|
|
Số 10, Ngày 3-7-2004
Thế Nào là Phụng Vụ ? - Lm. Đỗ Xuân Quế, O.P Thiên Chúa Cũng Đau Khổ - Huyền Vi Cầu Nguyện Với Lời Đọc Thánh (lectio divina) Hoàng Quý Cầu Nguyện Là Gặp Gỡ Thiên Chúa - Nguyễn Chính Kết Linh Đạo Giáo Dân - Trần Duy Nhiên Trách Nhiệm - Phạm Ruệ Hôn Nhân Vớí Người Khác Tôn Giáo - Nhóm PVHNGĐ Tin Học và Tình Yêu - Sưu Tầm Tâm Tình Và Trao Đổi - Thư Bạn Đọc
Kính thưa Quý độc giả, Maranatha đã ra 10 số và được Quý độc giả ân cần ủng hộ cũng như tiếp tay. Chúng tôi vui mừng và biết ơn khi thấy những cây viết được nhiều người biết đến trên các diễn đàn công giáo gửi thư và gửi bài về cho Maranatha. Về phần giáo sĩ, chắc hẳn Quý Vị đã thấy xuất hiện những tên tuổi như Linh mục Nguyễn Thái Hợp, OP, Trần Ngọc Thao, CSsR, Đỗ Xuân Quế, OP. Đấy là chưa nói đến cây bút thường xuyên là Lm. Nguyễn Thanh. Về phần nam nữ tu sĩ và giáo dân, càng ngày chúng tôi càng nhận được lời khích lệ cũng như bài vở của nhiều tầng lớp khác nhau…Chúng tôi rất tiếc khi không thể đăng hết trên Maranatha, vì số trang bị giới hạn. Dù đã đi được 10 tuần nhưng Maranatha vẫn còn đang ở giai đoạn tìm đường để mỗi ngày một trở nên hữu ích hơn cho độc giả mà số lượng càng ngày càng tăng. Trên con đường tìm kiếm này, Maranatha vẫn học hỏi về Thiên Chúa và Giáo Hội và đặt trọng tâm cho đời sống thiêng liêng trên viêc cầu nguyện. Đây cũng là điều mà Quý độc giả thấy xuất hiện trong số này với những bài của Linh mục Đỗ Xuân Quế, Huyền Vi, Hoàng Quý và Nguyễn Chính Kết. Tuy nhiên, thao thức của Maranatha vẫn là làm sao cho người giáo dân tìm ra một linh đạo cho riêng mình để biến cuộc sống hằng ngày thành một con đường nên thánh. Vì lý do đó, số này đề xuất một cách viết lên nền linh đạo giáo dân với bài viết của Trần Duy Nhiên; và bài Trách Nhiệm của Phạm Ruệ được đề ra như một minh họa. Linh đạo giáo dân phải do người giáo dân viết lên. Vì thế, xin độc giả giáo dân chia sẻ những kinh nghiệm sống đạo của mình trong các tình huống cụ thể. Mong sao những chứng từ xuất phát từ cuộc sống sẽ dần dần kết thành một linh đạo đặc thù cho Kitô hữu sống giữa thế gian. Những tâm tình ngắn gọn của nhiều độc giả gói ghém rất nhiều tư tưởng khiến cho Maranatha tin tưởng rằng sự đóng góp của các chứng từ ấy sẽ đa dạng và phong phú, vì sẽ đụng chạm đến mọi khía cạnh của cuộc sống con người; và như thế lời kêu gọi của Công Đồng Vatican II sẽ trở thành hiện thực: Nỗi vui mừng và niềm hy vọng, những buồn tủi và lo âu của con người thời đại này, của người nghèo và nhất là những người đau khổ, cũng là nỗi vui mừng và niềm hy vọng, những buồn tủi và lo âu của các môn đệ Chúa Kitô, và không có gì thực sự thuộc về con người mà lại không vang dội trong lòng của môn đệ Chúa (Gaudium et Spes, số 1). Tuần này, Maranatha tiếp tục loạt bài chia sẻ về Hôn nhân và Gia Đình viết về Hôn Nhân Khác Tôn Giáo. Trong xã hội đa phức tôn giáo hiện nay, vấn đề này là mối bận tâm lớn của các linh mục cũng như đối tượng liên quan. Maranatha vẫn mãi là lời cầu: Lạy Chúa, xin ngự đến. Và nơi Người đến đầu tiên phải là trong cuộc đời trần thế của mỗi một giáo dân chúng ta. MARANATHA
HỌC ĐẠO
Trả lời câu hỏi này không phải dễ, vì có rất nhiều câu định nghĩa khác nhau liên quan đến lịch sử, thần học cũng như những yếu tố làm nên phụng vụ. Cha Schmidt S.J. đã thu lượm được tới 30 câu định nghĩa về phụng vụ trong các tác phẩm cận đại và đương thời. Nhưng nếu dựa vào câu định nghĩa của Đức Giáo hoàng Pi-ô XII trong thông điệp Mediator Dei ban hành ngày 20.11.1947 thì vấn đề có thể đơn giản hơn. Đây là một câu định nghĩa vững vàng trong một văn kiện rất có giá trị và đầy đủ thẩm quyền cho chúng ta dùng làm căn bản. Câu định nghĩa đó như sau : “Hội thánh tiếp tục chức vụ tư tế của Chúa Giê-su Ki-tô, nhất là bằng phụng vụ. Phụng vụ là việc kính thờ công khai và công cộng mà Đấng cứu chuộc chúng ta dâng lên Chúa Cha, với tư cách là thủ lãnh, vị đứng đầu Hội thánh. Đó cũng là việc kính thờ do cộng đồng tín hữu dâng lên Đấng lãnh đạo mình và nhờ Người, dâng lên Chúa Cha hằng hữu. Nói tắt, đó là việc kính thờ trọn vẹn của thân thể mầu nhiệm Chúa Giê-su Ki-tô, nghĩa là của Đấng lãnh đạo và các phần tử của Người.” Về phương diện này, phụng vụ bắt nguồn từ mầu nhiệm Chúa Ki-tô và mầu nhiệm Hội thánh. Hai mầu nhiệm đó có liên quan mật thiết và tùy thuộc lẫn nhau. Hội thánh là một cộng đồng huyền nhiệm, được ví như các phần thể liên kết với đầu. Đầu ở đây là Chúa Ki-tô, theo hình ảnh và kiểu nói thông thường của thánh Phao-lô. Nói cách khác, việc kính thờ theo phụng vụ được giáo lý về thân thể mầu nhiệm Chúa Ki-tô soi sáng và được chính Người hướng dẫn. Từ cách trình bày trên nảy sinh ra hiệu quả đầu tiên này là phải loại bỏ những câu định nghĩa có trong một số các sách phụng vụ trước kia chỉ chú trọng đến mặt bên ngoài của việc thờ phượng. Trong thông điệp nói trên, Đức Giáo hoàng Pi-ô XII không ngần ngại tuyên bố rằng nghĩ như thế là còn thiếu sót. Vẫn theo thông điệp thì thật hoàn toàn không đúng, khi nhìn phụng vụ chỉ như một phần ngoại tại và khả giác của việc thờ phượng, hay chỉ như một lễ nghi trang trí. Cũng là một lầm lẫn không nhỏ, nếu chỉ coi đó như toàn bộ luật lệ và chỉ thị phải giữ để cử hành cho đúng theo nghi thức, do lệnh của giáo quyền ban ra. Phụng vụ không phải là như thế và cũng không hệ tại vẻ long trọng và đẹp mắt vui tai bên ngoài như đi rước tưng bừng, mặc lễ phục lộng lẫy, đàn hát náo nhiệt. Phụng vụ là cái gì khác hơn chỉ là lễ nghi, dù lễ nghi long trọng, đẹp mắt, vui tai đến mấy đi nữa. Phụng vụ đòi phải có hồn. Vì thế, Đức Giáo hoàng Pi-ô XII đòi buộc chủ tế, thừa tác viên và những người tham dự phải có lòng sốt sắng đạo đức thực sự, khi cử hành các lễ nghi phụng vụ. Làm đúng các lễ nghi không thôi chưa đủ. Thiên Chúa đợi chờ tín hữu dâng lòng mình làm lễ phẩm cùng một lúc với sự tôn thờ và lời cầu nguyện kết hợp với sự thờ phượng của Hội thánh và của Chúa Ki-tô. Nếu việc thờ phượng cần có những cử chỉ, thái độ bên ngoài vì tính thể xác và xã hội của con người thì như Đức Giáo hoàng nói : “Nét cốt yếu của việc thờ phượng phải ở bên trong. Cần phải luôn luôn sống trong Chúa Ki-tô, phải hoàn toàn tận tụy với Người để trong Ngưòi, cùng với Người và nhờ Người mà tôn vinh Cha trên trời. Hội thánh muốn mọi tín hữu phủ phục dưới chân Chúa Cứu Thế để bày tỏ lòng mến yêu và cung kính.” Nếu nhìn qua bên ngoài thì các hành động phụng vụ dường như chỉ là những lễ nghi bên ngoài, nhưng trong ý nghĩ của Hội thánh, phụng vụ chỉ có giá trị khi biểu lộ ra bên ngoài thái độ cầu nguyện ở bên trong. Quả thật, trong phụng vụ có hình thức cầu nguyện được biểu lộ ra bên ngoài và có tính cộng đồng, nhưng sự cầu nguyện này chỉ là cầu nguyện thực sự khi phát xuất tự đáy lòng. Ngoài ra, còn phải nhấn mạnh đến luật này của việc cầu nguyện theo phụng vụ như nhiều sách phụng vụ đề cao, đó là phải có những điều kiện Hội thánh đòi hỏi từ nhiều thế kỷ, thì một hành động mới được kể là phụng vụ. Điều kiện xem ra hạn chế, vì đối với Hội thánh, một cộng đồng tín hữu hội họp và nghe những bài sách thánh, hát các thánh vịnh, nói với Chúa qua miệng vị chủ tế hay qua người đại diện cộng đồng đọc các công thức cầu nguyện, thu tóm các ý chỉ của mọi người và còn hơn thế nữa, mặc cho những thứ đó một bộ áo lễ nghi trang trọng, bấy nhiêu mà thôi thì chưa đủ. Còn phải có những điều kiện khác nữa. Những điều này được nhắc lại trong huấn thị của Bộ Phụng tự ngày 3.9.1958 như sau : “Những hành động nào do Chúa Giê-su Ki-tô hoặc Hội thánh chỉ định hay lập ra, được thi hành nhân danh Chúa Giê-su Ki-tô và Hội thánh, theo các sách phụng vụ được Tòa thánh chuẩn nhận, do những người được ủy nhiệm chính thức thì những hành động ấy được gọi là phụng vụ.” Những điều xác định trên đây về cơ chế, các sách và các thừa tác viên chính thức của phụng vụ cũng dễ hiểu, khi chúng ta nghĩ tới mối bận tâm của Hội thánh cần phải bảo đảm sự chặt chẽ, thống nhất và mẫu mực trong các buổi cử hành phụng vụ. Trước khi những điều vừa nói có giá trị và hiệu lực của một khoản luật, nghĩa là trước khi công bố sách lễ, sách nguyện, sách nghi thức Rô-ma vào những năm trước 1568 thì phụng vụ khá lộn xộn. Một vài thói tục địa phương, một vài điều bày đặt lố bịch trong các nghi thức và công thức cũng đủ che lấp cái chính yếu và cốt tủy của phụng vụ Rô-ma. Luther đã không hoàn toàn vô lý khi tố giác những điều mê tín ông được chứng kiến và đòi quyền được gỡ bỏ những điều quái gở đó ra khỏi lời cầu nguyện của Hội thánh. Hiện nay, sau bốn thế kỷ tập quyền thấy xuất hiện khuynh hướng tản quyền. Trong khóa I Công đồng Va-ti-ca-nô II, các giám mục đã cứu xét những bất tiện do tình trạng hành chánh lúc bấy giờ gây nên. Vì thế, có hai nguyên tắc đã được đưa ra : một là sửa lại các sách phụng vụ, hai là thẩm quyền của Hội đồng các giám mục địa phương, để thực hiện một số thích nghi và để hoàn thành các bản dịch từ nay sẽ được đọc bằng tiếng bản quốc. Chương I Hiến chế Phụng vụ được biểu quyết cuối khóa I viết : “Khi không có nguy hại về đức tin và ích chung thì Tòa thánh không có ý áp đặt, dù trong phụng vụ, một sự đồng nhất cố định. Ngược lại, Tòa thánh quí chuộng và bảo vệ những đặc tính và những giá trị tinh thần của các nòi giống và các dân tộc. Tòa thánh nhìn xem một cách thiện cảm tất cả những gì trong tập quán của các dân tộc không gắn liền với mê tín và sai lạc, và khi có thể lại bảo vệ và duy trì, đôi khi đi cả tới chỗ chấp nhận và cho dùng trong phụng vụ, miễn là phù hợp với tinh thần phụng vụ đích thực và chân chính.” Xem đấy thì nguyên tắc quyền bính tuyệt đối của Tòa thánh như nói trong huấn thị năm 1568 và như mọi người vẫn tuân hành từ thế kỷ XVI cho đến cuối thế kỷ XX, nay có phần nới rộng hơn. Ngoài ra, với Huấn thị thứ IV đề là Phụng vụ Rô-ma với vấn đề hội nhập văn hóa ban hành năm 1994, phụng vụ tại các Hội thánh địa phương có cơ hội được thích nghi và sáng kiến rộng rãi hơn. Phụng vụ là cần thiết và quan trọng trong các sinh hoạt đạo đức, nhưng tiếc thay đó vẫn còn là điều xa vời và vắng bóng trong các sinh hoạt thiêng liêng của nhiều người trong các tín hữu. Đã bao đời nay, các tín hữu vẫn được kêu mời và hướng dẫn sống đạo theo tình cảm và các thứ lòng sùng kính. Thiết tưởng đã đến lúc lòng đạo đức của Ki-tô hữu Việt Nam phải thấm nhuần phụng vụ và chứa chất Kinh thánh. Muốn vậy, mỗi người cần được học hỏi về phụng vụ và Kinh thánh. Đó phải chăng là mối bận tâm hàng đầu trong công viêc mục vụ của các cha sở bên cạnh các mối bận tâm và hoạt động khác ?
(tiếp theo Maranatha_8) Huyền ViNhững đau khổ của Đức Giêsu, phản ảnh trung thực những đau khổ của Thiên Chúa Thế gian không đón nhận vì không nhận ra Ngài Nỗi đau khổ lớn nhất và cũng là đầu mối dẫn đến những đau khổ khác của Ngài đã được Thánh Gioan nói đến trong bài mở đầu Tin Mừng của Ngài: «Người ở giữa thế gian, thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng thế gian đã không nhận biết Người. Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận» (Ga 1,10-11). Thật vậy, còn nỗi đau khổ nào lớn bằng nỗi khổ của một người Cha đã sinh con cái, đã xây dựng nhà cửa cho chúng và nuôi dưỡng chúng, nhưng khi ông vì quá yêu thương con cái nên muốn tới ở với chúng, thì chúng không nhận ra ông là cha, cho dẫu có xưng tên chúng cũng không nhìn nhận. Chẳng những thế, chúng còn xỉ nhục và giết ông nữa. Trước khi ông đến, ông đã gởi thư báo cho chúng biết ông sẽ đến hàng tháng trước. Lý do khiến chúng không nhận ra và nhìn nhận ông là vì chúng đã quan niệm về hình ảnh của ông một cách sai lạc do bản tính thấp hèn và trí tuệ ngu muội của chúng. Đức Kitô chính là Ngôi Lời Thiên Chúa, «nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và nếu không có người thì chẳng có gì được tạo thành» (Ga 1,2-3). Thế gian này chính do Ngài tạo nên: cả con người lẫn vạn vật chung quanh con người. Vì con người phản bội Thiên Chúa nên lâm cảnh khốn cùng, Ngài đã hứa qua miệng các tiên tri hàng trăm năm trước rằng Ngài sẽ đến ở với họ và cứu họ. Họ cũng mỏi mắt trông chờ Ngài đến. Nhưng khi Ngài đến không giống như quan niệm họ có sẵn về Ngài, không sống theo kiểu thánh thiện sai lạc của họ, thì họ không nhận ra, cũng không chấp nhận Ngài, thậm chí họ còn cho rằng Ngài từ ma quỷ mà đến, và quyền phép của Ngài là do ma quỷ (x. Mt 12,24). Vì quan niệm của Ngài, cách sống của Ngài khác hẳn với họ, nên họ đã thù ghét Ngài và giết chết Ngài. Bị thế gian tìm giết ngay khi vừa sinh ra Việc thế gian không chấp nhận Ngài đã được thể hiện ngay từ khi Ngài sắp lọt lòng mẹ. Vì cha mẹ Ngài hiện thân là người nghèo, nên khi từ Nazarét về Bêlem, quê hương tổ phụ Ngài, mặc dù mẹ Ngài đang mang thai, vẫn không có một quán trọ nào tiếp nhận gia đình Ngài. Có lẽ không phải vì họ không có chỗ cho bằng họ không muốn tiếp nhận những kẻ không có tiền. Nếu Ngài hiện thân là người giàu có, chắc hẳn có khối kẻ tiếp nhận và đối đãi với Ngài tử tế, nhưng Ngài lại không muốn thế. Không ai tiếp nhận Ngài, Ngài phải sinh ra nơi chuồng súc vật. Thật là một kỷ niệm chua chát! Mà Ngài nào đã được yên! Khi vua Hêrốt và giới lãnh đạo tôn giáo Do Thái biết được Ngài đã sinh ra tại Bêlem, khi các đạo sĩ từ phương Đông đến hỏi, họ không những không đến thờ lạy Ngài, mà còn muốn tìm giết Ngài, nếu Ngài không trốn đi kịp, chắc chắn Ngài đã là một trong những trẻ em bị giết tại Bêlem. Đâu phải họ không biết Ngài là Đấng Cứu Thế, nhưng chính vì biết Ngài là Đấng Cứu Thế nên họ mới quyết tâm giết Ngài. Ngài chưa làm gì cả, mới chỉ hiện diện, mà thế gian đã tỏ thái độ thù ghét Ngài. Họ sợ Ngài có hại cho địa vị, quyền lợi của họ. Thật là buồn tủi. Ngài sinh ra tại chính quê hương tổ phụ Ngài, trong lãnh thổ của dân Ngài, nhưng ngay khi Ngài sinh ra, thì phải chạy sang nước ngoài lánh nạn do chính dân Ngài gây ra cho Ngài. Ai Cập là kẻ thù của dân Ngài, nhưng lại là nơi nương thân cho Ngài. Thế là Ngài không được ở trong chính đất nước của Ngài ngay từ lức sinh ra: một cách nào đó, Ngài đã bị đuổi khỏi nước của Ngài. Bị khinh rẻ vì nghèo khổ Cuộc đời ẩn dật của Ngài chắc hẳn là cuộc đời của một người lao động nghèo. Chắc chắn Ngài thấm thía những nỗi khổ của cảnh nghèo nàn túng thiếu hơn ai hết: người nghèo không những bị khổ vì túng thiếu, mà còn là đối tượng thường xuyên nhất của những áp bức, bóc lột, bất công trong xã hội. Chắc chắn Ngài đã từng bị hất hủi, khinh bỉ chỉ vì nghèo. Nhưng nỗi khổ vì chính mình bị nghèo và do đó bị nhiều nỗi bất hạnh khác thì ít, mà nỗi khổ còn lớn hơn nữa là thấy thế giới này là một thế giới đầy bất công, vắng bóng yêu thương, và chính vì thế mà thế giới này trở thành đáng thương. Đó chính là hậu quả tai hại của tội nguyên tổ, đồng thời là nguyên nhân cho mọi đau khổ và rối loạn ở trần gian. Nhân loại sẽ còn đau khổ và rối loạn hơn nữa nếu tình thương cứ tiếp tục thiếu thốn hoặc vắng bóng trên trần gian. Tình thương của Ngài đối với nhân loại khiến Ngài cảm thấy xót xa cho họ, và nỗi khắc khoải của Ngài là làm sao đưa tình thương vào trong tâm hồn con người và nhóm nó lên thành một ngọn lửa tình yêu nóng rực. Chỉ có tình yêu mới có thể giải quyết được tình trạnh rối loạn và bất hạnh của con người. Sống trong một thế giới thiếu tình thương Nhưng làm cho người ta yêu thương nhau thật khó! Người ta có thể nghe hàng trăm bài giảng về tình yêu, thậm chí có thể giảng lại cho người khác thật hay về tình yêu, nhưng tâm hồn họ vẫn có thể khô hạn, trái tim họ vẫn có thể chai cứng không có tình yêu. Cứ nhìn vào những Rabbi Do Thái, những luật sĩ hay biệt phái thì thấy rõ, họ rao giảng về tình yêu nghe thật là hay, nhưng cuộc sống của họ chẳng có tình yêu chút nào. Đối với đồng bào, họ lợi dụng lòng sùng đạo và niềm tin của quần chúng để có một cuộc sống dễ dãi, vừa được kính trọng lại vừa đầy đủ về vật chất. Nghệ thuật làm tiền của họ rất tinh vi, «họ làm bộ đọc kinh cầu nguyện thật lâu giờ để cuối cùng nuốt hết tài sản của các bà góa» (Mt 23,14). Ai cũng thấy họ giữ luật lệ rất nghiêm nhặt, thậm chí cả những luật của tiền nhân, nhưng đời sống của họ chẳng tỏa ra được một chút gì là tình thương cả. Cứ xem họ đối xử với nhau thì biết: hai người có thể ở chung một nhà, nhưng không thể ăn chung một «nồi cơm», không thể chia sẻ của cải cho nhau. Họ ganh ghét tị nạnh nhau, thậm chí hạ bệ nhau, thóa mạ nhau… Ngài thấy họ không có những đức tính phải có để có thể sống trong nước Thiên Chúa, một xã hội lý tưởng mà Ngài đang quyết tâm thực hiện cho trần gian này. Phải có tinh thần yêu thương thì mới xứng đáng sống trong cái xã hội hạnh phúc này. Ngài cảm thấy những người nghèo khổ dễ có những đức tính ấy hơn. Do đó Ngài cảm thấy «Phúc cho những người nghèo khó vì nước Thiên Chúa là của họ» (Mt 5,3). Tư tưởng của Ngài thường ngược hẳn với người đời như thế, nên người chung quanh thường cho rằng Ngài dở hơi, thậm chí là mất trí nữa. Bị cô độc vì không được ai hiểu Một nỗi khổ tâm rất lớn của Ngài là sự cô độc, vì không ai hiểu được Ngài, không ai đồng lập trường với Ngài, có chăng chỉ là Mẹ của Ngài. Vì Ngài là hiện thân của Thiên Chúa Tình Thương, Ngài đến trần gian để xoa dịu cơn thịnh nộ của Thiên Chúa Công Bằng. Sự đòi hỏi của tình thương đôi khi đi ngược hẳn lại với sự đòi hỏi của công bằng. Nơi Ngài, sức mạnh của tình thương dường như lớn hơn sức mạnh của sự công bằng rất nhiều. Đứng trước một xã hội hư hỏng của con người, đôi khi Ngài cũng cảm thấy cần phải dùng Lửa để rửa tội cho họ (x. Mt 3,11), nghĩa là tiêu diệt họ để lập nên một xã hội mới. Nhưng tình thương nơi Ngài vẫn mạnh hơn khiến Ngài bác bỏ cách thức giải quyết đó. Phải cứu vớt những gì hư mất (x. Lc 19,10). Ngay cả Gioan Tẩy giả, vị Tiền Hô của Ngài cũng không đồng lập trường với Ngài về mặt này, ông không thể hiểu nổi lập trường của Ngài, huống gì đám người kém cỏi tội lỗi kia. Gioan thật đúng là một người công chính, đức hạnh của ông không chỗ nào chê được. Ông là người nghiêm trang, cương quyết, đầy nghị lực, đời sống của ông rất mẫu mực, khắc khổ, thậm chí còn mẫu mực và khắc khổ hơn cả Ngài nữa. Đứng trước sự hư hỏng và tội lỗi của con người, ông đứng về phía Thiên Chúa hơn là về phía con người, ông ủng hộ vị Thiên Chúa công bằng và thịnh nộ hơn là vị Thiên Chúa yêu thương. Chủ trương của ông là «cái rìu đã để sẵn ở gốc cây, cây nào không sinh hoa trái thì phải chặt và quăng vào lửa» (Mt 3,10). Thiên Chúa không nên chờ đợi thêm nữa. Quan niệm của ông về chính Ngài – Đấng Cứu Thế – là và phải là: «Đấng đến sau tôi quyền thế hơn tôi… Ngài sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần và trong Lửa. Tay Ngài cầm nia, Ngài sẽ rê sạch lúa trong sân. Thóc mẩy thì thu vào kho lẫm, còn thóc lép thì bỏ vào lửa không hề tắt mà đốt đi» (Mt 3,11-12). Ngài hiểu ông từ trong tâm can, vì đôi khi chính Ngài cũng chủ trương phải như thế. Nhưng bây giờ thì Ngài không thể chấp nhận một chủ trương đầy công bằng nhưng không mấy yêu thương như vậy. Cái trớ trêu là: ông Gioan là người, nhưng lại đứng về phía Thiên Chúa, còn Ngài là Thiên Chúa thì lại đứng về phía con người. Nhân loại này quả thật là khó thương, thậm chí đang chống lại Ngài, và có thể hại Ngài nữa, nhưng Ngài vẫn thương họ và muốn cứu vớt họ, vì họ tuy khó thương nhưng lại rất đáng thương. Vì thế, Gioan không sao hiểu được Ngài, ông không thể ngờ được rằng Thiên Chúa có thể kiên nhẫn hơn nữa để chờ đợi con người. Theo Gioan thì không còn chỗ đứng trước mặt Thiên Chúa cho những người tội lỗi. Do đó, kẻ có tội phải ăn năn và chịu phép rửa cho kịp thời trước khi cơn thịnh nộ của Thiên Chúa giáng xuống. Ai không hối hận và trở về con đường ngay chính sẽ phải chết. Thiên Chúa đang nổi giận, Ngài không khoan nhượng và chờ đợi lâu hơn nữa. Thông cảm với những yếu đuối của con người Còn Đức Giêsu, với thời gian mấy chục năm ở giữa loài người, Ngài rất thông cảm với những yếu đuối và ngu muội của họ. Ngài thấy ai ai cũng khát khao hạnh phúc. Chính Thiên Chúa đã đặt trong lòng họ niềm khao khát đó. Nhưng khổ nỗi lòng trí họ ngu muội quá không biết đâu là hạnh phúc đích thực và trường cửu. Họ chỉ thấy được những hạnh phúc giả tạm nhất thời trước mắt, mà không thấy được hạnh phúc vĩnh cửu và đích thực để đạt tới bằng đời sống tốt đẹp của họ. Vì thế, họ đã hành động ngược lại với hạnh phúc đích thực chỉ để đạt được một số hạnh phúc giả tạm. Có những người ý thức được hạnh phúc vĩnh cửu, nhưng ý chí của họ quá yếu đuối trước sự hấp dẫn ngay trước mắt của những hạnh phúc chóng qua, khiến họ không cưỡng lại được những cám dỗ, những khuynh hướng tội lỗi. Chính Ngài cũng đã từng bị cám dỗ: Ngài thấy sức cám dỗ của ma quỷ rất mạnh mẽ khiến Ngài phải dùng hết sức bình sinh mới thắng lướt được. Vì thế, Ngài rất cảm thông với những yếu đuối của họ (x. Dt 4,15), rất ít khi kết án kẻ có tội, có chăng chỉ kết án những kẻ kiêu ngạo, giả hình, ích kỷ, thường là những kẻ được dân chúng tưởng là thánh thiện (x. Mt 23). Ngay cả những kẻ vì yếu đuối mà phạm tội, cho dẫu bị bắt quả tang và bị mọi người lên án, Ngài cũng vẫn không kết án (x. Ga 8,11). Thái độ khoan dung của Ngài đối với những kẻ tội lỗi làm cho những người tưởng mình là thánh thiện đạo đức kia rất bực mình, vì theo đúng luật Môisê, những kẻ phạm tội như ngoại tình chẳng hạn, đều phải bị kết án chết (x. Lc 20,10; Đnl 22,22-24). Điều đó khiến cho Ngài rất buồn khổ vì ngay cả trong số những người có được nếp sống luân lý cao cũng không có tình thương đối với đồng loại của mình. Khi họ nghĩ rằng họ đã tạm đủ tiêu chuẩn để vào được Thiên Đàng, thì họ muốn rằng những người khác muốn vào được Thiên Đàng cũng phải đạt được tiêu chuẩn ít nhất là như họ. Vào được Thiên Đàng rồi, họ muốn Chúa hạn chế số người vào lại, ai không được như họ thì không được vào. Nhiều người đạo đức cách ích kỷ, không biết yêu thương Thái độ đó đã được biểu lộ rất rõ sau khi Ngài chết. Những người Kitô hữu gốc Do Thái đòi hỏi rằng người ngoại muốn vào Kitô giáo để được cứu rỗi thì phải chịu phép cắt bì giống như họ mới được (Cv 15,1). Nếu họ có tình thương đối với đồng loại thực sự, thì họ phải mong Thiên Chúa hạ thấp tiêu chuẩn được cứu rỗi xuống chừng nào tốt chừng nấy, để càng nhiều người được cứu rỗi càng tốt chứ! Đức Kitô đã đả kích thái độ ích kỷ đó qua dụ ngôn chủ vườn nho thuê thợ vào nhiều giờ khác nhau (Mt 20,1-16). Những kẻ «đạo đức» có não trạng ích kỷ đó rất khó chịu trước lòng bao dung vô hạn của Đức Kitô, khiến họ không thể nghe Ngài được, họ chống lại Ngài. Đang khi đó, chính những kẻ tội lỗi bị họ khinh miệt lại nghe theo Ngài, bỏ đường tội lỗi và tin vào Ngài. Vì thế Ngài thẳng thắn nói với họ: «bọn đĩ điếm và thu thuế sẽ vào Thiên Đàng trước các ngươi» (Mt 21,31). Chính những kẻ «đạo đức» muốn đóng cửa Thiên Đàng không cho những người tội lỗi ấy vào (x. Mt 23,13) lại không được vào (x. 23,14). Quan niệm đầy tình thương của Ngài đã làm đảo lộn bậc thang giá trị của xã hội Do Thái giáo thời đó: «Kẻ cuối sẽ lên đầu, kẻ đầu sẽ xuống cuối» (Mt 20,16). Vì thế, cấp lãnh đạo Do Thái giáo liệt Ngài vào hạng người phá hoại tôn giáo và đất nước Do Thái (x. Mt 11,48-50).
CẦU NGUYỆN CẦU NGUYỆN VỚI LỜI ĐỌC THÁNH (LECTIO DIVINA) Hoàng QuýMột lối cầu nguyện thật cổ kính được mọi thời đại tận dụng để cầu nguyện, đó là kỹ thuật lectio divina. Đây là lối cầu nguyện theo Kinh Thánh thật chậm rãi, thật chiêm niệm, để làm thế nào Kinh Thánh hay Lời của Thiên Chúa trở thành phương tiện nâng con người lên tận hiệp với Thiên Chúa. Nói một cách khác, lectio divina giúp chúng ta gặp gỡ được Thiên Chúa qua lời mặc khải của Ngài và khi đó chúng ta lắng nghe Chúa nói và Ngài bộc lộ chính Ngài cho chúng ta, rồi cuốn hút chúng ta đi vào thông hiệp với Ngài trong niềm tin yêu. Phương thức cầu nguyện cổ truyền này vẫn được duy trì trong truyền thống Giáo Hội nơi các dòng khổ tu, các đan viện. Để giúp Giáo Hội đi vào chiều sâu của việc cầu nguyện thật cần thiết cho thời đại hôm nay, năm 1971 ĐGH Phaolô VI kêu gọi các thầy dòng khổ tu tìm cách giản dị hoá phương pháp để có thể áp dụng lối cầu nguyện chiêm niệm này cho mọi tín hữu. Và từ đây phương pháp cầu nguyện lectio divina không còn là sở hữu của các thầy dòng khổ tu nữa, nhưng là của toàn thể Giáo Hội. Bất cứ ai cũng đều có thể xử dụng chiêu thức cầu nguyện hữu hiệu này. Lectio (đọc / lắng nghe) Nghệ thuật của lectio divina bắt đầu bằng việc trau dồi khả năng biết trầm lặng lắng nghe, nghe bằng «cái tai của con tim» để nhận ra được tiếng nói bình lặng, êm dịu, nhỏ bé của tiếng Chúa. Vậy khi đọc Lời Thánh (lectio divina), chúng ta hãy nhớ lại Lời Chúa phán bảo tiên tri Êlia: «Người nói với ông: 'Hãy ra ngoài và đứng trên núi trước mặt Đức Chúa. Kìa Đức Chúa đang đi qua.' Gió to bão lớn xẻ núi non, đập vỡ đá tảng trước nhan Đức Chúa, nhưng Đức Chúa không ở trong cơn gió bão. Sau đó là động đất, nhưng Đức Chúa không ở trong trận động đất. Sau động đất là lửa, nhưng Đức Chúa cũng không ở trong lửa. Sau lửa có tiếng gió hiu hiu.».... (1V 19:11-12). Tiếng nói của Chúa qua Lời Thánh là tiếng nói hiu hiu, thì thầm và đụng chạm trái tim chúng ta. Tiếng nói Chúa như đang thể hiện sức sống của Ngài hiện diện tràn ngập tâm hồn chúng ta. Nghe ở đây không phải là một thoáng nghe, nhưng là một lắng nghe tiếng Chúa nói một cách rất êm dịu. Và muốn lắng nghe được tiếng nói êm dịu của Ngài, chúng ta phải học sống thanh lặng, phải học yêu thanh lặng. Nếu chúng ta cứ nói hoài hoặc khoả đầy mình bằng những tiếng nói ồn ào, uế tạp, chúng sẽ chẳng thể nghe được những tiếng êm dịu của Ngài. Như vậy việc thực hành lectio divina trước tiên đòi hỏi chúng ta phải trầm lắng lòng mình xuống để có thể lắng nghe được Lời Ngài. Đây là bước đầu tiên của lectio divina. Lectio = đọc. Lối đọc của lectio divina khác hẳn với lối đọc của thời đại hiện này khi đọc sách báo, người ta đọc như cái máy, như chạy bộ. Lối đọc của lectio là lối lắng nghe một cách tôn kính, lắng nghe với một tinh thần trầm lặng và kính cẩn. Chúng ta phải lắng nghe tiếng nói tĩnh mịch, nhỏ nhẹ của tiếng Chúa như đích thân Ngài đang nói với chúng ta thật thân tình. Như vậy trong lectio divina chúng ta cần đọc một cách chậm rãi, chú tâm rồi êm đềm lắng nghe xem lời nào, câu nói nào của Lời Chúa đánh động chúng ta hôm nay. Meditatio (suy niệm) Khi nào chúng ta nhận thấy lời nào, câu nào trong Lời Chúa vừa đọc đang nói với chúng ta một cách thân tình, rung động, chúng ta hãy dừng lại ở đó và «nhai đi nhai lại» cho tới khi nhuần nhuyễn. Đây là hình ảnh của con trâu, con bò nhai cỏ một cách bình lặng. Hơn bất cứ hình ảnh khác, chúng ta hãy bắt chước gương Đức Maria trong đêm Giáng Sinh. Sau khi nghe các người chăn chiên tường thuật những chuyện lạ về Chúa Giêsu, Mẹ ghi nhớ tất cả những hình ảnh ấy và «suy đi nghĩ lại trong lòng» (Luc 2:19). Như vậy, khi đọc Kinh Thánh, chúng ta nhận thấy lời nào, câu nào làm chúng ta chú ý hoặc gây cảm kích, chúng ta hãy nắm giữ lại lời ấy, ghi nhớ lời ấy và êm đềm lặp đi lặp lại cho tới khi nào lời ấy thấm nhập, chuyển hóa ý nghĩ, tâm tư và những mơ ước của chúng ta. Đây là bước thứ hai trong lectio divina. Nhờ meditatio = suy niệm như vậy, Lời Chúa thật sự thấm nhập trong chúng ta, Lời đụng chạm và tác động chúng ta thật thâm sâu. Oratio (cầu nguyện) Bước thứ ba trong lectio divina là oratio = cầu nguyện. Cầu nguyện được hiểu theo hai nghĩa. Cầu nguyện có nghĩa là đối thoại, là một lần trò truyện thân tình với Chúa, Đấng mời gọi chúng ta đi vào trong tình yêu thương ôm ấp của Ngài. Cầu nguyện còn có nghĩa là hiến dâng, là hiến tế lên Chúa toàn thân chúng ta mà từ trước tới giờ chúng ta cứ tưởng rằng Chúa không mong muốn thế. Trong lời cầu nguyện hiến tế này, chúng ta cứ để cho Lời Chúa mà chúng ta đang suy niệm đụng chạm và thay đổi chúng ta thâm sâu nhất. Giống như linh mục hiến dâng lên Chúa các thành phần của bánh và rượu trong thánh lễ, Chúa cũng mời gọi chúng ta trong lectio divina hãy dâng lên Chúa các cảm nghiệm khó khăn và đau thương nhất, và chúng ta cứ êm đềm đọc lên lời chữa lành Chúa đang ban cho chúng ta trong lectio và meditatio của chúng ta. Trong phần oratio này, lời nguyện - hiến tế sẽ giúp cho con người thật sự của chúng ta được đụng chạm và được hoán chuyển theo Lời Chúa. Contemplatio (chiêm niệm) Sau cùng, chúng ta chỉ việc ngồi yên trong sự hiện diện của Chúa bao trùm. Ngài sẽ dùng Lời của Ngài như một phương tiện mời gọi chúng ta hãy chấp nhận sự ôm ấp biến đổi của Ngài. Không ai đã ở trong vòng yêu thương lại còn cần tới ngôn ngữ để diễn tả nữa. Cũng vậy khi người ta đã tiến vào được mối giây thông hiệp với Chúa. Không cần phải nói gì nữa, chỉ cần yên lặng trong sự hiện diện của Đấng yêu thương chúng ta. Trong truyền thống Kitô giáo, lối cầu nguyện này được gọi là contemplatio = chiêm niệm. Một lần nữa ở đây, chúng ta cần tu luyện thanh lặng, không cần tới ngôn từ nữa. Giờ đây chúng ta chỉ còn việc ngây ngất cảm nghiệm được Chúa đang hiện diện trong chúng ta. (Trong bài tới, chúng tôi sẽ đề cập về cách thức thực tiễn đi vào cầu nguyện với lectio divina.)
CẦU NGUYỆN LÀ GẶP GỠ THIÊN CHÚA (tiếp theo Maranatha_9) Nguyễn Chính KếtQuá trình nội tâm hóa Thiên Chúa Quá trình tìm hiểu, gặp gỡ và sống với Thiên Chúa càng đi vào chiều sâu, thì vị trí của Thiên Chúa đối với tâm hồn con người càng gần gũi hơn, càng đi vào nội tâm con người hơn. - Khởi đầu, người ta quan niệm Thiên Chúa hoàn toàn ở ngoài con người, sự độc lập về mặt hữu thể giữa Thiên Chúa và con người rất lớn: Thiên Chúa là một thực tại siêu việt hoàn toàn bên ngoài con người. - Dần dần con người khám phá ra rằng Thiên Chúa cũng ở ngay trong bản thân mình, trong tâm hồn mình, nhưng sự kết hợp chưa đi đến độ thắm thiết. Thiên Chúa ở trong con người, nhưng Thiên Chúa và con người vẫn có thể không gặp nhau, vì tương đối vẫn còn khá độc lập với nhau. - Đến thánh Phaolô, Ngài đã cảm nghiệm được chính Thiên Chúa sống và hoạt động qua con người mình. Sự kết hợp giữa hai hữu thể đã đi đến độ thâm sâu: con người cảm thấy bản ngã của mình như tan biến đâu mất, chỉ còn có Thiên Chúa chiếm hoàn toàn con người mình, đến độ: «Tôi sống nhưng không còn là tôi sống, mà là Đức Kitô sống trong tôi» (Gl 2, 20. X. Rm 8, 10-11). Thiên Chúa và con người tuy là hai hữu thể khác biệt, nhưng đi đến chỗ kết hiệp với nhau rất mật thiết. - Đến thánh Âu-Tinh: «Thiên Chúa còn thân mật với tôi hơn cả chính tôi thân mật với tôi nữa» (Deus intimior intimo meo) : Thiên Chúa trở thành cái gì căn bản nhất, thâm sâu nhất trong tôi, hơn cả chính bản ngã của tôi. Đó là quá trình nội tâm hóa Thiên Chúa của con người. Thiên Chúa không chỉ siêu việt (transcendant) ngoài con người, mà còn nội tại (immanent) trong chính con người nữa. Hãy cảm nghiệm Thiên Chúa ngay trong bản thân mình Thiên Chúa nội tại trong ta và là nền tảng của hữu thể ta. Vậy thì còn phải tìm Thiên Chúa ở đâu nữa!? Vấn đề không còn là tìm kiếm Thiên Chúa, mà chỉ là ý thức và giác ngộ được Thiên Chúa ở nơi mình và mình đang sống trong Thiên Chúa. Con cá sẽ không bao giờ tìm thấy nước bao lâu nó chưa biết rằng nó đang sống trong nước và nước cũng đang có trong nó. Sở dĩ ta không cảm nghiệm được Thiên Chúa đang đầy tràn chung quanh ta và đầy tràn ngay trong ta, là vì ta đã để cho những biểu hiện của Thiên Chúa che mất chính Ngài. Cũng như khi coi phim, ta không còn thấy màn ảnh nữa chỉ vì mắt ta đã tập trung vào hình ảnh đang diễn ra trên màn ảnh (([1]) Minh họa của Cha ANTHONY DE MELLO, sj., trong Contact with God, Loyola University Press, Chicago 1991). Màn ảnh vẫn đang ở ngay trước mắt ta mà ta không nhìn thấy. Trong khi chiếu phim, muốn thấy màn ảnh, ta chỉ cần nhìn vào chính những hình ảnh đang thay đổi, đồng thời dùng trí tuệ để nhận ra cái nền tảng không thay đổi của những hình ảnh ấy, tức màn ảnh. Màn ảnh và các hình ảnh thay đổi ấy, một cách nào đó, «tuy hai mà một», nhưng cũng đồng thời cũng «tuy một mà hai». Lìa bỏ tất cả mọi hình tướng thay đổi của sự vật, ta sẽ nhận ra ngay cái bất biến hiện diện trong chính những cái thay đổi ấy. Đó là một cách để cảm nghiệm Thiên Chúa, một cách rất đông phương, luôn luôn bàng bạc trong giáo lý của các tôn giáo đông phương. Có cảm nghiệm được Thiên Chúa, ta mới thưởng nếm được Ngài. Nếm được Ngài, ta mới có sức mạnh, trí tuệ, hạnh phúc và giải thoát. Đáng tiếc thay, rất nhiều Kitô hữu chỉ chú trọng đến sự hiểu biết, các tín điều về Thiên Chúa mà không tìm cách cảm nghiệm Ngài. Do đó, đối với những người ấy, trong đời sống thực tế, tin và không tin dường như chẳng có gì biến đổi, chẳng làm cho người ta nên tốt lành, thánh thiện và hạnh phúc hơn bao nhiêu. Không gặp gỡ, cảm nghiệm và thưởng nếm Thiên Chúa, đời sống tâm linh của họ trở nên nghèo nàn, yếu ớt, vì tâm linh họ không có của ăn, hay không ăn được những lương thực đích thật bổ dưỡng. Đời sống tâm linh Sự sống chỉ có một, nhưng được thể hiện dưới nhiều cấp độ khác nhau: đời sống thực vật, đời sống động vật, đời sống tình cảm, đời sống trí thức, và cao nhất là đời sống tâm linh. Con người hơn con vật ở chỗ có đời sống tình cảm và trí thức, nhưng hơn rất xa con vật ở chỗ có thể có đời sống tâm linh. Mỗi cấp độ của sự sống đều có những của ăn riêng biệt. Đời sống thực vật và động vật cần những của ăn vật chất (nước, glucid, protid, lipid, vitamine…). Đời sống tình cảm được nuôi bằng những cảm xúc, tâm tình. Đời sống trí thức được nuôi bằng kiến thức, kinh nghiệm, suy tư… Đời sống tâm linh đương nhiên cũng cần của ăn riêng biệt thích hợp. Vậy, tâm linh sống bằng gì? Đời sống tâm linh là đời sống của linh hồn. Con người khác hẳn con vật ở chỗ có linh hồn, nên chỉ có những sinh vật từ con người trở lên mới có đời sống tâm linh. Chính nhờ có linh hồn mà con người là «hình ảnh của Thiên Chúa» (X. St 1, 26. 27). Thiên Chúa là «Linh» (thần linh), và linh hồn con người cũng là «linh», con người giống Thiên Chúa và là hình ảnh của Ngài về mặt này. Nhờ có linh hồn, con người mới có thể tham dự vào sự sống thần linh của Thiên Chúa, là sự sống Ngài chỉ ban cho con cái Ngài. Chính nhờ có linh hồn mà tự thâm sâu, con người vẫn tự nhiên hướng về Ngài, một cách ý thức hoặc vô thức, và chỉ được thỏa mãn khi nghỉ yên trong Ngài. Có thể nói đời sống tâm linh là đời sống kết hiệp với Thiên Chúa, khiến ta cảm thấy mình tan hòa trong Ngài, và lúc đó, cái tôi nhỏ bé hẹp hòi của mình dường như biến mất, khiến ta không còn thấy mình sống nữa, mình chỉ thấy Thiên Chúa sống trong mình (x. Gl 2, 20). Đời sống tâm linh không phải là một đời sống mà người ta chỉ có thể quan niệm được mà thôi. Thực ra, nó phải là một đời sống mà ta có thể cảm nghiệm được. Một người có đời sống tâm linh cao và phong phú có thể cảm nghiệm được linh hồn mình cũng y như cảm nghiệm được thể xác mình. Và có cảm nghiệm được linh hồn mình, tâm linh mình, thì mới mong cảm nghiệm được chính Thiên Chúa. Không ai có thể tự hào mình có đời sống tâm linh dồi dào khi chính mình không cảm nghiệm được đời sống đó. Cũng như một người có đời sống trí thức dồi dào, thì phải cảm nghiệm được mình hiểu biết, suy tư, ý thức về chính mình. Hay cũng như một người có đời sống tình cảm thì phải cảm nghiệm được những nỗi vui buồn, thương ghét của mình… Vì chúng ta có khả năng biết về mình chứ không vô ý thức như con vật. Vậy, chẳng lẽ chúng ta có đời sống tâm linh thật sự mà lại không cảm nghiệm được nó? Đời sống tâm linh phát triển thế nào? Đời sống tâm linh của nhiều người chỉ ở dạng «hạt», chưa nảy mầm thành «cây» được, nghĩa là vẫn ở dạng tiềm năng (in potentia), chứ chưa ở dạng hiện thể (in actu). Hạt đó chính là cái tôi ý thức của ta, là cái tôi ích kỷ của ta. Cái tôi đó chính là cái hạt có thể nảy mầm để phát sinh ra đời sống tâm linh. Và bí quyết để làm cho hạt đó nảy mầm là nó phải «chết» đi, như Đức Giêsu có nói: «Hạt lúa được gieo vào lòng đất nếu không chết đi, nó vẫn chỉ là hạt lúa, còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác» (Ga 12, 24). Thật vậy, nếu ta không để cho cái tôi ích kỷ của ta nhỏ bé và chết đi, thì hạt giống tâm linh của ta không thể nảy mầm và phát triển được. Nếu ta yêu cái tôi của mình quá, chỉ muốn nó được trương phình ra lấn át cả tha nhân, chắc chắn đời sống tâm linh của ta rất nghèo nàn, què quặt: «Ai yêu quí mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời» (Ga 12, 25). Giữa Đức Kitô ở trong tôi - tức sự sống thần linh trong tôi - với «cái tôi» của tôi luôn luôn có sự tỉ lệ nghịch với nhau: «Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ đi» (Ga 3, 30). Nếu tôi coi «cái tôi» của mình lớn quá, ắt nhiên Đức Kitô trong tôi phải nhỏ đi. Như vậy, cái cản trở đời sống tâm linh của ta nẩy mầm và phát triển, chính là cái tôi ích kỷ của ta. Làm cho cái tôi đó nhỏ lại, chết đi, thì Đức Kitô mới sinh ra và «thành hình trong tâm hồn ta» (Gl 4, 19). Đó quả là một quá trình giác ngộ và lột xác. Và kể từ đây, Đức Kitô trở thành của ăn cần thiết nuôi dưỡng đời sống tâm linh của ta. Đức Kitô, lương thực tâm linh Chúng ta không nên hiểu Đức Kitô theo kiểu những người đồng làng với Ngài đã hiểu. Họ hiểu Đức Kitô một cách rất cụ thể và phiến diện: là người có tên Giêsu, con ông Giuse và bà Maria, cùng sống ở làng Nazarét với họ và như họ (x. Mt 13, 55-56). Nếu ta hiểu Đức Giêsu như thế thì quả không sai, nhưng một Đức Kitô như thế chẳng ích lợi gì cho ta, giống như Ngài chẳng làm được gì cho dân làng của Ngài khi họ quan niệm về Ngài như thế. Ta phải thấy Ngài là một thực tại «từ Trời xuống» (Ga 8, 23; 6, 38), không phải là người «thuộc về thế gian này» (Ga 8, 23), nghĩa là một thực tại tâm linh cần phải được nội tâm hóa nơi mỗi người. Có như thế, Ngài mới trở thành của ăn nuôi dưỡng đời sống tâm linh được, vì của ăn phải là tâm linh mới nuôi dưỡng tâm linh được. Của ăn tâm linh ở đây, tức Đức Kitô, không phải chỉ là một con người cá biệt nào đó, mà là một vị Thiên Chúa toàn năng, toàn thiện, đầy yêu thương, đầy sức mạnh. Biến Ngài thành của ăn, hay «ăn» Ngài, có nghĩa là là nội tâm hóa Ngài, biến Ngài thành tâm linh của ta, thành nội tâm của ta, thành sự sống của ta, để ta không còn thấy ta sống, suy nghĩ, nói năng, hành động nữa, mà là thấy Ngài sống, suy nghĩ, nói năng, hành động trong ta (x. Gl 2, 20). Và hành vi «ăn» Ngài ở đây là một hành vi của ý thức, của trí tuệ, chứ không phải là «nuốt vào bụng». Nghĩa là luôn luôn ý thức Ngài sống trong ta, đang hành động trong ta, đang biến đổi ta. «Ăn» Ngài, chính là lấy Ngài làm lẽ sống, để Ngài chiếm trọn «bầu trời ý thức» của ta. Và sau một quá trình được nuôi dưỡng bằng lương thực tâm linh ấy, cái tôi ích kỷ của ta càng ngày càng được thay thế dần dần bằng «chất Ngài», hay «tính Kitô», đầy yêu thương, vị tha, phục vụ. Sự sống tự nhiên đầy khiếm khuyết của ta được thay thế dần dần bằng sự sống siêu nhiên toàn hảo của Ngài. Và ta càng ngày càng được tham dự vào tính chất toàn năng toàn thiện, vào tình thương và sức mạnh của Ngài. Sự sống đời đời, theo một nghĩa nào đó, chính là đời sống tâm linh mà Đức Giêsu hứa ban, phát xuất từ sự «ăn thịt và uống máu Ngài», được hiểu theo nghĩa tâm linh chứ không chỉ được hiểu theo nghĩa thể xác như những người Nazarét thời xưa đã hiểu. Kết luận Tình yêu được nuôi dưỡng bằng những gặp gỡ, những tương quan thân mật giữa hai người, bằng sự hy sinh, bằng những biểu lộ tình yêu qua cử chỉ, ánh mắt, lời nói… Tình yêu sẽ giảm hay mất đi khi thiếu những «lương thực» đó, hoặc trái lại sẽ tăng lên và sinh hoa kết trái nếu được nuôi dưỡng đầy đủ bằng những «lương thực» đó. Tương tự, đời sống tâm linh hay sự sống thần linh cũng phải được nuôi dưỡng bằng «lương thực» riêng của nó. Sự sống thần linh là sự sống của chính Thiên Chúa và xuất phát từ chính Thiên Chúa. Vì thế nó phải được nuôi dưỡng bằng chính Thiên Chúa, hay cụ thể hơn, bằng sự gặp gỡ thân mật với Thiên Chúa. Sự gặp gỡ ấy chính là bản chất của cầu nguyện. Vì thế, nói một cách khác, cầu nguyện là lương thực nuôi dưỡng đời sống tâm linh con người. Nhưng để có thể thật sự nuôi dưỡng đời sống tâm linh, thì cầu nguyện phải là sự gặp gỡ đích thực với Thiên Chúa. Nhưng, muốn gặp gỡ Thiên Chúa thì trước hết phải «có duyên» với Ngài, như tinh thần của câu: «Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, vô duyên đối diện bất tương phùng», nghĩa là ta phải một cách nào đó đồng cảm với Ngài. Khi nói chuyện với một người đồng cảm với ta, ta cảm thấy có sự gặp gỡ thật sự. Còn khi nói chuyện với một người quan niệm, suy nghĩ, chủ trương khác hẳn ta, ta thấy khó nói chuyện, và nếu cứ cố nói chuyện, thì chỉ đi đến cãi lộn, tranh chấp, chứ không nhất trí với nhau được. Như vậy, «có duyên» hay «đồng cảm» với Thiên Chúa nghĩa là gì? Thánh Gioan cho biết: «Tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương thì đã được Thiên Chúa sinh ra. Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu» (1 Ga 4, 7-8). Thánh nhân cho thấy, chỉ những ai có tình yêu, những ai biết yêu thương mọi người bằng một tình yêu vị tha, phổ quát, thì mới là người đồng cảm với Thiên Chúa. Chỉ những người đó mới có thể gặp được Thiên Chúa. Vì thế, nếu bản chất của cầu nguyện là gặp gỡ Thiên Chúa, thì chỉ những ai biết yêu thương mới có thể cầu nguyện đúng nghĩa được. Và tình yêu đòi hỏi ta phải ra khỏi chính mình, bớt quan tâm đến mình, để có khả năng đến với tha nhân, lưu tâm đến hạnh phúc hay đau khổ của họ, đến những nhu cầu và mong ước của họ, để làm cho họ nên tốt và hạnh phúc hơn. Như thế, điều kiện tiên quyết để có thể cầu nguyện, gặp gỡ Thiên Chúa, và nuôi dưỡng đời sống tâm linh, là phải có tình yêu. Vì thế, muốn cho đời sống tâm linh của mình vững mạnh, phải thực tập đức mến, thể hiện những đặc trưng của đức mến trong đời sống của mình: «Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui mừng khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, chịu đựng tất cả» (1 Cr 13, 4-7). Không có tình yêu hay đức mến, người ta không thể gặp gỡ Thiên Chúa, và do đó, không thể phát triển đời sống tâm linh được.
LINH ĐẠO GIÁO DÂN Trần Duy Nhiên Một thực tế phũ phàng… Trong quá trình tìm kiếm chất liệu giúp mình sống cuộc sống tâm linh của một Kitô hữu, tôi ngỡ ngàng nhận thấy số lượng tài liệu về tu đức hay linh đạo dành cho giáo dân, nghĩa là 98% dân Chúa, thì vô cùng ít ỏi so với kho tàng thật phong phú các sách vở linh đạo dành cho 2% còn lại, nghĩa là cho giáo sĩ và tu sĩ. Quả là một thực tế phũ phàng. Từ đấy, giáo dân nào muốn lớn lên trong đời sống tâm linh thì buộc phải ‘bắt chước’ các bậc tu trì được phần nào hay phần ấy; họ phải dành một phần thời gian trong cuộc sống mình để trở thành ‘nhà tu’, rồi từ đó tìm một sức mạnh mà đối diện với cuộc sống xã hội, nghĩa là một cuộc đời không dính dấp gì đến tâm linh cả. Tệ hơn nữa, những gì không thuộc về đời sống ‘nhà tu’ thì bị xem là ‘tục’ (ít ra là ‘trần tục’ nếu không phải là ‘tục tằn’), nghĩa là đi ngược và gây trở ngại cho nếp sống ‘thiêng liêng’. Dần dần, giáo dân mang cái não trạng của những người Con Chúa sống đời sống tâm linh như bóng đèn Noen, chớp chớp tắt tắt, mà thời gian tắt luôn dài gấp trăm ngàn lần so với thời gian chớp. Tôi băn khoăn tự hỏi có đường lối nào để cho người giáo dân sống 100% thời gian của mình với tư cách là một người ‘ở giữa thế gian mà không thuộc về thế gian’ không? Hay nói cách khác: có một linh đạo nào dành cho giáo dân chăng? Cách đây vài tháng, tôi hỏi linh mục Nguyễn Thái Hợp về những tài liệu về linh đạo giáo dân, ngài bảo: “Cho đến bây giờ, các sách linh đạo đều do giáo sĩ viết cả, vì thế, nếp sống tu trì luôn là chuẩn mực cho đời sống tâm linh. Muốn có những tài liệu về linh đạo giáo dân, thì chính các anh phải viết lấy”. Linh đạo giáo dân là gì? “Các anh phải viết lấy!” Không biết linh mục Nguyễn Thái Hợp (một bậc thầy về vấn đề tu đức cho chủng sinh dòng Đa Minh Việt Nam) có nghĩ rằng lời đề nghị của mình là một thách thức rất lớn hay không? Làm thế nào viết về linh đạo mà khi chưa thông qua tối thiểu là 3 năm triết học và 4 năm thần học? Làm thế nào mà giáo dân biết viết về một lãnh vực linh thiêng như thế? Xét cho cùng, việc giáo dân viết nên một nền linh đạo cho mình là một điều không thể nào làm được; thế nhưng không làm thì cũng không được, cho nên phải làm được. Muốn như thế, linh đạo giáo dân không thể xuất phát từ những suy tư thần học mà phải bắt nguồn từ cuộc sống hằng ngày. Theo cái nhìn đó, ta thử trả lời câu hỏi: linh đạo là gì? Để đáp ứng với thực tiễn, ta chấp nhận định nghĩa sau đây: linh đạo là một mối tương giao mật thiết với Thiên Chúa để nên thánh trong và qua những công việc tầm thường nhất trong đời thường của mỗi người” Từ đó Linh Đạo Giáo Dân là cách thức mà giáo dân đáp trả một cách thực tiễn lời Thiên Chúa kêu gọi Kitô hữu thuộc mọi bậc sống tham gia vào sự sống dồi dào và trọn lành của Ngài: Lời kêu gọi ấy thật rõ ràng và dứt khoát: “Thiên Chúa sai Môsê nói với cộng đồng Israen như sau: Hãy nên thánh, vì Ta, Thiên Chủa của các ngươi, là Đấng Thánh” (Lv 19, 1-2). Một vài khía cạnh của Linh Đạo Giáo Dân. Nếp sống kết hiệp với Thiên Chúa không chỉ dành riêng cho giáo sĩ và tu sĩ. Tuy nhiên sống thân mật với Thiên Chúa không có nghĩa là xem những hoạt động trần thế là vô ích đối với việc nên thánh và chỉ có những hoạt động liên quan đến bí tích, cầu nguyện, tĩnh tâm mới mang chiều kích thánh thiện. Công việc xây dựng, hàn gắn, chữa lành, sáng tạo và phục vụ - công việc của người mẹ, người y tá, người công chức - cũng là chia sẻ công việc tạo dựng và cứu độ của Thiên Chúa. Nếu các công việc ấy được thực hiện một cách hoàn chỉnh thì chúng trở nên những hoạt động thánh thiện. Chính qua những công việc ấy mà người giáo dân sống chiều kích ngôn sứ của mình. Môi trường xã hội chính là bàn thờ mà người giáo dân thực thi chức vụ tư tế phổ quát bằng cách hiến tế chính mình cùng với Chúa Giêsu giữa cuộc đời. Vì thế, linh đạo giáo dân phải gắn liền với cuộc sống trần thế. Đời sống đạo của giáo dân không phải là một cuộc sống ‘thoát tục’, thoát khỏi những thực tại thế gian như các vấn đề xã hội, chính trị, gia đình, nghề nghiệp… Đời sống đạo của giáo dân phải gắn liền với công việc hàng ngày, có liên quan trực tiếp đến nghề nghiệp và gia đình, đến những giờ giải trí, những cuộc họp hành, đến cơm áo gạo tiền, đến việc giáo dục con cái và thậm chí đến việc gối chăn… Đời sống đạo của giáo dân được kết thành bởi một mạng lưới dày đặt những tương quan giữa người và người, cùng với các vấn đề dính liền với con người; và những vấn đề ấy nhiều khi hoàn toàn nằm ở ngoài kinh nghiệm linh đạo của các bậc tu trì. Làm thế nào chờ đợi các linh mục giải quyết vấn đề gia đình của mình trước những tình huống đặc biệt, ví dụ như khi trong gia đình mình có một thành viên bị nghiện ma túy, bị bệnh Aids, bị tâm thần; khi cha mẹ có một người con bị hãm hiếp rồi mang thai; khi một người trong gia đình phải thất nghiệp từ năm này qua năm nọ, khi người vợ hay người chồng biết rằng người kia đang phản bội mình, v.v. Không có một lý thuyết nào để đáp ứng cho mọi người trong những tình huống này, vì thế, muốn tìm ra một linh đạo thì giáo dân phải khởi sự kể cho nhau nghe những mẩu chuyện đời mình, qua đó mình sống chiều kích của Kitô Hữu trong các biến cố hằng ngày. Linh đạo giáo dân phải do người giáo dân viết. Linh đạo giáo dân phải là sự tích lũy của những kinh nghiệm thực tế mà chúng ta chia sẻ cho nhau. Linh đạo giáo dân là con đường gặp gỡ Thiên Chúa và nên thánh ngay tại đây và bây giờ. Tại Đây và Bây Giờ. Trong tác phẩm The Song of The Bird, Anthony De Mello thuật lại câu chuyện sau: Một người lối xóm thấy thầy Nasruddin bò bốn chân tìm kiếm vật gì. "Thưa thầy, thầy đang kiếm gì đó?" "Kiếm chìa khóa của tôi." Cả hai người cùng bò bốn chân tìm kiếm. Sau một hồi lâu, người lối xóm hỏi: "Thầy đã mất chìa khóa ở đâu?" "Ở trong nhà tôi." "Trời đất! Vậy tại sao thầy lại tìm kiếm ở đây?" "Bởi vì ở đây sáng sủa hơn." (trích Như Tiếng Chim Ca, bản dịch của Đỗ Tân Hưng và Trần Duy Nhiên) Có lẽ rất lâu rồi giáo dân chúng ta tìm kiếm Thiên Chúa trong nhà thờ vì nơi ấy sáng sủa hơn, trong khi đó Người lại chờ đợi chúng ta nơi căn nhà của mình, nơi vợ chồng mình, nơi công sở mình, nơi con cái mình… những nơi mà chúng ta có thể gặp được Người 24 giờ mỗi ngày.
Phạm Ruệ Một trong các điều căn bản tạo được hòa khí trong gia đình là vấn đề trách nhiệm của mỗi cá nhân trong gia đình. Nếu ai cũng biết trách nhiệm của mình và chu toàn thì mọi sinh hoạt trong gia đình đều nhẹ nhàng và thoải mái. Nhưng từ chỗ BIẾT đến chỗ chu toàn trách nhiệm là cả một chuỗi những ngày dài huấn luyện. Với kỹ thuật của "Tình và Lý", cha mẹ có thể cắt ngắn được thời gian huấn luyện đồng thời có thể tìm thấy nguồn vui thay vì bực dọc khi giúp con học trách nhiệm. Nói thế có nghĩa là cha mẹ có thể hạnh phúc trong khi thấy con học các bài học này. Khi còn bé, các con tôi hay có thói quen chơi đâu bỏ đấy. Đồ chơi vương vãi khắp nơi trong nhà. Điều này gây nên hai trở ngại lớn: cha mẹ tốn giờ thu dọn, con cái mất giờ tìm đồ chơi chúng thích. "Tình và Lý" dạy rằng, cho con cái quyền tự do chọn lựa. Tùy chúng chọn. Chúng tôi bảo con: Khi con lên giường ngủ, các đồ chơi chưa cất đi sẽ vào thùng rác. Lúc đầu, lời nói này không có giá trị. Chúng tôi chỉ cần lập lại một lần nữa sau kinh tối trước khi chúng lên giường. Quăng đi một đồ chơi chúng đang thích quả là điều đau lòng, nhưng cũng phải giữ đúng lời đã nói. Bỏ ngay vào thùng rác để chúng thấy. Một vài lần chúng tôi thu dọn các đồ chơi, bỏ hết vào bọc rác lớn, khuân xuống phòng dưới hầm nhà. Khi con không tìm được đồ chơi, chúng hỏi cha mẹ. Chúng tôi chỉ vào thùng rác, không tìm được trong đó, chúng quay lại cha mẹ kêu gào. Là cha mẹ lúc này chỉ cần chia buồn với con, nhắc cho chúng nhớ đó là điều chúng chọn, không phải tại cha mẹ hay ai khác. Chỉ một vài lần là xong. Một chi tiết trong chuyện này là trẻ con hay tìm cớ để kéo dài thời giờ trước khi đi ngủ, chúng viện đủ cớ, nếu phải đi tiểu mười lần chúng cũng làm. Chúng tôi dùng cách này: luôn báo trước giờ và việc sắp tới cho con (pre-announcement). Đây là một kỹ thuật đơn sơ nhưng hữu hiệu, được áp dụng trong mọi cộng đồng, ngay cả trong khóa Cursillo. Khi được báo trước việc gì sẽ xảy ra, người ta sẽ không phàn nàn và tự động làm theo mệnh lệnh cách dễ dàng và vui vẻ. Lấy thí dụ giờ đọc kinh tối trong gia đình. Giờ đọc kinh là 8 giờ tối. Ai trong nhà cũng biết. Nhưng trước 8 giờ chừng 10 phút, báo cho con biết là sắp 8 giờ rồi, thu xếp để đọc kinh đi ngủ. Có nghĩa là, đây là giờ dọn dẹp đồ chơi, sách vở đi học ngày maị 5 phút sau, nhắc lần nữa. Và đúng 8 giờ, mọi người ngưng mọi việc, tắt TV hay computer, và thắp nến cho giờ kinh. Đến phiên ai đọc Thánh Kinh thì lấy sách xuống, đọc cho mọi người. Tôi sẽ đề cập đến vấn đề kinh nguyện trong gia đình trong bài khác. Ở đây chỉ nói tới cái kỹ thuật pre-announcement (tôi bịa ra chữ này, chứ không có trong sách vở!). Mỗi việc đều có những chi tiết được làm theo thứ tự, khi quen rồi, người ta rất dễ theo, và cảm thấy yên tâm mà làm, không thắc mắc đôi co nữa. Một khi guồng máy đã chạy, khó mà phá được cái thói quen. Như khi đã bắt đầu kinh tối rồi, việc còn lại sau kinh tối là ôm hôn cha mẹ, đi đánh răng, đi vệ sinh, vào phòng ngủ, mở nhạc nhẹ, bật đồng hồ báo thức, tắt điện, rồi lên giường! Mọi việc cứ tuần tự như thế cho đến khi nhắm mắt. Đứa lớn được thêm một giờ nữa trước khi tắt đèn, có thể coi TV chung với cha mẹ, nhưng không chơi game hay computer nữa.... Giờ còn lại là của cha mẹ, không đứa nào được quấy rầy nữa. Cái quan trọng là các việc giây chuyền, việc nhỏ thôi, nhưng cứ thế tiếp nối, làm thành một chuỗi những thói quen mà con không cần để ý cùng làm được! Con cái cũng giúp phần lớn các việc trong nhà. Chúng tôi tập cho con ngay từ nhỏ: đứa xếp bàn trước khi ăn, đứa dọn bàn sau khi ăn. Phòng ăn nhà tôi có cái chuông bé. Đến giờ cơm, chỉ cần rung chuông báo. Báo lần đầu cho con xếp bàn, lần hai là mọi người ngồi xuống bàn rồi. Trễ cơm là chuyện hiếm có trong nhà. Con bé út thích cái chuông này. Đến bữa cứ xin được cầm chuông rung khắp nhà, xong tự động lên ghế trước mọi người! Thứ tư là ngày nhà tôi giặt quần áo và dọn dẹp trong tuần. (Điều này có cái lợi là cuối tuần cả nhà có nhiều giờ cho nhau hơn). Mỗi đứa có rổ quần áo dơ trong phòng, muốn được giặt, chỉ việc khiêng xuống phòng giặt. Nếu quên, có nghĩa là muốn tự giặt lấy. Con gái lớn quên một lần, phải giặt quần áo lấy, chúng tôi nghe chị nói với anh bé rằng: You wouldn't want to make the same mistake! Dĩ nhiên có giờ riêng dạy cho con giặt quần áo, nhưng đó là có xếp đặt trước, chứ không bị buộc phải làm! Vẫn cái nguyên tắc: để con chọn và chịu trách nhiệm về hậu qủa của chúng. Không kêu hay trách ai được! Các việc lặt vặt khác như dọn dẹp nhà cửa, mang rác ra ngoài, xếp chén bát, chăn màn, quét nhà, gấp quần áo... cũng được chia đều trong giờ họp gia đình. Ai có phàn nàn hay muốn đổi công tác thì đây là cơ hội tốt để lên tiếng. Có một vài lần có sự so sánh giữa hai đứa lớn. Chúng tôi để chúng xếp đặt đổi cho nhau. Nhưng chỉ được hai hôm, đứa nào lại về việc nấy, vui vẻ như trước. Làm sao chúng giữ được các công việc phải làm? Tập từ từ, từng việc một. Mỗi khi chạm phải câu hỏi này, tôi luôn nghĩ đến gánh xiệc và tự nhủ mình: con cọp hay con voi người ta còn huấn luyện được để làm trò, con mình dễ hơn cọp và voi nhiều. Chỉ phải bền chí, nhẹ nhàng là xong. Trước khi học được "Tình và Lý", chúng tôi dùng cách thưởng phạt: trong phòng ăn có cái lọ thủy tinh đề rõ: “Tiền phạt”! Khi cha mẹ phải nhắc làm việc gì, con sẽ phải bỏ 50 xu trong bình này. Khi tiền phạt lên cao, con được quyền xin xung phong làm việc gì khác ngoài bổn phận để chuộc tiền lại. Phương pháp này cũng hay, nhưng vẫn không bằng "Tình và Lý" khi tạo cho chúng cái hãnh diện về sự đóng góp của con trong gia đình! Còn nhỏ thì đồng tiền lớn thật, nhưng khi đã lớn hơn, con có cái tự hào phải để chúng lớn trong ý thức trách nhiệm rằng cha mẹ có thể tin vào con mà không phải lo nữa! (Phải chăng đây là mục đích cuối cùng của giáo dục? Có đứa lo rồi, sao cha mẹ còn phải lo làm gì?) Tuần rồi, tôi dẫn con gái bé đi mua cá lia thia (tetras) và cái hồ cá tí hon cho cá. Con bé bây giờ có công tác mới: cho cá ăn. Đây là cả một nghệ thuật để dạy con biết giới hạn và giờ giấc. Giới hạn vì đồ ăn của cá chỉ cần có vài hạt nhỏ mồi ngày. Không được cho hơn. Tôi để cô tùy ý chọn giờ cho cá ăn. Cô chọn vào lúc vừa thức giấc. Trước giờ đi ngủ, tôi thấy cô dành giờ nói chuyện với cá, dặn cá rằng cô sẽ cho cá ăn khi cô thức dậy. Và đúng vậy, việc đầu tiên khi ra khỏi giường là cô cho cá ăn. Chuyện này cho thấy cha mẹ có thể tin nơi con cái được. Chỉ ăn thua cách cha mẹ dạy cho con. Cho con cái tự do chọn lựa, và để con làm theo chương trình con chọn, miễn là việc ấy không hại gì đến aị Tôi vẫn coi đời sống gia đình là một cộng đồng yêu thương. Muốn có an vui, mọi người trong cộng đồng (dù to như xứ đạo, hay nhỏ như một Nhóm Chia Sẻ Decuria), ai cùng phải biết trọng trách nhiệm và quyền lợi của nhaụ Khi cha mẹ cho con biết điều cha mẹ muốn, cách cụ thể và trong tầm tay con, chúng sẽ cố đạt tới. Nhưng nếu không nói, không cho biết, nhưng lại cứ nghĩ là con sẽ biết, sẽ hiểu mà giúp cha mẹ thì khó lòng mà vừa được lòng nhaụ Chìa khóa của chuyện này là chương trình trong gia đình. Khi cha mẹ không có chương trình, không chia sẻ qua với con cái, mọi sự sẽ dễ trục trặc và gây phiền toái. Lấy thí dụ việc đi lễ ngày Chúa Nhật. Con tôi ở trong ban giúp lễ, cả hai đứa. Chúng có chương trình cả 3 tháng trước: ngày và giờ lễ khác nhau: có hôm vào chiều thứ bảy, có hôm vào Chúa Nhật. Mọi sinh hoạt cuối tuần đều phải thu xếp để con chu toàn công tác đã nhận. Sẽ không có chuyện đi chơi, dạp phố mà trễ giờ giúp lễ, hay con muốn qua nhà bạn chơi mà quên việc bổn phận. Tuy giúp lễ là việc nhỏ, nhưng với trẻ và sự quyết tâm của con, giúp con giữ điều đã hứa là chuyện chứng tỏ cha mẹ có quan tâm về việc con làm hay không. Chúng tôi vẫn cố gắng lập chương trình dài hạn trước 6 tháng. Ngoại trừ các việc bất thường, mọi cái đều được bàn định và cho con cái biết trước, rõ ràng ngày giờ như các dịp đi về ngoại, đi chơi xa, có khách đến, các sinh hoạt mời bạn bè... Cuốn lịch trên bàn nhà bếp lúc nào cũng mở sẵn, để mọi người chỉ liếc qua là biết các việc của gia đình. Lập chương trình cho gia đình cũng là một hình thức dạy con thật cần thiết. Có lên chương trình cha mẹ mới có dịp quyết định cái gì là chính, là cần phải làm, cái gì có thể phải bỏ qua. Như việc đi thăm viếng ông bà nội ngoại. Dịp đi nghỉ hè có thể du di, nhưng thăm viếng ông bà phải được đặt lên hàng đầu. Không có chương trình, gia đình dễ bị thu hút và phân tán theo các thị hiếu và tùy hứng cá nhân. Rồi tiền mất, thời gian mất mà không đem lại lợi ích cho gia đình. Có chương trình, cha mẹ và con cái không quên được các ngày quan trọng của nhau. Có bao gia đình, cha mẹ quên cả ngày thành hôn, ngày sinh nhật con…chỉ vì không có chương trình trước? Nói tóm lại, cái tôi gọi là pre-announcement, là một kỹ thuật đơn giản, nhưng hiệu nghiệm trong đời sống gia đình. Muốn mọi việc êm xuôi, vui vẻ, chỉ việc báo cho nhau trước mọi việc. Thử quay nhìn lại một khóa học Cursillo không có chương trình mà xem. Dù mọi người có thiện chí, có ơn Chúa đó, nhừng không biết việc phải làm, sẽ chỉ dẫm chân lên nhau, cuống quít, nhọc công mà chẳng có gì ra hồn. Trong gia đình cũng thế, nếu cha mẹ thực hiện được cuốn lịch gia đình, công bố cho mọi người, mọi việc sẽ êm ả biết bao. Cha mẹ cũng qua đó mà dạy cho con cái trách nhiệm về việc dùng thời giờ trong cuộc sống riêng của con. Mong thay!
HÔN NHÂN VỚI NGƯỜI KHÁC TÔN GIÁO Nhóm PVHNGĐ(Nhà thờ Chính Tòa Sàigòn)I. Giáo Hội có cho phép hôn nhân khác đạo không ? 1. Bối cảnh xã hội hiện nay: cả nam lẫn nữ đều giao tiếp cởi mở và rộng rãi hơn: đi làm, hoạt động xã hội… Tình yêu nẩy nở không phân biệt tôn giáo. Tôn giáo không ngăn cách được tình yêu. Tại Á Châu, Kitô giáo chỉ chiếm 3,2% (riêng Công giáo được 2,4%). Tại Việt Nam, tỷ lệ nhiều hơn chút ít (khoảng 5%). Tỷ lệ quen biết là: cứ quen 10 người thì chỉ có 1 người là Kitô hữu. Do đó, nên coi việc hôn nhân khác đạo là chuyện bình thường, là một nhu cầu nhân bản. Vấn đề là phải hành xử sao cho thích hợp cả đôi bên. 2. Vấn đề này được đặt ra từ thời Giáo Hội nguyên thủy, được Phaolô coi là bình thưòng và chấp nhận dễ dàng với hy vọng: «… Chồng ngoại đạo được thánh hóa nhờ vợ, và vợ ngoại đạo được thánh hóa nhờ chồng có đạo… Thiên Chúa kêu gọi anh chị sống hòa thuận với nhau! Chị là vợ, biết đâu chị chẳng cứu được chồng? Hay anh là chồng, biết đâu anh chẳng cứu được vợ» (1 Cr 7,12-16). 3. Trưóc đây, Giáo Hội rất khắt khe trong vấn đề này coi như một ngăn trở cấm hôn (tạp giáo) hay tiêu hôn (dị giáo) là vì có sự kiện: lấy chồng / vợ ngoại giáo thì dễø bị mất đức tin và cuộc sống chung khó hạnh phúc, dễ bị đổ vỡ. Lý do: bảo vệ đức tin, và bảo vệ hạnh phúc gia đình. Nhưng ngày nay não trạng và văn hóa con ngưòi đã đổi khác (tôn trọng phẩm giá, hiểu biết tôn giáo của nhau, có sự trưởng thành trong hôn nhân… nhiều hơn), nguy cơ trên đã giảm bớt, nên Giáo Hội đã đưa ra những luật lệrộng rãi hơn. 4. Quan niệm thần học của GH về các tôn giáo đã thay đổi nhiều: Các tôn giáo không còn bị coi là tà giáo, mà là những môi trường cứu độ của Thiên Chúa. Theo CĐ Vatican II, những người trong các tôn giáo khác vẫn có thể được cứu độ nhờ sống theo truyền thống tôn giáo của họ. Tuy nhiên, theo đức tin Công giáo, thì Kitô giáo, nhất là Công giáo, vẫn là tôn giáo chính thống, là phương tiện bảo đảm nhất để được cứu độ (bảo đảm nhất chứ không phải là bảo đảm duy nhất). 5. Ngày nay, trên nguyên tắc, hôn nhân khác đạo không còn bị cấm hay bị coi là «húy kỵ» như ít lâu nay: chính Đức Phaolô VI đã ra tông huấn để phép chuẩn được chấp nhận dễ dàng hơn: người công giáo có thể lấy người ngoại một cách thành sự và hợp pháp. Tuy nhiên, tại VN, sự dễ dàng này chưa được áp dụng rộng rãi: những người lớùn tuổi thường vẫn bảo vệ quan niệm cũ (cũng như trong nhiều chuyện khác, việc áp dụng thường bị chậm trễ hơn Giáo Hội toàn cầu: như thờ cúng tổ tiên, rước lễ trên tay, hội nhập văn hóa… ). 6. Việc kết hôn với người khác đạo dẫu sao cũng là chuyện không được khuyến khích, kết hôn với người cùng đạo vẫn hay hơn, dễ có hạnh phúc hơn. Tuy nhiên, nếu vì hôn nhân mà làm cho người bạn mình tin và sống theo Chúa Kitô, thì cuộc hôn nhân đó có thể được khích lệ xét về mặt truyền giáo. Vì thế, nếu khi có tình yêu với người khác đạo, ta nên dùng chính cơ hội này để giúp cho người mình yêu tin và sống theo Chúa Kitô, gia nhập Giáo Hội Ngài. Đó là việc tốt đẹp nhất mình có thể làm được cho người mình yêu. Quan niệm Phúc Aâm hóa mới đặt trọng tâm làm ngưòi ta sống theo tinh thần Chúa Kitô hơn là nhắm làm cho người ta theo đạo mình (nhiều khi theo đạo mà không sống đạo). II. Làm sao thuyết phục người bạn mình theo Chúa Kitô ? 1. Phải khôn ngoan và tế nhị, tránh xúc phạm tới tôn giáo của họ, trái lại nên tỏ ra tôn trọng niềm tin của họ, đề cao những mặt mạnh của tôn giáo họ và nhấn mạnh những điểm tương đồng. Đồng thời nên cho thấy sự cần thiết của Kitô giáo trong việc cứu độ bản thân và xã hội. Tránh tranh luận hơn thua về tôn giáo. Các bậc cha mẹ nên tránh những phản ứng biểu lộ sự bất bình hay bất đồng ý về cuộc hôn nhân trước mặt người kia. Phải tạo cho người khác đạo ấn tượng tốt về đạo của mình. 2. Áp dụng câu «nhập gia tùy tục» để khuyến khích họ theo đạo, đồng thời cho thấy ý thức của người Kitô hữu về sự tối cần thiết của phần rỗi, khiến họ không thể từ bỏ niềm tin của mình (nhưng cũng không ép buộc người kia phải theo tôn giáo mình: theo Chúa Kitô phải tự nguyện theo, không thể ép buộc). 3. Phải chấp nhận tính cách tương đối trong động cơ ban đầu thúc đẩy họ theo đạo: có thể theo đạo chỉ để lấy vợ/chồng, chỉ để «nhập gia tùy tục», chứ không phải là do tin hay do được cảm hóa thực sự. Nhưng ít ra là họ có nhiều cơ hội để được cảm hóa, và các thế hệ con cháu của cặp vợ chồng ấy sẽ là Kitô hữu, được giáo dục theo truyền thống Giáo Hội. Việc cảm hóa là bổn phận phải làm sau. 4. Điều quan trọng tiếp theo là việc âm thầm cảm hóa bằng những gương sáng, bằng sự cầu nguyện hy sinh, bằng một đời sống Kitô hữu tốt đẹp trong bậc vợ chồng: «… dù có những người chồng không tin Lời Chúa, thì họ cũng sẽ được chinh phục nhờ cách ăn nết ở của chị em mà không cần chị em phải nói lời nào, vì họ thấy cách ăn nết ở cung kính của chị em» (1 Pr 3,1-2). Do đó, phía bên công giáo phải cố gắng và hy sinh gấp đôi những phối ngẫu công giáo khác (về mặt giáo lý cũng như mặt sống đạo trong gia đình) 5. Vấn đề thờ cúng tổ tiên: Sống đạo Kitô giáo không có nghĩa là bỏ ông bà tổ tiên, Giáo Hội đã cho phép lập bàn thờ để kính nhớ ông bà tổ tiên: Tông huấn Plane Compertum (8.12.1939) của Đức Piô XII; Ngày 20.10.1964, Thánh bộ Truyền giáo một lần nữa cho phép các tín hữu VN áp dụng tông huấn trên; Thông cáo chính thức của HĐGMVN cho phép ngày 14.6.1965 và được 7 GM lập lại ngày 14.11.1974. Giáo Hội luôn khuyến khích thảo kính cha mẹ khi các ngài còn sống, cũng như khi đã chết: năng tưởng nhớ, cầu nguyện, dâng lễ, xin lễ, là những điều có ích lợi thiết thực cho người chết… III. Phép chuẩn A. Nguyên tắc: Năm 1970, Đức Phaolô VI với tông thư Matrimonia Mixta (Hôn nhân hỗn hợp) đề ra những điều kiện dễ dàng hơn trong phép chuẩn, cho phép người Công giáo kết hôn với người ngoài Công giáo, một cách thành sự và hợp pháp, với các điều kiện: 1. Phía bên Công giáo phải tuyên bố sẵn sàng tránh những nguy hiểm mất đức tin, và thành thật hứa (buộc nhặt) sẽ hết sức lo liệu để con cái đã hay sẽ sinh ra được rửa tội và giáo dục trong Giáo Hội Công Giáo (miễn là hết sức, dù không thành công, nhưng vẫn phải tôn trọng sự hòa hợp và hạnh phúc gia đình mình) 2. Phải cho phía bên không Công giáo hiểu rõ những điều bên phía Công giáo phải cam kết, để người ấy ý thức người bạn mình phải cam kết những gì và buộc phải làm những gì. 3. Phải cho cả hai bên biết các mục đích và hai đặc tính căn bản của hôn nhân (đơn hôn và vĩnh hôn) mà không bên nào được loại bỏ một đặc tính nào. Ngoài ra, cần dạy giáo lý cho bên Công giáo thật kỹ càng, giúp người ấy sống Đức Tin vững vàng, ý thức nhiệm vụ của mình, làm gương tốt… để nhờ đó người ấy sẽ cảm hóa, tạo niềm tin công giáo cho người bạn kia. B. Hình thức pháp lý: 1. Bình thường, hôn phối của 2 người Công giáo (dù là tái kết hôn vì góa) phải được cử hành theo hình thức pháp lý thông thường, kèm theo hình thức phụng vụ, trong thánh lễ (hoặc ngoài thánh lễ khi có lý do chính đáng). 2. Hôn phối giữa một người Công giáo và một người không Công giáo (có phép chuẩn) cũng phải được cử hành theo hình thức pháp lý thông thường. Nhưng khi có lý do quan trọng thì Đấng Bản Quyền có quyền chuẩn, miễn là giữ được tính cách công khai cho tòa ngoài (TT Matrimonia Mixta). C. Nghi thức phụng vụ: 1. Nếu bên kia là người Kitô giáo không Công giáo, thì cử hành theo nghi thức ngoài thánh lễ, nhưng khi Đấng Bản Quyền đồng ý, thì được cử hành trong thánh lễ. Tuy nhiên, người không Công giáo không được rước lễ. 2. Nếu người kia là lương (chưa rửa tội) thì theo nghi thức riêng (xem trong Sách Lễ Mùa Vọng, trang 354-356). Khi cử hành hôn phối khác đạo (có phép chuẩn), nếu có lý do chính đáng, có thể bỏ hình thức phụng vụ. V. Phép giao 1. Là một biện pháp kỷ luật thời xưa của Giáo Hội (nay đã bỏ), chỉ áp dụng theo tập tục tại Việt Nam, nhất là trong các giáo phận Đàng Ngoài, cho những đôi hôn phối ít xứng đáng vì đã làm gương xấu (như đã công khai sống chung với nhau, đã «mang bầu» rõ ràng trước khi kết hôn theo tôn giáo… ) 2. Trong phép giao, nghi lễ hôn phối được cử hành theo hình thức pháp lý không kèm theo phụng vụ, nghĩa là cử hành ngoài thánh lễ một cách khiêm tốn âm thầm, không long trọng, không rầm rộ. |