Số 9, Ngày 26-6-2004

 

Thư Tòa Soạn

Chứng Nhân Niềm Hy Vọng - Lm. Nguyễn Thanh

Cầu nguyện là gặp gỡ Thiên Chúa  - Nguyễn Chính Kết

Thần lực chữa lành của lời cầu nguyện theo Kinh Thánh(tiếp) - Hoàng Quý

Hôn Nhân Khác Tôn Giáo - Trần Mỹ Duyệt

Mai này em lên  xe hoa - Trần Duy Nhiên

Thư Bạn Đọc

 

Trở về các số báo

 

THƯ TÒA SOẠN

Thưa Quý Độc Giả,

Maranatha đã đến với quý độc giả trong hai tháng nay như một người bạn trên hành trình tâm linh. Trên hành trình này Chúa Kitô mới thực sự là người bạn đồng hành với Quý độc giả trên đường về Emmau cuộc sống. Maranatha chỉ làm công việc của Gioan Tẩy Giả khi thấy Đức Giêsu đi ngang qua,  Ông liền giới thiệu Ngài với người khác: "Đây là Chiên Thiên Chúa." Và nhờ đó mà Anrê và Gioan đã đi theo Chúa Kitô.

Những gì Maranatha gửi tới quý độc giả là những gì mà các cây viết đã gặp, đã học hỏi, đã cảm nghiệm nơi Chúa Kitô như các môn đệ tiên khởi trước đây. Chính lần gặp gỡ đầu tiên này với Chúa Kitô đã thay đổi cuộc đời các ông qua tác động của Chúa Thánh Thần: "Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em đến sự thật toàn vẹn" (Ga 16:13). Thực sự Thánh Thần Chúa đã nối kết nhiều người có khi sống cách xa nhau cả nửa vòng trái đất và chưa một lần gặp mặt nhau để cùng vào làm vườn nho cho Ngài là tuần báo Maranatha. Qua Maranatha, Chúa Kitô đang tác động những người đang sống trong thế giới tràn ngập điện toán hôm nay, để họ đến thờ phượng và sống với Ngài trong Thần Khí và Sự Thật (xem Ga 4: 23).

Maranatha từng giới thiệu với độc giả linh đạo giáo dân, một linh đạo ứng dụng các lời truyền dậy của Chúa và cuả Giáo Hội vào đời sống người tín hữu đang sống giữa trần thế trong thời đại tiên tiến hôm nay. Mỗi thời đại Chúa gửi tới những dấu chỉ để các tín hữu của Ngài nhìn ra ngôi sao dẫn đường chỉ lối như xưa kia Ngài đã dẫn đường cho ba nhà đạo sĩ. Điều quan trọng là các tín hữu của Ngài hãy đi vào cầu nguyện, vào suy niệm Kinh Thánh, vào tận hiệp với Ngài để nhận ra dấu chỉ của Ngài được thể hiện bằng một linh đạo thích ứng cho thời đại.

Vì khuôn khổ giới hạn của một tuần báo, hàng tuần Maranatha chỉ có thể giới thiệu với độc giả một số bài viết chọn lọc. Đối với các độc giả có phương tiện hay thì giờ, xin tham khảo thêm ở mạng lưới maranatha-vn.net hay tiengnoigiaodan.net. Dù sao đi nữa Maranatha mong nhận  bài vở của các độc giả để cùng xây dựng một Vùng Đất Đứng Chung, nơi mà mọi người đều đem một bàn tay đóng góp cho Giáo Hội và kiến tạo trần thế như Chúa Kitô mong đợi, qua Giáo Hội của Ngài.

Kể từ tuần này, ngoài những bài viết về tu đức, về linh đạo, về tin tức Giáo hội, Maranatha xin giới thiệu loạt bài về Hôn Nhân dưới nhiều khía cạnh khác nhau, một vấn đề gây nhiều phức tạp trong cuộc sống đạo. Nơi đây Maranatha cũng xin chân thành cám ơn Quý độc giả gửi những chia sẻ tâm tình với chúng tôi khi tiếp nhận Maranatha. Xin quý vị tiếp tục đóng góp các ý kiến xây dựng để Maranatha mỗi ngày mỗi trở thành công cụ hữu hiệu của Thánh Thần.

MARANATHA

Về mục lục >

  

 HỌC HỎI

CHỨNG NHÂN NIỀM HY VỌNG

 

Anh chị em rất thân mến,

Tôi cầu xin Thiên Chúa ban cho tôi được trở nên chứng nhân của niềm hy vọng giữa anh chị em, một niềm hy vọng “không lừa dối” một ai, bởi được thiết lập trên tình yêu Thiên Chúa, một “Tình Yêu đã được Chúa Thánh Thần đổ tràn xuống trong tâm hồn chúng ta” (x. Rm 5:5). Đây chính là điều thế giới ngày nay đặc biệt cần đến: cần được tăng thêm niềm hy vọng!

Sự hiệp thông sâu xa giữa Ba Ngôi Thiên Chúa được Đức Kitô trình bày như là mẫu gương cho chúng ta, những đồ đệ của Ngài, khi Ngài cầu nguyện cùng Chúa Cha: “Ước gì tất cả được nên một, như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha. Ước gì họ nên một, ngõ hầu thế gian tin rằng Cha đã sai Con” (x. Ga 17:21).

Việc hằng năm mừng lễ kính Mầu Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi luôn luôn thôi thúc các Kitô hữu dấn thân xây dựng sự hiệp nhất. Đây là lời mời gọi có liên quan đến tất cả chúng ta -- chủ chăn và giáo dân; một lời mời gọi khuyến khích chúng ta có một ý thức mới về trách nhiệm của mình trong Giáo hội, hiền thê của Đức Kitô. Với những lời của Ngài như vừa được nhắc lại trên đây, thì thử hỏi làm sao lại không nhìn thấy mối quan tâm đại kết đang thúc bách chúng ta? Nhân dịp này, một lần nữa, tôi xác nhận ý chí muốn tiến tới trên con đường khó khăn, nhưng phong phú niềm vui và sự hiệp thông trọn đầy của hết thảy mọi kẻ tin vào Chúa.

Tuy nhiên, chắc chắn rằng sự đóng góp lớn lao cho công cuộc đại kết, đến từ ý chí của những người Công giáo sống hiệp nhất với nhau. Trong Tông thư “Bước Vào Ngàn Năm Thứ Ba”, tôi đã nhấn mạnh đến sự cần thiết “phải làm cho Giáo hội trở nên ngôi nhà và trường học của sự hiệp thông”, với cái nhìn của trái tim gắn chặt vào Mầu Nhiệm Chúa Ba Ngôi đang ngự trị trong chúng ta; ánh sáng của Mầu Nhiệm này cần được nhìn thấy trên dung mạo các người anh chị em. Chính nhờ vậy mà được nuôi dưỡng “con đường tu đức của Hiệp Thông” -- con đường được khởi sự từ những nơi trong đó con người được huấn luyện trên bình diện nhân bản và Kitô, để cuối cùng đến trong các giáo xứ, các hiệp hội và phong trào. Giáo hội địa phương nào trổ sinh “nền tu đức Hiệp Thông”, thì Giáo hội đó biết luôn luôn thanh luyện mình khỏi “những chất độc của ích kỷ, làm phát sinh những ganh tị, những nghi kỵ, đóng kín và chống đối phá đổ”.

Việc liệt kê những nguy hiểm trên, khơi dậy trong chúng ta lời cầu nguyện tự phát dâng lên Chúa Thánh Thần mà Đức Giêsu đã hứa sai xuống trên chúng ta: “Khi Thần Khí Sự Thật đến, Ngài sẽ hướng dẫn chúng ta tiến vào Sự Thật trọn vẹn” (Ga 16:13). Thử hỏi Sự Thật là gì? Chúa Giêsu đã phán: “Ta là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống” (Ga 14:6). Thử hỏi “công thức đúng” như vừa nói – “Ta là Đường, là Sự Thật, và là Sự Sống” – không trả lời cho câu hỏi: “Sự Thật là gì” hay sao? Nhưng thử hỏi: Ai là Sự Thật? Đây cũng là câu hỏi mà con người của ngàn năm thứ ba đặt ra.

Anh chị em rất thân mến,

Chúng ta không thể nào im lặng, bởi vì chúng ta đã biết Sự Thật này rồi. Sự Thật là Chúa Giêsu Kitô, Đấng đến trong thế gian, để mạc khải cho chúng ta và trao ban cho chúng ta tình yêu thương đối với Chúa Cha. Chúng ta được gọi làm chứng cho Sự Thật này, bằng lời nói, nhưng nhất là bằng chính đời sống của mình.

Thưa anh chị em, Giáo hội là truyền giáo!

Ngày nay, Giáo hội cần đến những tiên tri có khả năng khơi dậy, trong cộng đồng, (khơi dậy) đức tin vào Ngôi Lời, Đấng mạc khải cho chúng ta biết Thiên Chúa giàu lòng nhân từ. Đã đến lúc chuẩn bị cho thế hệ trẻ trở thành những Tông đồ không sợ hãi trong việc công bố Phúc Âm. Đối với bất cứ ai đã lãnh nhận Bí tích Rửa tội, thì điều cần thiết là phải tiến từ một “đức tin vì tiện lợi” đến một “đức tin trưởng thành”; “đức tin trưởng thành” này được thể hiện rõ ràng trong những chọn lựa cá nhân, minh nhiên, xác tín và can đảm.

Chỉ một đức tin như thế, -- một đức tin được cử hành và được chia sẻ trong sinh hoạt phụng vụ và trong đức bác ái huynh đệ, -- (chỉ một đức tin như thế) mới có thể nuôi sống và củng cố cộng đoàn những môn đệ của Chúa và xây dựng Giáo hội truyền giáo, một Giáo hội được giải thoát khỏi những lo sợ giả tạo, bởi được Tình Yêu Chúa Cha bảo đảm cho.

“Tình yêu Thiên Chúa được đổ tràn xuống trên chúng ta nhờ bởi Chúa Thánh Thần” (x. Rm 5:5). Nhưng đây không phải do công nghiệp gì của chúng ta, để được như vậy. Đây là hồng ân nhưng-không Thiên Chúa ban. Mặc cho gánh nặng những tội lỗi chúng ta, Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta và đã cứu chuộc chúng ta nhờ Máu Thánh Đức Kitô. Ân sủng của Ngài đã chữa lành chúng ta nơi tận thâm sâu tâm hồn.

Vì thế, chúng ta có thể công bố cùng với tác giả Thánh vịnh: “Lạy Chúa, tình thương của Chúa là thật cao cả biết bao, khắp nơi vũ trụ!” Tình thương Chúa là thật cao cả biết bao, nơi tôi, nơi kẻ khác, nơi mọi người! Đó là nguồn mạch đích thật cho sự cao cả của con người; đó là gốc rễ của phẩm giá không thể phá bỏ được của con người! Nơi mọi người, có phản chiếu hình ảnh Thiên Chúa. Chính đây là sự thật sâu xa nhất của con người, một sự thật không thể nào chối bỏ hay xúc phạm. Mọi xúc phạm đến con người là xúc phạm đến Đấng Tạo Hóa hằng yêu thương nó như một người Cha.

Thật vậy, Thụy Sĩ có truyền thống dài lâu về việc tôn trọng con người. Đó là truyền thống được đặt dưới dấu hiệu của Thập Giá: Hội Hồng Thập Tự! Hỡi các Kitô hữu của đất nước Thụy Sĩ cao quý, hãy sống xứng đáng với quá khứ vinh sáng của đất nước. Nơi mọi người nam nữ, hãy biết nhìn nhận và tôn vinh hình ảnh của Thiên Chúa! Nơi con người, được Thiên Chúa tạo dựng, được phản chiếu vinh quang của Thiên Chúa Ba Ngôi. Chúng ta hãy cùng nhau xướng lên: “Sáng Danh Đức Chúa Cha, và Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần, Sáng Danh Thiên Chúa, Đấng hiện có, đã có và đang đến. Amen. (Bản dịch của Lm. Đặng Thế Dũng với nhuận sắc của Veritatis Splendor’s Pub)

Trên đây là một đoạn trích từ bài giảng của Giáo Chủ Gioan-Phaolô II đề cập đến những thử thách mà Giáo hội Công giáo Thụy Sĩ đang phải đương đầu, trong Thánh Lễ Đại Trào vào sáng Chúa nhật ngày 6-6-2004, với sự tham dự của khoảng 70 ngàn tín hữu Thụy Sĩ.

***
“Hãy Làm Sống Lại Nhiệt Tâm Truyền Giáo”.

Nhà Lãnh Đạo Tinh Thần đã lợi dụng cơ hội “cuối đời” mình ở trần gian để kêu mời Giáo hội Thụy Sĩ “hãy vươn lên, thắng vượt những khó khăn của hàng chục năm qua, nhằm làm sống lại tinh thần TRUYỀN GIÁO.

Thánh lễ là cao điểm của 32 giờ thăm viếng của Giáo chủ Gioan-Phaolô II tại đất nước này.
Ngài phát biểu: “Đã đến lúc phải sửa soạn cho thế hệ trẻ trở thành những tông đồ không quản ngại, không sợ sệt để rao giảng Tin Mừng”.

Ngài còn nói: “Là những người đã nhận lãnh Bí tích Rửa tội, chúng ta phải có trách nhiệm làm cho đức tin thăng tiến thành thục trong cuộc sống thường ngày của mình”.

Giáo hội Thụy Sĩ đang phải đối diện với nhiều vấn đề chia rẽ và phân tán. Công giáo có 3.5 triệu người trong tổng số 7.3 triệu dân. Hồi giáo chiếm 5% dân số và 11% nhìn nhận họ vô tín ngưỡng.
Trong bài giảng trên, Giáo Chủ đã đặt trước mọi người vấn nạn: “Chân Lý là gì?” hay thiết thực hơn, hãy tự hỏi: “Ai là Chân Lý?”

Đó cũng là vấn nạn của kỷ nguyên thứ ba ngàn này, và chúng ta không thể im lặng, vì chúng ta hiểu biết và ý thức rằng:

“Chân Lý là chính Đức Giêsu Kitô. Ngài đã hóa thành Lời đến trần gian, để dạy dỗ chúng ta về Tình Yêu Chúa Cha, và chúng ta được mời gọi để làm chứng tá cho Chân Lý ấy, trong thời đại chúng ta đang sống và cho tương lai.”

LM. Joseph Nguyễn Thanh (June 11, 2004)

Về mục lục >


 

 CẦU NGUYỆN

CẦU NGUYỆN LÀ GẶP GỠ THIÊN CHÚA

Nguyễn Chính Kết

Cầu nguyện là một sinh hoạt thường xuyên, rất thân thuộc đối với người Kitô hữu. Có thể nói: một Kitô hữu không cầu nguyện không thể là một Kitô hữu đúng nghĩa. Cầu nguyện có thể mang nhiều hình thức: đọc kinh, nguyện gẫm, chiêm niệm, ca tụng, tạ ơn, xin ơn, nói với Chúa và nhất là nghe Chúa nói, v.v… Nhưng bản chất của cầu nguyện chính là sự gặp gỡ liên vị giữa Chúa và ta. Và nhờ sự gặp gỡ đó, ta mới cảm nếm được Thiên Chúa, mới hiểu về Ngài. Cái hiểu này đến từ cảm nghiệm, chứ không phải đến từ suy luận hay lý thuyết như khi học hỏi. Khi cầu nguyện, nếu không thực sự gặp gỡ Thiên Chúa, thì có thể nói ta chưa đạt được bản chất hay mục đích của cầu nguyện. Thật vậy, có nhiều trường hợp người ta đọc kinh, nguyện gẫm, lần hạt, rước lễ… mà không thực sự gặp gỡ Thiên Chúa. Như thế, người ta chỉ có vẻ cầu nguyện chứ chưa thực sự cầu nguyện, và đương nhiên không cảm nghiệm được Ngài.

Gặp gỡ và thưởng nếm Thiên Chúa quan trọng hơn biết về Thiên Chúa

Người ta không gặp gỡ Thiên Chúa vì người ta không đặt nặng việc đó. Người ta thường có khuynh hướng chú trọng nhiều đến việc học hỏi về Thiên Chúa, và ít lưu tâm đến việc gặp gỡ và thưởng nếm Thiên Chúa. Suy tư để hiểu biết về Thiên Chúa rất quan trọng, vì có hiểu biết về Thiên Chúa, chúng ta mới yêu mến Ngài: «vô tri bất mộ». Nhưng trong thực tế, biết về Thiên Chúa không quan trọng bằng gặp gỡ Ngài, thưởng nếm Ngài. Cũng như biết nhiều về nước, biết chính xác về nước với các tính chất và thành phần cấu tạo của nước không quan trọng bằng việc uống nước. Không biết gì về nước hay biết sai lạc về nước, không sao cả, miễn là có uống nước. Còn biết hoàn toàn đúng về nước mà không uống nước, thì sẽ bị cơn khát dày vò, thậm chí chết được. Cũng vậy, bàn cãi xem Thiên Chúa là hữu ngã hay vô ngã, là một hay là hai với vũ trụ, sáng tạo ra vũ trụ hay biến hóa ra vũ trụ, thực tế không quan trọng bằng việc gặp gỡ Thiên Chúa, hưởng nếm sự dịu ngọt của Ngài, nhận được ân sủng và sức mạnh của Ngài. Rất nhiều thần học gia nói thao thao bất tuyệt về Thiên Chúa nhưng không cảm nghiệm được Thiên Chúa bằng một trẻ em đơn sơ chân thành. Như vậy, biết Thiên Chúa chỉ là phương tiện, yêu mến Thiên Chúa mới là mục đích. Biết mà không dẫn tới yêu mến và cảm nghiệm, thì cái biết đó trở nên vô ích.

Không một tôn giáo nào trên thế giới không nói tới Hữu Thể mà người Kitô hữu gọi là Thiên Chúa, có điều họ gọi Hữu Thể ấy bằng những tên khác, và quan niệm về Hữu Thể ấy rất khác chúng ta. Nhiều khi ta cho rằng họ «vô thần», chỉ vì họ không quan niệm Hữu Thể ấy là «thần» như chúng ta. Không một tôn giáo nào không lấy Hữu Thể đó làm trọng tâm duy nhất của đời sống tâm linh, và coi việc gặp gỡ, cảm nghiệm và kết hợp với Hữu Thể ấy là thực nghiệm tâm linh quan trọng nhất của đời sống tôn giáo. Và mỗi tôn giáo đều có những cách để gặp gỡ và cảm nghiệm Hữu Thể ấy. Nói chung, tất cả các tôn giáo cũng như tất cả các giáo phái Kitô giáo đều chung một mục đích duy nhất là gặp gỡ và thực nghiệm được Hữu Thể mà chúng ta gọi là Thiên Chúa, mặc dù các tôn giáo quan niệm rất khác nhau về Hữu Thể ấy. Vì thế, việc gặp gỡ và cảm nghiệm Thiên Chúa có thể là khởi điểm để các tôn giáo và các giáo phái Kitô giáo có thể gặp gỡ nhau, trao đổi, và cùng múc được chính sự sống tâm linh đích thực, mà không nhất thiết phải đồng ý với nhau về các tín điều vốn rất khác biệt nhau giữa các tôn giáo.

Các tín điều ấy hay sự hiểu biết về Thiên Chúa không hẳn là điều kiện tối cần để có thể thực sự gặp gỡ và cảm nghiệm được Thực Tại Tối Hậu ấy, tức Thiên Chúa. Thật vậy, một người quê mùa được học hỏi rất ít về Thiên Chúa, hay một đạo sĩ trong một tôn giáo Á châu quan niệm về Thiên Chúa khác hẳn chúng ta, vẫn có thể gặp được Thiên Chúa và cảm nghiệm về Ngài hơn một thần học gia nổi tiếng. Điều đó đã xảy ra trong Kinh Thánh, khi Chúa Giêsu giáng sinh: những người gặp và thấy Chúa không phải là những bậc thầy dạy về Thiên Chúa, mà là các mục đồng biết rât ít về Ngài (x. Lc 2, 8-18), và các đạo sĩ ngoại giáo (X. Mt 2, 1-12), là những người chắc chắn có quan niệm về Thiên Chúa rất khác các rabbi Do Thái vốn rất tự hào mình được Thiên Chúa mặc khải. Vì thế, cùng chia sẻ kinh nghiệm về cầu nguyện, về việc cảm nghiệm Thiên Chúa - chứ không phải về những tín điều - chính là khởi điểm để đi đến đại kết và hiệp nhất, giữa các giáo phái Kitô giáo và giữa các tôn giáo. Hiểu biết có thể sai, nhưng cảm nghiệm là cái biết thực tiễn, trực tiếp với đối tượng, không có vấn đề đúng sai. Nói thao thao bất tuyệt về tính chất và cấu tạo của trái chuối không bằng được ăn chính trái chuối. Lý thuyết về trái chuối có thể khác nhau và gây chia rẽ, nhưng cảm nghiệm về nó thì hầu như ai cũng giống ai.

Gặp gỡ Thiên Chúa ở đâu?

Thiền sư Bách Trượng nói về việc tìm kiếm Thực Tại Tối Hậu ấy «hệt như cưỡi trâu tìm trâu». Ấn Độ giáo cho việc tìm kiếm đó giống như một con cá ở biển đi tìm nước. Nghe những chuyện đó ta thấy tức cười, nhưng đích thực khi ta tìm kiếm Thiên Chúa, ta cũng làm một việc tương tự. Thật thế, có nơi nào không có Thiên Chúa? Chúng ta và vạn vật hiện hữu, sinh sống, làm bất cứ việc gì cũng đều do Thiên Chúa. Làm sao ta có thể suy nghĩ, viết lách, đi lại, cựa quậy, thậm chí làm những việc dễ dàng nhất như chớp mắt, hít thở, mà không cần đến Thiên Chúa? Thiên Chúa hiện diện khắp nơi, trong tất cả vạn vật, trong tất cả mọi sinh hoạt dù nhỏ nhất của ta. Nhất cử nhất động đều nói lên sự có mặt của Thiên Chúa. Thế mà ta lại tìm kiếm Thiên Chúa! Và mỉa mai thay lắm khi không gặp được Ngài. Có khác gì con cá dưới biển tìm nước hoài mà vẫn không thấy nước, không gặp được nước!

Mặc dù Thánh Kinh luôn luôn có những câu xác định rõ nơi Thiên Chúa hiện diện, như: «Nào anh em chẳng biết rằng anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao? … Đền thờ ấy chính là anh em» (1 Cr 3, 16-17), nhưng truyền thống Kitô giáo dường như quá nhấn mạnh đến sự hiện diện của Thiên Chúa trong giáo đường, trong các bí tích, đến nỗi các Kitô hữu không mấy lưu tâm đến sự hiện diện của Thiên Chúa nơi chính mình, nơi tha nhân. Nói đến sự hiện diện của Thiên Chúa thì người ta thường nghĩ ngay đến nhà thờ, đến phép Thánh Thể, không mấy ai nghĩ đến Thiên Chúa ngự ngay trong mình, trong những người chung quanh. Kinh Thánh dường như không ưa việc định vị Thiên Chúa một cách lệ thuộc và hạn định vào không gian vật chất như thế. Nhiều chỗ trong Kinh Thánh khẳng định: «Thiên Chúa, Đấng tạo dựng vũ trụ và muôn loài trong đó, Đấng làm Chúa tể trời đất, không ngự trong những đền thờ do tay con người làm nên» (Cv 17, 24).

Chính Đức Giêsu, để trả lời cho câu hỏi: phải gặp gỡ Thiên Chúa và thờ phượng Ngài ở đâu, đã nói: «Đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giêrusalem. Các người thờ Đấng các người không biết… Nhưng giờ đã đến - và chính là lúc này đây - giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những người thờ phượng Người như thế. Thiên Chúa là thần khí, và những người thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật» (Ga 4, 21. 23-24; x. Ga 2, 21). Vì thế, thánh Phaolô khuyến khích ta tôn vinh, thờ phượng, gặp gỡ Thiên Chúa ngay trong con người của ta (x. 1Cr 6,20b). Quả thật, không có nơi nào ta dễ gặp gỡ Thiên Chúa cho bằng ngay bản thân ta. Cho dầu Ngài cũng hiện diện trong vũ trụ vạn vật hay những nơi khác, nhưng nơi gặp gỡ Ngài lý tưởng nhất vẫn là bản thân ta. Có gặp được Thiên Chúa nơi bản thân mình, thì mới gặp được Ngài ở những nơi khác. Chính thánh Âu-Tinh thú nhận: «Con đã tìm Chúa ở ngoài con, nên con đã không gặp được Chúa của lòng con», và «Con đã yêu Chúa quá muộn… Chính Chúa vẫn ở trong con, còn con thì lại ở ngoài con».

Có gặp Thiên Chúa nơi bản thân, mới gặp được Ngài ở nơi khác

Thiên Chúa hiện diện khắp nơi, nên có thể gặp được Thiên Chúa ở bất cứ nơi nào, tuy nhiên, vẫn có những nơi Ngài hiện diện cách đặc biệt, với mật độ cao, hiện diện một cách «đặc sệt». Nếu nói tới sự hiện diện vật chất của Thiên Chúa, thì phải nói tới phép Thánh Thể. Vì là hiện diện vật chất, nên sự hiện diện ấy lệ thuộc vào không gian và thời gian. Muốn gặp Ngài một cách vật chất, ta phải đến những nơi có Thánh Thể: nhà thờ, nhà nguyện…

Con người gồm cả thể chất lẫn tâm linh, nên sự gặp gỡ đầy đủ vẫn phải có đủ hai mặt ấy. Nhưng dẫu sao, giữa hai mặt ấy, gặp gỡ tâm linh vẫn quan trọng hơn rất nhiều. Vì việc gặp gỡ thể chất chỉ có ý nghĩa khi đã có sự gặp gỡ tâm linh. Vì nếu chỉ gặp gỡ về mặt thể chất thì không phải là gặp gỡ thật sự. Đó là trường hợp «vô duyên đối diện bất tương phùng», giống như các kinh sư Do Thái gặp và chất vấn Chúa Giêsu, nhưng hai bên không thật sự «gặp gỡ» nhau. Như vậy, nếu không có sự gặp gỡ Thiên Chúa bằng tâm linh, thì có gặp gỡ bằng thể chất, dù là hằng ngày hằng giờ, cũng vô ích. Do đó, điều quan trọng là gặp gỡ Thiên Chúa bằng tâm linh và trong tâm linh của ta, chứ không phải gặp gỡ bằng thể chất như chúng ta đã từng quá chú trọng mà coi nhẹ sự gặp gỡ tâm linh. Thật vậy, người ta có thể rước Thánh Thể hằng ngày mà không hề gặp gỡ Thiên Chúa, chỉ vì người ta đã không gặp gỡ Ngài bằng tâm linh, là cách gặp gỡ mà Chúa Giêsu muốn nói đến khi tiếp xúc với người phụ nữ Samari về nơi thờ phượng và gặp gỡ Thiên Chúa (x. Ga 4). Chỉ sau khi gặp gỡ Thiên Chúa trong tâm linh, người ta mới có thể gặp gỡ Ngài ở bất cứ nơi nào khác: trong phép Thánh Thể, trong thiên nhiên, trong vạn vật.

Gặp gỡ Thiên Chúa qua các bí tích

Tuy nhiên, chúng ta không nên coi nhẹ sự gặp gỡ Thiên Chúa qua các bí tích, nhất là qua phép Thánh Thể, vì con người có thể chất, và vì thể chất ảnh hưởng rất mạnh đến tinh thần hay tâm linh. Nếu không có sự gặp gỡ Thiên Chúa bằng tâm linh, thì gặp gỡ qua thể chất là vô ích. Nhưng nếu chỉ gặp gỡ Thiên Chúa bằng tâm linh thì chưa đủ đối với con người có hồn có xác. Nếu đã gặp gỡ trên bình diện tâm linh, thì sự gặp gỡ về thể chất sẽ làm cho sự gặp gỡ đó thắm thiết lên gấp bội và ích lợi cho con người cũng tăng lên gấp bội. Điều đó tương tự như trong sự gặp gỡ giữa vợ chồng. Nếu không có sự gặp gỡ bằng tâm hồn, bằng tình yêu chân thật, thì sự gặp gỡ thể xác sẽ trở thành vô ý nghĩa. Nhưng nếu đã gặp gỡ bằng tâm hồn, bằng tình yêu chân thật, thì sự gặp gỡ đó đòi hỏi phải có sự gặp gỡ thể xác như một nhu cầu thiết yếu. Và sự gặp gỡ thể xác ấy sẽ làm cho sự gặp gỡ tinh thần kia hạnh phúc lên gấp bội. Và phải gặp gỡ trên cả hai bình diện đó thì đôi vợ chồng mới đúng nghĩa là vợ chồng… Cũng vậy, có gặp gỡ Thiên Chúa bằng tâm linh trước thì việc gặp gỡ Ngài qua thể chất mới có ý nghĩa. Vì thế, Giáo Hội buộc những ai lãnh bí tích Thánh Thể hay các bí tích khác (trừ rửa tội và giải tội) phải chuẩn bị trước, và điều quan trọng là phải sạch tội trọng… Đó là một hình thức Giáo Hội buộc người tín hữu phải gặp gỡ Thiên Chúa bằng tâm linh trước đã, trước khi gặp gỡ Ngài qua những dấu chỉ hữu hình vật chất. Nhưng đáng tiếc là nhiều tín hữu đã hiểu sự đòi hỏi chuẩn bị trước này một cách quá thô thiển và ngây ngô, nên đã không nếm được «mùi vị tuyệt vời» và hưởng những ơn ích dồi dào do sự gặp gỡ Đức Kitô qua thể chất. Các bí tích khác cũng vậy.

Nếu người nào chỉ bằng lòng với việc gặp gỡ Thiên Chúa bằng tâm linh, không đếm xỉa gì đến việc gặp gỡ Thiên Chúa qua bí tích, thì việc gặp gỡ bằng tâm linh đó chưa hẳn đã là một sự gặp gỡ đích thật. Thật thế, có cặp vợ chồng nào yêu thương nhau thực sự - tức đã gặp gỡ về tinh thần - mà lại không có nhu cầu gặp gỡ về thể chất? Trong tám cái khổ của Khổ Đế Phật Giáo, có một nỗi khổ rất lớn là «ái biệt ly khổ», nghĩa là nỗi đau khổ do yêu thương nhau mà phải sống xa cách nhau. Vì thế, khi đã thực sự gặp gỡ Thiên Chúa bằng tâm linh rồi mà không được gặp Ngài qua thể chất, thì chắc chắn đó phải là một nỗi khổ, vì tình yêu chưa được thỏa mãn. Đấy là lý do khiến các thánh say sưa quì hàng giờ trước Thánh Thể Chúa. Gặp gỡ tâm linh càng đậm đà sâu thẳm bao nhiêu, thì gặp gỡ qua bí tích càng là một nhu cầu cấp bách, càng có ý nghĩa và càng sinh hoa trái bấy nhiêu.

(Còn tiếp)

Về mục lục >

 

THẦN LỰC CHỮA LÀNH
CỦA LỜI CẦU NGUYỆN THEO KINH THÁNH

(tiếp theo Maranatha_4)

Hoàng Quý

Bí quyết thành đạt của việc cầu nguyện chữa lành cũng như cầu nguyện theo Thánh Kinh đặt nền tảng nơi chúng ta biết trao đổi con tim với người khác trong mọi lúc. Linh mục Linn kể lại một đôi khi ngài đi tới buổi hội họp với một tâm sự không vui, «Tôi thực sự mệt nhọc và muốn đi ngủ sớm hơn. Tôi đuối sức đứng hát thánh ca. Nhưng rồi tôi cũng cố gắng tham gia đứng hát ca ngợi Chúa với các anh chị em khác hơn là tôi thực tâm muốn ca ngợi. Khi hát đến bài thứ tư, tôi không còn cảm thấy mình bị ép uổng nữa, nhưng những lời ca ngợi Chúa đã làm bốc cháy trái tim tôi. Cũng thế, khi tôi mệt nhọc, tôi dễ trở thành một con người thụ động, chán nản, và tôi phải tìm cách bỏ đi những tình cảm thụ động và chán nản này». Đó là diễn tiến của việc buôn bán hoặc trao đổi con tim. Như vậy, trong việc cầu nguyện theo Thánh Kinh, chúng ta cần trao đổi trái tim với Chúa Giêsu, hòa nhập trái tim với Ngài, cho đến khi chúng ta suy nghĩ và rung cảm như Ngài đã thể hiện trong đoạn Tin Mừng đó.

Cách thức cầu nguyện theo Thánh Kinh như vừa kể trên cũng có thể áp dụng trong gia đình. Linh mục Linn kể lại trường hợp cặp vợ chồng bác sĩ, bạn của ngài. Họ thức dậy mỗi buổi sáng vào lúc 5 giờ để lắng nghe Chúa Giêsu nói với họ qua Thánh Kinh. Họ bắt đầu đọc một đoạn Thánh Kinh của ngày lễ hôm đó hoặc một đoạn nào họ cảm thấy Chúa muốn trao đổi với họ. Sau đó họ dành ra khoảng 20 phút thanh lặng để thấm nhập trái tim Chúa Giêsu trong đoạn này. Rồi họ chia sẻ cho nhau những gì đoạn Kinh Thánh này đánh động họ nhất. Sau cùng, họ cầu nguyện với nhau theo tinh thần của đoạn Thánh Kinh này. Giờ cầu nguyện chất lượng này dùng để trao đổi con tim với Chúa Giêsu và với nhau đã làm thay đổi mối giây thân tình giữa hai người thật mãnh liệt, đến nỗi họ quyết định mỗi tuần họ dành một giờ cầu nguyện như thế với từng người con của họ. Trong giờ cầu nguyện với con cái như thế, họ thúc đẩy con cái trao đổi con tim với họ. Muốn có thời giờ dành ra cho con cái như thế, họ quyết định bớt một phần tư thời giờ khám bệnh. Gia đình họ hao hụt lợi tức, nhưng cuộc sống gia đình của họ trở thành phong phú và đầm ấm hơn nhiều.

Những đau khổ day dứt nội tâm cũng được chữa lành nhờ cầu nguyện với Thánh Kinh, không những khi cầu nguyện với người khác, nhưng cả khi cầu nguyện một mình nữa. Linh mục Linn kể lại trường hợp một linh mục bạn đã phải giao tranh với một cuộc sống bạc nhược, và nay đã thay đổi thành tự do thoải mái. Ngài hỏi nguyên do nào đã đưa đến những thay đổi khác biệt này. Vị linh mục bạn chia sẻ tâm tư sau khóa tĩnh tâm mới đây nhất:

«Cách đây một thời gian, tôi trình bầy với linh mục giám đốc là tôi chán nản với chính mình vì đã sinh trưởng trong một gia đình nghiện rượu, cha tôi bỏ rơi tôi và từ đó tôi học hành thất bại. Tôi đã cố công làm mọi chuyện, nhưng đều thất bại. Anh nhìn tôi này, người thì mập phì quá tải tám chục pounds. Tôi biết mình là kẻ xấu xí hơn ai hết. Và anh biết linh mục giám đốc trả lời tôi làm sao không? Ngài bảo tôi, 'Con hãy dành ngày mai chiêm ngắm Chúa Giêsu trả lời thế nào cho một người xấu xí nhất trong Thánh Kinh, người xứ Gêrasa bị quỷ nhập' ( Mc 5:1-20). Ngày hôm sau tôi thi hành những gì linh mục giám đốc khuyên tôi và liên tiếp trong cả tuần tĩnh tâm tám ngày. Tôi thật khó tin Chúa Giêsu lại có thể yêu thương một con người kinh tởm và man rợ như thế. Ngài làm nổi bật vẻ đẹp tiềm tàng trong con người xấu xí này sau khi anh được chữa lành, anh đã được Ngài sai đi rao giảng Tin Mừng thật nhiệt thành. Rồi tôi bắt đầu nhìn xem Chúa Giêsu xử dụng cái quá trình nghiền rượu và côi cút của tôi để giúp tôi lên đường hoạt động truyền giáo nơi người da đỏ, những người cũng bị nạn nghiền rượu và mất mát người thân như tôi. Tôi thực sự thương cảm được những bất hạnh và đớn đau như ho, vì tôi cũng xuất thân từ một gia đình tương tự như họ và tôi có bổn phận phải biến đổi họ trở thành gia đình của tôi. Khúc quẹo quan trọng cuộc đời khi tôi đã nhìn ra cách thức Chúa Giêsu đối xử với con người bất hạnh này cũng giống như tôi. Rồi tôi bắt đầu cảm thương được với chính mình và cảm thương người khác sống chung quanh tôi. Đó là lần đầu tiên tôi thực sự cảm nhận được mình hạnh phúc và tôi vui sướng với chính mình».

Những đổi thay kỳ diệu như thế nơi bản thân tôi, nơi gia đình, nơi người khác, nhờ việc cầu nguyện theo Thánh Kinh đã đẩy linh mục Linn đi tới chỗ tin rằng việc cầu nguyện này sẽ đổi thay được xã hội và thế giới. Ngài kể lại thời gian đang ở Anh Quốc vào thời điểm tại Hoa Kỳ đang bùng nổ những cuộc bạo động da mầu tại Brixton, ngài nhìn thấy truyền hình Anh Quốc chiếu lại câu chuyện ông Daddy King, cha ruột của mục sư Martin Luther King. Ông Daddy King chia sẻ ông đã hoán đổi cuộc sống hoàn toàn như thế nào. Hồi còn thơ trẻ, ông phải ngồi ăn ở ngoài cửa sau, trong lúc người bạn học da trắng con điền chủ lại chỗm chệ ngồi bàn ăn trong phòng. Từ tuổi thơ ấu ấy, ông ghen ghét và nuôi ý đồ trả thù người da trắng.

Vào một ngày kia, lúc ông mười tám tuổi, tình cờ ông nhìn lên cây thánh giá trong nhà thờ. Từ thâm tâm ông nghe thấy lời Chúa Giêsu nói trên thập giá, «Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm» (Lc 23,34). Vào giây phút ấy Daddy King bị niềm ao ước tha thứ cho người da trắng tràn ngập tâm hồn ông, dầu cho bao xử đãi tàn tệ và bất công đã gây ra cho ông và các người da đen như ông. Những lời Tin Mừng ấy làm tan chảy đống núi thù ghét và định kiến trong ông. Những lời Tin Mừng ấy đã gieo hạt giống phản kháng bất bạo động thành yêu thương các kẻ thù nghịch. Martin Luther King, người con yêu quý của ông thừa hưởng thái độ tha thứ thâm sâu của ông và đứng ra lãnh đạo người da đen yêu thương kẻ thù của mình, cả những khi họ bị cảnh sát đàn áp dã man. Hành động sống Tin Mừng như thế đã thực sự chữa lành được các trái tim của người Hoa Kỳ, và sau đó chẳng bao lâu, bản Hiến Chương Nhân Quyền đem lại bình đẳng và tôn trọng người da đen, trờ thành một thực tại kéo dài tới ngày nay tại Hoa Kỳ.

Những kinh nghiệm kể trên cho chúng ta thấy rằng các biến cố trong đời sống Chúa Giêsu đang trở nên sống động, linh hoạt khi chúng ta đem cuộc chiến đấu hiện hành của chúng ta đến trước Chúa Giêsu và hỏi Ngài xem nơi đâu Ngài hoặc người khác trong Tin Mừng đã hành xử như chúng ta đang hành xử không? Cứ thế, trong những giờ phút cầu nguyện mỗi ngày, chúng ta hãy hỏi Chúa Giêsu xem Ngài thường xử đối thế nào trong từng hoàn cảnh sống thực tiễn của chúng ta hàng ngày. Và lần lượt qua các đoạn Tin Mừng , Ngài dẫn dắt chúng ta trở thành sống động và đem ơn chữa lành cho người khác.

Về mục lục >

 

 HÔN NHÂN GIA ĐÌNH

HÔN NHÂN KHÁC TÔN GIÁO

Trần Mỹ Duyệt

"Đạo nào cũng là đạo". Câu nói này thường được nghe nơi một số người cho rằng mình thuộc thành phần cởi mở và dễ tính. Cũng có thể, đối với họ đạo hay không đạo cũng chỉ là một hình thức mê tín dị đoan do xã hội bày tạo. Do đó, đạo chỉ là một lối sống vụ hình thức với những lễ nghi bên ngoài, nặng tính cách mê tín dị đoan. Do quan niệm như thế, ngày nay những cuộc hôn nhân khác tôn giáo đã trở thành thông thường, nhiều người đã không đặt vấn đề tôn giáo vào một chỗ đứng quan trọng nữa. Kết quả là chính do những niềm tin khác biệt ấy làm cho đời sống hôn nhân họ gặp thử thách và đưa đến đổ vỡ. Mục đích của bài này không mang tính cách hộ giáo, mà chỉ đưa ra một cái nhìn tổng quát giữa những khác biệt về tôn giáo trong hôn nhân qua tâm lý học, và hy vọng sẽ giúp những ai đang chuẩn bị hoặc đang sống trong cuộc hôn nhân khác tôn giáo có được một cái nhìn đứng đắn về vai trò tôn giáo trong hạnh phúc của hôn nhân.

CÓ ĐẠO HAY KHÔNG CÓ ĐẠO:

Tình yêu và sự nối kết hôn nhân dưới cái nhìn tâm lý hôn nhân được thẩm định dưới ba góc độ: Thể lý, tâm lý và tâm linh.

Thể lý là những gì ta nhìn thấy từ bên ngoài. Cao, thấp, mập, còm, trắng, đen. Nụ cười, khóe mắt, bờ môi, mái tóc, điệu bộ đi đứng, nói năng. Tất cả những cái ấy là những hấp dẫn ban đầu đưa hai người trai gái đến gần với nhau. Nhiều chàng đã mất ăn, mất ngủ vì mái tóc của người đẹp. Nhiều nàng đã thao thức năm canh, ốm o, hao mòn vì nụ cười và ánh mắt hôm đó chàng trao nàng.

Từ những hấp dẫn ấy, chàng và nàng bị thu hút lại gần nhau, và từ từ khám phá ra những điều trùng hợp, những khác biệt, cũng như những tiềm ẩn trong con người nhau. Đó là giai đoạn họ tìm nhau qua những thu hút về tâm lý. Hợp nhau hay không hợp nhau. Con người chàng, con người nàng có phù hợp với những gì mà mình bị hấp hẫn từ bên ngoài. Cách thức nói năng, tư cách xã giao, sự săn đón, thông cảm và hiểu biết. Tính tình cởi mở hay gò bó, phóng khoáng hay bảo thủ, hiền lành hay nóng nẩy, thông cảm hay chấp nhất.

Nhưng quan trọng hơn là những khác biệt về đời sống tâm linh. Rất tiếc nhiều người và nhiều bạn trẻ đã bỏ qua sự khác biệt này, và đã đưa đời sống hôn nhân của họ đến chỗ đổ vỡ.

Tâm lý học, đạo đức học, và xã hội học cho đến nay vẫn chưa loại bỏ quan niệm về sinh dục và sinh lý trong cái nhìn phân tâm học của Freud. Theo nhà phân tâm học này, bản năng và nhu cầu sinh lý là bản năng mạnh mẽ nhất, cần thiết nhất cho cuộc sống tự nhiên. Điều này coi như có vẻ thiếu đạo đức đối với một số nhà luân lý và đạo đức có quan niệm bảo thủ. Nhưng dù bảo thủ, vẫn chưa ai chối bỏ được những thôi thúc và những "cám dỗ" của nó. Ngay cả những nhà tu hành, những người suốt đời chấp nhận để lại sau lưng những thôi thúc và ham muốn ấy vẫn phải khốn khổ, và nhiều khi đã vấp phạm nặng nề với những đòi hỏi và nhu cầu của tính dục. Trước những thôi thúc của bản năng như thế, chỉ có một phương thuốc và sức mạnh kìm hãm nhất là đời sống hay nhu cầu tâm linh.

Thật ra, đạo hay nhu cầu tâm linh không chỉ thuộc thuần túy theo nhãn quan luân lý và đạo đức đặc sệt mầu sắc tôn giáo. Nhưng đó là một đời sống gắn bó và đi liền với sự phát triển của con người ngay từ khi còn nhỏ bé. Theo Kohlberg, nhà tâm lý đạo đức, thì sự hình thành và phát triển luân lý quyện lẫn với sự phát triển tâm lý và trí tuệ của ta khi còn rất thơ trẻ. Nó chính là những điều giúp cho một chú bé hay một cô bé khi chơi với nhau thì không ăn gian, hoặc không làm cái mà mình cho là bị cấm. Từ sợ bố mẹ phạt, sợ người khác bắt gặp thì xấu hổ. Từ sự nhận thức rằng làm tốt sẽ được thưởng và cảm thấy sung sướng, dẫn đến việc thâm tín rằng mình không thể làm những việc xấu vì nó xúc phạm hoặc không xứng với đạo lý làm người. Tiến trình phát triển tâm lý đạo đức ấy tuy không nhìn thấy, nhưng đã lớn dần cho đến khi em bé ở vào thời gian 10 hay 11 tuổi, là cái tuổi tâm lý cho rằng em đã biết đủ về hành động tốt hay xấu của mình khi cần phải quyết định.

Quan cái nhìn xã hội, ta thấy những người cho mình thuộc thành phần không tôn giáo, hoặc vô thần như thế nào? Họ cứ loanh quanh với tư tưởng cho rằng mình không cần có Đấng ở trên cao, hoặc chối bỏ sự hiện hữu của Thượng Đế. Không theo đạo nào, và cũng không cần đạo. Nhưng khi gặp những cái mà trí khôn họ và khoa học không giải thích nổi thì họ lại càm ràm và cho là Thượng Đế không có mắt. Ngay việc họ cố tình chối bỏ, hoặc muốn chứng tỏ rằng họ không phải là người có đạo, điều này đã nói lên rằng tâm lý đạo đức, và đời sống tâm linh thực sự chưa chết hẳn trong họ, hay không có trong họ.

Tóm lại, dù là Công Giáo, Tin Lành, Chính Thống, Phật Giáo, Khổng Giáo, Bà La Môn, Hồi Giáo, Ấn Giáo, tất cả đều mang mầu sắc tâm linh mà mỗi người đều ảnh hưởng, đều đã hấp thụ và đều cần thiết cho cuộc sống hoàn chỉnh của một con người.

ĐẠO NÀO CŨNG LÀ ĐẠO:

Nhưng không phải đạo nào cũng là đạo. Quan niệm này đúng ít nhất là cho tôi và cho bạn. Sự khác biệt của mỗi tôn giáo đã thường gây nên bao tranh cãi, bao cay đắng trong đời sống tâm linh của nhiều người và của nhiều tôn giáo. Ngay trong thời đại của chúng ta, khi mà các hệ thống triết lý, thần học, tu đức, hoặc phụng vụ của mọi tôn giáo đã được hệ thống hóa, được biết tới, vẫn có người không ngần ngại xỉ vả nhau, chê bai nhau, hoặc cắt nghĩa sai lạc quan niệm về đạo của nhau. Họ làm những việc ấy trên truyền thanh, truyền hình, báo chí, và cả sách vở. Những hành động ấy càng chứng tỏ rằng không phải đạo nào cũng là đạo, và sự khác biệt về ý thức của tâm linh trong mỗi tôn giáo là một điều hết sức cần thiết phải để ý trong những giao tiếp thường ngày với nhau trên quan niệm về tôn giáo.

Robert Ellis, một nhà tâm lý của Hữu lý Tình Cảm đã cho rằng quan niệm và đời sống tâm linh không tương nhượng, không chấp nhận đối thủ. Lịch sử tôn giáo của các đạo đã cho biết điều này. Sức mạnh của tôn giáo chính là động lực làm nên những nhà tuẫn giáo, những thánh nhân, và ngay cả những kẻ sát nhân cuồng tín. Tại sao, ngay ở trong thời đại chúng ta mà cũng có những người ôm chăn vào sa mạc chờ phi thuyền không gian xuống rước lên Thiên Đàng. Cái chết của hàng trăm tín đồ Cổng Trời đã làm khắp thế giới và Hoa Kỳ rung động trước đây. Cái chết của những anh chàng cuồng tín Hồi Giáo đã lái máy bay đâm vào hai tòa cao ốc ở Trung Tâm Thương Mại Thế Giới. Những cuộc nổ bom tự sát hiện nay ở Iraq, ở Palestine hay khắp nơi trên thế giới, hay như những việc làm phi thường của một Têrêsa Calcutta ngày ngày sát bên những người cùi hủi, thối tha, ghẻ lở là một thí dụ về sức thu hút của tôn giáo. Làm sao một người lại sẵn sàng ôm chăn vào sa mạc chờ chết. Làm sao một người lại lái máy bay, ôm bom để tự sát. Và làm sao một người lại không cảm thấy cái hôi thối, ghê gớm của phong cùi, của ghẻ lở? Tất cả họ lấy sức mạnh từ niềm tin của tôn giáo.

Nhưng những cái làm cho cuộc sống và cái chết của Mẹ Têrêsa khác với cuộc sống và cái chết của những kẻ ôm bom tự sát, hoặc những người ôm chăn vào sa mạc uống thuốc độc tự tử đến từ tôn giáo và quan niệm khác nhau về tôn giáo. Nó cho ta thấy rằng không phải tôn giáo nào cũng giống nhau, và sự tiếp thu của mỗi tôn giáo lại tùy thuộc vào nhận thức và sự trưởng thành của tâm lý con người nữa.

Gần đây, trong thời đại của chúng ta người có công nhất trong việc cổ võ đối thoại giữa các tôn giáo là Đức Gioan Phaolô II. Vị Giáo Hoàng này xem như say sưa và bị thu hút với tư tưởng đối thoại và tìm hiểu ấy. Văn Phòng Đối Thoại Liên Tôn và Văn Phòng Hiệp Nhất Kitô Giáo của Giáo Hội Công Giáo đã đang làm việc ráo riết theo ý tưởng của vị Giáo Hoàng này. Điều này cũng cho ta thấy rằng, tuy các tôn giáo hiện hữu và tác dụng trong đời sống tâm linh của con người, nhưng không phải đạo nào cũng giống nhau, và đạo nào cũng là đạo của tôi, và cho tôi.

Không phải đạo nào cũng là đạo của tôi và cho tôi. Đây là một quan niệm không những đúng theo cái nhìn của tôn giáo, mà còn cả về tâm lý hôn nhân nữa.

HÔN NHÂN KHÁC TÔN GIÁO:

Nếu tôn giáo là một cái gì gắn bó, và đi vào xương tủy, lề thói của một người, một dân tộc như văn hóa làm nên con người trong văn hóa đó, thì không bao giờ có chuyện bỏ đạo, mà chỉ là chuyển đổi lối nhìn, lối suy nghĩ, và hành động thực hành đạo với niềm tin, với lối sống và hành đạo mà mình cho là phù hợp nơi một tôn giáo khác. Tức là tự thâm tâm con người niềm tin vẫn sống động, vẫn quy hướng về Thượng Đế, nhưng là áp dụng niềm tin ấy bằng cảm nhận khác.

Nhận định trên sẽ làm cho một số người không hài lòng vì cho rằng hằng năm vẫn có hàng bao nhiêu người "bỏ" đạo của họ để theo Công Giáo hoặc Tin Lành... Đối với những người theo Công Giáo thì còn khắt khe hơn là người ngoài Công Giáo muốn kết hôn với một người Công Giáo phải kết hôn theo nghi thức Công Giáo, phải tham dự những lớp dự bị hôn nhân được tổ chức trong Giáo Hội. Một số còn cưỡng ép người phối ngẫu phải rửa tội để cử hành lễ cưới theo nghi thức Công Giáo. Làm chi vậy? Vì muốn cho mọi người biết rằng mình là người có đạo, mình giữ đúng lề luật, và truyền thống đạo đức. Nhất là để mừng thầm rằng mình đã "cứu" được một linh hồn về cho Chúa.

Không biết đó có phải là quan niệm ấu trĩ và thái quá không, nhưng trong thực tế thì đã có nhiều trường hợp: "Lậy Đức Chúa Trời Ba Ngôi, tôi lấy được vợ, tôi thôi nhà thờ" . Đó là vì người ấy bỏ đạo mình chỉ vì muốn được vợ hay được chồng. Thâm tâm họ, họ chữa sẵn sàng, và chưa tìm được lý do nào khác, ngoài lý do nếu không rửa tội thì sẽ mất vợ hay mất chồng. Mà vì phải cưỡng ép theo một tôn giáo mà mình chưa hoàn toàn tin nhận hoặc cho là quan trọng cho mình, nên sự khác biệt tôn giáo sau này cộng thêm sự khác biệt về tâm lý, khả năng trí tuệ và ảnh hưởng giáo dục sẽ làm cho đời sống hôn nhân của hai người khác tôn giáo trở thành căng thẳng, rắc rối và tạo nên những cơ hội đi đến đổ vỡ.

Sự khác biệt tôn giáo, do đó, trong tương quan hôn nhân và gia đình rất dễ đưa đến ngộ nhận, đôi khi bất đồng nếu cả hai người không quảng đại, hiểu biết và khách quan đủ khi đề cập đến vấn đề tôn giáo.

Về mục lục >

MAI NÀY EM LÊN XE HOA...

Trần Duy Nhiên

Em,

Vài ngày nữa, em sẽ lên xe hoa ở nơi xa và thầy không có cạnh em trong ngày trọng đại ấy. Thầy viết thư này cho em như một quà cưới và thay cho sự hiện diện của thầy.

Thế là em sắp đi qua một bước ngoặt dứt khoát trong đời mình. Em tiến vào một mảnh đất đầy hứa hẹn nhưng cũng đầy dẫy những bất ngờ mà em sẽ khám phá và vượt qua.

Trước hết, thầy muốn làm rõ một câu nói khá phổ biến: “Hôn nhân là mồ chôn của tình yêu”. Đúng như vậy! Tình yêu giẫy chết đúng vào ngày cưới! Nhưng tình yêu đã chết đó là thứ tình yêu nào? Nhớ lại mà xem, từ ngày em và anh ấy biết nhau, em đã làm mọi sự để trở nên người duy nhất trong trái tim anh ta. Em đã làm tất cả để được lòng anh ấy, em không lùi bước khi phải quên bản thân mình hay phải 'hy sinh' nếu cần thiết. Nhưng hãy nhìn vấn đề một cách sáng suốt! Tất cả những gì em từng làm chỉ có một mục đích duy nhất, dù em có ý thức hay không, đó là để biến anh ấy thành một người thuộc quyền sở hữu của em. Vì thế, từ trước đến nay, tình yêu mà em dành cho anh ấy (cũng như anh ấy dành cho em) là một tình yêu chiếm hữu: em muốn chiến hữu anh ấy, như một vật sở hữu mà em sẽ đem 'tình yêu' của mình mua với một giá tương xứng. Nhưng giờ đây, hai em đã trở thành vợ thành chồng, nghĩa là 'của' nhau rồi: người kia đã trở thành một của cải, một tài sản, một vật sở hữu của mình; vì thế tình yêu chiếm hữu không còn lý do để tồn tại: nó chết đi và biến mất. Vâng, 'hôn nhân là mồ chôn của tình yêu' nhưng là của loại tình yêu chiếm đoạt, ích kỷ và qui hướng về mình. Tuy nhiên, cùng với hôn nhân, bắt đầu một tình yêu khác để dẫn đến một hạnh phúc khác: tình yêu dâng hiến. Kể từ nay, em không xem anh ấy (và ngược lại) như là một 'vật rất có ích' mà em sẽ đắc thủ bằng mọi giá, nhưng em sẽ bắt đầu yêu anh ấy vì bản thân anh, em bắt đầu 'tự hiến' cho anh ấy thay vì 'chiếm hữu' anh ấy. Và em càng quên mình vì người mình yêu thì dần dần em càng khám phá ra những chân trời mới, tuyệt diệu và vô biên. Một cuộc khám phá mà em cần cả cuộc đời để thực hiện.

Nhưng để xây dựng một cuộc đời hạnh phúc, cần phải bắt đầu lại từng ngày để làm 'vệ sinh' tình yêu. Ta thường ngủ quên trên những gì mình đã đạt được để rồi một hôm ta phát hiện rằng những gì mình từng yêu quí từng trân trọng nhất đã trở thành nhàm chán, rẻ tiền, tầm thường... cho đến ngày cơn bão tố đầu tiên nổ ra. Ngay từ bây giờ, thầy nói trước với em những gì phải làm trong trường hợp 'tổng vệ sinh' (nghĩa là dọn dẹp lau chùi gia đình mình một cách mạnh tay, để xóa bỏ những tì vết mà hai người có thể đã vô tình ghi khắc vào lòng nhau)

Mỗi một con người là một đại dương bí mật và không một ai có thể hoàn toàn biết được người kia, đấy là chưa kể đến việc mỗi người đều biến đổi từng giây từng phút, và nếu hai em không cập nhật hóa những hiểu biết về nhau, thì một ngày nào đó em sẽ đối điện với một người khác ẩn mình dưới diện mạo của người mình từng yêu xưa kia. Trong cuộc sống gia đình, thế nào rồi cũng có những lúc mà ý kiến, phản ứng, cảm nhận của hai người không trùng khớp với nhau, thậm chí còn trái ngược nhau. Trong những lúc ấy, em hãy nhớ:

1. Hãy nói rõ ràng cho chồng em những gì em cảm nhận ... chỉ thế thôi, và một cách dịu dàng. Ngoài sự khác biệt tâm lý giữa người nam và người nữ, em và chồng em còn có những khó khăn khác, xuất phát từ hai truyền thống gia đình khác nhau. Chồng em không phải là Thượng Đế thông biết mọi sự, vì thế anh ấy sẽ không biết điều gì xảy ra trong đầu óc và trái tim của em. Hãy nói cho anh ấy biết niềm đau mà em cảm nhận, nhưng đừng bảo anh phải làm gì cho đúng ý em. Áp đặt ý muốn của mình tự nó là một biểu hiện rằng mình thiếu tôn trọng chồng hay vợ mình; và tinh thần tôn trọng lẫn nhau chính là nền tảng cho hạnh phúc lứa đôi. Anh ấy đủ yêu thương em để tránh cho em những khổ tâm vô ích, và anh ấy sẽ tìm ra cách thức để tự điều chỉnh mình.

2. Nhưng dù sao đi nữa, thế nào rồi trong gia đình cũng có những giờ phút căng thẳng. Những lúc ấy, bằng mọi giá em hãy tránh nói những lời 'phá cầu', nghĩa là những lời mà khi tình trạng căng thẳng qua rồi, thì vết thương vẫn không chịu khép lại trong lòng trí của người chồng mình; và nhịp cầu không thể nào nối lại được như xưa. Những câu nói đại loại như: “Em đã phạm sai lầm lớn nhất đời mình là kết hôn với anh...”, “Nếu em biết trước là anh...... như thế này thì...”, “Thật ra, bản chất của anh là ích kỷ, giả hình, (hay một tính từ nặng nề nào khác)”. Nếu cần phải nói lên điều gì bất đồng, thì hãy giới hạn trong sự kiện, chứ đừng bao giờ buộc tội chồng mình. Ví dụ em sẽ nói: Hôm qua anh nói rằng anh đến nhà anh Hùng, nhưng khi cần hỏi anh một điều, em gọi điện thoại đến nhà anh ấy và được bảo rằng anh không có ở đó. Nhưng đừng bao giờ hét lên với giọng đay nghiến: “Anh đã nói dối tôi, anh suốt đời chỉ là một tên đối trá!..” hay mỉa mai: “Tôi ngu lắm mà! Nói láo thế nào thì tôi cũng tin mà!” Những căng thẳng trong gia đình là điều bình thường (nghĩa là thế nào cũng xảy ra) và tạm thời, nhưng các lời nói 'phá cầu' sẽ là những liều thuốc độc giết chết tình yêu, và do đó cũng giết luôn hạnh phúc.

3. Em hãy nhớ rằng hạnh phúc biến chuyển... và tình yêu cũng thế. Và nếu em thức tỉnh, em sẽ thấy rằng những gì sôi nổi và ngây ngất nhất trong thể xác và trong tinh thần sẽ dần dần mờ đi để nhường chỗ cho một trạng thái trầm lắng, ổn định, yên tĩnh hơn, nhưng đồng thời cũng tầm thường hơn, nhạt nhẽo hơn... Đến một giai đoạn nào đó, hai vợ chồng sẽ xem nhau như 'nước lã'. Lúc bấy giờ, em hãy nhớ: nước lã là một thứ bình thường, thậm chí rất tầm thường, không hương vị đậm đà, không màu sắc rực rỡ, không mảy may hấp dẫn, thế nhưng thiếu nó, thì không làm sao sống được. Và đó là cái hạnh phúc mà em cần phải trân trọng. Khi mọi sự đã trở bên phẳng lặng bình thường, thì hãy nhớ lại những gì hai người đã là ('người là tất cả đối với tôi'), đã làm và vẫn đang còn làm cho nhau.

4. Còn một điều quan trọng. Hãy ý thức về hạnh phúc của mình và thường xuyên cảm ơn nhau trong cách đối xử hằng ngày. Hãy nói lên thành lời để diễn đạt tình yêu, hạnh phúc của mình, để nhắc lại cái may mắn được sống với anh ấy. Thầy ghi lại đây một tình huống điển hình giữa hai vợ chồng:

Vợ: Anh Phong, sao anh không nói gì với em hết vậy?

Chồng: (đang chăm chú đọc báo) Em nói gì?

Vợ: Anh chẳng nói gì với em.

Chồng: Anh đâu có chuyện gì để nói đâu!

Vợ: Anh không thương em!

Chồng: (ngỡ ngàng vì bất ngờ) Đừng nói tào lao, em thừa biết là anh thương em mà! (Rồi bỗng say sưa lý luận). Anh không bao giờ đi chơi với một người nữ nào khác ngoài em! Tiền lương của anh lúc nào cũng trao hết cho em! Anh làm việc như trâu là cho gia đình mình! Bộ em không thấy sao?

Vợ: (vẫn chưa mãn nguyện) Đúng rồi, nhưng anh không hiểu em. Em vẫn muốn nghe anh nói gì đó.

Chồng: Tại sao vậy?

Vợ: Tại vì... tại vì...

Dĩ nhiên, dưới một khía cạnh nào đó, người chồng có lý. Hành động của anh là bằng chứng cụ thể biểu lộ tình cảm của mình. Hành động thì hùng biện hơn lời nói. Nhưng về phía người vợ, thì chị cũng rất đúng. Làm thế nào biết rằng đường dây vẫn hoạt động nếu ta không kiểm tra? Khi một kỹ sư âm thanh nói vào máy vi âm: “một, hai, ba... alô, alô...”, ông chẳng nói điều gì có ý nghĩa. Nhưng đôi khi cũng cần phải nói lên câu vô nghĩa đó.

Điều xảy ra đối với người chồng trong ví dụ trên lại càng đúng hơn đối với em. Là người nữ, lại từng sống trong một gia đình truyền thống rất Việt Nam, em nghĩ rằng hành động tự nó đã nói lên rồi. Em dành những lời nói đặc biệt cho những hoàn cảnh phi thường và có thể em vô tình bỏ qua những cái nhỏ nhặt dệt đều đặn lên tấm vải hạnh phúc bình thường của gia đình mình.

Em à, thầy nói với em những điều ấy không phải vì thầy không tin rằng các em sẽ thành công trong hành trình của hai người, nhưng bởi vì, trước bất cứ một chuyến đi xa nào, thì cũng cần phải dự kiến một bánh xe xơ-cua và vài đồ phụ tùng, phòng trường hợp bất trắc. Giờ đây em hãy lên đường! Hãy vui hưởng chuyến du lịch trọn đời mình... mà không bao giờ lơ đễnh để quên đi điều này: trên trần gian, mọi thứ đều hao mòn, đều cũ đi, đều lão hóa, và không có gì cũ đi hay lão hóa nhanh cho bằng tình yêu và hạnh phúc, nếu ta không tân trang.

Thầy của em.

Về mục lục >

 

THƯ BẠN ĐỌC

 

  •   Ông Micae Nguyễn Hữu Phước là người phụ trách khối hậu cho phong trào Curssilo Melbourne, Úc Châu. Kính xin gởi cho ông được nhận tuần báo điện tử MARANATHA thường xuyên để ông giúp soạn tài liệu cho đoàn thể của ông. Xin gởi cho ông qua địa chỉ email. Kính, Nguyễn đức Huy.

  •   Kính thưa ban Biên Tập. Chúng tôi rất phấn khởi và hân hoan đón nhận tuần báo của quý vị và hết lòng tri ân. Rất chân thành cảm ơn và hân hoan đón nhận sự chia sẻ Tin Mừng vô cùng quý giá của quý vị. Đặng Quang Khoa.

  •  Tôi, linh mục PHẠM NGỌC DIỆN,OP, hiện ngụ tại Tu viện Martino, Hố Nai, thuộc tỉnh Dòng Đa Minh Vietnam. Xin gởi cho tôi tuần báo điện thư Maranatha. Xin chân thành cảm ơn.

  •   Kính chào quý báo, Xin quý báo vui lòng gửi đến địa chị mail của chúng tôi những bài viết của Qúy báo. Xin chân thành cảm ơn! Cầu chúc qúy báo phát triển tốt đẹp. Thanh Hà

  •  Kính chào QUÍ BÁO. Tôi linh mục DAMINH Đinh trung Thành, Nhà thờ LỘ ĐỨC, Kênh 8b, giáo phận LONG XUYÊN. Được Cha BAN giới thiệu, đã được đọc số 6 thấy NỘI DUNG phù hợp, tốt cho cuộc sống...Chúc QUÍ BÁO thành công tốt đẹp. Chân thành cảm ơn vì đã gửi cho tôi bảo maranatha. Chúc quý vị bình an..

  •  Tôi Chu Bình, mới nhận được E-mail của một bạn học có kèm theo tờ Marathana. Cám ơn quý vị đã có lòng và công sức đóng góp cho báo này.  Nội dung rất xúc tích và hữu ích.  Mong sao quý vị phổ biến rộng rãi cho anh chị em giáo dân và cả giáo sỹ để chúng ta đích thực là dụng cụ mà Chúa dùng để "Danh Cha cả sáng" chứ không phải danh tôi cả sáng. Xin tiếp tục gửi cho tôi. Một lần nữa, xin chúc mừng và chúc thành công trong công tác cao đẹp này. Chu Bình 

  • Hi Ban Bien Tap,I enjoy reading this mag.  Please send me a copy/weekly.Thank you. pinkmai.

  • Kính gửi quý Linh Mục, Tu Sĩ và Tín Hữu trong Ban Biên Tập và cộng tác viên của Tuần Báo Điện Tử MARANATHA, con xin gửi vài dòng tâm sự trong hồ sơ đính kèm. Kính mến, Nguyễn đình khâm.

  Sydney, 21 tháng sáu 2004,

Con đã nhận đầy đủ 8 số báo MARANATHA. Con đã lưu giữ 8 số báo trong một ngăn kéo điện tử riêng rất cẩn thận. Con ước muốn được tiếp tục nhận báo MARANATHA đều đặn mỗi tuần như "MANNA" để ăn và sống. Con chân thành kính phục nỗ lực và biết ơn công việc của Ban Biên Tập MARANATHA đang làm. Vì yêu thương, con tìm hiểu và biết thêm về những cây viết đều đặn trong MARANATHA. Lòng kính yêu gia tăng vì những cây viết này đang sống và làm chứng những gì mình đã và đang viết trong lòng quê hương dân tộc, một nơi thắm đỏ máu đào của hàng trăm ngàn chứng nhân tử đạo đi trước. Con tin những bằng chứng này là chứng từ cho Sự Thật. Và con biết Sự Thật là gì.

Con sẽ sử dụng ngăn kéo điện tử MARANATHA này cho công việc tông đồ giáo dân của con. Con đang thuyết phục để có thêm một số độc giả yêu thích sống nhờ MARANATHA. Là một tín hữu giáo dân sống ở Sydney (nước Úc) từ 1985, con có làm việc tông đồ trong lãnh vực hướng dẫn giáo lý hôn nhân từ 7 năm nay và vẫn còn hoạt động trong lãnh vực đó. Con yêu thích MARANATHA vì tuần báo không những cung cấp một nội dung giáo lý súc tích và giá trị, nhưng còn sử dụng Việt ngữ rất cẩn thận để giúp con và những đồng hương xa quê hiểu biết tiếng Việt ở quê nhà đang phát triển và đi về hướng nào. Con chuẩn bị và sẵn sàng đáp lại tình cảm của MARANATHA bằng cách đóng góp những gì thích hợp theo khả năng hạn hẹp của mình và theo kế hoạch chương trình của MARANATHA. 

Kính chúc tuần báo MARANATHA thành công trong sứ mạng của mình và quý vị trong Ban Biên Tập được sung mãn hồn-xác trong Thân Thể của Đức Kitô.

Với tâm tình thành kính, [Nguyễn Đình Khâm.]    

  •  Kính gởi Ban Biên Tập Maranatha, Con là giáo dân của Giáo xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, con muốn được nhận Maranatha và cho 2 bạn của con. Con xin cảm ơn, vì các bạn này cũng là Huynh trưởng, con nghĩ rằng Maranatha rất cần cho chúng con. Xin chân thành cảm ơn. Nguyễn Phương-Uyên.

  •  Mong các anh chị cho em những thông tin và liên lạc về các hoạt động công giáo ...em là sinh viên ở Việt Nam ... được anh trai ở Úc giới thiệu về web site của các anh chị ...sau này có thời gian em sẽ nói nhiều hơn nhé ... bây giờ em xin tạm dừng nhe. Chúc các anh chị luôn vui và hạnh phúc trong công việc phục vụ của mình, xin Chúa ban nhiều ơn lành và thêm sức cho các anh chị. Nguyễn Chi Dung.

  •  Kính chào Maranatha, Tôi được đọc tuần báo Maranatha qua một người bạn. Tôi rất thích tuần báo này. Để tiện hơn trong việc theo dõi tuần báo, xin Maranatha gọi trực tiếp cho tôi qua địa chỉ này. Xin chân thành cảm ơn. Kính thư. Trần Oanh.

  •  Kính gửi MARANATHA, xin chân thành cám ơn tuần báo đã làm một công việc truyền giáo rất hữu ích hợp với thời đại ngày nay. Con là Gioan Kỳ, hiện con đang là tập sinh của dòng HIẾN SĨ ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM (OMI) tại Việt Nam. Với ước mong được dấn thân phục vụ cho Giáo Hội qua tha nhân. Con xin MARANATHA cho con được nhận những số báo ra định kỳ. Nhằm mục đích trao dồi học hỏi để làm hành trang phục vụ cho tha nhân. Xin chân thành cám ơn MARANATHA.  Gioan Vũ Ngọc Minh Kỳ.

  •   Anh Trần Duy Nhiên giới thiệu cho tôi từ báo số 1, nhưng bận quá chưa có dịp liên lạc với quí Báo. Cám ơn Chúa đã cho tôi có dược người bạn tốt khi gửi và giới thiệu tôi với Maranatha. Nhiều khi Chúa thì thầm bên tai, nhiều khi Chúa đập ngay vào mặt, chỉ để tôi nhận ra sự hiện diện yêu thương của Ngài trong mọi phút giây, nhưng tôi vẫn chối từ. Maranhatha là quà đấm thật đau và thật ngọt tôi nhận được! Tạ ơn Chúa. Xin Chúa chúc lành cho mọi cố gắng của quí Báo. Ruệ Phạm. USA.

  •  Chúc Tuần Báo ngày một phong phú. Nguyễn Bá Lệ.

Về mục lục >

     

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn