THẾ NÀO LÀ PHỤNG VỤ?

Thưa Quí Tòa soạn,

Tôi đã nhận được Maranatha từ số đầu cho đến số gần đây nhất. Tôi đã đọc và thấy thiện chí cũng như công khó của Quí Tòa và các nhân viên cộng sự. Từ ấy đến nay, tôi chưa có một lời nào để cảm ơn. Nay tôi xin chân thành cảm ơn Quí Toà và các công sự viên. Ngoài lời cảm ơn là sự vui mừng, khi được biết đây là sáng kiến và chủ trương của một số giáo dân trưởng thành và ý thức, muốn đem bầu nhiệt huyết ra phục vụ Hội thánh theo cách thể của giới mình. Tôi xin có lời hoan hô.

Để biểu lộ niềm hân hoan và sự tán thưởng, tôi xin gửi bài Thế Nào là Phụng Vụ để góp phần hợp tác với quí báo.

An-rê Đỗ xuân Quế O.P.

Trả lời câu hỏi này không phải dễ, vì có rất nhiều câu định nghĩa khác nhau liên quan đến lịch sử, thần học cũng như những yếu tố làm nên phụng vụ. Cha Schmidt S.J. đã thu lượm được tới 30 câu định nghĩa về phụng vụ trong các tác phẩm cận đại và đương thời.

Nhưng nếu dựa vào câu định nghĩa của Đức Giáo hoàng Pi-ô XII trong thông điệp Mediator Dei ban hành ngày 20.11.1947 thì vấn đề có thể đơn giản hơn. Đây là một câu định nghĩa vững vàng trong một văn kiện rất có giá trị và đầy đủ thẩm quyền cho chúng ta dùng làm căn bản. Câu định nghĩa đó như sau :

“Hội thánh tiếp tục chức vụ tư tế của Chúa Giê-su Ki-tô, nhất là bằng phụng vụ. Phụng vụ là việc kính thờ công khai và công cộng mà Đấng cứu chuộc chúng ta dâng lên Chúa Cha, với tư cách là thủ lãnh, vị đứng đầu Hội thánh. Đó cũng là việc kính thờ do cộng đồng tín hữu dâng lên Đấng lãnh đạo mình và nhờ Người, dâng lên Chúa Cha hằng hữu. Nói tắt, đó là việc kính thờ trọn vẹn của thân thể mầu nhiệm Chúa Giê-su Ki-tô, nghĩa là của Đấng lãnh đạo và các phần tử của Người.”

Về phương diện này, phụng vụ bắt nguồn từ mầu nhiệm Chúa Ki-tô và mầu nhiệm Hội thánh. Hai mầu nhiệm đó có liên quan mật thiết và tùy thuộc lẫn nhau. Hội thánh là một cộng đồng huyền nhiệm, được ví như các phần thể liên kết với đầu. Đầu ở đây là Chúa Ki-tô, theo hình ảnh và kiểu nói thông thường của thánh Phao-lô. Nói cách khác, việc kính thờ theo phụng vụ được giáo lý về thân thể mầu nhiệm Chúa Ki-tô soi sáng và được chính Người hướng dẫn.

Từ cách trình bày trên nảy sinh ra hiệu quả đầu tiên này là phải loại bỏ những câu định nghĩa có trong một số các sách phụng vụ trước kia chỉ chú trọng đến mặt bên ngoài của việc thờ phượng. Trong thông điệp nói trên, Đức Giáo hoàng Pi-ô XII không ngần ngại tuyên bố rằng nghĩ như thế là còn thiếu sót.

Vẫn theo thông điệp thì thật hoàn toàn không đúng, khi nhìn phụng vụ chỉ như một phần ngoại tại và khả giác của việc thờ phượng, hay chỉ như một lễ nghi trang trí. Cũng là một lầm lẫn không nhỏ, nếu chỉ coi đó như toàn bộ luật lệ và chỉ thị phải giữ để cử hành cho đúng theo nghi thức, do lệnh của giáo quyền ban ra.

Phụng vụ không phải là như thế và cũng không hệ tại vẻ long trọng và đẹp mắt vui tai bên ngoài như đi rước tưng bừng, mặc lễ phục lộng lẫy, đàn hát náo nhiệt. Phụng vụ là cái gì khác hơn chỉ là lễ nghi, dù lễ nghi long trọng, đẹp mắt, vui tai đến mấy đi nữa. Phụng vụ đòi phải có hồn.

Vì thế, Đức Giáo hoàng Pi-ô XII đòi buộc chủ tế, thừa tác viên và những người  tham dự phải có lòng sốt sắng đạo đức thực sự,  khi cử hành các lễ nghi phụng vụ. Làm đúng các lễ nghi không thôi chưa đủ. Thiên Chúa đợi chờ tín hữu dâng lòng mình làm lễ phẩm cùng một lúc với sự tôn thờ và lời cầu nguyện kết hợp với sự thờ phượng của Hội thánh và của Chúa Ki-tô. Nếu việc thờ phượng cần có những cử chỉ, thái độ bên ngoài vì tính thể xác và xã hội của con người thì như Đức Giáo hoàng nói : “Nét cốt yếu của việc thờ phượng phải ở bên trong. Cần phải luôn luôn sống trong Chúa Ki-tô, phải hoàn toàn tận tụy với Người để trong Ngưòi, cùng với Người và nhờ Người mà tôn vinh Cha trên trời. Hội thánh muốn mọi tín hữu  phủ phục dưới chân Chúa Cứu Thế để bày tỏ lòng mến yêu và cung kính.”

Nếu nhìn qua bên ngoài thì các hành động phụng vụ dường như chỉ là những lễ nghi bên ngoài, nhưng trong ý nghĩ của Hội thánh, phụng vụ chỉ có giá trị khi biểu lộ ra bên ngoài thái độ cầu nguyện ở bên trong. Quả thật, trong phụng vụ có hình thức cầu nguyện được biểu lộ ra bên ngoài và có tính cộng đồng, nhưng sự cầu nguyện này chỉ là cầu nguyện thực sự khi phát xuất tự đáy lòng.

Ngoài ra, còn phải nhấn mạnh đến luật này của việc cầu nguyện theo phụng vụ như nhiều sách phụng vụ đề cao, đó là phải có những điều kiện Hội thánh đòi hỏi từ nhiều thế kỷ, thì một hành động mới được kể là phụng vụ. Điều kiện xem ra hạn chế, vì đối với Hội thánh, một cộng đồng tín hữu hội họp và nghe những bài sách thánh, hát các thánh vịnh, nói với Chúa qua miệng vị chủ tế hay qua người đại diện cộng đồng đọc các công thức cầu nguyện, thu tóm các ý chỉ của mọi người và còn hơn thế nữa, mặc cho những thứ đó một bộ áo lễ nghi trang trọng, bấy nhiêu mà thôi thì chưa đủ. Còn phải có những điều kiện khác nữa. Những điều này được nhắc lại trong huấn thị của Bộ Phụng tự ngày 3.9.1958 như sau :

Những hành động nào do Chúa Giê-su Ki-tô hoặc Hội thánh chỉ định hay lập ra, được thi hành nhân danh Chúa Giê-su Ki-tô và Hội thánh, theo các sách phụng vụ được Tòa thánh chuẩn nhận, do những người được ủy nhiệm chính thức thì những hành động ấy được gọi là phụng vụ.”

Những điều xác định trên đây về cơ chế, các sách và các thừa tác viên chính thức của phụng vụ cũng dễ hiểu, khi chúng ta nghĩ tới mối bận tâm của Hội thánh cần phải bảo đảm sự chặt chẽ, thống nhất và mẫu mực trong các buổi cử hành phụng vụ. Trước khi những điều vừa nói có giá trị và hiệu lực của một khoản luật, nghĩa là trước khi công bố sách lễ, sách nguyện, sách nghi thức Rô-ma vào những năm trước 1568 thì phụng vụ khá lộn xộn. Một vài thói tục địa phương, một vài điều bày đặt lố bịch trong các nghi thức và công thức cũng đủ che lấp cái chính yếu và cốt tủy của phụng vụ Rô-ma. Luther đã không hoàn toàn vô lý khi tố giác những điều mê tín ông được chứng kiến và đòi quyền được gỡ bỏ những điều quái gở đó ra khỏi lời cầu nguyện của Hội thánh.

Hiện nay, sau bốn thế kỷ tập quyền thấy xuất hiện khuynh hướng tản quyền. Trong khóa I Công đồng Va-ti-ca-nô II, các giám mục đã cứu xét những bất tiện do tình trạng hành chánh lúc bấy giờ gây nên. Vì thế, có hai nguyên tắc đã được đưa ra : một là sửa lại các sách phụng vụ, hai là thẩm quyền của Hội đồng các giám mục địa phương, để thực hiện một số thích nghi và để hoàn thành các bản dịch từ nay sẽ được đọc bằng tiếng bản quốc. Chương I Hiến chế Phụng vụ được biểu quyết cuối khóa I viết :

Khi không có nguy hại về đức tin và ích chung thì Tòa thánh không có ý áp đặt, dù trong phụng vụ, một sự đồng nhất cố định. Ngược lại, Tòa thánh quí chuộng và bảo vệ những đặc tính và những giá trị tinh thần của các nòi giống và các dân tộc. Tòa thánh nhìn xem một cách thiện cảm tất cả những gì trong tập quán của các dân tộc không gắn liền với mê tín và sai lạc, và khi có thể lại bảo vệ và duy trì, đôi khi đi cả tới chỗ chấp nhận và cho dùng trong phụng vụ, miễn là phù hợp với tinh thần phụng vụ đích thực và chân chính.”

Xem đấy thì nguyên tắc quyền bính tuyệt đối của Tòa thánh như nói trong huấn thị năm 1568 và như mọi người vẫn tuân hành từ thế kỷ XVI cho đến cuối thế kỷ XX, nay có phần nới rộng hơn. Ngoài ra, với Huấn thị thứ IV đề là Phụng vụ Rô-ma với vấn đề hội nhập văn hóa ban hành năm 1994, phụng vụ tại các Hội thánh địa phương có cơ hội được thích nghi và sáng kiến rộng rãi hơn.

Phụng vụ là cần thiết và quan trọng trong các sinh hoạt đạo đức, nhưng tiếc thay đó vẫn còn là điều xa vời và vắng bóng trong các sinh hoạt thiêng liêng của nhiều người trong các tín hữu. Đã bao đời nay, các tín hữu vẫn được kêu mời và hướng dẫn sống đạo theo tình cảm và các thứ lòng sùng kính. Thiết tưởng đã đến lúc lòng đạo đức của Ki-tô hữu Việt Nam phải thấm nhuần phụng vụ và chứa chất Kinh thánh. Muốn vậy, mỗi người cần được học hỏi về phụng vụ và Kinh thánh. Đó phải chăng là mối bận tâm hàng đầu trong công viêc mục vụ của các cha sở bên cạnh các mối bận tâm và hoạt động khác ?

Trở về Muc Lục