|
CẦU NGUYỆN LÀ GẶP GỠ THIÊN CHÚA (tiếp theo Maranatha_9) Nguyễn Chính KếtQuá trình nội tâm hóa Thiên Chúa Quá trình tìm hiểu, gặp gỡ và sống với Thiên Chúa càng đi vào chiều sâu, thì vị trí của Thiên Chúa đối với tâm hồn con người càng gần gũi hơn, càng đi vào nội tâm con người hơn. - Khởi đầu, người ta quan niệm Thiên Chúa hoàn toàn ở ngoài con người, sự độc lập về mặt hữu thể giữa Thiên Chúa và con người rất lớn: Thiên Chúa là một thực tại siêu việt hoàn toàn bên ngoài con người. - Dần dần con người khám phá ra rằng Thiên Chúa cũng ở ngay trong bản thân mình, trong tâm hồn mình, nhưng sự kết hợp chưa đi đến độ thắm thiết. Thiên Chúa ở trong con người, nhưng Thiên Chúa và con người vẫn có thể không gặp nhau, vì tương đối vẫn còn khá độc lập với nhau. - Đến thánh Phaolô, Ngài đã cảm nghiệm được chính Thiên Chúa sống và hoạt động qua con người mình. Sự kết hợp giữa hai hữu thể đã đi đến độ thâm sâu: con người cảm thấy bản ngã của mình như tan biến đâu mất, chỉ còn có Thiên Chúa chiếm hoàn toàn con người mình, đến độ: «Tôi sống nhưng không còn là tôi sống, mà là Đức Kitô sống trong tôi» (Gl 2, 20. X. Rm 8, 10-11). Thiên Chúa và con người tuy là hai hữu thể khác biệt, nhưng đi đến chỗ kết hiệp với nhau rất mật thiết. - Đến thánh Âu-Tinh: «Thiên Chúa còn thân mật với tôi hơn cả chính tôi thân mật với tôi nữa» (Deus intimior intimo meo) : Thiên Chúa trở thành cái gì căn bản nhất, thâm sâu nhất trong tôi, hơn cả chính bản ngã của tôi. Đó là quá trình nội tâm hóa Thiên Chúa của con người. Thiên Chúa không chỉ siêu việt (transcendant) ngoài con người, mà còn nội tại (immanent) trong chính con người nữa. Hãy cảm nghiệm Thiên Chúa ngay trong bản thân mình Thiên Chúa nội tại trong ta và là nền tảng của hữu thể ta. Vậy thì còn phải tìm Thiên Chúa ở đâu nữa!? Vấn đề không còn là tìm kiếm Thiên Chúa, mà chỉ là ý thức và giác ngộ được Thiên Chúa ở nơi mình và mình đang sống trong Thiên Chúa. Con cá sẽ không bao giờ tìm thấy nước bao lâu nó chưa biết rằng nó đang sống trong nước và nước cũng đang có trong nó. Sở dĩ ta không cảm nghiệm được Thiên Chúa đang đầy tràn chung quanh ta và đầy tràn ngay trong ta, là vì ta đã để cho những biểu hiện của Thiên Chúa che mất chính Ngài. Cũng như khi coi phim, ta không còn thấy màn ảnh nữa chỉ vì mắt ta đã tập trung vào hình ảnh đang diễn ra trên màn ảnh (([1]) Minh họa của Cha ANTHONY DE MELLO, sj., trong Contact with God, Loyola University Press, Chicago 1991). Màn ảnh vẫn đang ở ngay trước mắt ta mà ta không nhìn thấy. Trong khi chiếu phim, muốn thấy màn ảnh, ta chỉ cần nhìn vào chính những hình ảnh đang thay đổi, đồng thời dùng trí tuệ để nhận ra cái nền tảng không thay đổi của những hình ảnh ấy, tức màn ảnh. Màn ảnh và các hình ảnh thay đổi ấy, một cách nào đó, «tuy hai mà một», nhưng cũng đồng thời cũng «tuy một mà hai». Lìa bỏ tất cả mọi hình tướng thay đổi của sự vật, ta sẽ nhận ra ngay cái bất biến hiện diện trong chính những cái thay đổi ấy. Đó là một cách để cảm nghiệm Thiên Chúa, một cách rất đông phương, luôn luôn bàng bạc trong giáo lý của các tôn giáo đông phương. Có cảm nghiệm được Thiên Chúa, ta mới thưởng nếm được Ngài. Nếm được Ngài, ta mới có sức mạnh, trí tuệ, hạnh phúc và giải thoát. Đáng tiếc thay, rất nhiều Kitô hữu chỉ chú trọng đến sự hiểu biết, các tín điều về Thiên Chúa mà không tìm cách cảm nghiệm Ngài. Do đó, đối với những người ấy, trong đời sống thực tế, tin và không tin dường như chẳng có gì biến đổi, chẳng làm cho người ta nên tốt lành, thánh thiện và hạnh phúc hơn bao nhiêu. Không gặp gỡ, cảm nghiệm và thưởng nếm Thiên Chúa, đời sống tâm linh của họ trở nên nghèo nàn, yếu ớt, vì tâm linh họ không có của ăn, hay không ăn được những lương thực đích thật bổ dưỡng. Đời sống tâm linh Sự sống chỉ có một, nhưng được thể hiện dưới nhiều cấp độ khác nhau: đời sống thực vật, đời sống động vật, đời sống tình cảm, đời sống trí thức, và cao nhất là đời sống tâm linh. Con người hơn con vật ở chỗ có đời sống tình cảm và trí thức, nhưng hơn rất xa con vật ở chỗ có thể có đời sống tâm linh. Mỗi cấp độ của sự sống đều có những của ăn riêng biệt. Đời sống thực vật và động vật cần những của ăn vật chất (nước, glucid, protid, lipid, vitamine…). Đời sống tình cảm được nuôi bằng những cảm xúc, tâm tình. Đời sống trí thức được nuôi bằng kiến thức, kinh nghiệm, suy tư… Đời sống tâm linh đương nhiên cũng cần của ăn riêng biệt thích hợp. Vậy, tâm linh sống bằng gì? Đời sống tâm linh là đời sống của linh hồn. Con người khác hẳn con vật ở chỗ có linh hồn, nên chỉ có những sinh vật từ con người trở lên mới có đời sống tâm linh. Chính nhờ có linh hồn mà con người là «hình ảnh của Thiên Chúa» (X. St 1, 26. 27). Thiên Chúa là «Linh» (thần linh), và linh hồn con người cũng là «linh», con người giống Thiên Chúa và là hình ảnh của Ngài về mặt này. Nhờ có linh hồn, con người mới có thể tham dự vào sự sống thần linh của Thiên Chúa, là sự sống Ngài chỉ ban cho con cái Ngài. Chính nhờ có linh hồn mà tự thâm sâu, con người vẫn tự nhiên hướng về Ngài, một cách ý thức hoặc vô thức, và chỉ được thỏa mãn khi nghỉ yên trong Ngài. Có thể nói đời sống tâm linh là đời sống kết hiệp với Thiên Chúa, khiến ta cảm thấy mình tan hòa trong Ngài, và lúc đó, cái tôi nhỏ bé hẹp hòi của mình dường như biến mất, khiến ta không còn thấy mình sống nữa, mình chỉ thấy Thiên Chúa sống trong mình (x. Gl 2, 20). Đời sống tâm linh không phải là một đời sống mà người ta chỉ có thể quan niệm được mà thôi. Thực ra, nó phải là một đời sống mà ta có thể cảm nghiệm được. Một người có đời sống tâm linh cao và phong phú có thể cảm nghiệm được linh hồn mình cũng y như cảm nghiệm được thể xác mình. Và có cảm nghiệm được linh hồn mình, tâm linh mình, thì mới mong cảm nghiệm được chính Thiên Chúa. Không ai có thể tự hào mình có đời sống tâm linh dồi dào khi chính mình không cảm nghiệm được đời sống đó. Cũng như một người có đời sống trí thức dồi dào, thì phải cảm nghiệm được mình hiểu biết, suy tư, ý thức về chính mình. Hay cũng như một người có đời sống tình cảm thì phải cảm nghiệm được những nỗi vui buồn, thương ghét của mình… Vì chúng ta có khả năng biết về mình chứ không vô ý thức như con vật. Vậy, chẳng lẽ chúng ta có đời sống tâm linh thật sự mà lại không cảm nghiệm được nó? Đời sống tâm linh phát triển thế nào? Đời sống tâm linh của nhiều người chỉ ở dạng «hạt», chưa nảy mầm thành «cây» được, nghĩa là vẫn ở dạng tiềm năng (in potentia), chứ chưa ở dạng hiện thể (in actu). Hạt đó chính là cái tôi ý thức của ta, là cái tôi ích kỷ của ta. Cái tôi đó chính là cái hạt có thể nảy mầm để phát sinh ra đời sống tâm linh. Và bí quyết để làm cho hạt đó nảy mầm là nó phải «chết» đi, như Đức Giêsu có nói: «Hạt lúa được gieo vào lòng đất nếu không chết đi, nó vẫn chỉ là hạt lúa, còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác» (Ga 12, 24). Thật vậy, nếu ta không để cho cái tôi ích kỷ của ta nhỏ bé và chết đi, thì hạt giống tâm linh của ta không thể nảy mầm và phát triển được. Nếu ta yêu cái tôi của mình quá, chỉ muốn nó được trương phình ra lấn át cả tha nhân, chắc chắn đời sống tâm linh của ta rất nghèo nàn, què quặt: «Ai yêu quí mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời» (Ga 12, 25). Giữa Đức Kitô ở trong tôi - tức sự sống thần linh trong tôi - với «cái tôi» của tôi luôn luôn có sự tỉ lệ nghịch với nhau: «Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ đi» (Ga 3, 30). Nếu tôi coi «cái tôi» của mình lớn quá, ắt nhiên Đức Kitô trong tôi phải nhỏ đi. Như vậy, cái cản trở đời sống tâm linh của ta nẩy mầm và phát triển, chính là cái tôi ích kỷ của ta. Làm cho cái tôi đó nhỏ lại, chết đi, thì Đức Kitô mới sinh ra và «thành hình trong tâm hồn ta» (Gl 4, 19). Đó quả là một quá trình giác ngộ và lột xác. Và kể từ đây, Đức Kitô trở thành của ăn cần thiết nuôi dưỡng đời sống tâm linh của ta. Đức Kitô, lương thực tâm linh Chúng ta không nên hiểu Đức Kitô theo kiểu những người đồng làng với Ngài đã hiểu. Họ hiểu Đức Kitô một cách rất cụ thể và phiến diện: là người có tên Giêsu, con ông Giuse và bà Maria, cùng sống ở làng Nazarét với họ và như họ (x. Mt 13, 55-56). Nếu ta hiểu Đức Giêsu như thế thì quả không sai, nhưng một Đức Kitô như thế chẳng ích lợi gì cho ta, giống như Ngài chẳng làm được gì cho dân làng của Ngài khi họ quan niệm về Ngài như thế. Ta phải thấy Ngài là một thực tại «từ Trời xuống» (Ga 8, 23; 6, 38), không phải là người «thuộc về thế gian này» (Ga 8, 23), nghĩa là một thực tại tâm linh cần phải được nội tâm hóa nơi mỗi người. Có như thế, Ngài mới trở thành của ăn nuôi dưỡng đời sống tâm linh được, vì của ăn phải là tâm linh mới nuôi dưỡng tâm linh được. Của ăn tâm linh ở đây, tức Đức Kitô, không phải chỉ là một con người cá biệt nào đó, mà là một vị Thiên Chúa toàn năng, toàn thiện, đầy yêu thương, đầy sức mạnh. Biến Ngài thành của ăn, hay «ăn» Ngài, có nghĩa là là nội tâm hóa Ngài, biến Ngài thành tâm linh của ta, thành nội tâm của ta, thành sự sống của ta, để ta không còn thấy ta sống, suy nghĩ, nói năng, hành động nữa, mà là thấy Ngài sống, suy nghĩ, nói năng, hành động trong ta (x. Gl 2, 20). Và hành vi «ăn» Ngài ở đây là một hành vi của ý thức, của trí tuệ, chứ không phải là «nuốt vào bụng». Nghĩa là luôn luôn ý thức Ngài sống trong ta, đang hành động trong ta, đang biến đổi ta. «Ăn» Ngài, chính là lấy Ngài làm lẽ sống, để Ngài chiếm trọn «bầu trời ý thức» của ta. Và sau một quá trình được nuôi dưỡng bằng lương thực tâm linh ấy, cái tôi ích kỷ của ta càng ngày càng được thay thế dần dần bằng «chất Ngài», hay «tính Kitô», đầy yêu thương, vị tha, phục vụ. Sự sống tự nhiên đầy khiếm khuyết của ta được thay thế dần dần bằng sự sống siêu nhiên toàn hảo của Ngài. Và ta càng ngày càng được tham dự vào tính chất toàn năng toàn thiện, vào tình thương và sức mạnh của Ngài. Sự sống đời đời, theo một nghĩa nào đó, chính là đời sống tâm linh mà Đức Giêsu hứa ban, phát xuất từ sự «ăn thịt và uống máu Ngài», được hiểu theo nghĩa tâm linh chứ không chỉ được hiểu theo nghĩa thể xác như những người Nazarét thời xưa đã hiểu. Kết luận Tình yêu được nuôi dưỡng bằng những gặp gỡ, những tương quan thân mật giữa hai người, bằng sự hy sinh, bằng những biểu lộ tình yêu qua cử chỉ, ánh mắt, lời nói… Tình yêu sẽ giảm hay mất đi khi thiếu những «lương thực» đó, hoặc trái lại sẽ tăng lên và sinh hoa kết trái nếu được nuôi dưỡng đầy đủ bằng những «lương thực» đó. Tương tự, đời sống tâm linh hay sự sống thần linh cũng phải được nuôi dưỡng bằng «lương thực» riêng của nó. Sự sống thần linh là sự sống của chính Thiên Chúa và xuất phát từ chính Thiên Chúa. Vì thế nó phải được nuôi dưỡng bằng chính Thiên Chúa, hay cụ thể hơn, bằng sự gặp gỡ thân mật với Thiên Chúa. Sự gặp gỡ ấy chính là bản chất của cầu nguyện. Vì thế, nói một cách khác, cầu nguyện là lương thực nuôi dưỡng đời sống tâm linh con người. Nhưng để có thể thật sự nuôi dưỡng đời sống tâm linh, thì cầu nguyện phải là sự gặp gỡ đích thực với Thiên Chúa. Nhưng, muốn gặp gỡ Thiên Chúa thì trước hết phải «có duyên» với Ngài, như tinh thần của câu: «Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, vô duyên đối diện bất tương phùng», nghĩa là ta phải một cách nào đó đồng cảm với Ngài. Khi nói chuyện với một người đồng cảm với ta, ta cảm thấy có sự gặp gỡ thật sự. Còn khi nói chuyện với một người quan niệm, suy nghĩ, chủ trương khác hẳn ta, ta thấy khó nói chuyện, và nếu cứ cố nói chuyện, thì chỉ đi đến cãi lộn, tranh chấp, chứ không nhất trí với nhau được. Như vậy, «có duyên» hay «đồng cảm» với Thiên Chúa nghĩa là gì? Thánh Gioan cho biết: «Tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương thì đã được Thiên Chúa sinh ra. Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu» (1 Ga 4, 7-8). Thánh nhân cho thấy, chỉ những ai có tình yêu, những ai biết yêu thương mọi người bằng một tình yêu vị tha, phổ quát, thì mới là người đồng cảm với Thiên Chúa. Chỉ những người đó mới có thể gặp được Thiên Chúa. Vì thế, nếu bản chất của cầu nguyện là gặp gỡ Thiên Chúa, thì chỉ những ai biết yêu thương mới có thể cầu nguyện đúng nghĩa được. Và tình yêu đòi hỏi ta phải ra khỏi chính mình, bớt quan tâm đến mình, để có khả năng đến với tha nhân, lưu tâm đến hạnh phúc hay đau khổ của họ, đến những nhu cầu và mong ước của họ, để làm cho họ nên tốt và hạnh phúc hơn. Như thế, điều kiện tiên quyết để có thể cầu nguyện, gặp gỡ Thiên Chúa, và nuôi dưỡng đời sống tâm linh, là phải có tình yêu. Vì thế, muốn cho đời sống tâm linh của mình vững mạnh, phải thực tập đức mến, thể hiện những đặc trưng của đức mến trong đời sống của mình: «Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui mừng khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, chịu đựng tất cả» (1 Cr 13, 4-7). Không có tình yêu hay đức mến, người ta không thể gặp gỡ Thiên Chúa, và do đó, không thể phát triển đời sống tâm linh được.
|