HÔN NHÂN KHÁC TÔN GIÁO

Trần Mỹ Duyệt

"Đạo nào cũng là đạo". Câu nói này thường được nghe nơi một số người cho rằng mình thuộc thành phần cởi mở và dễ tính. Cũng có thể, đối với họ đạo hay không đạo cũng chỉ là một hình thức mê tín dị đoan do xã hội bày tạo. Do đó, đạo chỉ là một lối sống vụ hình thức với những lễ nghi bên ngoài, nặng tính cách mê tín dị đoan. Do quan niệm như thế, ngày nay những cuộc hôn nhân khác tôn giáo đã trở thành thông thường, nhiều người đã không đặt vấn đề tôn giáo vào một chỗ đứng quan trọng nữa. Kết quả là chính do những niềm tin khác biệt ấy làm cho đời sống hôn nhân họ gặp thử thách và đưa đến đổ vỡ. Mục đích của bài này không mang tính cách hộ giáo, mà chỉ đưa ra một cái nhìn tổng quát giữa những khác biệt về tôn giáo trong hôn nhân qua tâm lý học, và hy vọng sẽ giúp những ai đang chuẩn bị hoặc đang sống trong cuộc hôn nhân khác tôn giáo có được một cái nhìn đứng đắn về vai trò tôn giáo trong hạnh phúc của hôn nhân.

CÓ ĐẠO HAY KHÔNG CÓ ĐẠO:

Tình yêu và sự nối kết hôn nhân dưới cái nhìn tâm lý hôn nhân được thẩm định dưới ba góc độ: Thể lý, tâm lý và tâm linh.

Thể lý là những gì ta nhìn thấy từ bên ngoài. Cao, thấp, mập, còm, trắng, đen. Nụ cười, khóe mắt, bờ môi, mái tóc, điệu bộ đi đứng, nói năng. Tất cả những cái ấy là những hấp dẫn ban đầu đưa hai người trai gái đến gần với nhau. Nhiều chàng đã mất ăn, mất ngủ vì mái tóc của người đẹp. Nhiều nàng đã thao thức năm canh, ốm o, hao mòn vì nụ cười và ánh mắt hôm đó chàng trao nàng.

Từ những hấp dẫn ấy, chàng và nàng bị thu hút lại gần nhau, và từ từ khám phá ra những điều trùng hợp, những khác biệt, cũng như những tiềm ẩn trong con người nhau. Đó là giai đoạn họ tìm nhau qua những thu hút về tâm lý. Hợp nhau hay không hợp nhau. Con người chàng, con người nàng có phù hợp với những gì mà mình bị hấp hẫn từ bên ngoài. Cách thức nói năng, tư cách xã giao, sự săn đón, thông cảm và hiểu biết. Tính tình cởi mở hay gò bó, phóng khoáng hay bảo thủ, hiền lành hay nóng nẩy, thông cảm hay chấp nhất.

Nhưng quan trọng hơn là những khác biệt về đời sống tâm linh. Rất tiếc nhiều người và nhiều bạn trẻ đã bỏ qua sự khác biệt này, và đã đưa đời sống hôn nhân của họ đến chỗ đổ vỡ.

Tâm lý học, đạo đức học, và xã hội học cho đến nay vẫn chưa loại bỏ quan niệm về sinh dục và sinh lý trong cái nhìn phân tâm học của Freud. Theo nhà phân tâm học này, bản năng và nhu cầu sinh lý là bản năng mạnh mẽ nhất, cần thiết nhất cho cuộc sống tự nhiên. Điều này coi như có vẻ thiếu đạo đức đối với một số nhà luân lý và đạo đức có quan niệm bảo thủ. Nhưng dù bảo thủ, vẫn chưa ai chối bỏ được những thôi thúc và những "cám dỗ" của nó. Ngay cả những nhà tu hành, những người suốt đời chấp nhận để lại sau lưng những thôi thúc và ham muốn ấy vẫn phải khốn khổ, và nhiều khi đã vấp phạm nặng nề với những đòi hỏi và nhu cầu của tính dục. Trước những thôi thúc của bản năng như thế, chỉ có một phương thuốc và sức mạnh kìm hãm nhất là đời sống hay nhu cầu tâm linh.

Thật ra, đạo hay nhu cầu tâm linh không chỉ thuộc thuần túy theo nhãn quan luân lý và đạo đức đặc sệt mầu sắc tôn giáo. Nhưng đó là một đời sống gắn bó và đi liền với sự phát triển của con người ngay từ khi còn nhỏ bé. Theo Kohlberg, nhà tâm lý đạo đức, thì sự hình thành và phát triển luân lý quyện lẫn với sự phát triển tâm lý và trí tuệ của ta khi còn rất thơ trẻ. Nó chính là những điều giúp cho một chú bé hay một cô bé khi chơi với nhau thì không ăn gian, hoặc không làm cái mà mình cho là bị cấm. Từ sợ bố mẹ phạt, sợ người khác bắt gặp thì xấu hổ. Từ sự nhận thức rằng làm tốt sẽ được thưởng và cảm thấy sung sướng, dẫn đến việc thâm tín rằng mình không thể làm những việc xấu vì nó xúc phạm hoặc không xứng với đạo lý làm người. Tiến trình phát triển tâm lý đạo đức ấy tuy không nhìn thấy, nhưng đã lớn dần cho đến khi em bé ở vào thời gian 10 hay 11 tuổi, là cái tuổi tâm lý cho rằng em đã biết đủ về hành động tốt hay xấu của mình khi cần phải quyết định.

Quan cái nhìn xã hội, ta thấy những người cho mình thuộc thành phần không tôn giáo, hoặc vô thần như thế nào? Họ cứ loanh quanh với tư tưởng cho rằng mình không cần có Đấng ở trên cao, hoặc chối bỏ sự hiện hữu của Thượng Đế. Không theo đạo nào, và cũng không cần đạo. Nhưng khi gặp những cái mà trí khôn họ và khoa học không giải thích nổi thì họ lại càm ràm và cho là Thượng Đế không có mắt. Ngay việc họ cố tình chối bỏ, hoặc muốn chứng tỏ rằng họ không phải là người có đạo, điều này đã nói lên rằng tâm lý đạo đức, và đời sống tâm linh thực sự chưa chết hẳn trong họ, hay không có trong họ.

Tóm lại, dù là Công Giáo, Tin Lành, Chính Thống, Phật Giáo, Khổng Giáo, Bà La Môn, Hồi Giáo, Ấn Giáo, tất cả đều mang mầu sắc tâm linh mà mỗi người đều ảnh hưởng, đều đã hấp thụ và đều cần thiết cho cuộc sống hoàn chỉnh của một con người.

ĐẠO NÀO CŨNG LÀ ĐẠO:

Nhưng không phải đạo nào cũng là đạo. Quan niệm này đúng ít nhất là cho tôi và cho bạn. Sự khác biệt của mỗi tôn giáo đã thường gây nên bao tranh cãi, bao cay đắng trong đời sống tâm linh của nhiều người và của nhiều tôn giáo. Ngay trong thời đại của chúng ta, khi mà các hệ thống triết lý, thần học, tu đức, hoặc phụng vụ của mọi tôn giáo đã được hệ thống hóa, được biết tới, vẫn có người không ngần ngại xỉ vả nhau, chê bai nhau, hoặc cắt nghĩa sai lạc quan niệm về đạo của nhau. Họ làm những việc ấy trên truyền thanh, truyền hình, báo chí, và cả sách vở. Những hành động ấy càng chứng tỏ rằng không phải đạo nào cũng là đạo, và sự khác biệt về ý thức của tâm linh trong mỗi tôn giáo là một điều hết sức cần thiết phải để ý trong những giao tiếp thường ngày với nhau trên quan niệm về tôn giáo.

Robert Ellis, một nhà tâm lý của Hữu lý Tình Cảm đã cho rằng quan niệm và đời sống tâm linh không tương nhượng, không chấp nhận đối thủ. Lịch sử tôn giáo của các đạo đã cho biết điều này. Sức mạnh của tôn giáo chính là động lực làm nên những nhà tuẫn giáo, những thánh nhân, và ngay cả những kẻ sát nhân cuồng tín. Tại sao, ngay ở trong thời đại chúng ta mà cũng có những người ôm chăn vào sa mạc chờ phi thuyền không gian xuống rước lên Thiên Đàng. Cái chết của hàng trăm tín đồ Cổng Trời đã làm khắp thế giới và Hoa Kỳ rung động trước đây. Cái chết của những anh chàng cuồng tín Hồi Giáo đã lái máy bay đâm vào hai tòa cao ốc ở Trung Tâm Thương Mại Thế Giới. Những cuộc nổ bom tự sát hiện nay ở Iraq, ở Palestine hay khắp nơi trên thế giới, hay như những việc làm phi thường của một Têrêsa Calcutta ngày ngày sát bên những người cùi hủi, thối tha, ghẻ lở là một thí dụ về sức thu hút của tôn giáo. Làm sao một người lại sẵn sàng ôm chăn vào sa mạc chờ chết. Làm sao một người lại lái máy bay, ôm bom để tự sát. Và làm sao một người lại không cảm thấy cái hôi thối, ghê gớm của phong cùi, của ghẻ lở? Tất cả họ lấy sức mạnh từ niềm tin của tôn giáo.

Nhưng những cái làm cho cuộc sống và cái chết của Mẹ Têrêsa khác với cuộc sống và cái chết của những kẻ ôm bom tự sát, hoặc những người ôm chăn vào sa mạc uống thuốc độc tự tử đến từ tôn giáo và quan niệm khác nhau về tôn giáo. Nó cho ta thấy rằng không phải tôn giáo nào cũng giống nhau, và sự tiếp thu của mỗi tôn giáo lại tùy thuộc vào nhận thức và sự trưởng thành của tâm lý con người nữa.

Gần đây, trong thời đại của chúng ta người có công nhất trong việc cổ võ đối thoại giữa các tôn giáo là Đức Gioan Phaolô II. Vị Giáo Hoàng này xem như say sưa và bị thu hút với tư tưởng đối thoại và tìm hiểu ấy. Văn Phòng Đối Thoại Liên Tôn và Văn Phòng Hiệp Nhất Kitô Giáo của Giáo Hội Công Giáo đã đang làm việc ráo riết theo ý tưởng của vị Giáo Hoàng này. Điều này cũng cho ta thấy rằng, tuy các tôn giáo hiện hữu và tác dụng trong đời sống tâm linh của con người, nhưng không phải đạo nào cũng giống nhau, và đạo nào cũng là đạo của tôi, và cho tôi.

Không phải đạo nào cũng là đạo của tôi và cho tôi. Đây là một quan niệm không những đúng theo cái nhìn của tôn giáo, mà còn cả về tâm lý hôn nhân nữa.

HÔN NHÂN KHÁC TÔN GIÁO:

Nếu tôn giáo là một cái gì gắn bó, và đi vào xương tủy, lề thói của một người, một dân tộc như văn hóa làm nên con người trong văn hóa đó, thì không bao giờ có chuyện bỏ đạo, mà chỉ là chuyển đổi lối nhìn, lối suy nghĩ, và hành động thực hành đạo với niềm tin, với lối sống và hành đạo mà mình cho là phù hợp nơi một tôn giáo khác. Tức là tự thâm tâm con người niềm tin vẫn sống động, vẫn quy hướng về Thượng Đế, nhưng là áp dụng niềm tin ấy bằng cảm nhận khác.

Nhận định trên sẽ làm cho một số người không hài lòng vì cho rằng hằng năm vẫn có hàng bao nhiêu người "bỏ" đạo của họ để theo Công Giáo hoặc Tin Lành... Đối với những người theo Công Giáo thì còn khắt khe hơn là người ngoài Công Giáo muốn kết hôn với một người Công Giáo phải kết hôn theo nghi thức Công Giáo, phải tham dự những lớp dự bị hôn nhân được tổ chức trong Giáo Hội. Một số còn cưỡng ép người phối ngẫu phải rửa tội để cử hành lễ cưới theo nghi thức Công Giáo. Làm chi vậy? Vì muốn cho mọi người biết rằng mình là người có đạo, mình giữ đúng lề luật, và truyền thống đạo đức. Nhất là để mừng thầm rằng mình đã "cứu" được một linh hồn về cho Chúa.

Không biết đó có phải là quan niệm ấu trĩ và thái quá không, nhưng trong thực tế thì đã có nhiều trường hợp: "Lậy Đức Chúa Trời Ba Ngôi, tôi lấy được vợ, tôi thôi nhà thờ" . Đó là vì người ấy bỏ đạo mình chỉ vì muốn được vợ hay được chồng. Thâm tâm họ, họ chữa sẵn sàng, và chưa tìm được lý do nào khác, ngoài lý do nếu không rửa tội thì sẽ mất vợ hay mất chồng. Mà vì phải cưỡng ép theo một tôn giáo mà mình chưa hoàn toàn tin nhận hoặc cho là quan trọng cho mình, nên sự khác biệt tôn giáo sau này cộng thêm sự khác biệt về tâm lý, khả năng trí tuệ và ảnh hưởng giáo dục sẽ làm cho đời sống hôn nhân của hai người khác tôn giáo trở thành căng thẳng, rắc rối và tạo nên những cơ hội đi đến đổ vỡ.

Sự khác biệt tôn giáo, do đó, trong tương quan hôn nhân và gia đình rất dễ đưa đến ngộ nhận, đôi khi bất đồng nếu cả hai người không quảng đại, hiểu biết và khách quan đủ khi đề cập đến vấn đề tôn giáo.

 

Trở về Muc Lục