nhất nhật
bất kiến như tam thu hề!». Vì thế, đi thăm viếng nhau là đòi hỏi của
tình yêu đích thực, là biểu lộ sự quan tâm đến nhau. Vì thế, ta hãy năng
thăm viếng những người ta yêu mến. Mà đã là người Kitô hữu, tất nhiên ta
có rất nhiều người mình phải yêu mến, nhất là những người lâm cảnh đau
khổ, túng thiếu, những người lâm vào thế kẹt, những người cần ta tới thăm
viếng hơn cả. Trong gia đình tự nhiên cũng như trong cộng đoàn Kitô hữu,
đến thăm nhau là một cách tuyệt vời để biểu lộ tình yêu thương, bác ái của
Kitô giáo.
Về mục lục >

HAI KINH DÂNG ĐỨC MẸ
LTS:
Cuối tháng hoa kính Đức Mẹ,
Maranatha xin gửi đến độc giả hai kinh dâng Đức Mẹ sau đây. Kinh
thứ nhất là do Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II soạn thảo để kết thúc
Thông Điệp «Tin Mừng Sự Sống»
(Evangelium Vitae). Kinh thứ hai là một kinh khá xưa (vì vẫn còn các từ
như «trót mình», «thầy cả», «kẻ có
đạo») nhưng vẫn còn được đọc trong nhiều nhà thờ vì tâm tình thâm thúy
và ý nghĩa mang tính thời sự. Chúng tôi ghi lại để tín hữu công giáo
Việt Nam bắt đầu đọc kinh mới đồng thời không quên đi những kinh thời
xưa cũ, những kinh dệt lên truyền thống Kitô giáo Việt Nam.
1. Kinh cầu nguyện cho Tin Mừng Sự Sống.
Lạy Mẹ Maria,
là hừng đông của
thế giới mới,
là Mẹ những người sống,
Chúng con dâng lên Mẹ cuộc sống
này.
Lạy Mẹ, xin hãy nhìn xem
hàng hàng lớp lớp
những trẻ em mà người ta không
cho phép ra đời
những người nghèo sống cuộc sống
khó khăn
những người nam người nữ nạn
nhân của bạo lực phi nhân
những người già nua và bệnh hoạn
bị giết chết do sự dửng dưng hay
lòng thương xót giả tạo.
Xin cho những người tin vào Con
Mẹ
biết loan báo cho nhân loại ngày
nay,
một cách xác tín và yêu thương,
Phúc Âm của Sự Sống.
Xin ban cho họ ơn biết đón nhận
Phúc Âm này,
như một ân ban luôn luôn mới mẻ.
Xin ban cho họ niềm vui tôn vinh
Phúc Âm này,
với lòng biết ơn, suốt đời họ.
Và xin ban cho họ lòng can đảm
làm chứng cho Phúc Âm này,
một cách kiên trì tích cực, hầu
xây dựng,
cùng với mọi người thiện chí,
nền văn minh của sự thật và tình
thương,
Để ca ngợi vinh quang Chúa,
là Đấng Tạo Dựng quí yêu sự
sống. Amen
2. Kinh Dâng Mọi Người Nước Việt Nam Cho Đức Bà.
Lạy rất thánh Đức Bà là Mẹ Đức Chúa Trời và là Mẹ chúng
con; nay chúng con sấp mình xin dâng cho Mẹ rất nhân từ trót mình chúng
con là thân sức, sự sống, các việc làm và mọi sự thuộc về chúng con. Lại
chúng con cũng lấy lòng con cái mà dâng cho Đức Mẹ mọi miền trong dân nước
Việt Nam này. Trước là xin Đức Mẹ là Mẹ các thầy cả cùng các kẻ giúp việc
giảng đạo Thánh để mọi Đấng Bậc được lòng sốt sắng, làm gương sáng và chịu
khó lập công cho bền lòng, lại xin làm Mẹ các bổn đạo và phù hộ cho các
con cái hằng được thêm nhiều và tấn tới đi đàng nhân đức một ngày một hơn.
Sau hết, xin làm Mẹ các kẻ còn đi đàng lạc mà đưa về sự sáng thật là đạo
thánh Đức Chúa Trời, chờ gì hết mọi người trong nước Việt Nam này, nhờ máu
cực châu báu Con Đức Mẹ đã đổ ra mà cứu chuộc, và nhờ công nghiệp Đức Mẹ
cầu bầu mà được tìm đến cùng Trái Tim Cực Trọng Đấng Cứu Thế là cội rễ sự
nên lành nên thánh, để sau nên một đoàn chiên theo một Chúa Chiên.
Đức Mẹ phù hộ kẻ có đạo, cầu cho chúng con.
Đức Mẹ thông ơn Thiên Chúa, cầu
cho chúng con.
Nữ Vương nước Việt Nam ngự trên
trời, cầu cho chúng con.
Về mục lục >

TRUYỀN
THÔNG GIA ĐÌNH
Sông Thu
Cha mẹ cũng như các cơ sở công ích cần biết cách sử dụng
truyền thông với «khôn ngoan và thận trọng». (Zenit.org,
23-5-2004)
Giáo chủ
Gioan-Phaolô II đã nói lời trên, trong một thông điệp hôm nay, Ngày Truyền
Thông Thế Giới, trùng hợp với cử hành trọng thể Lễ Chúa Lên Trời, tại Giáo
đô, Ý Đại Lợi.
Trước khi cùng đông đảo tín hữu và du khách hành hương
[tụ tập tại quảng trường Thánh Phêrô, dưới cơn mưa nhẹ hạt thơ mộng]
nguyện kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng (Regina Caeli), Cha Già Tinh Thần với
84 tuổi hạc hồng ân, đã nói vắn tắt về ý nghĩa lễ trọng Thăng Thiên «mạc
khải cho biết nhân loại, sau khi được Đức Kitô thừa nhận và cứu rỗi, đã
được Ngài nâng lên tới sự hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa thế nào».
(The solemnity of Ascension «reveals how humanity, assumed and redeemed
by Christ, has been raised by him to full communication with God».)
Trước Ngày Thế Giới Truyền Thông, Giáo Chủ đã công bố
một thông điệp có tựa đề «Truyền Thông trong Gia Đình: Một Hiểm Nguy và
một Giàu Có» (The Media in the Family: A Risk and A Richness)
Ngài phát biểu vào trưa nay:
«Nhờ các kỹ thuật hiện đại, nhiều hộ gia đình có thể
tiếp cận cách trực tiếp các nguồn truyền thông và thông tin mênh mông, và
có được từ chúng một cơ hội cho việc giáo dục, sự tài bồi phong phú và
phát triển tâm linh».
[«Thanks to modern technologies, many family
households can access directly the vast resources of communication and
information, and obtain from them an occasion for education, enrichment
and spiritual growth».]
Nhưng, ngài đã nhắc nhớ các tín hữu rằng, «các phương
tiện truyền thông, tuy vậy, có thể gây ra sự thiệt hại nghiêm trọng cho
gia đình khi chúng trình bày một quan điểm đời sống, chính gia đình, tôn
giáo và luân lý không thích đáng hay ngay cả bị bóp méo, xuyên tạc».
[«The means of communication, however, can occasion
serious damage to the family when they present an inadequate or
even distorted view of life, the family itself, religion and morality».]
Từ cửa sổ phòng làm việc của mình, Tôi tớ của các tôi tớ
(Servitor servitorum) đã cảnh cáo:
«Vì thế, cần thiết phải học sử dụng chúng với minh
triết và thận trọng».
[«It is necessary, therefore, to learn to use them
with wisdom and prudence».]
Đó là «một nhiệm vụ, trên hết, liên can tới các phụ
huynh, có trách nhiệm đối với việc giáo dục lành mạnh và thăng bằng các
con cái».
[«A duty that, above all, concerns parents,
responsible for the healthy and balanced education of the children».]
Công tác «cũng là thẩm quyền của các cơ sở công ích,
được kêu gọi khởi xướng các thủ tục và các qui định có khả năng bảo đảm
rằng, các phương tiện truyền thông xã hội luôn luôn tôn trọng chân lý và
thiện ích chung».
[The task «is also the competence of public
institutions, called to initiate procedures and regulations capable of
ensuring that the means of social communication are always respectful of
truth and of the common good».]
Giáo chủ Gioan-Phaolô II cũng đã tập trung chú ý của
mình vào các cá nhân làm truyền thông, mà cho họ «trong những ngày này
trước lễ Hiện Xuống, chúng tôi khẩn cầu Đức Maria ban tặng phẩm Chúa Thánh
Thần, hầu Ngài sẽ giúp mọi người hoạt động trong ngành truyền thông xã hội
thi hành công việc của mình với nỗ lực tông đồ chân thật».
[«In these days preceding Pentecost, we invoke Mary
for the gift of the Holy Spirit, so that he will help all those who work
in the sector of social communication to carry out their work with genuine
apostolic drive».]
Ngài nói những lời kết thúc: Giáo hội «nhìn
tới các người làm truyền thông chuyên nghiệp với chăm lo và yêu mến»;
và Giáo hội «ước muốn thiết lập với họ một cuộc đối thoại thẳng thắn và
cởi mở, khích lệ dấn thân cho sự tiến bộ xác thực của nhân loại».
Về mục lục >