LINH ĐẠO NHƯ
LÀ MỘT CUỘC ĐẤU TRANH
ĐỂ SỐNG NGHÈO
Aloysius Pieris, S.J.
(Trần Duy Nhiên dịch)
Mâu thuẫn đối lập giữa Thiên Chúa
và tiền của
(Mt 6,24)
hay chính xác
hơn, giữa
Abba
và
Mammon (hai từ
ngữ Aram
mà các
tác
giả nhất
lãm
chỉ đặt trên
môi Đức Giêsu,
quá
súc tích nên không
thể dịch được)
là
cái nhân sống – động của sứ điệp
Tin Mừng được trình
bày trong bài giảng trên núi. Sự
thân mật càng lớn lên đối với
Abba
và sự chối bỏ
liên tục đối với
Mammon
là
nét đặc trưng của toàn bộ sứ mệnh của Đức Giêsu nơi trần
thế. Người
là giao ước của chúng
ta với Thiên Chúa.
Ai
đã
ký hiệp ước với
Mammon
thì bị loại khỏi tình nghĩa với
Abba,
«vì không
ai
làm tôi hai
chủ». Chàng thanh niên giàu
có được đòi hỏi khi
trở nên nghèo trước khi
trở nên
môn đệ của người
(Mt 49, 21). Vương quốc Đức Giêsu
rao giảng – nghĩa
là
ơn cứu độ Người trao
ban – không dành cho người giàu
(Lc 6,20,24) –
hay
ít
ra rất khó
khăn đối với họ
trừ
phi Thiên Chúa
can thiệp bằng phép lạ để giúp họ từ bỏ của cải
mà
đi vào vương quốc
(Mt 19,23-26). Nếu
đó
là niềm xác
tín của Đức Giêsu
thì
có
gì
đáng ngạc nhiên
vì Người phải
dùng đến vũ lực khi thấy tiền của
làm
ô uế
tôn giáo thời Người
đang sống
(Ga 2,13-17)?
Trong
văn học về khổ hạnh Kitô giáo, cả sự từ bỏ của cải bề ngoài
lẫn
thái độ phục tùng Thiên Chúa
bên trong đều được
hàm chứa trong từ
ngữ «nghèo khó». Thánh I-Nhã Loyola dường như
tóm lược toàn bộ linh đạo của Đức Giêsu trong từ
ngữ duy nhất
đó. Trong từ vựng của ngài, sự phó
dâng của cải mình cho người nghèo
và sự phó
dâng
ý riêng mình cho Thiên Chúa lần lượt
thể hiện như
«sự nghèo khó thực tiễn»
và
«sự nghèo khó tinh thần» (Linh thao 98, 146,
147). Nếu hiểu
theo nghĩa động
là ‘đấu tranh’
hơn
là nghĩa tĩnh của Hy lạp
là ‘nhân đức’, nghèo khó
là từ
ngữ bao quát nhất
dùng để trình
bày
ý nghĩa của «biến cố Giêsu» –
nó giải thích cho chúng
ta những
thái độ của Đức Kitô, sự chọn lựa của Người, cách xử sự của
Người, tất cả những
gì
đã kết thành cấu trúc nhân loại của sứ mệnh cứu
thế của Người trên mặt đất. Hiểu được điều
đó
là biết Người; thực hành điều
đó
là
theo Người.
Tuy nhiên, nghèo khó không
đơn thuần
là việc
phủ nhận của cải vật chất, bởi
vì
Mammon
là một
cái
gì lớn
hơn
là tiền của hiểu
theo nghĩa hẹp –
nó
là một mãnh lực tinh tế
tác động
bên trong tôi, một bản ngã chiếm hữu tôi thúc đẩy tôi thành
người giàu
có khờ dại
mà Đức Giêsu chê trách trong dụ ngôn người
chủ đất muốn
phá các kho thóc của mình để xây những kho thóc khác lớn
hơn
(Lc 12,13-21). Hoặc nữa,
Mammon
là những
gì tôi
làm với tiền của
và những
gì tiền của
đã
làm cho tôi, những
gì
mà cả hai hứa hẹn
và
đem đến cho tôi ở cuối đường: sự
yên ổn
và thành
công, quyền lực
và
thế giá – những sở hữu
làm cho tôi cảm thấy mình
có đặc quyền.
Nó
làm cho tôi
ngỡ rằng mình
có một khả năng đặc biệt để lãnh đạo. Thậm
chí tôi
có
thể cảm nghiệm được một sự thỏa
mãn không
thể nào cưỡng nổi rằng sau
này mình sẽ được kính trọng
và được
tìm kiếm để
làm một người hướng dẫn, một bậc thầy
(guru), hoặc được chọn để
gây ảnh hưởng trên người khác – cố nhiên,
vì vinh quang Thiên Chúa
và sự cứu rỗi các linh hồn – phương thức lãnh đạo
này chính
là điều
đã
đem đến cuộc khủng hoảng đức
tin của Đức Giêsu đối với
Cha, đặc biệt
là khi Người
ý thức quyền lực của Thiên Chúa trào lên từ nơi sâu thẳm
trong
lòng Người; khi
bàn
tay Người chạm đến đâu
là chữa lành đến
đó, khi tiếng nói của Người
vang lên đầy quyền uy,
và khi
đám
đông xôn xao tuôn chạy đến
tìm Người.
Chẳng phải Người chính
là bậc thầy của
Israel, chính
là nhà lãnh đạo quần chúng, chính
là ngôn sứ của Thiên Chúa
và biết đâu, chính
là đấng Messia
mà mọi người hằng mong đợi sao?
Thêm vào
đó, hình ảnh của nhà lãnh đạo đầy đặc sủng
đã bị
bóp
méo đến độ không
còn nhìn
ra được
do những người tự vỗ ngực xưng
tên.
Theo
Flavius
Joseph, họ tuyên bố rằng Thiên Chúa sẽ ủng hộ sự lựa chọn
đấng Messia của họ bằng cách
làm những việc lạ
lùng trước mặt quân thù, như Thiên Chúa
đã
làm khi Môsê đến nói chuyện với Pharaô – ngoài
ra
còn
có cả một phong trào quần chúng
hăng
say sẵn
sàng
đón tiếp nồng nhiệt các loại chính
phủ «tiên
tri»
đầy tính phô trương
này.
Nên chú
ý rằng, khi Đức Giêsu bị nhóm Biệt Phái
và nhóm Sađuxê dụ dỗ đưa
ra một dấu hiệu từ trời để chứng tỏ rằng Thiên Chúa
đã chọn Người, Người gạt bỏ lời đề nghị. Người gọi những kẻ
cám dỗ
này
là
«thế hệ tội lỗi
và ngoại tình».
Và khi nhắc đến Giona, Người cho biết rằng uy quyền
chỉ được chứng tỏ sau khi người
đã bị
lăng nhục đến tận cùng trước mặt quân thù
(Mt 16, 1-4). Thời gian
đó, Đức Giêsu
đang trải
qua giai đoạn được gọi
là «khủng hoảng ở Galilê». Tiếng
tăm của người
lu mờ dần
và sự
cô
đơn của Người ngày càng sâu lắng. Người dần
dà
ý thức rằng «Người
đã thất bại trong sứ mệnh
theo
ý nghĩa
mà trước
kia Người
đã từng hiểu»
và
đã chiến thắng chước
cám dỗ ngược lại
là
rút lui vào
bóng tối
do
tác động
quá mạnh của phản ứng ngược chiều.
Giờ
đây, Người
đã từ bỏ mọi hy vọng được nhìn thấy thành tựu của sứ mệnh
Người. Ngoài
con đường Người phải chết như một nạn nhân của
cái trật tự
đang thắng
thế của
Mammon, không
còn
con đường nào khác để cho trật tự mới của Thiên Chúa lộ
diện.
Thế
là người bắt đầu nói không
úp mở về thập giá, không
chỉ nói như
con đường dành riêng cho Người,
mà
còn
là
con đường duy nhất mở
ra cho những
ai
dám cùng
đi với Người tiến vào vương quốc. Nhân loại mới không được
hoàn tất
qua uy quyền
và
thế lực, nhưng
qua yếu
hèn
và thất bại nhục nhã. Hình ảnh nhà lãnh đạo
Israel nổi danh nhường
chỗ cho hình ảnh người đầy tớ đau khổ của Giavê. «Những
gì
mà loài người đánh giá cao
thì
đáng khinh bỉ dưới
cái nhìn của Thiên Chúa», Người nhắc lại như
thế cho nhóm Biệt Phái, những người yêu thích tiền của
và «cười vào mặt Người»
vì những điều Người dạy về Thiên Chúa
và
Mammon (Lc16,13-15).
Quan điểm mới
này cần được xác định
trở lại và sự lựa chọn
này cần lặp
đi lặp lại nhiều lần trong cuộc đời của Người
(Mt 20,20-28;
Mc 8,31;
Lc 9,51-54;
Ga 6,15; 18,36)
và đặc biệt vào những
giờ
phút quyết định cuối cùng của sứ mệnh Người trên mặt đất
(Mc 14,32;
Mt 26,52-53) khi người phải phó
dâng
ý riêng của mình cho
Abba,
Cha Người. Bởi
vì Người
đã đấu tranh để loại
trừ ngay cả
cái
dáng dấp của một hình ảnh Messia
giả hiệu.
Trở về Muc Lục