|
CẦU NGUYỆN LÀ GẶP GỠ THIÊN CHÚA Nguyễn Chính KếtCầu nguyện là một sinh hoạt thường xuyên, rất thân thuộc đối với người Kitô hữu. Có thể nói: một Kitô hữu không cầu nguyện không thể là một Kitô hữu đúng nghĩa. Cầu nguyện có thể mang nhiều hình thức: đọc kinh, nguyện gẫm, chiêm niệm, ca tụng, tạ ơn, xin ơn, nói với Chúa và nhất là nghe Chúa nói, v.v… Nhưng bản chất của cầu nguyện chính là sự gặp gỡ liên vị giữa Chúa và ta. Và nhờ sự gặp gỡ đó, ta mới cảm nếm được Thiên Chúa, mới hiểu về Ngài. Cái hiểu này đến từ cảm nghiệm, chứ không phải đến từ suy luận hay lý thuyết như khi học hỏi. Khi cầu nguyện, nếu không thực sự gặp gỡ Thiên Chúa, thì có thể nói ta chưa đạt được bản chất hay mục đích của cầu nguyện. Thật vậy, có nhiều trường hợp người ta đọc kinh, nguyện gẫm, lần hạt, rước lễ… mà không thực sự gặp gỡ Thiên Chúa. Như thế, người ta chỉ có vẻ cầu nguyện chứ chưa thực sự cầu nguyện, và đương nhiên không cảm nghiệm được Ngài. Gặp gỡ và thưởng nếm Thiên Chúa quan trọng hơn biết về Thiên Chúa Người ta không gặp gỡ Thiên Chúa vì người ta không đặt nặng việc đó. Người ta thường có khuynh hướng chú trọng nhiều đến việc học hỏi về Thiên Chúa, và ít lưu tâm đến việc gặp gỡ và thưởng nếm Thiên Chúa. Suy tư để hiểu biết về Thiên Chúa rất quan trọng, vì có hiểu biết về Thiên Chúa, chúng ta mới yêu mến Ngài: «vô tri bất mộ». Nhưng trong thực tế, biết về Thiên Chúa không quan trọng bằng gặp gỡ Ngài, thưởng nếm Ngài. Cũng như biết nhiều về nước, biết chính xác về nước với các tính chất và thành phần cấu tạo của nước không quan trọng bằng việc uống nước. Không biết gì về nước hay biết sai lạc về nước, không sao cả, miễn là có uống nước. Còn biết hoàn toàn đúng về nước mà không uống nước, thì sẽ bị cơn khát dày vò, thậm chí chết được. Cũng vậy, bàn cãi xem Thiên Chúa là hữu ngã hay vô ngã, là một hay là hai với vũ trụ, sáng tạo ra vũ trụ hay biến hóa ra vũ trụ, thực tế không quan trọng bằng việc gặp gỡ Thiên Chúa, hưởng nếm sự dịu ngọt của Ngài, nhận được ân sủng và sức mạnh của Ngài. Rất nhiều thần học gia nói thao thao bất tuyệt về Thiên Chúa nhưng không cảm nghiệm được Thiên Chúa bằng một trẻ em đơn sơ chân thành. Như vậy, biết Thiên Chúa chỉ là phương tiện, yêu mến Thiên Chúa mới là mục đích. Biết mà không dẫn tới yêu mến và cảm nghiệm, thì cái biết đó trở nên vô ích. Không một tôn giáo nào trên thế giới không nói tới Hữu Thể mà người Kitô hữu gọi là Thiên Chúa, có điều họ gọi Hữu Thể ấy bằng những tên khác, và quan niệm về Hữu Thể ấy rất khác chúng ta. Nhiều khi ta cho rằng họ «vô thần», chỉ vì họ không quan niệm Hữu Thể ấy là «thần» như chúng ta. Không một tôn giáo nào không lấy Hữu Thể đó làm trọng tâm duy nhất của đời sống tâm linh, và coi việc gặp gỡ, cảm nghiệm và kết hợp với Hữu Thể ấy là thực nghiệm tâm linh quan trọng nhất của đời sống tôn giáo. Và mỗi tôn giáo đều có những cách để gặp gỡ và cảm nghiệm Hữu Thể ấy. Nói chung, tất cả các tôn giáo cũng như tất cả các giáo phái Kitô giáo đều chung một mục đích duy nhất là gặp gỡ và thực nghiệm được Hữu Thể mà chúng ta gọi là Thiên Chúa, mặc dù các tôn giáo quan niệm rất khác nhau về Hữu Thể ấy. Vì thế, việc gặp gỡ và cảm nghiệm Thiên Chúa có thể là khởi điểm để các tôn giáo và các giáo phái Kitô giáo có thể gặp gỡ nhau, trao đổi, và cùng múc được chính sự sống tâm linh đích thực, mà không nhất thiết phải đồng ý với nhau về các tín điều vốn rất khác biệt nhau giữa các tôn giáo. Các tín điều ấy hay sự hiểu biết về Thiên Chúa không hẳn là điều kiện tối cần để có thể thực sự gặp gỡ và cảm nghiệm được Thực Tại Tối Hậu ấy, tức Thiên Chúa. Thật vậy, một người quê mùa được học hỏi rất ít về Thiên Chúa, hay một đạo sĩ trong một tôn giáo Á châu quan niệm về Thiên Chúa khác hẳn chúng ta, vẫn có thể gặp được Thiên Chúa và cảm nghiệm về Ngài hơn một thần học gia nổi tiếng. Điều đó đã xảy ra trong Kinh Thánh, khi Chúa Giêsu giáng sinh: những người gặp và thấy Chúa không phải là những bậc thầy dạy về Thiên Chúa, mà là các mục đồng biết rât ít về Ngài (x. Lc 2, 8-18), và các đạo sĩ ngoại giáo (X. Mt 2, 1-12), là những người chắc chắn có quan niệm về Thiên Chúa rất khác các rabbi Do Thái vốn rất tự hào mình được Thiên Chúa mặc khải. Vì thế, cùng chia sẻ kinh nghiệm về cầu nguyện, về việc cảm nghiệm Thiên Chúa - chứ không phải về những tín điều - chính là khởi điểm để đi đến đại kết và hiệp nhất, giữa các giáo phái Kitô giáo và giữa các tôn giáo. Hiểu biết có thể sai, nhưng cảm nghiệm là cái biết thực tiễn, trực tiếp với đối tượng, không có vấn đề đúng sai. Nói thao thao bất tuyệt về tính chất và cấu tạo của trái chuối không bằng được ăn chính trái chuối. Lý thuyết về trái chuối có thể khác nhau và gây chia rẽ, nhưng cảm nghiệm về nó thì hầu như ai cũng giống ai. Gặp gỡ Thiên Chúa ở đâu? Thiền sư Bách Trượng nói về việc tìm kiếm Thực Tại Tối Hậu ấy «hệt như cưỡi trâu tìm trâu». Ấn Độ giáo cho việc tìm kiếm đó giống như một con cá ở biển đi tìm nước. Nghe những chuyện đó ta thấy tức cười, nhưng đích thực khi ta tìm kiếm Thiên Chúa, ta cũng làm một việc tương tự. Thật thế, có nơi nào không có Thiên Chúa? Chúng ta và vạn vật hiện hữu, sinh sống, làm bất cứ việc gì cũng đều do Thiên Chúa. Làm sao ta có thể suy nghĩ, viết lách, đi lại, cựa quậy, thậm chí làm những việc dễ dàng nhất như chớp mắt, hít thở, mà không cần đến Thiên Chúa? Thiên Chúa hiện diện khắp nơi, trong tất cả vạn vật, trong tất cả mọi sinh hoạt dù nhỏ nhất của ta. Nhất cử nhất động đều nói lên sự có mặt của Thiên Chúa. Thế mà ta lại tìm kiếm Thiên Chúa! Và mỉa mai thay lắm khi không gặp được Ngài. Có khác gì con cá dưới biển tìm nước hoài mà vẫn không thấy nước, không gặp được nước! Mặc dù Thánh Kinh luôn luôn có những câu xác định rõ nơi Thiên Chúa hiện diện, như: «Nào anh em chẳng biết rằng anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao? … Đền thờ ấy chính là anh em» (1 Cr 3, 16-17), nhưng truyền thống Kitô giáo dường như quá nhấn mạnh đến sự hiện diện của Thiên Chúa trong giáo đường, trong các bí tích, đến nỗi các Kitô hữu không mấy lưu tâm đến sự hiện diện của Thiên Chúa nơi chính mình, nơi tha nhân. Nói đến sự hiện diện của Thiên Chúa thì người ta thường nghĩ ngay đến nhà thờ, đến phép Thánh Thể, không mấy ai nghĩ đến Thiên Chúa ngự ngay trong mình, trong những người chung quanh. Kinh Thánh dường như không ưa việc định vị Thiên Chúa một cách lệ thuộc và hạn định vào không gian vật chất như thế. Nhiều chỗ trong Kinh Thánh khẳng định: «Thiên Chúa, Đấng tạo dựng vũ trụ và muôn loài trong đó, Đấng làm Chúa tể trời đất, không ngự trong những đền thờ do tay con người làm nên» (Cv 17, 24). Chính Đức Giêsu, để trả lời cho câu hỏi: phải gặp gỡ Thiên Chúa và thờ phượng Ngài ở đâu, đã nói: «Đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giêrusalem. Các người thờ Đấng các người không biết… Nhưng giờ đã đến - và chính là lúc này đây - giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những người thờ phượng Người như thế. Thiên Chúa là thần khí, và những người thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật» (Ga 4, 21. 23-24; x. Ga 2, 21). Vì thế, thánh Phaolô khuyến khích ta tôn vinh, thờ phượng, gặp gỡ Thiên Chúa ngay trong con người của ta (x. 1Cr 6,20b). Quả thật, không có nơi nào ta dễ gặp gỡ Thiên Chúa cho bằng ngay bản thân ta. Cho dầu Ngài cũng hiện diện trong vũ trụ vạn vật hay những nơi khác, nhưng nơi gặp gỡ Ngài lý tưởng nhất vẫn là bản thân ta. Có gặp được Thiên Chúa nơi bản thân mình, thì mới gặp được Ngài ở những nơi khác. Chính thánh Âu-Tinh thú nhận: «Con đã tìm Chúa ở ngoài con, nên con đã không gặp được Chúa của lòng con», và «Con đã yêu Chúa quá muộn… Chính Chúa vẫn ở trong con, còn con thì lại ở ngoài con». Có gặp Thiên Chúa nơi bản thân, mới gặp được Ngài ở nơi khác Thiên Chúa hiện diện khắp nơi, nên có thể gặp được Thiên Chúa ở bất cứ nơi nào, tuy nhiên, vẫn có những nơi Ngài hiện diện cách đặc biệt, với mật độ cao, hiện diện một cách «đặc sệt». Nếu nói tới sự hiện diện vật chất của Thiên Chúa, thì phải nói tới phép Thánh Thể. Vì là hiện diện vật chất, nên sự hiện diện ấy lệ thuộc vào không gian và thời gian. Muốn gặp Ngài một cách vật chất, ta phải đến những nơi có Thánh Thể: nhà thờ, nhà nguyện… Con người gồm cả thể chất lẫn tâm linh, nên sự gặp gỡ đầy đủ vẫn phải có đủ hai mặt ấy. Nhưng dẫu sao, giữa hai mặt ấy, gặp gỡ tâm linh vẫn quan trọng hơn rất nhiều. Vì việc gặp gỡ thể chất chỉ có ý nghĩa khi đã có sự gặp gỡ tâm linh. Vì nếu chỉ gặp gỡ về mặt thể chất thì không phải là gặp gỡ thật sự. Đó là trường hợp «vô duyên đối diện bất tương phùng», giống như các kinh sư Do Thái gặp và chất vấn Chúa Giêsu, nhưng hai bên không thật sự «gặp gỡ» nhau. Như vậy, nếu không có sự gặp gỡ Thiên Chúa bằng tâm linh, thì có gặp gỡ bằng thể chất, dù là hằng ngày hằng giờ, cũng vô ích. Do đó, điều quan trọng là gặp gỡ Thiên Chúa bằng tâm linh và trong tâm linh của ta, chứ không phải gặp gỡ bằng thể chất như chúng ta đã từng quá chú trọng mà coi nhẹ sự gặp gỡ tâm linh. Thật vậy, người ta có thể rước Thánh Thể hằng ngày mà không hề gặp gỡ Thiên Chúa, chỉ vì người ta đã không gặp gỡ Ngài bằng tâm linh, là cách gặp gỡ mà Chúa Giêsu muốn nói đến khi tiếp xúc với người phụ nữ Samari về nơi thờ phượng và gặp gỡ Thiên Chúa (x. Ga 4). Chỉ sau khi gặp gỡ Thiên Chúa trong tâm linh, người ta mới có thể gặp gỡ Ngài ở bất cứ nơi nào khác: trong phép Thánh Thể, trong thiên nhiên, trong vạn vật. Gặp gỡ Thiên Chúa qua các bí tích Tuy nhiên, chúng ta không nên coi nhẹ sự gặp gỡ Thiên Chúa qua các bí tích, nhất là qua phép Thánh Thể, vì con người có thể chất, và vì thể chất ảnh hưởng rất mạnh đến tinh thần hay tâm linh. Nếu không có sự gặp gỡ Thiên Chúa bằng tâm linh, thì gặp gỡ qua thể chất là vô ích. Nhưng nếu chỉ gặp gỡ Thiên Chúa bằng tâm linh thì chưa đủ đối với con người có hồn có xác. Nếu đã gặp gỡ trên bình diện tâm linh, thì sự gặp gỡ về thể chất sẽ làm cho sự gặp gỡ đó thắm thiết lên gấp bội và ích lợi cho con người cũng tăng lên gấp bội. Điều đó tương tự như trong sự gặp gỡ giữa vợ chồng. Nếu không có sự gặp gỡ bằng tâm hồn, bằng tình yêu chân thật, thì sự gặp gỡ thể xác sẽ trở thành vô ý nghĩa. Nhưng nếu đã gặp gỡ bằng tâm hồn, bằng tình yêu chân thật, thì sự gặp gỡ đó đòi hỏi phải có sự gặp gỡ thể xác như một nhu cầu thiết yếu. Và sự gặp gỡ thể xác ấy sẽ làm cho sự gặp gỡ tinh thần kia hạnh phúc lên gấp bội. Và phải gặp gỡ trên cả hai bình diện đó thì đôi vợ chồng mới đúng nghĩa là vợ chồng… Cũng vậy, có gặp gỡ Thiên Chúa bằng tâm linh trước thì việc gặp gỡ Ngài qua thể chất mới có ý nghĩa. Vì thế, Giáo Hội buộc những ai lãnh bí tích Thánh Thể hay các bí tích khác (trừ rửa tội và giải tội) phải chuẩn bị trước, và điều quan trọng là phải sạch tội trọng… Đó là một hình thức Giáo Hội buộc người tín hữu phải gặp gỡ Thiên Chúa bằng tâm linh trước đã, trước khi gặp gỡ Ngài qua những dấu chỉ hữu hình vật chất. Nhưng đáng tiếc là nhiều tín hữu đã hiểu sự đòi hỏi chuẩn bị trước này một cách quá thô thiển và ngây ngô, nên đã không nếm được «mùi vị tuyệt vời» và hưởng những ơn ích dồi dào do sự gặp gỡ Đức Kitô qua thể chất. Các bí tích khác cũng vậy. Nếu người nào chỉ bằng lòng với việc gặp gỡ Thiên Chúa bằng tâm linh, không đếm xỉa gì đến việc gặp gỡ Thiên Chúa qua bí tích, thì việc gặp gỡ bằng tâm linh đó chưa hẳn đã là một sự gặp gỡ đích thật. Thật thế, có cặp vợ chồng nào yêu thương nhau thực sự - tức đã gặp gỡ về tinh thần - mà lại không có nhu cầu gặp gỡ về thể chất? Trong tám cái khổ của Khổ Đế Phật Giáo, có một nỗi khổ rất lớn là «ái biệt ly khổ», nghĩa là nỗi đau khổ do yêu thương nhau mà phải sống xa cách nhau. Vì thế, khi đã thực sự gặp gỡ Thiên Chúa bằng tâm linh rồi mà không được gặp Ngài qua thể chất, thì chắc chắn đó phải là một nỗi khổ, vì tình yêu chưa được thỏa mãn. Đấy là lý do khiến các thánh say sưa quì hàng giờ trước Thánh Thể Chúa. Gặp gỡ tâm linh càng đậm đà sâu thẳm bao nhiêu, thì gặp gỡ qua bí tích càng là một nhu cầu cấp bách, càng có ý nghĩa và càng sinh hoa trái bấy nhiêu. (Còn tiếp)
|