Số 8, Ngày 18-6-2004

 

Thư Tòa Soạn

Thiên Chúa Yêu Thế Gian - Lm. Giuse Trần Ngọc Thao, CSsR

Hãy Trở Nên Những Mục Tử Tốt Lành - Nguyễn Chính Kết

Chúc Mừng Ngày Nhận Lãnh Tác Vụ Linh Mục - Trần Duy Nhiên

Thiên Chúa Cũng Đau Khổ - Huyền Vi

Hàng Rào Bảo Vệ - Hoàng Quý

Lời Cha  - Maranatha dịch

Chuyện Một Người Cha - trích LA Daily News

Thành Quả Chuyến Tông Du của Đức Gioan-Phaolô II tại Thụy Sĩ - Sông Thu

Thư Bạn Đọc

 

 

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn        

Thưa Quý Độc Giả ,

Trong ngày mừng kính trọng thể lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu, thứ sáu 18-6, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II mời gọi «Thế giới cầu nguyện xin ơn thánh hóa các linh mục». Sau đây  câu chuyện liên quan đến ơn gọi linh mục: một bức tượng nọ trình bày một nhà điêu khắc, một tay cầm búa, một tay cầm đục, đang khắc một trái tim. Pho tượng ấy được đặt tên là:Chân dung người linh mục”. Người ta hỏi sao, tác giả pho tượng trả lời: “Linh mục người khắc trái tim của Chúa Giêsu vào lòng tha nhân”. Khi nghe lời giải thích này, một linh mục cải chính: “Đây đúng chân dung của linh mục, nhưng linh mục không phải nhà điêu khắc. Nhà điêu khắc chính Chúa Giêsu, người linh mục ch cái đục trong tay Ngài.” vị linh mục giải thích thêm: Cái đục phải sắc bén ngoan ngoãn trong tay nhà điêu khắc thì tác phẩm mới hoàn hảo; người linh mục phải thánh thiện vâng phục trong tay Chúa Kitô thì mới khắc được trái tim của Ngài vào lòng tín hữu. Ngày nào cái đục không bị búa đập lên đầu thì ngày ấy không ích lợi cả; ngày nào người linh mục không bị những thử thách giáng xuống cuộc đời mình thì ngày ấy trái tim của Chúa Kitô chưa được ghi khắc trong lòng của bất cứ một ai.

Vâng! Thánh Tâm Chúa Giêsu luôn thể hiện cho người khác thông qua những đau đớn âm thầm linh mục của Chúa phải lãnh nhận. Lời cầu nguyện Giáo Hội mong tín hữu khắp nơi dâng để xin Thiên Chúa thánh hóa các linh mục, chính xin cho các ngài trở thành những người sẵn sàng chọn lựa để chia sẻ cuộc khổ nạn của Chúa Kitô, hầu cho Thánh Tâm Chúa Giêsu được đặt vào nơi nhà tạm Chúa mong muốn nhất, ấy giữa trái tim của mỗi một con người. khi các linh mục chia sẻ trọn vẹn cuộc tự hủy của Chúa Kitô, thì chính lúc ấy các ngài đem đến sức sống của Chúa trở nên người ‘cha’ của những kẻ mình đã tác sinh trong Thần Khí.

Một trùng hợp thú vị: chúa  nhật 20 tháng 6 cũng Ngày Thân Ph (Father’s Day). Kitô hữu đến với Cha trên trời bằng đời sống th đời sống thần thiêng. Nói cách khác, Kitô hữu chỉ sống trọn vẹn sự sống của Thiên Chúa Cha khi đã được sự sống từ người cha th người cha thiêng liêng. Kitô hữu Việt Nam, dù ở tình huống nào, cũng vẫn thấy vang lên tự đáy lòng: Công Cha như núi Thái Sơn...”

Chính thế, Maranatha tuần này dành nhiều trang để nói đến tâm tình con thảo đối với Chúa Cha, đồng thời  cũng nói lên những mong mỏi đối với hai người cha dưới đất; để cho dân Chúa mỗi ngày mỗi tiến đến gần hơn với Cha trên trời.  Qua những trang này, Maranatha tiếp tục cuộc  hành trình với anh chem Giáo Dân để cảm nhận được bằng trí, tình cảm tâm linh, chiều kích của những người luôn phải sống tuân phục với cách những người con, đồng thời cũng phải trưởng thành để biết rằng ý nghĩa của thiên chức làm cha luôn xuất phát từ Thiên Chúa Cha.

 

MARANATHA

Về mục lục >

 

 NGÀY THẾ GIỚI THÁNH HÓA CÁC LINH MỤC

 “THIÊN CHÚA YÊU THẾ GIAN ...” (Ga 3,16)

Lm. Giuse Trần Ngọc Thao. DCCT

LTS: Linh mục Giuse Trần Ngọc Thao, nguyên Giám Tỉnh Giám Đốc Học Viện Dòng Chúa Cứu Thế Việt nam. Hiện nay, cha Bề Trên Chánh Xứ Giáo Xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, Kỳ Đồng. Sau đây bài giảng trong Thánh Lễ Tạ Ơn của tân Linh Mục Gioan Baotixita Nguyễn Minh Phương vào ngày 22 tháng 02 năm 2004.

Tin Mừng: Lc 6,27-38 (CN VII TN)

I- Linh Mục và “thế gian”

Cách đây 186 năm, một linh mục 32 tuổi mặc áo chùng đen cũ đã bạc mầu lững thững bước vào con đường làng nhỏ bé, mang theo một chiếc giỏ đựng quần áo và một số đồ dùng. Không có ai tháp tùng; chẳng một người ra đón. Một lúc sau, khi gặp một trẻ em đang đứng ở dọc đường, ngài hỏi thăm đường dẫn tới nhà thờ. Đứa trẻ chỉ tay về một nơi xa xa, rồi cùng đi vài bước với ngài... Đó là cha Gio-an Ma-ri-a Vi-a-nê lãnh sứ vụ linh mục được ba năm. Ngài hỏi thăm đường tới nhà thờ ở Ars, 35 cây cách thành phố Lyon, để lãnh trách nhiệm làm cha xứ mới của làng đó. Hiện nay, một tượng đài được xây lên, ở phía trên có tượng cha xứ họ Ars, tay phải giơ lên chỉ trời cao, mắt nhìn đứa trẻ; dưới chân hai tượng có ghi “con đã chỉ cho cha đường tới Ars; cha sẽ chỉ cho con đường về trời”. Vị linh mục đầy thiện chí, khắc khổ, với tinh thần siêu nhiên bước vào một hoang địa, một thế giới bị tục hoá, lãnh đạm thờ ơ với con người chuẩn bị sống với họ... Thế giới đó một phần nào giống như thế giới thù nghịch. Cha Gio-an Ma-ri-a Vi-a-nê cứ can đảm tiến bước, đi vào môi trường giá lạnh đó, không ngã lòng, vẫn sống với những con người sống xa Thiên Chúa, sống xa cách mình.

Thế giới thù nghịch bao gồm tất cả những con người vì não trạng, vì cuộc sống theo xu hướng tự nhiên, vì sự thiếu hiểu biết về mặt tôn giáo, không chấp nhận sự có mặt của linh mục, dị ứng với mọi hình thức Ki-tô giáo, không đón nhận mạc khải và lời rao giảng về mạc khải, không chịu uốn nắn đời mình theo đòi hỏi của Tin Mừng, không muốn thay đổi nếp sống cũ...

Trong những hoàn cảnh cụ thể đó, linh mục không thể không sống trong bầu khí căng thẳng, vì bị đặt trong thế “người hùng cô đơn”, phải đương đầu với sức đề kháng của “thế gian” thù nghịch.

Nhưng Thiên Chúa muốn cho mọi người được cứu độ (1Tm 2,4), Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Người, để phàm ai tin vào Con của Người thì có sự sống đời đời (Ga 3,16). Đức Ki-tô cũng yêu thương Hội Thánh (Ep 5,25), nuôi nấng và chăm sóc Hội Thánh (Ep 5,29), hiến mình vì Hội Thánh (Ep 5,25). Mà Hội Thánh không chỉ gồm những con người hoàn hảo, thánh thiện. Chính vì mối tương quan đặc biệt mà Thiên Chúa và Đức Ki-tô dành cho nhân loại và Hội Thánh, chính vì ý định cứu độ phổ quát của các Ngài về nhân loại, mà linh mục cứ phải tiến vào những môi trường chông gai đó, cứ phải đến gặp và sống với những con người đó, cứ phải kiên trì lo công tác làm chứng rao giảng Tin Mừng cứu độ. Hơn bao giờ hết, Lời Chúa trong Tin Mừng hôm nay lại vang lên: “Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em”, hãy yêu thế gian thù nghịch, hãy yêu những con người không muốn tiếp xúc với chúng ta, hãy yêu những con người không chịu nghe chúng ta.

Nhiều khi linh mục còn đứng trước những con người đưa ra những yêu sách không chính đáng và không mấy thiện cảm với linh mục, với Ki-tô giáo. Sự kiện này đòi hỏi linh mục phải khôn ngoan trong cách phản ứng và đối xử, kiên trì chịu đựng và vững tâm lo nhiệm vụ đã nhận. Ác tâm của con người không thể là lý do khiến linh mục bỏ cuộc. Ý định của Thiên Chúa giao phó trách nhiệm cho linh mục và muốn cho linh mục thực hiện bằng mọi giá công tác đó mới là yếu tố quan trọng đòi linh mục phải tiếp tục sứ mạng trong mọi hoàn cảnh.

Cũng khi linh mục phải nghe những yêu sách sự thật chính đáng đau đớn về con người cách làm mục vụ của mình. Đó những lời mời gọi sửa sai về mặt nhân bản trong nếp sống, cách đối xử với tha nhân; đó cũng lời mời gọi thay đổi cách hoạt động, phương pháp mục vụ. Khi ấy, thái độ phục thiện điều cần thiết cho một công tác mục vụ hữu hiệu, cho ơn cứu độ của người khác của chính linh mục. Về mặt tự nhiên, những nhận xét đó thể được coi như xuất phát từ những con người thù nghịch với mình. Nhưng theo cái nhìn của đức tin, Thiên Chúa Đức Ki-tô dùng những hoàn cảnh đó để gây ý thức, để lay tỉnh tâm hồn của linh mục, làm cho linh mục phải giật mình bừng tỉnh dậy...

II- “ Anh em muốn người ta làm cho mình, thì hãy làm cho người ta như  vậy” (Lc 3,31)

 Hôm nay, Chúa Giê-su  cũng muốn dùng một lời trong Lc 6,31 để dạy các linh mục, những con người dấn thân để phục vụ Tin Mừng của Thiên Chúa: “Anh em muốn người ta làm gì cho mình, thì hãy làm cho người ta như vậy”.

Theo xu hướng tự nhiên, ai cũng yêu mình hơn hết, ai cũng ước mong người khác đối xử tử tế với mình, làm những điều tốt lành cho mình; và điều tốt lành cao quý hơn cả, đó là ơn cứu độ, là phần rỗi của con người. Hôm nay, Đức Giê-su cũng muốn  cho linh mục hết mình xả thân phục vụ tất cả mọi người, nhất là trong lãnh vực cứu độ. Phục vụ ơn cứu độ: đó là nhiệm vụ cần thiết và khẩn cấp! Lo cho hết mọi người: đó là ý định cứu độ phổ quát của Thiên Chúa theo 1Tm2,4: “Thiên Chúa muốn cho mọi người được cứu độ”. Lo cho hết mọi người, kể cả những người nghịch thù với cá nhân linh mục và Hội Thánh: đó là mệnh lệnh của Đức Giê-su: “Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em” (Lc 6,27; x. 6,35a).

III- “Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại” (Lc 6,38).

Đức Giê-su Ki-tô còn nhấn mạnh trong bài Tin Mừng hôm nay: “Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại” (Lc 6,38). Linh mục đã nhận biết bao hồng ân của Thiên Chúa: ơn làm người, ơn được làm con Thiên Chúa và bao ân huệ khác, cách riêng ơn được tuyển chọn làm người lãnh nhận chức linh mục để thi hành sứ vụ linh mục.

Linh mục lĩnh nhận chức linh mục trong nghi lễ Đức Giám mục trao ban sứ vụ (thường được gọi “lễ phong chức”, “lễ truyền chức”). Chức linh mục thuộc một loại riêng biệt; thế, không thể coi linh mục như người “từ bụi tro Chúa nâng con lên hàng khanh tướng”(x. bài hát “Từ ngàn xưa Cha đã yêu con”) hoặc người được “nên bạn tâm phúc từ đây giữa hàng khanh tướng quyền uy”(x. bài hát “Tình yêu Thiên Chúa”), “hàng khanh tướng” hàng quan văn, quan võ trong triều đình vua. Chức linh mục không thuộc thế giới này, do không thuộc một tổ chức trần gian nào, cũng chẳng tương đương với hàng khanh tướng, hàng quan văn quan võ trong triều đình vua. Chức linh mục thuộc thế giới linh thiêng, chức do Thiên Chúa ban nhưng không cho phàm nhân mục đích cứu độ. Như thế, chúng ta không quyền dừng lại ở chức linh mục, ở địa vị linh mục, nhưng phải đi tới sứ vụ linh mục. Thi hành sứ vụ linh mục để phục vụ con người về mặt cứu độ. phục vụ hạ mình xuống như người tôi tớ (Mc 10,44) để lo cho người khác, để làm ích cho họ. Không dừng lại ở chức linh mục, ở địa vị linh mục, nhưng phải đi tới sứ vụ linh mục: làm như thế, chúng ta không làm khác Đức Giê-su Ki-tô, Đấng “vốn Thiên Chúa không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế”(Pl 2,6-7); làm như thế, chúng ta không làm khác Con Người Đấng đãđến không phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người”(Mc 10,45).

Anh em hãy cho”: đó là lời kêu gọi linh  mục đáp lại bao hồng ân đã nhận trong cuộc đời, đặc biệt là ơn được phục vụ cộng đoàn dân Chúa, ơn được thi hành sứ vụ linh mục! Như thế, linh mục được mời gọi cống hiến cho những người được ngài phục vụ, tất cả những gì thuộc sứ mạng linh mục: lời Chúa, công việc rao giảng, giáo huấn, công cuộc bồi dưỡng và củng cố đức tin, việc cử hành và ban các bí tích cũng như cung cấp mọi phương tiện cứu độ khác ... Công cuộc phục vụ đó sẽ được thực hiện cách nào ? Tác giả Tin Mừng thứ nhất theo Thánh Mát-thêu lặp lại lời Đức Giê-su đã nói với các Tông Đồ trước khi các ông được sai đi rao giảng: “Anh em được cho không, thì cũng phải cho không như vậy” (Mt 10,8). “Cho không” là xả thân vô vụ lợi cho tha nhân, không nhắm tư lợi trần thế (địa vị, chức quyền ...) hay lợi ích cho nhóm của mình. Linh mục sẽ không được ngại hy sinh, vất vả, không sợ mất thời giờ, mất sức lực vì ơn cứu độ của tha nhân ...

IV- “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo” (Ga 2,5)

Trong thời gian chuẩn bị cho ngày lễ nhận sứ vụ linh mục và các thánh lễ tạ ơn, cha mới chọn lời sau đây để ghi trên thiệp mời: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo” (Ga 2,5). Lời này, nằm trong trình thuật về tiệc cưới Ca-na theo Tin Mừng IV là lời Đức Ma-ri-a nói với các gia nhân dọn đường cho dấu lạ biến nước thành rượu, sau khi Người nhận thấy thiếu rượu và xin Đức Giê-su, Con của Người, can thiệp. Đức Mẹ, người Mẹ nhân lành, hằng muốn cho con cái của mình luôn lắng nghe lời Chúa, ý của Chúa. Đó là thái độ linh mục phải có trong suốt thời gian thi hành sứ vụ, để có thể đáp ứng đúng yêu cầu của Thiên Chúa, của Đức Ki-tô và thực sự thành công: linh mục là người tôi tớ của Lời khi sống sứ mạng của sứ giả rao giảng Tin Mừng cứu độ, quản lý các mầu nhiệm của Thiên Chúa (1Cr 4,1).

V- Lời cầu chúc.

Cha mới thân mến,

Hôm nay, trong bầu khí tràn ngập niềm vui và hy vọng này, cộng đoàn dân Chúa hướng về cha, nghĩ tới sứ mạng cao cả, nhưng rất khó khăn và phức tạp của cha. Chắc chắn, ai nấy đều đồng tâm nhất trí cầu nguyện nhiều cho cha, kể từ giai đoạn khởi đầu của đời sống linh mục, và còn tiếp tục cầu nguyện, xin Thiên Chúa và Đức Ki-tô ban phúc lành cho cha để cha luôn sống sứ mạng linh mục theo lòng Thiên Chúa mong ước, nhằm đáp ứng những nhu cầu khẩn cấp của Hội Thánh Việt Nam và các linh hồn tất bạt. Ở sau cha, để hỗ trợ và hậu thuẫn cho cha, có tất cả cộng đoàn dân Chúa: anh em trong Dòng, các thân nhân, các linh mục tu sĩ, bà con giáo dân và các thân hữu khác.

Cầu chúc cha: 

* không ngừng có một tấm lòng nhân hậu đối với mọi người, nhất là trong một thế giới  ngày càng có xu hướng sống xa Thiên Chúa và Ki-tô giáo,

* luôn nhiệt thành lo cho ơn cứu độ,

* luôn tận tâm và đại độ cho đi,

* không ngừng lãnh trách nhiệm của người tôi tớ của Lời, của sứ giả Tin Mừng cứu độ.

Cầu chúc cha can đảm “chèo ra chỗ nước sâu”, can đảm ra khơi mà thả lưới bắt cá (Lc 5,4), và luôn nói với Chúa: “Dựa vào lời Thầy, con sẽ thả luới” (Lc 5,5) .

Về mục lục>

HÃY TRỞ NÊN NHỮNG MỤC TỬ TỐT LÀNH
THEO GƯƠNG ĐỨC GIÊSU

Nguyễn Chính Kết

1. Người mục tử trong nếp sống của người Do Thái xưa

Đức Giêsu tự xưng mình là «mục tử tốt lành» (x. Ga 10,1-18), và Ngài quả thật là gương mẫu tuyệt hảo cho mọi chủ chăn trong Giáo Hội, từ giáo hoàng xuống đến linh mục, và cả những người lãnh đạo lớn nhỏ ngoài xã hội nữa. Để hiểu được ý nghĩa của hai chữ «mục tử» trong lời tự xưng của Đức Giêsu và trong bài Tin Mừng liên hệ (Ga 10,1-18), chúng ta cần trở về với nếp sống của người Do Thái thời Đức Giêsu.

Thời ấy, chiên được nuôi theo bầy hàng trăm con tại những đồng cỏ xanh. Mục tử hay người chăn chiên đi theo bầy chiên và cùng sống với chiên ngày này qua ngày khác. Ban ngày, mục tử dẫn đàn chiên đi từ đồng cỏ này đến đồng cỏ khác để chiên ăn cỏ. Ban đêm, để tránh trộm cướp hay thú hoang, và để tránh mưa tránh rét, mục tử đưa chiên vào một nơi an toàn được gọi là «ràn chiên», thường là một hang đá hay một khu đất trống có hàng rào bằng đá hoặc bằng cây bao quanh. Người chăn chiên ngủ ngay trong ràn chiên để bảo vệ chiên, và thường ở ngay cửa ràn. Mục tử và đàn chiên vì thế gắn bó với nhau rất mật thiết. Mục tử chỉ biết có chiên của mình, và chiên cũng chỉ biết và chỉ đi theo mục tử của mình, không chịu theo bất kỳ ai khác.

2. Ý tứ của Đức Giêsu khi nói về người «mục tử tốt lành»

Khi nói về người «mục tử tốt lành», Đức Giêsu muốn nói với người Pharisêu, sau khi đối chất với họ về việc Ngài chữa lành người mù từ thuở mới sinh (Ga 9). Nên nhớ: những người Pharisêu là những người lãnh đạo tinh thần trong Do Thái giáo, tức đóng vai trò mục tử đối với đàn chiên. Qua đoạn Tin Mừng này, Ngài muốn cho họ thấy hai thái độ trái nghịch nhau giữa Ngài và họ trong cách đối xử với dân chúng hay các tín đồ tôn giáo. Sự trái nghịch nhau đó được thể hiện qua cách ứng xử với người mù bẩm sinh.

a) Cách ứng xử của người Pharisêu:

Khi thấy người mù được chữa lành, thay vì mừng cho anh ta đã thoát khỏi điều bất hạnh vô cùng lớn lao, những người Pharisêu lại có một thái độ thù nghịch và bực tức. Họ tỏ ra không có một chút tình yêu, lòng thương xót hay sự cảm thông nào đối với người mù được Đức Giêsu chữa lành. Trái lại, họ đã dùng lề luật để bắt bẻ vị ân nhân đã chữa lành bệnh cho anh ta, đồng thời gây khó dễ cho anh và gia đình anh vì việc được chữa lành ấy. Đối với dân chúng, họ không giống như người mục tử đích thực đối với đàn chiên, mà giống như người chăn chiên thuê. Kẻ chăn chiên thuê không yêu thương gì chiên, vì chiên không phải là của hắn (x. Ga 10,1213).

Vì thế, trong tôn giáo, những người Pharisêu lợi dụng chức vụ lãnh đạo, hướng dẫn để ăn trên ngồi trốc, đè đầu đè cổ dân chúng (x. Mt 23,56). Họ giảng dạy toàn những điều tốt nhưng chỉ để cho dân chúng làm, chứ không phải để họ làm (x. Mt 23,23). Họ giảng dạy điều tốt vì chức vụ họ đòi buộc phải làm như vậy, chứ không phải vì lòng yêu mến sự thiện mà giảng dạy. Đức Giêsu đã tố cáo việc họ lợi dụng tôn giáo để bóc lột người nghèo, người cô thân cô thế trong xã hội (23,4.14). Nhưng họ vẫn muốn được mọi người tôn trọng, ca tụng, suy tôn, nên phải giả bộ đạo đức, phải làm những việc tốt để khoa trương (23,5), và muốn mọi người gọi mình là «Rabbi» hay «Thầy» (23,6).

b) Cách ứng xử của Đức Giêsu

Đức Giêsu có một thái độ khác hẳn, một thái độ nhân từ đầy yêu thương đối với mọi người, được thể hiện một cách cụ thể trong việc Ngài chữa lành người mù. Ngài sống và hành động vì tình yêu chứ không vì lề luật. Tình yêu và lòng thương xót của Ngài đã thúc bách Ngài bất chấp luật sabát, bất chấp sự phản đối và bực tức của người Pharisêu về việc lỗi luật của Ngài, bất chấp những hậu quả rất bất lợi có thể xảy đến cho Ngài. Ngài sẵn sàng hy sinh bản thân để xoa dịu đau khổ, để làm mọi người hạnh phúc.

Qua đoạn Tin Mừng này, Đức Giêsu muốn cho người Pharisêu thấy thái độ của họ đối với dân chúng, với các tín đồ tôn giáo mà họ dẫn dắt chẳng khác gì thái độ của kẻ trộm cướp, của kẻ chăn thuê đối với đàn chiên: chỉ muốn lợi dụng đàn chiên chứ không hề yêu thương chúng. Còn thái độ của Ngài mới là thái độ người mục tử đích thật: Ngài yêu thương đàn chiên đến nỗi sẵn sàng «hy sinh mạng sống mình cho đàn chiên» (Ga 10,11). Nhưng rất tiếc là «họ không hiểu những điều Người nói với họ».

3. Mục tử tốt lành (mục tử thật) và kẻ trộm cướp (mục tử giả)

Trong bài Tin Mừng về người mục tử tốt lành, Đức Giêsu đưa ra một tiêu chuẩn để phân biệt mục tử và kẻ trộm cướp. Mục tử thì đi vào ràn chiên bằng cửa ràn, nghĩa là với phong thái «đường đường chính chính». Còn kẻ trộm hay kẻ cướp thì không qua cửa nhưng trèo qua lối khác mà vào, với phong thái lén lút, giả dối, không đàng hoàng. Mà cửa ràn chiên, theo bài Tin Mừng này, lại cũng chính là Đức Giêsu: «Tôi bảo thật các ông: Tôi là cửa cho chiên ra vào». Vậy để là mục tử đích thật, người mục tử phải qua Đức Giêsu mà đến với đàn chiên, nghĩa là phải là người yêu mến Thiên Chúa, và phục vụ đàn chiên vì Ngài, không vì một động lực nào khác.

Thật vậy, đã là mục tử chân chính thì tư tưởng, lời nói, hành động lúc nào cũng phải bộc lộ được tính «quang minh chính đại», hay «đường đường chính chính», luôn luôn thẳng thắn, trung thực, đáng tin. Người mục tử chân chính ít ra phải là một người quân tử. Nếu tư tưởng, lời nói và hành động như một kẻ tiểu nhân, thích quanh co, lén lút, dối trá, sợ sự thật… thì không xứng đáng làm mục tử. Hơn thế nữa, người mục tử chân chính phải có một tình yêu to tát, để có thể hy sinh đến tận cùng cho những người mà mình lãnh đạo, hướng dẫn.

Đương nhiên để thực hiện ý định của mình, kẻ trộm cướp – những kẻ không có tình yêu đối với chiên nhưng lại muốn hưởng những quyền lợi của người mục tử – phải giả làm mục tử. Hắn tìm đủ mọi cách để chiên đi theo mình. Nhưng chiên «không chịu theo người lạ, mà chạy trốn, vì chúng không nhận biết tiếng người lạ», không cảm nhận được tình thương của hắn. Vì mục tử giả hay kẻ chăn thuê chỉ biết nghĩ đến bản thân mình, đến cái lợi của mình, không nghĩ gì đến chiên, nên «khi thấy sói đến, hắn bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn» (Ga 10,12). Người mục tử đích thực thì yêu thương chiên, sống vì chiên, và sẵn sàng «hy sinh mạng sống mình cho đàn chiên» (Ga 10,11) «để cho chiên được sống và sống dồi dào» (10,10).

4. Đức Giêsu là mục tử tốt lành

Ngoài mục đích đối chất với bọn Pharisêu, Đức Giêsu còn dùng hình ảnh rất quen thuộc ấy đối với người Do Thái để diễn tả sự yêu thương gắn bó giữa Ngài và chúng ta, những kẻ theo Ngài. Như mục tử tốt lành yêu thương và chăm sóc chiên mình thế nào, Ngài cũng yêu thương chăm sóc chúng ta như vậy. Ngôn sứ Êdêkien đã dùng hình ảnh người mục tử với đàn chiên để diễn tả tương quan giữa Đấng Mêsia và dân của Ngài: «Ta sẽ cho xuất hiện một mục tử để chăn dắt chúng; nó là tôi tớ của Ta: chính nó sẽ chăn dắt chúng; chính nó sẽ là mục tử của chúng» (Ed 34,23). Ngài chính là người mục tử được Thánh Vịnh mô tả: «Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì. Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ. Người đưa tôi tới dòng nước trong lành và bổ sức cho tôi. Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính vì danh dự của Người. Lạy Chúa, dầu qua lũng âm u con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng. Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm. Chúa dọn sẵn cho con bữa tiệc ngay trước mặt quân thù. Đầu con, Chúa xức đượm dầu thơm, ly rượu con đầy tràn chan chứa. Lòng nhân hậu và tình thương Chúa ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời, và tôi được ở đền Người những ngày tháng, những năm dài triền miên» (Tv 23).

Vì thế, khi ý thức được Đức Giêsu luôn chăm sóc mình như người mục tử tốt lành chăm sóc đàn chiên, người Kitô hữu có thể hết sức an tâm trước tất cả mọi giông tố, thử thách trong cuộc đời. Chúng ta hãy tin tưởng vào tình thương vô biên và chân thật của Ngài, và an tâm phó thác mọi sự cho Ngài, kể cả mạng sống, hạnh phúc của mình. Nhờ đó cuộc đời ta luôn luôn bình an, vui tươi, hạnh phúc, và Tin Mừng chúng ta rao giảng mới đúng là Tin Mừng đích thực (Tin thật sự đáng mừng!)

Đoạn Tin Mừng về người «mục tử tốt lành» của Đức Giêsu trong bối cảnh phát sinh đoạn Tin Mừng này cho thấy: trong Giáo Hội cũng như ngoài xã hội, luôn luôn có những mục tử tốt (mà Đức Giêsu là gương mẫu và điển hình) và mục tử xấu (mà rất đông các kinh sư Do Thái và người Pharisêu là điển hình).

5. Mục tử – tốt và xấu – trong xã hội và Giáo Hội

Xã hội hay tôn giáo nào cũng đều có tổ chức, cơ cấu, trong đó luôn luôn phải có những người lãnh đạo, điều khiển. Trong lịch sử Do Thái, những người lãnh đạo dân chúng được gọi là mục tử (x. Gr 10,21; Ed 37,2324): chẳng hạn như vua Saun, vua Đavít. Kitô giáo, vốn tiếp nối truyền thống Do Thái, cũng gọi những người lãnh đạo trong Giáo Hội (như linh mục, mục sư, giám mục, hồng y, giáo hoàng) là mục tử.

Những mục tử hay những người lãnh đạo ấy thường được xã hội hay tôn giáo tạo cho những điều kiện thuận lợi và trao cho những phương tiện hữu hiệu để có thể thi hành hữu hiệu công việc lãnh đạo đó: chẳng hạn địa vị, chức vụ, quyền bính, tiền bạc, tiếng nói… Những điều kiện và phương tiện này là một thứ dao hai lưỡi. Nó có thể giúp các mục tử hay các nhà lãnh đạo phục vụ dân chúng hay các tín hữu hữu hiệu hơn. Nhưng nó có thể làm tha hóa, biến chất các mục tử khi sử dụng nó. Và nó cũng có thể bị những kẻ lắm tham vọng tìm cách đạt tới để lợi dụng nó, để phục vụ cho những tham vọng hay lợi ích cá nhân của mình, của gia đình hay phe nhóm mình.

Như vậy, chiếu theo thái độ đối với những điều kiện và phương tiện mà xã hội hay tôn giáo dành cho những người lãnh đạo hay mục tử, ta có thể có 2 loại mục tử tương ứng:

Mục tử tốt: là những người lãnh đạo thật sự có ý hướng phục vụ dân chúng hay các tín hữu, chứ không nhằm lợi ích cho riêng mình. Họ sử dụng những điều kiện hay phương tiện mà xã hội hay Giáo Hội trao cho để hoàn toàn phục vụ tha nhân và công ích.

Mục tử xấu: là những người lãnh đạo không nhắm phục vụ dân chúng, mà nhắm đạt được những điều kiện và phương tiện thuận lợi kia để hưởng thụ hoặc chỉ để thăng tiến bản thân, thỏa mãn những tham vọng riêng tư.

Loại sau này còn bao gồm những mục tử bị tha hóa, là những người lãnh đạo khởi đầu có ý hướng tốt, nhưng khi tiếp xúc hay sử dụng những điều kiện hay phương tiện xã hội trao cho, thì bị chúng hấp dẫn, mê hoặc và làm cho biến chất, để cuối cùng trở thành những mục tử xấu.

6. Mục tử tốt xấu trong Thánh Kinh Tin Mừng.

Khi nói về người «mục tử tốt lành» (Ga 10,1-18), Đức Giêsu mô tả và đối chiếu hai loại mục tử nói trên: một loại được gọi là mục tử tốt lành, còn loại kia là kẻ chăn chiên thuê.

a) Mục tử tốt lành.

Mục tử tốt lành thì: «hy sinh mạng sống mình cho đàn chiên» (Ga 10,11.15; x. 10,17-18), «tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi… chúng sẽ nghe tiếng tôi» (10,14.16). Đức Giêsu tự nhận mình chính là mục tử loại này. Trong Thánh Kinh có rất nhiều câu mô tả những đức tính tốt của những mục tử tốt lành, mà chính Thiên Chúa là mô hình gương mẫu nhất:

yêu thương, trìu mến chiên với tất cả tâm hồn: «Chúa tập trung cả đàn chiên dưới cánh tay: lũ chiên con, Người ấp ủ vào lòng, bầy chiên mẹ, cũng tận tình dẫn dắt» (Is 40,11).

– yêu quí từng con chiên, một con cũng như cả trăm con: «Ai có một trăm con chiên mà có một con đi lạc, lại không để chín mươi chín con kia trên núi mà đi tìm con chiên lạc sao? Và nếu may mà tìm được, người ấy vui mừng vì con chiên đó, hơn là vì chín mươi chín con không bị lạc» (Mt 18,12-13).

– lo cho chiên, tạo những điều kiện tốt đẹp cho chiên: «Ta sẽ chăn dắt chúng trong đồng cỏ tốt tươi và chuồng của chúng sẽ ở trên các núi cao. Tại đó chúng sẽ nằm nghỉ trong chuồng êm ái, sẽ đi ăn trong những đồng cỏ mầu mỡ» (Ed 34,14).

– làm chiên sống no ấm, hạnh phúc: «Chúa chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì» (Tv 23,1); làm chiên luôn vững dạ vì được bảo vệ: «Dầu qua lũng âm u con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng. Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm» (23,4).

– tinh thần trách nhiệm rất cao: «Con nào bị mất, Ta sẽ đi tìm; con nào đi lạc, Ta sẽ đưa về; con nào bị thương, Ta sẽ băng bó; con nào bệnh tật, Ta sẽ làm cho mạnh; con nào béo mập, con nào khoẻ mạnh, Ta sẽ canh chừng» (Ed 34,16).

– cứu thoát, giải phóng đàn chiên: «Thiên Chúa sẽ cứu thoát dân Người, như mục tử cứu thoát đàn chiên» (Dc 9,16).

Tóm lại, người mục tử tốt lành thật sự yêu thương đàn chiên, sẵn sàng hy sinh cho sự an nguy và hạnh phúc của đàn chiên. Thậm chí như Đức Giêsu, người mục tử tuyệt vời nhất, sẵn sàng hy sinh cả mạng sống mình: coi sự sống còn của đàn chiên quý hơn cả sự sống mình.

b) Kẻ chăn chiên thuê hay mục tử xấu.

Kẻ chăn chiên thuê hay mục tử xấu thì: «không thiết gì đến chiên» (Ga 10,13), «khi thấy sói đến liền bỏ chiên mà chạy: sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn» (10,12). Thánh Kinh cũng có nhiều câu mô tả hạng mục tử này với những đặc tính:

– vô trách nhiệm: «Con chiên nào mất, nó chẳng quan tâm; con thất lạc, nó chẳng đi tìm; con bị thương, nó không chạy chữa; con mạnh khoẻ, nó chẳng dưỡng nuôi» (Dc 11,16a); «Chiên đau yếu, các ngươi không làm cho mạnh; chiên bệnh tật, các ngươi không chữa cho lành; chiên bị thương, các ngươi không băng bó; chiên đi lạc, các ngươi không đưa về; chiên bị mất, các ngươi không chịu đi tìm» (Ed 34,4)

– chỉ nghĩ tới hưởng thụ, sẵn sàng bóc lột: «Sữa các ngươi uống, len các ngươi mặc, chiên béo tốt thì các ngươi giết, mà đàn chiên lại không lo chăn dắt» (Ed 34,3). Thậm chí bóc lột đến tận xương tủy: «Con nào béo thì chúng ăn thịt, rồi lóc luôn cả móng» (Dc 11,16b)

– ích kỷ, vụ lợi, đầy tham vọng: «Chúng là lũ chó đói, ăn chẳng biết no. Thế mà chúng lại là mục tử! Cả bọn – chẳng trừ ai – chỉ mưu tìm lợi lộc cho riêng mình» (Is 56,11).

– tàn bạo, độc ác, thích quyền hành, ham thống trị: «Các ngươi thống trị chúng một cách tàn bạo và hà khắc» (Ed 34,3); «Các ngươi đã xua đuổi và chẳng lưu tâm gì đến chúng» (Gr 23,2b).

– tác hại vô cùng đến đàn chiên: «Các ngươi đã làm cho đàn chiên của Ta phải tan tác» (Gr 23,2).

Tóm lại, mục tử xấu coi đàn chiên chỉ là phương tiện, bắt chúng phải hy sinh phục vụ cho lợi ích riêng tư, cho tham vọng quyền lực của mình, không một chút tình thương đối với chúng. Nhưng kết cục của hạng mục tử này rất bi thảm: «Khốn cho mục tử vô tích sự đã bỏ mặc đàn chiên. Gươm sẽ chặt đứt tay nó, sẽ chọc mắt phải của nó. Cánh tay của nó sẽ khô đét, và mắt phải của nó sẽ mù loà» (Dc 11,17); «Khốn thay những mục tử làm cho đàn chiên Ta chăn dắt phải thất lạc và tan tác (…) các ngươi đã xua đuổi và chẳng lưu tâm gì đến chúng. Này Ta sẽ để ý đến các hành vi gian ác của các ngươi mà trừng phạt các ngươi. Đó là sấm ngôn của Đức Chúa» (Gr 23,1-2).

7. Hãy trở nên những mục tử tốt lành

Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu tự xưng mình là «mục tử tốt lành», luôn yêu thương đàn chiên và sẵn sàng hy sinh mạng sống mình vì đàn chiên. Ngài tự xưng như thế không phải để chúng ta nể phục cho bằng để chúng ta bắt chước, để chúng ta noi gương Ngài trong công việc «mục tử» của chúng ta. Chúng ta thường giới hạn ý nghĩa của từ «mục tử» này, đến nỗi chỉ áp dụng nó cho những người lãnh đạo tôn giáo. Thật ra, tất cả những ai đảm trách việc lãnh đạo, từ một gia đình đến một phường, một tỉnh, hay một quốc gia, từ một hội đoàn, một xứ đạo, đến một giáo phận, một giáo hội địa phương hay Giáo Hội toàn cầu, một cách nào đó, đều có thể gọi là mục tử.

Ước chi mọi mục tử đều biết thật sự yêu thương đàn chiên của mình và lãnh đạo chúng một cách sáng suốt! Ước chi mọi cha mẹ đều yêu thương con cái, mọi cha xứ đều sẵn sàng hy sinh phục vụ giáo dân, mọi giám mục đều hết lòng chăm sóc các linh mục và giáo dân dưới quyền mình! Ước chi mọi vị lãnh đạo xã hội và đất nước biết quên những quyền lợi riêng tư để nghĩ đến lợi ích chung của dân chúng!

Mọi quốc gia, mọi giáo hội, đều rất cần những vị minh quân, những mục tử tốt lành. Cần hơn cả việc có thật đông những cá nhân tài giỏi, xuất sắc. Câu chuyện sau đây minh họa điều đó.

Có hai người thuộc hai quốc gia nói chuyện với nhau:

– «Tôi rất khâm phục đất nước anh, vì nước anh có rất nhiều anh hùng».

– «Thế đất nước anh có nhiều anh hùng không?»

– «Rất tiếc, đất nước tôi ít anh hùng lắm!»

– «Lạ nhỉ, đất nước tôi nhiều anh hùng thế mà sao vẫn cứ nghèo nàn và lạc hậu, dân chúng thì đói khổ và cùng cực. Còn đất nước anh không có anh hùng mà sao lại phát triển và giàu có như vậy?»

– «À, đất nước tôi thì bù lại, được một ít vị là minh quân!»

Thì ra chỉ cần một vị minh quân – hay mục tử tốt lành – thì cũng đủ quí giá và ích lợi cho đất nước và Giáo Hội hơn là có nhiều anh hùng hay cá nhân xuất sắc!

Cầu mong cho đất nước và Giáo Hội Việt Nam có được những minh quân, hay những mục tử tốt lành thật sự!

Về mục lục >

THƯ CHÚC MỪNG NGÀY NHẬN LÃNH TÁC VỤ LINH MỤC.

 

Trần Duy Nhiên

Kính gửi:

Cha Phêrô Trần Văn Minh

Cha Giuse Trần Văn Trung

Cha Phêrô Nguyễn Công Tuấn,

Thưa cha,

Được tin cha sắp sửa được nhận chức thánh, con gửi đến cha thư này với hy vọng rằng mình là người đầu tiên chúc mừng cha trên giấy trắng mực đen.

Dù gửi thư này đến ba cha, nhưng con vẫn viết ‘thưa cha’ để nói chuyện với từng cha một. Có lẽ phản ứng đầu tiên của cha là ‘chột dạ’ khi nghe con gọi cha là ‘cha’ và xưng là ‘con’, vì con nghĩ rằng hôm nay và sau này cha không bao giờ tự xưng là ‘cha’ đối với một người mà cha từng gọi là ‘sư phụ’. Tuy nhiên, con viết lên với tiếng xưng hô này, vì hai lý do:

  • 1. Giáo dân chúng con luôn kính trọng chức thánh mà Giáo Hội trao phó cho cha. Và dù muốn dù không, cha đã và phải trở nên ‘người cha’, nghĩa là người sinh hạ và nuôi dưỡng những người con trong Thần Khí.

  • 2. Mai này, mọi người sẽ gọi cha là ‘cha’ - thậm chí cả các bậc sinh thành cha - và dần dần cha thấy rằng mình đương nhiên là ‘cha’ mọi người, không có gì phải bàn cãi cả; vì thế con muốn ngay từ bây giờ cha hãy ‘làm cha’ trong sự khiêm tốn của một người ‘làm cha’ ngay cả thầy mình.

Lá thư chúc mừng này sẽ được viết dưới dạng một bài suy niệm. Cha đã chọn một châm ngôn và hẳn cha đã dành nhiều năm tháng để suy nghĩ và sống lời tâm niệm của mình; tuy nhiên, theo lời đề nghị của cha Tuấn, và trong tinh thần hiệp thông, con muốn cùng suy niệm những đoạn ấy với cha trong lúc này, là lúc cha sắp bước lên bàn thánh.

Cha Minh đã chọn Lc 4,18: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong cho tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn.” Sau đoạn này, Chúa Giêsu đã công bố: “Hôm nay ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe” (Lc 4, 21). Chưa bao giờ trong đời cha mà lời này đúng cho bằng ngày cha sấp mình trước bàn thánh để chuẩn bị nhận ‘dầu tấn phong’ của Thần Khí Chúa, qua Giáo Hội, từ bàn tay của Đức Giám Mục GP Xuân Lộc. Lời loan báo của Isaia đã trở thành hiện thực nơi Chúa Kitô, và 2000 năm sau, trở thành hiện thực trong con người của cha, để từ đấy cha có quyền và bổn phận phải nói một cách khiêm nhường nhưng xác tín rằng: “tôi là một ALTER CHRISTUS”.

Cha sẽ nói với tất cả hiên ngang, với lòng cảm tạ tri ân nhưng cũng với cái nhìn quyết liệt của Chúa Kitô khi hướng tới ngày mai; không phải hướng đến cái phù du của những tiếng hoan hô khi bước vào Giêrusalem (như trong ngày lễ phong chức) mà đến con đường thập giá, nơi mà chính những bạn hữu thân thiết nhất của mình đều bỏ rơi, nơi mà người Mẹ của mình (giờ đây được kết tinh thành Giáo Hội) chỉ bất lực đứng nhìn người con quằn quại chết trên thập tự, vì mang cái tội quá lớn ấy là yêu thương vô vị lợi trong một thế giới mà mọi người chỉ nghĩ đến quyền lợi. Vâng, từ nhiều năm qua cha đã tập sự đến với người nghèo hèn, nghèo hèn trong vật chất và nghèo hèn trong niềm tin, để công bố ‘một năm hồng ân của Chúa’, một năm hồng ân mà nhiều người khó lòng chấp nhận; đó là chưa kể đến những khó khăn chủ quan và khách quan khiến lời công bố ấy bị kìm kẹp, méo mó, chói tai.

Mai này là linh mục, cha còn phải lắng nghe bao nhiêu lở loét trong tâm hồn con người đổ lên cha trong tòa cáo giải, để rồi như Chúa Kitô, cha phải câm lặng mang lấy thương tích của dân Chúa trong mọi ngõ ngách của tâm tư mình. Mai này, với tư cách một Alter Christus, cha sẽ cầm lấy tấm bánh và chén rượu mà phán: ‘Này là Mình Ta, anh em hãy cầm lấy mà ăn... Này là Máu Ta, anh em hãy cầm lấy mà uống...’, để rồi cha sẽ bị mọi người - tín hữu cũng như không tín hữu - nghiền nát cha ra hoặc để biến cha thành sự sống, hoặc để phỉ nhổ cha như một ‘thằng khờ’.

Chính vì thế mà đối với ngày trọng đại này, cha không gọi đó là ngày lãnh ‘chức’ thánh hay ‘chức’ linh mục mà chỉ là ngày nhận ‘tác vụ’ linh mục, một nhiệm vụ tác sinh, một nhiệm vụ tác tạo, tác tạo người khác và tác tạo bản thân mình trong Thần Khí Chúa Kitô. Cha là một nhà thơ, và bài thơ cao vút nhất hẳn là bài thơ làm bằng trọn cuộc đời mình: một bài thơ hồng, vì nó được kết tinh bằng màu trắng của tinh thần tận hiến trộn lẫn với màu đỏ của dòng máu hy sinh.

Nhưng trong mọi tình huống ấy, cha sẽ dâng lời cảm tạ, như tâm tình của cha Trung, khi chọn phương ngôn là Thánh Vịnh 22 (23), câu 6: “Lòng nhân hậu và tình thương Chúa ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời, và tôi được ở đền Người những ngày tháng, những năm dài triền miên”. Dĩ nhiên cha phấn khởi không chỉ vì: ‘Chúa dọn sẵn cho tôi bữa tiệc ngay trước mặt quân thù... ly rượu tôi đầy tràn chan chứa’ (Tv 22, 5) hiểu theo nghĩa là tiệc và rượu ân sủng, nhưng phấn khởi vì chức thánh này cho thấy rằng Chúa Kitô, đấng mục tử quan phòng, đã chăn dắt cha và cha chẳng thiếu thốn chi. (Tv 22, 1). Con không muốn nói rằng cha đón nhận ‘chức thánh’ như một ‘phần thưởng’ cho bao năm kiên trì của mình. Chức thánh đến với cha không phải là ‘phần thưởng’ vì chưa bao giờ cha nghĩ đến phần thưởng trong cuộc sống tận hiến của mình. Chức thánh đến với cha không phải để củng cố niềm tin vào sự quan phòng của Chúa, vì cha vẫn tin tưởng, tin tưởng một cách ngoan cố, tin tưởng ngay khi cha ngỡ rằng mình nghi ngờ.

Chức thánh đến với cha như một bằng chứng tình yêu đáp lại tình yêu; nhưng đồng thời như một ‘bài sai’ lên đường, một con đường thật xán lạn nhưng cũng thật bi đát, vì kể từ nay cha vừa là kẻ được Chúa Kitô chăn dắt, vừa là kẻ chăn dắt cùng với Chúa Kitô. Dần dần cha hiểu rằng khi Chúa chăn dắt cha để cha ‘không thiếu thốn chi’ thì chính Người lại thiếu thốn mọi sự: thiếu thốn sự thông cảm ngay từ cha mẹ họ hàng mình, thiếu thốn sức mạnh tinh thần đến độ phải thiết tha nguyện cầu: xin cất khỏi con chén đắng này; thậm chí thiếu cả sự nâng đỡ của ân sủng Thiên Chúa: Lạy Cha sao Cha nỡ bỏ con! Và ngày nào cha không thấy mình thiếu thốn thì ngày ấy những ‘con chiên’ mà cha chăn dắt sẽ chưa thể nói được như cha “trên đồng cỏ xanh tươi, Người dẫn tôi đi” mà trái lại họ có thể nói rằng ‘vị linh mục này chẳng dẫn tôi đi đâu cả’ hoặc ‘cha dẫn tôi đến những đồng cỏ khô cằn’. Vâng, tương lai cha xán lạn, vì sẽ bước đi trên con đường của Chúa Kitô, và không có vinh dự nào lớn hơn vinh dự đó, nhưng đồng thời trên con đường thập giá ấy, cha cũng sẽ cô đơn biết chừng nào. Và chỉ cần một ngày cha quên đi một vế (vinh dự và cô đơn), thì Chúa Kitô sẽ thét lên ‘Ta khát’ thêm một ngày.

Dĩ nhiên, mọi sự sẽ luôn xảy ra trong hạnh phúc, hiểu theo nghĩa là trong tình trạng của một người đang yêu và được yêu. Và đó cũng là điều mà cha Tuấn xác tín qua châm ngôn trích từ Phúc Âm Thánh Gioan, 21,16: “Simôn, con Gioana, con có yêu mến thầy không? - Thưa thầy có, Thầy biết rằng con yêu mến Thầy - Hãy chăn dắt chiên Thầy.”

Con còn nhớ đoạn Tin Mừng này trong ngày lễ thụ phong linh mục tại Giáo Hoàng Học Viện Đa-lạt, năm 1974. Vị tân linh mục đọc Phúc Âm hôm đó là cha Pháp. Khi đọc đến câu ‘con có yêu mến Thầy không?’ lần thứ ba, thì cha Pháp khóc ồ trên cung thánh và cả nhà thờ cùng khóc với cha. Hôm ấy con cũng khóc, và sau này suy niệm lại đoạn ấy vẫn thấy rằng mình có lý do để khóc. Chúa Giêsu gọi Phêrô là “Simon, con Gioana” chứ không phải bằng cái tên ‘Đá’ mà Người đặt cho ông để trên đó Người xây dựng Giáo Hội của Người (Mt 16,18). Phêrô đã chối Chúa ba ngày trước đó, và chối đến ba lần. Thế mà Chúa Kitô đã chọn chính cái anh Simôn yếu hèn đó để ‘chăn dắt chiên Người’. Ba lần ông chối Người, ba lần Người cho ông cơ hội để nhắc lại tiếng nói yêu thương, để tuyên xưng tình yêu của mình. Không một lời rầy la, không một lời trách móc, không một lời buộc tội: Chỉ là cơ hội để xác định lại mối quan hệ tình yêu. Và trước khi bước lên nhận sứ mạng ‘chăn dắt chiên Thầy’, hẳn cha cũng đối diện với lòng mình để thấy rằng những năm tháng vừa qua, chưa bao giờ Chúa Kitô trách móc cha, mà Người chỉ lặp đi lặp lại câu hỏi đó, để được nghe cha thỏ thẻ ‘lời tỏ tình’ với Người.

Và hôm nay hơn bao giờ hết ‘lời tỏ tình’ ấy trở nên cụ thể, nhưng đồng thời cũng trở nên một đòi hỏi gắt gao. Xét cho cùng, khi chọn cha làm linh mục chăn dắt đàn chiên Người, Chúa Kitô không đòi hỏi cha một điều kiện nào cả, không xét xem cha có tài năng để tổ chức cộng đoàn hay không, có kiến thức thần học để lý giải Chúa hay không, có tài hùng biện để động viên đàn chiên hay không, thậm chí có đạo đức để nêu gương cho mọi người hay không. Người chỉ đòi hỏi có một điều duy nhất, đó là tình yêu đối với Người: ‘Con có yêu mến Thầy không?’ Người đòi hỏi 1 lần, Người đòi hỏi 2 lần, Người đòi hỏi 3 lần. Cố nhiên, cha sẽ trả lời rằng cha yêu Thầy. Và chắc chắn cha thành thật, ít ra là ‘Thầy biết rằng con yêu mến Thầy’. Thế gian có thể không biết, nhưng Chúa biết ai yêu mến Người.

Viết cho cha hôm nay, con muốn cùng cha suy nghĩ đến hai chữ ‘tình yêu’ mà thế giới này đã biến thành hàm hồ. Cha và con không còn ở lứa tuổi mười tám đôi mươi để có một ảo tưởng về tình yêu. Tình yêu đối với lứa tuổi chúng ta không phải là một trái chín ngọt bùi. Tình yêu là một đòi hỏi gắt gao. Nhưng Chúa Giêsu đã là một tình yêu như thế. Ngay từ những ngày đầu tiên bước chân vào cộng đoàn Vinh Sơn, cha đã biết rằng Chúa Kitô đã phải trả một giá rất đắt. Cái chết nhục nhã của Người trên thập giá không làm cha nản lòng: đó chỉ là sự thể hiện tột đỉnh của tình yêu. Và giờ đây, khi cha chọn trả lời: Lạy Thầy, Thầy biết rằng con yêu mến Thầy, để rồi nhận tác vụ: Hãy chăn dắt chiên Thầy, cha cũng biết rằng mình sẽ phải trả một giá rất đắt. Và rồi cha sẽ phải tiếp tục nghe - không phải chỉ trong ngày thụ phong mà thôi, nhưng trong suốt cuộc đời mình - câu hỏi nóng bỏng của Chúa Kitô: “Phêrô Tuấn... Phêrô Minh... Giuse Trung... con còn yêu mến Thầy không?”

Thưa cha,

Viết cho cha một lá thư chúc mừng ngày ‘tình yêu và hạnh phúc’ trong hôn lễ với trời cao, thế mà không nói lên lời ‘magnificat’ thì quả là kỳ lạ phải không? Trái lại còn kết thúc bằng một câu hỏi của chính Chúa Kitô nữa chứ! Sở dĩ như vậy là vì trên cuộc đời này, mọi thứ đều hao mòn, đều cũ đi, đều lão hóa, và không có gì cũ đi hay lão hóa nhanh cho bằng tình yêu và hạnh phúc... Rồi cha có thể sẽ quen dần với việc mình đương nhiên là ‘cha’ người ta. Rồi cha sẽ quen dần với việc bẻ bánh đến độ có thể để cho Chúa đơn thân bị nghiền nát còn bản thân mình thì không hề hấn mảy may.

Ngay hôm nay, con muốn ôn lại với cha rằng khi cha được cất nhắc lên chức linh mục cha được đòi buộc phải trở nên một người cha, một người cha cao trọng hơn một người cha th, một người cha bổn phận chăm sóc cho sự cứu rỗi cho sự trọn lành hơn mọi người cha ở trần gian, điều ấy đòi hỏi cha phải thức tỉnh đến độ nào. Rồi khi cha đón nhận thừa tác vụ, hẳn cha cũng thấy nhiệm vụ ấy đòi hỏi cha phải khiêm nhường đến thế nào, tại cha biết hơn ai hết rằng cha rất thiếu khả năng về nhiều mặt. Hẳn cha cũng tâm niệm rằng khi cha ra một mệnh lệnh nào cho đàn chiên, thì chính tinh thần vâng phục của Con Thiên Chúa trong người linh mục đòi hỏi cha hành động như thế, chứ không phải bản thân cha quyền ra lệnh cho bất cứ một ai...

Thưa cha, viết cho cha hôm nay như một lời chúc mừng, đồng thời nói lên những điều cha quá biết rồi. Tuy nhiên, con muốn viết giấy trắng mực đen những điều suy nghĩ theo các phương ngôn của cha, để rối 10 năm nữa, 20 năm nữa, khi đọc lại, cha thấy rằng mình vẫn nóng sốt như buổi ban đầu. Được như vậy, sau một đời lăn xả vì tác vụ, cha không phải đau lòng nghe Chúa phán: “Con có lòng kiên nhẫn và đã chịu khổ vì danh Thầy mà không mệt mỏi. Nhưng Thầy trách con điều này: con đã để mất tình yêu thuở ban đầu.” (Kh 2, 3), mà trái lại, cha được nghe: “Con đã đi theo con đường Thầy đã mở, để trở thành Thượng tế đời đời theo phẩm trật Menkisêđê... (không phải) mỗi ngày dâng lễ tế hy sinh đền tội, (mà) dâng chính mình làm của lễ suốt đời con”. (Dt 6, 20; 7, 27) để rồi cha sẽ tiếp tục hát: “Lòng nhân hậu và tình thương Chúa ấp ủ tôi...” cho đến thiên thu vạn đại.

Cuối cùng, con của Thánh Vinh Sơn, con cũng xin ghi lại hình ảnh một vị tiền bối từng sống trọn vẹn ba châm ngôn ấy. Con muốn nói đến Cha René Dulucq. Từ ngày còn một thanh niên ‘được Thần Khí Chúa xức dầu tấn phong’, cha đã lên đường ‘rao giảng Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn’ ở Trung Hoa... Năm 1951, khi các linh mục nước ngoài buộc phải rời đất nước ấy, cha sang Việt Nam để nuôi dạy những trẻ mồ côi, trong số đó bản thân con đây. Cha chăm sóc ơn gọi nơi con cái mình, để rồi khi cha Alexis Hậu trở thành linh mục từ Pháp trở về năm 1968, cha đã trao Pavillon Saint Vincent, xuống M’long chia sẻ đời sống với những người nghèo hèn khác, những nguời