NHỮNG SUY
TƯ
VÀ HIỂU BIẾT CỦA
CON NGƯỜI
VỀ THIÊN CHÚA
Nguyễn Chính Kết
1. Những
gì
con người biết về Thiên Chúa
là vô cùng
ít
so với những
gì họ không biết về Ngài
Qua
dòng lịch sử,
ta thấy
con người ngày càng hiểu biết
nhiều
hơn về đủ mọi phương diện. Nhưng
càng biết nhiều,
con người càng khám
phá
ra sự bao
la của những
gì mình chưa biết: «Càng
biết nhiều, càng thấy mình dốt». Những
gì
con người
đã biết giống như diện tích
bên trong một vòng
tròn,
còn những
gì chưa biết giống như diện
tích bao
la
bên ngoài vòng
tròn. Vòng
tròn càng
nhỏ
thì phần tiếp xúc với
bên ngoài vòng
tròn càng
nhỏ, vòng
tròn càng lớn
thì phần tiếp xúc với
bên ngoài vòng
tròn càng lớn. Tương tự, người
ta khi biết
ít
thì thấy những điều mình chưa
biết cũng
ít, nhưng càng biết nhiều
thì khám
phá
ra những điều mình chưa biết
càng nhiều lên.
Thế giới vật chất tuy hữu hạn,
nhưng
con người khám
phá suốt mấy chục
thế kỷ
mà vẫn không hết. Trái lại, càng
khám
phá
thì càng nhận
ra những điều mình chưa biết
nhiều lên gấp bội.
Thế
thì những
gì
con người biết về Thiên Chúa,
Đấng vô hạn, lại càng
nhỏ
bé gấp triệu triệu lần
hơn nữa khi
so với những điều họ chưa biết
về Ngài! Tuy nhiên, Ngài vẫn tiếp tục cho
con người biết về Ngài. Ngài
đã tự mặc khải cho
con người
qua vũ
trụ,
qua các ngôn sứ,
qua Đức Giêsu,
và hiện
nay vẫn tiếp tục
qua Thánh Thần của Ngài. Nhưng
nhiều khi
con người tự
mãn về những hiểu biết của mình
về Ngài, nên
con người
đã không biết
thêm về Ngài được bao nhiêu
so với những
gì
con người biết về
thế giới vật chất.
2. Thiên Chúa mặc
khải về Ngài một cách rất tiệm tiến
Nếu kiến thức về vật chất hữu hạn
này
mà
con người không
thể tiếp thu một lúc
mà phải tiếp thu dần dần
qua thời gian mấy chục
thế kỷ,
thì những kiến thức về Thiên
Chúa vô hạn cũng
thế:
con người
chỉ
có
thể tiếp thu dần dần
qua thời gian.
Vì
thế, trước khi từ giã các
tông đồ, Đức Giêsu nói: «Thầy
còn nhiều điều phải nói với anh
em. Nhưng
bây
giờ, anh
em không
có sức chịu nổi».
Có lẽ Ngài cũng muốn nói như
Đức Phật: Điều
ta
đã nói
ra
so với điều
ta biết
chỉ như nắm
lá trong
tay
so với
lá của cả khu rừng.
Khi mặc khải cho
con người, Đức Giêsu tương tự
như một thầy dạy toán cho học
sinh cấp một, ông không
thể nhồi nhét hết kiến thức
toán học trong đầu ông cho các
em trong một hai
năm được. Ông phải
chờ các
em tiêu hóa hết những điều mình
đã dạy rồi mới dạy tiếp những
kiến thức khác.
Và thường
là ông phải nhường cho những
ông thầy khác dạy tiếp cho các
em trong những
năm sau. Đức Giêsu cũng vậy,
Ngài
còn rất nhiều điều phải nói về
Thiên Chúa cho các
tông đồ, cho
con người, nhưng không
thể nói hết được,
vì các
tông đồ cũng như
con người «không
có sức chịu nổi», nghĩa
là không
thể tiếp thu hết được.
Nay Ngài không
thể tiếp tục ở trần
thế để mặc khải về Thiên Chúa
cho
con người, Ngài phải
nhờ người khác tiếp nối
công việc ấy. Người ấy chính
là Thánh Thần.
Ngài nói: «Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh
em tới sự thật toàn vẹn».
Nhưng Thánh Thần không mặc khải cho
con người bằng lời nói
rõ
ràng như Đức Giêsu,
mà
theo cách riêng của Ngài,
là linh hứng cho
con người.
Con người phải thích ứng với
cách của Ngài.
3.
Thái độ cần
có để tiến bộ trong hiểu biết
Để tiếp nhận
thêm kiến thức, người học trò
cần phải nhận
ra rằng mình
còn rất nhiều điều chưa biết.
Ai nghĩ rằng những điều mình
đã học
là tất cả,
là đầy đủ rồi,
thì không
thể hiểu biết
thêm được nữa. Cũng vậy, nếu
con người cho rằng những
gì mình biết về Thiên Chúa
đã
quá đầy đủ rồi, không cần biết
thêm,
thì
con người sẽ tự
mãn
và dậm chân tại
chỗ về mặt
tâm linh. Nếu
con người
hay Giáo Hội cho rằng hình
thái
mà mình
đang
có
là hoàn hảo rồi, không cần phải
đổi mới
gì hết,
thì Thánh Thần dù
có muốn đổi mới
và
thăng tiến Giáo Hội cũng gặp
rất nhiều khó
khăn.
Người học trò cấp một được thầy dạy rằng không được lấy số
nhỏ
trừ số lớn; điều
đó thật hợp
lý với khối
óc
nhỏ
bé của
em. Nhưng khi lên cấp hai, nếu
em cứ nhất định rằng không
thể lấy số
nhỏ
trừ số lớn,
thì
em không
thể học lên cao được,
vì ở cấp hai người
ta bắt đầu
dùng số
âm. Cũng vậy, tại cấp hai, thầy
giáo dạy rằng không được để số
âm trong
căn hiệu bậc chẵn,
vì điều
đó
là
phi
lý. Nhưng khi học giải tích về
số ảo,
thì số
âm trong
căn hiệu bậc chẵn
là điều bình thường
và hữu
lý. Nếu học
sinh cứ nhất định cho những
gì mình
đã biết
là chân
lý không
thể thay đổi,
thì
em không
thể tiến cao
hơn được. Việc hiểu biết về sự
vật hữu hạn
mà
còn đòi hỏi phải
«phá chấp» như
vậy mới tiến bộ được, chẳng lẽ muốn tiến bộ trong việc hiểu biết Thiên Chúa vô
hạn lại chẳng phải
«phá chấp»?
4. Không nên tự
mãn về những
gì
đã biết
hay
đã
có
Nhìn vào sự tiến triển về vật chất, chúng
ta
có
thể nhận
ra mình cần phải
làm
gì để tiến bộ về
tâm linh. Khi
con người
có được chiếc
xe đạp, nếu họ tự
mãn rằng
thế
là đủ rồi,
và cho
đó
là hết cỡ rồi,
thì sẽ không bao
giờ họ
phát minh được
xe gắn
máy
hay
xe hơi. Muốn tiến triển,
con người phải cải thiện không
ngừng về kiến thức. Rất nhiều điều
con người
thế hệ trước cho
là
đúng
và khó
có
thể khác được,
thì
thế hệ sau không
còn cho
là
đúng nữa. Nhiều định luật mới
đã
phủ định hoặc bổ túc những định
luật
cũ, các
giả thuyết
cũ cũng được hoàn chỉnh bằng
những
giả thuyết mới. Chính
nhờ
ý thức mình
còn thiếu,
còn phải thay đổi
mà
con người tiến bộ. Nếu cứ khư
khư
giữ những quan niệm
cũ, cho
đó
là những chân
lý không
thể thay đổi,
thì
con người ngày
nay
làm sao
có được những
máy
vi tính, những điện thoại
di động, những mạng lưới điện
toán
(internet), những phương tiện
di chuyển tối
tân?
Nhân loại
phát triển
và tiến bộ được
là
do
có những người
dám xét lại những quan niệm
cũ
mà mọi người đều
đã cho
là
đúng.
Nhờ
đó họ
đã đưa
ra được những quan niệm mới
đúng
hơn. Những người
đó nhiều khi phải
trả giá rất đắt cho sự đổi mới
táo bạo ấy. Họ thường bị người
đồng thời kết
án
là
phá hoại. Nhưng nếu không
có những
con người
táo bạo ấy,
con người sẽ dậm chân tại
chỗ,
và sẽ không
có tiến bộ.
5. Luật của Chúa
nhưng lại được lập
ra cho
con người
Hiện
nay, trong Giáo Hội,
có những điều
mà rất nhiều người cho
là những chân
lý bất biến,
là luật của Thiên Chúa,
là truyền thống của Giáo Hội,
là
tông truyền… nên không bao
giờ được thay đổi. Họ rất
có
lý. Nhưng thiết tưởng cần phải
phân biệt giữa chân
lý
và cách hiểu
hay diễn tả chân
lý. Chân
lý
thì bất biến, nhưng cách hiểu
hay diễn tả chân
lý
thì thay đổi tùy
theo trình độ hiểu biết của
con người. Tương tự như bản
chất của sự vật
thì không hề thay đổi, nhưng
cách hiểu
và diễn tả của
con người về sự vật
thì mỗi thời mỗi khác.
Nếu đọc Thánh Kinh,
ta sẽ thấy
có những điều
mà
con người nghĩ rằng không bao
giờ thay đổi, nhưng rồi cuối
cùng cũng
đã thay đổi. Quả thật, luật của
Môsê được người
Do
Thái quan niệm
là luật của Thiên Chúa, nên họ
tưởng luật
đó sẽ được
áp dụng cho cả nhân loại đến
muôn đời. Nhưng thật
ra, luật
đó
chỉ được
áp dụng khoảng 1300
năm cho người
Do
Thái, nghĩa
là tính từ khi
có Môsê đến thời các
tông đồ.
Vì đến thời các
tông đồ, chính các
tông đồ được Thánh Thần soi
sáng
đã tuyên bố bãi bỏ luật Môsê
(x.
Cv 15,1-29).
Vì
thế, hiện
nay, người Kitô hữu trong Giáo
Hội đâu phải tuân
giữ luật Môsê,
mà
chỉ tuân
giữ luật yêu thương của Đức
Giêsu
và luật Giáo Hội thôi. Nếu luật
Môsê
là luật của Thiên Chúa
mà
con người, dưới
tác động của Thánh Thần,
đã từng thay đổi,
thì
còn luật nào trên
thế giới
này lại tuyệt đối không
thể thay đổi?
Vả lại, luật của Thiên Chúa, cho dù
do Thiên Chúa lập
ra,
thì cũng lập
ra cho
con người: «Ngày sabát được
dựng nên cho
con người,
chứ không phải
con người được dựng nên cho
ngày sabát»
(Mc 2,27).
Mà
con người
thì luôn luôn biến đổi, nên
luật cho
con người cũng phải biến đổi
mới
có
thể phù hợp với
con người từng thời đại. Quan
niệm về Thiên Chúa cũng vậy. Nếu quan niệm thời Cựu ước về Thiên Chúa
đã bị thay đổi,
thì liệu quan niệm của chúng
ta hiện
nay về Thiên Chúa
có
thể không thay đổi chăng?
Khi
con người cố chấp vào một điều
nào
đó
mà không chịu lắng nghe Thánh
Thần,
thì
con người sẽ không
theo kịp Thánh Thần,
và
có nguy
cơ chống lại Thánh Thần. Các
tư tế, kinh sư
Do
Thái xưa chính
vì
quá cố chấp vào lề luật, vào
những điều họ cho
là chân
lý bất biến, nên họ
đã không
theo kịp
và không tiếp nhận được những
đổi mới của Thánh Thần
qua Đức Giêsu
và các
tông đồ. Cuối cùng họ
đã giết chết các Ngài. Họ
đã cản
trở những đổi mới của Thánh
Thần. Họ
đã phạm đến Thánh Thần:
«Ai phạm đến
Con Người
thì được tha; nhưng
ai phạm đến Thánh Thần sẽ chẳng
được tha, cả đời
này lẫn đời sau»
(Mt 12,32).
Nhiều khi chúng
ta phải hồi
tâm tự hỏi xem: sự
phát triển của Giáo Hội về chất
lượng cũng như số lượng trong những
thế kỷ
qua
có khả quan không? Chúng
ta
có
thể hài
lòng về sự
phát triển ấy không?
Có
phát triển như
lòng Thiên Chúa
hay Thánh Thần mong muốn không?
Nếu không
thì tại sao? Giáo Hội
có cần phải thay đổi để
phát triển
hơn nữa không?
Trở về Muc Lục