|
|
Số 11, Ngày 17-7-2004
Thiên Chúa cũng đau khổ - Huyền Vi Đọc kinh cầu nguyện - Lm. Anrê Đỗ Xuân Quế, O.P. Thực hành Lectio Divina - Hoàng Quý Nuôi dạy con cái - Nguyễn Chính Kết Nhận định và đề nghị về bài Linh Đạo Giáo Dân - Khổng Nhuận Tôi, người con hoang đàng - A-Ki Maranatha Thơ: Lm. An-Rê Đỗ Xuân Quế, O.P.
Kính thưa Quý độc giả. Tuần vừa qua Quý Vị không nhận được MARANATHA_11, và nhiều vị đã gửi thư thắc mắc. Có người thăm hỏi nhẹ nhàng: Thưa Quý tòa Soạn. Cám ơn Tòa Soạn đã gởi cho MARANATHA từ số 1 đến số 10. Nhưng tới số 11 thì chưa nhận được. Không hiểu vì trục trặc gì! Xin Tòa Soạn gởi cho tiếp tục. (J. Dương) Có người tỏ ra nôn nóng: Xin vui lòng gửi cho Maranatha số 11 ngày 10/7/04. Tôi đã được thông báo là có tên trong danh sách độc giả thường xuyên. Sao hàng tuần tôi phải gửi email xin thì mới nhận được báo? (Anton Cam) Có người đem lòng e ngại cho Maranatha: Sáng nay nghe đài Little Saigon nói hình như ở VN nó bắt đầu cấm giảng đạo cả trên mạng nữa. Bao giờ thì lệnh cầm phải thực hiện. Nếu vậy thì bằng cách nào Maranatha vẫn gửi bài cho chúng em, không thể không có được đâu Maranatha ơi! (lien tran). Xin trả lời với Quý độc giả rằng những lý do trên đều không đúng: Maranatha chẳng có gì trục trặc, không hề quên gửi cho những người có tên trong danh sách độc giả, và cũng chẳng bị ảnh hưởng bởi quyết định của chính phủ tại Việt Nam. Lý do là Maranatha số 11 không ra tuần vừa qua mà được dời về tuần này, chỉ đơn giản vậy thôi. Nhân sự chậm bước của Maranatha 11, chúng tôi cũng xin trình bày với độc giả đôi lời trần tình và mong Quý độc giả vui lòng thông cảm:
Tiếp nối những số trước, Maranatha tuần này vẫn tiếp tục các đề mục Cầu Nguyện, Hôn nhân-Gia đình và Linh đạo giáo dân. Riêng phần Linh đạo giáo dân, chúng tôi sẽ nối dài bằng lá thư góp ý của một độc giả để mở rộng đề tài cho sự đóng góp của nhiều người. Mong Quý độc giả tiếp tục gửi ý kiến, bài vở cho tuần báo ngày được phong phú hơn. Nguyện xin Chúa chúc lành cho Quý Vị. MARANATHA
THIÊN CHÚA CŨNG ĐAU KHỔ (tiếp theo Maranatha_10) Huyền ViTình thương của Đức Giêsu dành cho người tội lỗi Tình yêu thương của Thiên Chúa qua Đức Giêsu được biểu lộ rõ rệt nhất nơi tình thương dành cho những người tội lỗi. Bởi Ngài đã từng bị cám dỗ như họ (Mt 4,1-11), và Ngài cũng phải chiến đấu mới thắng được, vì Ngài cũng chia sẻ thân phận yếu hèn như họ. Ngài chỉ khác họ ở chỗ Ngài không bao giờ thua cơn cám dỗ nhờ tình yêu rất mạnh ở nơi Ngài (x. Dt 4,15). Do đó, Ngài cảm thông sâu xa với họ. Vả lại, phân tích cho tới cùng thì kẻ tội lỗi cũng chỉ là những kẻ ngu muội về tâm linh, nên đã hành động ngược lại với hạnh phúc vĩnh cửu là quyền lợi đích thực và cao cả nhất của họ. Mà sự ngu muội đó nào có phải do họ muốn! Ai mà chẳng muốn mình khôn ngoan! Có ai lại cố tình hành động ngược với lợi ích và hạnh phúc của mình! Vì thế, những kẻ cần được nâng đỡ nhất, đáng thương nhất, chính là những kẻ ngu muội này chứ không phải những người khôn ngoan đạo đức kia. Do đó, Đức Kitô luôn lưu tâm và đặc biệt yêu thương những kẻ tội lỗi. Sứ mạng của Ngài là cứu vớt những người đó, họ cũng là con cái của Thiên Chúa. Lập trường của Ngài là: «Kẻ khỏe mạnh đâu cần đến thầy thuốc, chỉ người đau yếu mới cần» (Mt 9,12). Nếu thế giới này toàn là người công chính cả thì Ngài đến trần gian làm gì? Chính những kẻ tội lỗi mới cần Ngài giúp đỡ để thoát khỏi cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sắp giáng xuống. Chủ trương của Ngài rõ rệt: «Ta đến không phải để kêu gọi người công chính, mà là kêu gọi những người tội lỗi» (Mt 9,13). Lập trường của Ngài như thế khiến Ngài năng đến với những kẻ tội lỗi vốn bị mọi người khinh chê, giao du thân mật với họ. Không có hạng người tội lỗi nào mà Ngài tránh gặp: từ những cô gái điếm đến những người thu thuế, từ người Samaria đến người Rôma, cả những người què quặt, câm điếc, bệnh tật… Ngài giao du toàn là với những hạng người bị luật pháp Môsê coi là ô uế, không nên lại gần. Ngài đã bất chấp luật Môsê và tục lệ tiền nhân để gần gũi nâng đỡ họ. Ngài không sợ mất uy tín hay danh dự đối với quần chúng cũng như đối với giới lãnh đạo tôn giáo. Ngài không câu nệ gì cả, miễn sao cứu được họ. Đặt mình vào địa vị và thời của Ngài, ta mới thấy được sự hy sinh và lòng can đảm của Ngài đối với hạng tội lỗi lớn biết bao! Ngài làm bạn với họ, và họ coi Ngài như bạn. Đương nhiên Ngài hòa với họ mà không đồng với họ. Nhưng những người tự cho mình là thánh thiện như giới lãnh đạo tôn giáo không thể chấp nhận (x. Lc 8,39), coi Ngài như cùng một giuộc với họ: tội lỗi, tham ăn, say sưa (x. Mt 11,19). Nhờ tinh thần hòa đồng như thế, nhiều người tội lỗi tin Ngài và từ bỏ nếp sống cũ (x. Lc 7,36-50; 19,1-10). Quan điểm và cách sống của Ngài ngược hẳn lại với giới lãnh đạo tôn giáo, khiến Ngài và họ chống lại nhau. Ngài rất ghét thái độ hợm hĩnh của họ, cứ tự cho mình là công chính để rồi khinh chê kẻ khác. Ngài đã đảo ngược lại cách đánh giá thưòng tình của dân chúng qua chuyện người Biệt Phái và người thu thuế vào đền thờ cầu nguyện: người đạo đức mà lại kiêu ngạo, khinh chê kẻ khác thì trở thành tội lỗi trước mặt Thiên Chúa; còn kẻ tội lỗi biết khiêm nhường nhận lỗi và hối cải thì lại trở thành công chính (x. Lc 18,9-17). Sự đảo ngược giá trị như thế động chạm mạnh đến giới lãnh đạo tôn giáo, khiến họ căm ghét và tìm cách hãm hại Ngài. Tinh thần «tứ hải giai huynh đệ» của Đức Giêsu Tinh thần yêu thương rộng mở của Ngài cũng bị giới lãnh đạo tôn giáo chống đối. Đối với Ngài, tất cả mọi người đều là anh em «con cùng một Cha trên trời, Đấng làm mặt trời mọc lên soi sáng cho kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất lương» (Mt 5,45). Sự phân biệt bạn và thù, kẻ xấu và người tốt đối với Ngài không quan trọng lắm. Hễ ai là người thì ta phải yêu thương, cho dẫu là kẻ thù hay kẻ bách hại mình (x. Mt 5,44). Nhưng những người đồng thời với Ngài, nhất là những người trong đảng Nhiệt Thành (Zélotes), không thể chấp nhận điều đó. Làm sao người Rôma đang đặt ách thống trị và nô lệ trên họ lại là anh em với họ được? Làm sao dân ngoại thờ thần tượng và những người Do Thái thờ Giavê lại là anh em với nhau được? Làm sao người Samari không thờ Giavê trong cùng một đền thờ với họ lại có thể là anh em với họ được? – Không thể được, một chủ trương cho rằng mọi người đều là anh em phải yêu thương nhau không những không thể chấp nhận được mà còn có hại, vì nó làm tê liệt tinh thần chiến đấu, làm mất đi sự căm thù cần thiết phải có đối với kẻ thù để lật đổ ách thống trị của chúng. Kẻ nào tuyên bố mọi người là anh em, một cách nào đó, là phá hoại tổ quốc. Làm sao người Do Thái có thể nhận Ngài là Đấng Cứu Thế khi họ cho rằng Ngài chủ trương sai lầm như thế. Họ nghĩ Đấng Cứu Thế phải là một «đại bàng» sẵn sàng chiến đấu, làm sao họ chấp nhận được một Đấng Cứu Thế «bồ câu» như thế? – Còn Ngài, Ngài quyết phá đổ mọi bức tường ngăn cách con người với con người, để con người xích lại gần nhau, cộng tác với nhau, yêu thương nhau, coi nhau như anh em, không phân biệt tôn giáo, dân tộc ngôn ngữ, văn hóa… Ngài mong muốn mọi người hiệp nhất với nhau: «Ước gì họ nên một» (Ga 17,21). Nước Thiên Chúa chỉ có thể thực hiện khi không còn thứ biên giới nào ngăn cách con người với nhau nữa. Sứ mạng canh tân tôn giáo của Đức Giêsu Đức Giêsu còn gặp rất nhiều khó khăn, đau khổ, bị nhiều người ngộ nhận và chống đối vì Ngài có sứ mạng canh tân tôn giáo, đem lại cho tôn giáo một tinh thần mới, làm một cuộc cách mạng tôn giáo, hay nói đúng hơn là lập một tôn giáo mới. Nhưng thường tình thì cái cũ khó chấp nhận cái mới, đồng thời cái mới đòi hỏi thay đổi cái cũ. Do Thái giáo là một tôn giáo chân thật được chính Thiên Chúa thiết lập qua các tổ phụ, Môsê và các tiên tri với tất cả vẻ huy hoàng rực rỡ của nó. Nhưng cũng như tất cả mọi sự vật hữu hạn khác bị chi phối bởi luật «thành, trụ, hoại, không», Do Thái giáo cũng bị già cỗi, mất phẩm chất, cần phải được canh tân, cải tổ, và thay đổi. Vả lại, khi con người còn sơ khai về mặt tâm linh cũng như mặt nhận thức, Thiên Chúa mặc khải và huấn luyện con người theo một cách thức phù hợp với trình độ của họ. Nhưng khi con người đã tiến bộ về mặt tâm linh và nhận thức, cách thức cũ không thể phù hợp với con người mới được. Con người phải «lên lớp», phải được mặc khải và huấn luyện cách khác cao hơn. Con người không thể dậm chân tại chổ trong một trình độ mãi được. Do đó, phải có một cuộc cách mạng về giáo lý, luân lý… Phải có những mặc khải mới về Thiên Chúa: Thiên Chúa không phải chỉ là một vị thần đáng sợ đầy quyền năng, mà còn là một người Cha đầy yêu thương, một người bạn chân tình nữa. Còn tôn giáo cũ, trước hết, là một tôn giáo đầy luật lệ, đặt rất nặng luật pháp. Mục đích của luật pháp là thuần hóa con người, tập cho con người đi đến chỗ yêu thương Thiên Chúa và đồng loại bằng những qui định cụ thể, với những điều phải làm và không được phép làm. Vì con người chưa đủ trình độ tâm linh và trí tuệ để có thể tự động sống phù hợp với tinh thần yêu thương ấy, nên cần phải đưa ra những qui định cụ thể cho từng tình huống của đời sống, đồng thời phải có sự thưởng phạt rõ ràng để giúp họ giữ luật lệ nghiêm chỉnh… Suốt bao nhiêu thế hệ, các tiên tri được Thiên Chúa sai đến để giúp con người càng ngày càng có tinh thần yêu thương hơn khi tuân giữ luật pháp, đồng thời răn đe và sửa phạt những vi phạm luật lệ. Đả phá tinh thần vị luật trong tôn giáo Nhưng vẫn có sự khác biệt rõ rệt giữa việc giữ đúng luật lệ và việc yêu thương. Không phải cứ giữ đúng luật lệ thì đã là yêu thương. Người ta có thể giữ đúng luật cách nghiêm nhặt mà tâm hồn họ vẫn chẳng có tình yêu. Do đó, thời gian nhấn mạnh đến việc tuân hành luật pháp phải qua đi, vì xét về mặt giữ luật, người Do Thái thời Đức Giêsu đã đạt tới mức độ tương đối rất cao. Họ giữ luật một cách chi li, và đồng hóa việc giữ luật lệ với sự công chính. Qua Thánh Kinh, Giavê đã khuyên dân Ngài tôn trọng luật pháp: Ai yêu mến, kính sợ Thiên Chúa thì phải tuân hành luật pháp của Ngài, và Ngài sẽ ân thưởng người ấy (x. Xh 15,26; 20,6; 6,2). Tuy nhiên người ta vẫn có thể giữ luật một cách hoàn hảo chỉ vì lợi ích thiêng liêng của họ, vì mong được ân thưởng, được mọi người khen ngợi, ca tụng họ là công chính, chứ không hề có tình thương trong lòng. Do đó, tôn giáo chỉ còn là luật pháp, qui tắc, thói quen, tập tục, nên đã trở thành trống rỗng, chỉ có cái vỏ bên ngoài trông rất đẹp. Vì thế, đạo Do Thái một phần nào đã trở thành một tôn giáo phi tôn giáo, phản tôn giáo. Để canh tân Do Thái giáo, cần phải đả phá tính duy lề luật, thiếu tình thương của nó. Lề luật giúp con người thực hiện sự công bằng và yêu thương nhưng nó có những giới hạn của nó. Trong đời sống, có nhiều tình huống nếu cứ áp dụng theo đúng luật thì sẽ đi ngược lại tình yêu thương là linh hồn và mục đích của lề luật. Đó là những kẽ hở của lề luật. Đức Giêsu đã lợi dụng ngay những kẽ hở đó để cho những kẻ giữ luật vì lề luật chứ không phải vì tình thương một bài học. Ngài cố tình lỗi luật trong những tình huống đó để làm nổi bật sự quan trọng của tình thương trong việc giữ luật, đồng thời cho thấy yêu thương chính là mục đích của lề luật. Khi nào việc giữ luật đi ngược lại với mục đích của nó là tình thương, thì việc giữ luật lúc đó trở thành «lỗi luật». Còn việc lỗi luật mà lại phù hợp với mục đích của lề luật là tình thương thì trở thành «đúng luật». Lúc đó phải hy sinh lề luật cho tình thương. Đức Giêsu đã cố tình vi phạm luật nghỉ ngày sabát – một khoản luật mà người Do Thái đặt rất nặng – với mục đích trên: để các môn đệ bứt lúa ăn (x. Mt 12,1-8), chữa người bại tay (x.12,9-14), chữa người đau ốm ở hồ Bếtđatha (x. Ga 5,1-18), chữa người mù từ thuở mới sinh (Ga 9,1-34). Và còn nhiều loại vi phạm khác. Nhưng người Do Thái chưa hiểu được sự đúng đắn và hợp lý của Ngài. Theo truyền thống, họ bám vào luật pháp, coi đó như cốt lõi của công chính và thánh thiện. Yêu thương chưa có một chỗ đứng vững chắc và quan trọng trong quan niệm của họ. Vì thế, làm sao họ chấp nhận được quan niệm đặt nặng yêu thương hơn cả lề luật, coi lề luật chỉ là một phương tiện thể hiện tình yêu thương? Đang khi trong tư tưởng của Đức Giêsu, Ngài cho rằng toàn bộ lề luật đứa con tóm gọn trong hai điều căn bản: yêu Chúa hết lòng và yêu người như chính mình (x. Đnl 6,5; Lv 19,18; Mt 22,37-40). Đó là cốt tủy của lề luật, không có cốt tủy ấy thì việc giữ luật trở thành vô giá trị trước Thiên Chúa, vì Thiên Chúa chỉ «muốn tình yêu chứ không muốn lễ vật» (Hs 6,6): chỉ có tình yêu mới có giá trị. Vì nếu đã có tình yêu thì chẳng cần phải có lề luật nào cả, vì tự bản chất lề luật đâu phải để dành cho những người có tình yêu, mà chỉ dành cho những ai không có tình yêu (x. l Tm 1,9-10). Đối với Đức Giêsu, hai giới răn yêu thương ấy chỉ là một, vì người ta không thể yêu mến Thiên Chúa đích thực khi họ không yêu thương tha nhân, và cũng không thể yêu mến tha nhân đích thực khi không yêu mến Thiên Chúa. Vì thế, Ngài tóm gọn hai giới răn đó thành một, và gọi giới răn duy nhất đó là «điều răn mới» của Ngài: «Ta cho các con một điều răn mới là hãy yêu thương nhau», không phải chỉ «như chính mình» mà «như Ta yêu thương các con» (Ga 13,34). Giới răn yêu Thiên Chúa đã bao hàm trong giới răn yêu tha nhân, vì ai yêu tha nhân như Đức Kitô yêu thương họ, thì người ấy đã yêu Thiên Chúa đúng nghĩa rồi. Về sau, Thánh Phaolô xác nhận điều đó: «Tất cả Lề Luật được nên trọn trong điều răn duy nhất này là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình» (Gl 5,14), và «Ai yêu tha nhân là đã thi hành trọn vẹn lề luật» (Rm 13,8.10). Như vậy, khi tiến đến được lên một trình độ tâm linh cao hơn, lề luật mất hẳn sự quan trọng của nó, và thay vào đó là tình yêu thương. Bộ luật Torah là cốt tủy cho Do Thái giáo gồm hàng mấy trăm điều bỗng mất đi địa vị tối thượng của nó, điều đó làm sao các Rabbi Do Thái có thể chấp nhận được? Do đó, họ chống lại Ngài, cho Ngài là kẻ phá hoại tôn giáo cần phải loại trừ như một kẻ nguy hiểm (x. Mt 11,48-50). Họ phản đối và chống lại Ngài như thế là diều dễ hiểu, vì chủ trương của Ngài vượt khỏi tầm nhận thức và hiểu biết của họ quá xa, và những nhận thức cũ của họ đã cản trở họ có được những nhận thức mới. Cứ xem trong Kitô giáo thì hiểu được Do Thái giáo thời xưa: ngày nay, nếu có ai tư tưởng khác với truyền thống, hay ngược lại truyền thống thì chúng ta sẵn sàng kết án họ là rối đạo mà không cần phải suy xét gì cho sâu xa, và có thể đi đến tẩy chay họ nữa! Đức Giêsu là tiên tri lớn nhất trong tất cả các tiên tri từ trước đến nay. Chính vì sứ mạng tiên tri đó mà Ngài phải đau khổ và cô độc giữa một xã hội không nhận ra chân lý của Thiên Chúa, để rồi bị chính đồng đạo của mình ám hại và giết chết. Số phận của tất cả các tiên tri đích thật do Thiên Chúa sai đến đều giống nhau: bị ngược đãi và bị giết (Mt 23,30-31; 5,12). Cũng như và còn hơn các tiên tri khác, Ngài chính là «tôi trung đau khổ của Thiên Chúa» được Isaia diễn tả (Is 52,13-53,12): bị khinh bỉ, chán ghét, bệnh hoạn, bị roi vọt, thương tích, bị hiếp đáp, xử đoán bất công, bị kể vào hàng tội lỗi, bị tưởng rằng Thiên Chúa trừng phạt… nhưng tại sao Ngài lại bị đau khổ và bạc đãi? Dân Do Thái đã chẳng khao khát trông mong Ngài đến hàng ngàn năm trước sao? Tại sao chính những kẻ trông mong Ngài đến lại bạc đãi và giết chết Ngài?
CẦU
NGUYỆN Lm. An-rê Đỗ xuân Quế, O.P.Vấn đề này cần thiết. Chúa Giê-su đã làm gương cho chúng ta. Sách Tin Mừng nhiều lần nói đến việc cầu nguyện của Người (Mt 14,23; Mc 6,46; Lc 9,18). Người còn cần gì nữa mà phải cầu nguyện? Có chỗ Tin Mừng nói Người cầu nguyện suốt đêm. Trong khoảng thời gian dài như vậy, Người cầu nguyện những gì, chúng ta không biết. Nhưng có điều chắc là Người hiện diện và trò chuyện với Chúa Cha. Giữa Người và Chúa Cha, có một sự giao cảm và tiếp xúc thân mật. Vì thế đối với Người, cầu nguyện không nguyên chỉ có nghĩa là đọc kinh và xin ơn. Về điểm này sách Thánh vịnh đề ra cho chúng ta những bản mẫu cầu nguyện lý tưởng. Qua các thánh vịnh, chúng ta thấy nhiều cách thế cầu nguyện như ca tụng, tôn thờ, kêu xin và thú nhận. Ngày nay nhiều người ngại cầu nguyện và có khi không cầu nguyện. Sở dĩ như vậy, có lẽ vì họ nghĩ cầu nguyện là xin ơn. Mà xin hoài không thấy được, nên họ không cầu nguyện nữa. Hay họ không có gì cần phải xin, nên cũng không cầu nguyện. Chúng ta vẫn thường nói đọc kinh cầu nguyện. Hai việc này đi đôi với nhau. Có đọc kinh thì mới là cầu nguyện và có cầu nguyện thì phải đọc kinh. Đó là cách hiểu thông thường của phần đông tín hữu. Hiểu như thế không sai nhưng chưa hoàn toàn chuẩn xác, vì có nhưng lúc cầu nguyện mà không đọc kinh và có những lúc đọc kinh mà chưa chắc đã là cầu nguyện, như khi đọc kinh một cách máy móc, đọc cho có, miệng đọc mà lòng trí để ở đâu đâu ấy như có người nói «đọc như vẹt», hay miệng đọc mà tay lại làm việc khác. Vì thế, tưởng cần suy nghĩ lại về việc đọc kinh. Nghĩ lại để đọc kinh cho có ý nghĩa và có sưc thuyết phục người nghe. Một trong các cách nghĩ đó là đọc vừa phải không nhanh không chậm, không quá to quá nhỏ hay quá cao quá thấp. Lại chọn các kinh mà đọc cho có thứ tự và phân loại. Điều này khó vì từ bao đời nay, chúng ta đọc các kinh như vẫn quen theo các sách kinh đã có trong nhiều giáo phận. Ngoài ra, nếu không đọc kinh thì ở nhà thờ nhiều người ngồi không, không biết làm gì cả, nên phải đọc kinh để lấp chỗ trống. Vì quen đọc kinh như vậy, nên khi không đọc kinh, người ta thấy trống vắng và thường là dịp để nói chuyện. Cũng bởi vì không đọc kinh thì không biết làm gì cả và thấy yên lặng là trống vắng nên có cần tập cho quen với những phút giây yên lặng như phụng vụ nói là «yên lặng thánh» (silentium sacrum) chăng? Trong những phút giây yên lặng như thế, người ta sẽ tập nội tâm hóa những điều vừa nghe đọc hay để có dịp nói thầm với Chúa một vài điều riêng của lòng mình. Đây chính là những phút để chúng ta có thể giao cảm cùng Thiên Chúa trong chốn thẳm sâu của lòng mình và cũng có thể là thời khắc đặc biệt chúng ta nếm cảm được Thiên Chúa ngọt ngào xiết bao như lời thánh vịnh: «Hãy nghiệm xem Chúa tốt lành biết mấy!» (Tv 34,9) Kinh lễ trong các nhà thờ của chúng ta còn quá ồn ào. Thật hiếm khi có được một chút yên lặng, để cảm được cái sâu lắng của tâm hồn trong sự suy nghĩ, để tìm ra ơn ích và sự cần thiết của cầu nguyện cũng như lời mời gọi của nó hầu thấy được tất cả cái nghĩa lý của câu thánh vịnh nói trên. Sự ồn ào của lời kinh tiếng hát cũng như các nhạc cụ được mở với âm lượng cực lớn đã phá tan bầu khí thanh bình của cầu nguyện, một yếu tố cần thiết cho tâm hồn tìm được sự thư giãn và nghỉ ngơi bên Chúa. Hèn chi không mấy khi thấy có người đến nhà thờ trong những lúc thanh vắng để cầu nguyện một mình. Và cũng ít ai nếm cảm được sự ngọt ngào của thinh lặng cũng như mật độ sâu lắng của nó trong những khi chuyện vãn với Thiên Chúa. Chính vì vậy mới cần đến những khu vực yên tĩnh của các đan viện hay những nơi dành riêng cho việc tĩnh tâm như những đài tiếp vận sức sống thiêng liêng cho tâm hồn. Chẳng may những nơi như thế này còn khá thiếu vắng trên quê hương chúng ta và số người cảm thấy nhu cầu cũng như thưởng thức được ơn huệ này còn khá hiếm chung quanh chúng ta. Thêm vào đó là khí hậu nóng bức, đời sống tất bật để lo chuyện mưu sinh, sự thiếu vắng cả một truyền thống chiêm niệm và những thói quen tĩnh nguyện làm cho sự cầu nguyện của chúng ta dường như chỉ dồn về một phía là đọc kinh khi cầu nguyện. Đã mấy ai thưởng thức được một buổi hát kinh phụng vụ đích đáng. Và ngoài thánh lễ ra, có mấy ai nghĩ tới việc tới một tu viện hay đan viện nào đó để dự hát kinh phụng vụ? Hỏi rằng đã được mấy tu viện có thể hát kinh phụng vụ làm say mê lòng người vì phẩm chất nghệ thuật và giá trị cầu nguyện trong đó? Tất cả những việc này còn đang trong giai đoạn bắt đầu và thử nghiệm. Ước chi các tu viện và các đan viện đầu tư thời giờ và công sức nhiều hơn cho việc thờ phượng cao đẹp này. Mấy năm gần đây chúng ta may mắn có được sách Các Giờ Kinh Phụng Vụ. Đây là sách cầu nguyện chính thức của Hội thánh, trước kia bằng tiếng la-tinh, chỉ dành riêng cho linh mục, giáo sĩ và tu sĩ biết thứ tiếng này. Nay sách được dịch sang các thứ tiếng bản quốc và được khuyến khích cho mọi người đọc thay vì đọc các kinh như khi trước. Tuy vậy mới chỉ có một số hội viên các thứ dòng ba, nhất là Huynh đoàn giáo dân Đa Minh và một số giáo xứ đọc chung vào các giờ kinh sáng, chiều, tối thôi, còn phần đông vẫn đọc các kinh cũ. Đọc kinh cũ cũng được, nhưng đó không phải là kinh phụng vụ và chỉ là các kinh do lòng sùng kính riêng tư của một vài tác giả đề ra và vì thế giá trị thờ phượng và công phúc cũng không ngang hàng với các kinh phụng của toàn Hội thánh. Bởi vậy, thiết tưởng nếu có cầu nguyện chung thì nên dùng kinh phụng vụ, còn cầu nguyện riêng do lòng sùng kính thì đọc các kinh như vẫn quen đọc. Đây là vấn đề ý thức, điều kiện cụ thể vật chất và công việc chuẩn bị, cộng thêm với cố gắng vượt lên trên cái đã quen đến nỗi trở thành cố hữu, cũng như quyết tâm đổi mới, dù phải gánh chịu một vài sự rầy rà bất tiện lúc ban đầu, hay những lời kêu ca chỉ trích của những người nặng óc chủ quan và thiếu hiểu biết. Ngoài ra là các việc đạo đức và các thứ lòng sùng kính. Sau Công đồng Va-ti-ca-nô II, những thứ đó vẫn đưọc duy trì và khuyến khích. Có điều Công đồng khuyên nên dành ưu tiên cho việc cầu nguyện có tính phụng vụ cao như thánh lễ và các giờ kinh phụng vụ, còn những việc khác vẫn làm, nhưng với tính cá nhân và ở mức độ không long trọng bằng các việc phụng vụ. Hai giờ kinh phụng vụ sáng và chiều là hai giờ kinh chủ chốt cần được làm cho nổi bật bằng cách cử hành và số người tham dự. Nhưng đáng tiếc là hai giờ kinh này vẫn chưa được người ta hiểu biết tham dự đông đảo và cử hành long trọng như đáng lý ra phải làm như thế. Còn một việc liên quan đến vấn đề cầu nguyện nữa, đó là hát xướng. Đây là vấn đề phải nói nhiều, nói dài và nói hoài hoài. Nhưng chỉ xin nói vắn tắt như sau: hát phải giúp người ta cầu nguyện vì hát hay, hát đúng, hát tốt là cầu nguyện hai lần như thánh Âu-tinh nói. Chẳng may công việc này trong các nhà thờ của chúng ta hiện nay không giúp gì bao nhiêu mà có khi còn phá vỡ bầu khí cầu nguyện nữa, vì nội dung bài hát, cung cách hát, sự hiểu biết hạn chế và lệch lạc về âm nhạc trong phụng vụ. Đã có những tiếng kêu than thống thiết về vấn đề này từ nhiều năm nay, nhưng thật là những tiếng kêu trong sa mạc. Người ta cứ vịn vào thời mới và thị hiếu của giới trẻ. Hát trong nhà thờ là để thờ phượng Chúa với tất cả tâm tình đạo đức và nghệ thuật ca hát chứ có phải để cho vui, hầu lôi kéo giới trẻ tới như tới một tụ điểm ca nhạc đâu. Nếu vậy thì nên tới tụ điểm ca nhạc hơn là tới nhà thờ. Tới nhà thờ là để tìm một cái gì khác cao đẹp và bền vững hơn. Làm sao cho người ta hiểu được như vậy về cả hai phía trẻ tham dự và phía mục tử lãnh đạo?
Hoàng Quý Trong bài lần trước, chúng tôi đã giới thiệu thế nào là cầu nguyện theo phương pháp lectio divina, một phương pháp cầu nguyện truyền thống nhất trong Giáo Hội. Lần này, chúng tôi xin đề cập thẳng vào cách thực cầu nguyện của lectio divina trong đời sống riêng tư và trong nhóm. Xin mời quý độc giả đi vào thực hành phương pháp cầu nguyện này để cảm nghiệm được Lời Chúa trở thành Mạch Nước Hằng Sống tuôn chảy xuống những ai đi tìm kiếm Ngài trong Lời của Ngài. Xin quý độc giả cầu xin Chúa Thánh Linh đến hướng dẫn quý vị đi vào cầu nguyện với lectio divina. Cầu chúc quý độc giả thành đạt. LECTIO DIVINA TRONG ĐỜI SỐNG RIÊNG TƯ Trước tiên chúng ta hãy chọn một bài hoặc một đoạn Kinh Thánh theo ý chúng ta muốn để đi vào cầu nguyện. Có nhiều tín hữu chọn bài Sách Thánh theo niên lịch phụng vụ hàng ngày hoặc hàng tuần. Người khác lại cầu nguyện tuần tự theo một cuốn Sách Thánh, thí dụ Tin Mừng theo Thánh Gioan, hay thư Thánh Phaolô hoặc sách Xuất Hành. Việc chọn lựa bài Kinh Thánh nào không quan trọng bằng việc nhờ bài Kinh Thánh đó để đi vào cầu nguyện, vào tận hiệp với Chúa. Tiếp theo, bạn hãy đặt mình vào một tư thế cầu nguyện thoải mái và tạo bầu không khí thinh lặng. Có người xử dụng phương cách ngồi thiền và tập trung vào hơi thở để đi vào bầu không khí thinh lặng và tập trung ít phút trước khi thực sự bước vào cầu nguyện. Có người đọc một lời kinh hoặc lời nguyện tắt hoặc nghe một bản thánh ca. Chúng ta có thể xử dụng phương pháp nào cũng được miễn đạt được mục tiêu là giúp chúng ta lắng đọng tâm hồn và quy hướng về Chúa. Tiếp tới chúng ta mở bài Sách Thánh và đọc thật chậm rãi, êm đềm. Hãy nếm, hãy hít thở từng hương vị của mỗi câu Kinh Thánh và luôn luôn chú tâm lắng nghe 'tiếng nói nhỏ nhẹ, tĩnh mịch" của một chữ hoặc một câu nào đó như đang muốn nói với chúng ta, "Đây là lời dành cho con hôm nay. " Chúng ta đừng trông đợi mình sẽ ngất trí hoặc siêu thoát. Trong lectio divina Chúa dậy chúng ta hãy lắng nghe Lời Ngài và kiếm tìm Ngài trong thinh lặng. Chúa không đụng chạm hoặc nắm bắt chúng ta, nhưng hơn thế, Ngài mời gọi chúng ta mỗi ngày mỗi đi sâu vào sự hiện diện của Ngài. Làm thế nào để Ngài hiện diện trong chúng ta tràn ngập, đó là mục tiêu lectio divina muốn đạt tới. Sau đó chúng ta nghiền ngẫm lời đó, câu đó biến hoá trong chúng ta. Chúng ta ghi nhớ và lặp đi lặp lại chầm chậm để lời đó tác động và biến đổi nội tâm, suy tư và trí nhớ chúng ta. Chúng ta đừng sợ những "chia trí". Những ký ức và tư tưởng chỉ đơn thuần là một thành phần trong chúng ta và một khi chúng bay bổng trong lectio divina, chúng ta hãy dâng lên cho Chúa cùng với nội tâm thâm sâu của chúng ta. Hãy để những lời thấm nhập, nghiền ngẫm này dìu chúng ta đi vào cuộc đối thoại với Chúa. Từ đây chúng ta đi vào thưa chuyện với Chúa. Chúng ta thân thưa hoặc đàm đạo với Chúa y hệt như chúng ta nói chuyện tâm tình với người chúng ta yêu thương và chấp nhận chúng ta. Chúng ta dâng lên Chúa tất cả những gì chúng ta đã nghiền ngẫm, suy tư như những cảm nghiệm trong meditatio. Chúng ta hãy cảm nghiệm được những lời Chúa ban cho chúng ta như một phương thế Chúa chúc phúc, Chúa biến đổi tâm tư, ý tưởng và ký ức của chúng ta sau khi chúng ta đã miệt mài "suy đi nghĩ lại trong lòng" Lời của Ngài. Chúng ta hãy dâng lên Chúa tất cả những gì mới mẻ, rung động khi chúng ta tiếp cận với Lời Hằng Sống của Ngài. Sau cùng, chúng ta chi còn việc đơn thuần an nghỉ trong vòng tay yêu thương của Ngài. Và khi Chúa mời chúng ta trở lại nghiền ngẫm Lời Ngài và đối thoại với Ngài, chúng ta cứ tiếp tục làm như thế. Chúng ta hãy học xử dụng ngôn từ, khi ngôn từ còn giúp ích cho chúng ta, nhưng khi ngôn từ không còn cần thiết nữa, chúng ta hãy để lòng mình hội nhập trong Chúa. Hãy mừng vui lên vì Chúa ở với chúng ta cả trong Lời Ngài và trong thinh lặng, cả trong chuyển biến nội tâm cũng như khi lắng đọng đón nhận. Trong phương pháp cầu nguyện với lectio divina, không quan trọng chúng ta đọc và suy niệm được ít hay nhiều Lời Chúa. Điểm then chốt chính là nhờ Lời Chúa chúng ta đi sâu vào sự hiện diện của Ngài. Ngài càng hiện diện tràn đầy trong chúng ta, chúng ta càng thành đạt trong việc cầu nguyện theo Kinh Thánh. Sự hiện diện của Ngài càng tràn ngập trong chúng ta, thần lực của Ngài càng hiện hữu trong chúng ta. Như vậy thần lực của đời sống chúng ta nằm nơi mấu chốt Ngài hiện diện trong chúng ta nhiều hay ít. Càng gần gũi trong sự hiện diện của Ngài, thần lực Ngài càng tăng cường sinh lực cho chúng ta.
Chọn bài hoặc đoạn Kinh Thánh Tạo bầu không khí thinh lặng cầu nguyện Đọc bài Sách Thánh thật chậm rãi và êm đềm Nắm bắt lời nào hoặc câu này đánh động Đàm đạo với Chúa An nghỉ trong vòng tay yêu thương của Chúa LECTIO DIVINA TRONG NHÓM Lectio divina có thể thực hiện trong nhóm chừng 4-8 người. Người nhóm trưởng chọn lựa đoạn Kinh Thánh và điều hành nhóm. Đoạn Kinh Thánh đó được đọc ba lần và sau mỗi lần là những phút thinh lặng và sau đó là cơ hội chia sẻ cho nhau những hoa quả của lectio. Sau đây là cách thức thực hiện sau mỗi lần đọc: 1/ Lắng nghe việc Đụng Chạm Êm Đềm của Lời Chúa Giêsu - Một người đọc lớn tiếng (2 lần) đoạn Kinh Thánh, trong lúc mọi người chăm chú nghe và chọn câu nào hoặc chữ nào có ý nghĩa với mình nhất. - Thinh lặng chừng 1-2 phút. Mỗi người nghe và im lặng lặp lại lời nào hoặc câu nào thu hút mình. - Chia sẻ câu nào hoặc lời nào lôi cuốn mình. Chỉ nói vắn tắt một vài câu thôi. 2/ Lời Chúa Giêsu đang nói với tôi thế nào? - Đọc lần
thứ hai đoạn Kinh Thánh đó do một người khác phái với người lần trước.
- Chia sẻ vắn tắt: tôi "nghe thấy", tôi "nhìn thấy" Chúa Giêsu trong Lời Ngài thế nào? Lời Ngài đụng chạm đến trái tim tôi, đến đời sống tôi thế nào? 3/ Lời Chúa Giêsu đang mời gọi tôi làm gì? - Đọc Lời Chúa lần thứ ba do một người khác. - Thinh lặng chừng 2-3 phút. Suy tư về "Tôi tin rằng Chúa muốn tôi trong tuần này hay ngày hôm nay phải làm gì hoặc phải trở nên một con người thế nào? - Chia sẻ thành quả suy tư của mỗi người. Sau khi đã chia sẻ, mọi người đặt tay phải lên vai người bên cạnh và cầu nguyện cho nhau.
Thực hành đều đặn phương pháp cầu nguyện với Kinh Thánh như vừa rồi là phương pháp hữu hiệu phát triển niềm tín thác trong nhóm. Đó cũng là phương thức tuyệt hảo giúp chúng ta hiến dâng các dự án, các hy vọng lên Chúa Giêsu trong buổi họp nhóm. Chúng tôi hy vọng những chất liệu vừa rồi về lectio divina sẽ giúp quý độc giả khai triển được một phương pháp cầu nguyện truyền thống và vẫn mới mẻ của Giáo Hội. Xin mời quý độc giả đi vào thử nghiệm để nhận lãnh được những hồng phúc của Chúa tràn đầy.
HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH Nguyễn Chính KếtĐể xây dựng thế giới, Giáo Hội, và Nước Trời Thiên Chúa nói với tổ tông loài người: «Hãy sinh sản cho đầy mặt đất» (St 1,23). Lời Chúa truyền ngày xưa nhân loại chúng ta đã tương đối hoàn thành. Hiện nay, số lượng người đã trở nên viên mãn, khiến người ta phải nghĩ tới việc hạn chế hay kế hoạch hóa sinh sản. Nhưng đó mới chỉ là bổn phận về số lượng. Còn bổn phận về chất lượng thì sao? Chúa nói: «Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ… dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em» (Mt 28,19-20). Bổn phận này chúng ta còn thiếu sót nhiều lắm. Chất lượng của nhân loại quả rất đáng lo ngại. Thế giới hiện nay đang bị đảo điên, đau khổ vì tội lỗi, chiến tranh, bất công, bạo hành, người bóc lột người, nạn đói, nạn mù chữ, mãi dâm, ma túy, buôn bán trẻ em, v. v… Tội lỗi, chiến tranh, bất hòa, ghen ghét, hận thù đã đi vào thế giới ngay từ khi xuất hiện những con người đầu tiên: Ađam, Evà, Cain, Abel… Và chất lượng của thế giới từ xa xưa đến giờ vẫn chưa tiến triển được bao nhiêu. Nhiều khi chúng ta than phiền về thế giới, về những người đang điều hành thế giới này. Nhưng ít khi chúng ta ý thức rằng: Gia đình của chúng ta là một «thế giới nhỏ». Hai thế giới - lớn và nhỏ - ảnh hưởng và phản ảnh lẫn nhau. Thế giới này thay đổi thì thế giới kia cũng sẽ thay đổi. Là cha mẹ, chúng ta đang làm chủ, đang điều hành cái thế giới nhỏ bé là gia đình của chúng ta. Nếu chúng ta không làm cho cái thế giới nhỏ bé mà chúng ta đang làm chủ ấy trở nên tốt đẹp hơn, nếu trong cái thế giới nhỏ bé của chúng ta vẫn còn có những điều không tốt đẹp, những điều xấu, thì chúng ta không có quyền than phiền về thế giới, hay trách cứ những người đang điều hành thế giới. Vì chính chúng ta cũng phải chia sẻ trách nhiệm với họ, khi chúng ta không làm cho thế giới nhỏ bé của chúng ta tốt đẹp, hạnh phúc, hòa bình hơn. Do đó, chúng ta phải xây dựng thế giới bắt đầu từ chính gia đình của chúng ta. Là người Kitô hữu, chúng ta không chỉ có bổn phận xây dựng thế giới, mà còn xây dựng Giáo Hội và Nước Trời, trong hiện tại và tương lai, nghĩa là làm sao để Chúa Kitô làm chủ thế giới và mọi tâm hồn. Cách tốt nhất và căn bản nhất vẫn là bắt đầu từ chính gia đình của chúng ta. Vì gia đình chính là một «giáo hội nhỏ» mà chúng ta có bổn phận phải biến thành một «Nước Trời nhỏ», trong đó, có tình yêu ngự trị, và mọi sự đều tốt đẹp. Chúng ta phải Phúc Âm hóa gia đình của chúng ta, làm sao để mọi người trong gia đình chúng ta sống tốt đẹp, yên vui, hạnh phúc. … hãy nuôi dạy con cái cho tốt đẹp Đi vào cụ thể, để góp phần xây dựng thế giới, Giáo Hội, các bậc cha mẹ phải sống tốt đẹp, phải hoàn thiện bản thân, đồng thời làm cho con cái mình cũng sống tốt đẹp và hoàn thiện hơn. Trong hai việc đó, nuôi dạy con cái là việc hết sức quan trọng và có rất nhiều khó khăn, đòi hỏi các bậc cha mẹ không những phải đầy thiện chí mà còn phải đầy khôn ngoan, không những phải chính mình sống tốt đẹp làm gương mà còn phải giỏi nghệ thuật nuôi dạy con nữa. Sau đây là một vài điểm cần thiết để việc nuôi dạy con thành công. 1. Hãy cầu nguyện, phó thác, và vững tin vào Chúa Chúng ta có bổn phận phải nuôi dạy con cái, nhưng kết quả công việc đó không hoàn toàn tùy thuộc vào nỗ lực của chúng ta, mà còn tùy thuộc ở Thiên Chúa nữa. Chúng ta chỉ giống như người trồng cây, tưới, bón phân, chăm sóc… nhưng chỉ Thiên Chúa mới làm cho cây lớn lên (x.1 Cr 3,6-7). Vì thế, để nuôi dạy con cái cho kết quả, chúng ta cần cầu nguyện, phó thác và vững tin vào Chúa. Không có Ngài, chúng ta không làm được việc gì (x. Ga 15,5b). Chúng ta đừng quá cậy dựa vào sức mình, vào khả năng dạy dỗ của mình. Nhiều khi chúng ta đem hết tâm hồn và nỗ lực ra để khuyên lơn, dạy điều hay lẽ phải cho con cái, nhưng chúng vẫn chứng nào tật nấy. Tại sao? Vì ý chí của con người đã bị tội lỗi làm cho yếu đuối. Ai trong chúng ta cũng đều cảm nghiệm được sự yếu đuối ấy như thánh Phaolô đã diễn tả: «Điều tôi muốn thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét thì tôi lại cứ làm… Muốn sự thiện thì tôi có thể muốn, nhưng làm thì không. Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn thì tôi lại cứ làm. Nếu tôi cứ làm điều tôi không muốn, thì không còn phải là chính tôi làm điều đó, nhưng là tội vẫn ở trong tôi» (Rm 7,15.18b-20). Con cái chúng ta cũng yếu đuối như chúng ta, chúng rất hiểu những gì là tốt đẹp phải làm, những gì là xấu xa phải tránh, nhưng cũng như chúng ta, chúng không làm nổi, không tránh nổi. Và theo thánh Phaolô, Đức Kitô chính là người có thể giải thoát chúng ta và con cái chúng ta khỏi sự yếu đuối ấy: «Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này? Tạ ơn Thiên Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta» (Rm 7,24-25). Vì thế, trong việc nuôi dạy con cái, chúng ta phải nhờ cậy vào Đức Kitô rất nhiều. Không có sự giúp đỡ và thêm sức của Ngài, việc dạy dỗ của chúng ta sẽ thất bại. Thêm vào đó, không phải chúng ta như thế nào, hay muốn con cái chúng ta như thế nào thì chúng sẽ ra như thế ấy. Tục ngữ có câu: «Cha mẹ sinh con, trời sinh tính». Hãy xem lại chuyện cổ: Lưu Bị, Quang Trung… cha mẹ đều là những bậc anh hùng cái thế, luôn cố công dạy dỗ con cái với đủ mọi phương tiện trong tay, thế mà con cái chả ra làm sao: bố anh hùng mà con thì hèn nhát! Nhiều người dạy dỗ con cái người khác thì thành công, nhưng dạy dỗ con mình thì thất bại: «Dao sắc không gọt được chuôi». Vì thế, chúng ta đừng chỉ cậy vào khả năng dạy dỗ của mình, mà hãy trông cậy vào Thiên Chúa, bằng cầu nguyện, hy sinh, hãm mình, và vững tin. Cũng đừng bao giờ thất vọng khi thấy con cái không được như ý mình. Còn ai đáng thất vọng về con cái hơn bà thánh Monica, thế mà nhờ cầu nguyện, hy sinh, hãm mình và vững tin, con của bà cho dù hết sức tội lỗi, đã trở về với Chúa, không những thế, còn trở nên một giám mục, và hơn nữa, một vị thánh, là thánh Âu-Tinh. 2. Hãy giúp con cái sống đời Kitô hữu tốt đẹp Lệnh truyền của Chúa «Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ… dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em» (Mt 28,19-20) phải được áp dụng trước tiên trong gia đình. Trước khi Phúc Âm hóa xã hội, thế giới, ta hãy Phúc Âm hóa chính mình và gia đình mình đã. Hãy biến con cái của chúng ta thành những Kitô hữu tốt. Làm sao để chúng thật sự tin, yêu và dấn thân theo Chúa. Khi chúng thật sự tin và yêu Chúa, việc giáo dục chúng coi như đã thành công. Vì thế, phải làm sao để đời sống tâm linh của chúng đi vào chiều sâu, nghĩa là có tương quan thân thiện với Chúa, có đời sống cầu nguyện, biết hy sinh bản thân cho Chúa và tha nhân. Hãy tập cho chúng ngay từ hồi còn nhỏ có thói quen đọc Kinh Thánh, và bày tỏ với Chúa những tư tưởng, tâm tình có trong đầu. Tất cả những việc đó là thức ăn cần thiết cho đời sống tâm linh của chúng. Những cha mẹ nào có đời sống tâm linh vững vàng sẽ cảm thấy dễ dàng hơn trong việc đào luyện đời sống tâm linh cho con cái. Thật vậy, người ta chỉ có thể cho đi những gì người ta có, và không thể cho những gì người ta không có. Vì thế, muốn con cái có đời sống nội tâm sâu xa, thì chính cha mẹ phải có trước đã. Khi con cái đã có tương quan thân mật với Thiên Chúa rồi, thì việc giáo dục chúng trở nên nhẹ nhàng, vì không phải ta giáo dục chúng, mà chính Thiên Chúa giáo dục chúng. 3. Hãy biểu lộ tình thương cho con cái Con người luôn luôn cần tình thương. Không tình thương, con người không thể sống và phát triển được. Con cái chúng ta cũng thế. Tình thương chính là thức ăn, là cơm bánh chúng phải dùng hàng ngày để có thể phát triển bình thường về tâm linh, tâm ý, để có thể trở nên tốt lành, xả kỷ, vị tha… Những đứa trẻ không cảm nhận được tình thương của cha mẹ thường dễ trở nên ích kỷ, khó thương và khó dạy. Các bậc cha mẹ tuy rất yêu thương con, nhưng lại hay ngại tỏ ra cho chúng thấy, cứ sợ chúng ỷ lại, nhõng nhẽo, mà không nhìn thấy tai hại của việc ấy. Nhiều đứa trẻ than phiền với chúng bạn, hay với hàng xóm rằng cha mẹ không hiểu và không yêu thương chúng. Ý nghĩ đó khiến tâm hồn chúng càng ngày càng trở nên cằn cỗi, chua cay, co mình lại, và tệ hại nhất là chúng không thể tin tưởng vào tình yêu của Thiên Chúa. Thật vậy, đối với con cái, cha mẹ là hình ảnh cụ thể nhất của Thiên Chúa, và tình yêu của cha mẹ là hình ảnh cụ thể nhất của tình yêu Thiên Chúa. Chính qua tình thương của cha mẹ mà con cái hiểu và cảm nghiệm được tình yêu thương của Thiên Chúa. Có điều gì chúng ta cảm nhận được về Thiên Chúa mà không xuất phát từ những kinh nghiệm cụ thể đâu? Vì thế, muốn con cái mình cảm nhận được tình yêu của Thiên Chúa, để đáp lại tình yêu của Ngài, để sẵn sàng hiến thân cho Ngài, trước hết chúng ta phải làm sao để chúng cảm nghiệm được chính tình thương của chúng ta, rồi mới nói về tình yêu của Thiên Chúa sau. 4. Không những «dạy» mà còn phải «dỗ» Như đã nói trên, con cái của chúng ta cũng gặp tình trạng yếu đuối như chúng ta: «Điều tôi muốn thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét thì tôi lại cứ làm..».. Chúng cũng cần một sức mạnh bên ngoài nào đó tác động vào trợ giúp cho ý chí yếu đuối của chúng. Và không có sự trợ giúp nào hữu hiệu, vô hại và hữu ích cho bằng tình thương, được biểu lộ qua sự dỗ dành. Tiếng Việt của chúng ta thường ghép hai từ «dạy» và «dỗ» lại với nhau: «dạy dỗ». Muốn dạy thì phải dỗ, không dỗ không dạy được. Thật vậy, cổ nhân nói: «Giáo đa thành oán». Dạy nhiều, nói nhiều, răn đe nhiều, roi vọt nhiều mà không biết khéo léo dỗ dành, con cái của chúng ta sẽ khó chịu với những lời dạy đó, thậm chí chúng không thèm nghe nữa. Khi ta dạy nhiều quá, chúng có thể im lặng mà không lắng nghe, và có thể bỏ ngoài tai tất cả. «Dỗ» bao hàm nhiều nghĩa: có thể là vỗ về, an ủi, dẫn dụ, có thể là khuyến khích, van lơn, hứa điều tốt đẹp, có thể là bảo chúng làm điều mình dạy làm để đạt được điều chúng đang mong ước, v. v… Nhưng «dỗ» luôn luôn là một biểu lộ êm ái, ngọt ngào của tình thương, của sự mềm dẻo, ân cần. Dỗ cách này không được thì dỗ cách khác, dỗ đủ cách không được mới nên dùng tới đe dọa, hình phạt. Thay vì nói: «Con học đi, không học là bố đánh đòn đấy!» thì nói thật ngọt ngào: «Con ráng học đi, học xong bố sẽ chở con đi chơi một vòng», hay «Ráng học nhe con, hôm nọ bố nghe cô giáo khen con trước mặt các phụ huynh khác làm bố hãnh diện về con lắm!». 5. Năng nói chuyện tâm tình với con cái Con cái và cha mẹ chỉ thông cảm nhau, hiểu được tình thương của nhau khi đối thoại với nhau thường xuyên. Không đối thoại, tình thân giữa cha mẹ và con cái không thể có được. Sở dĩ một người nào đó trở thành bạn thân của ta là vì ta và người ấy năng nói chuyện tâm tình, tâm sự với nhau, nên hiểu được lòng ruột nhau. Vì thế, cha mẹ phải cảm thấy thích thú khi nói chuyện với con cái, khi lắng nghe chúng tâm sự, và làm sao để chúng cũng thích thú khi nói chuyện với mình. Hãy coi chúng là những người bạn hơn là người dưới mình. Hãy bắt chước thái độ của Đức Kitô đối với môn đệ: «Thầy không gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha của Thầy, Thầy đã cho anh em biết» (Ga 15,15). Chỉ khi con cái ta sẵn sàng bầy tỏ tất cả những gì chúng nghĩ trong đầu, không dấu diếm vì sợ hãi hay ngại ngùng, ta mới có thể dạy dỗ chúng đúng hướng và hữu hiệu. Kết luận Mỗi gia đình là một thế giới nho nhỏ, một giáo hội nho nhỏ, một xứ đạo nho nhỏ mà chúng ta, những bậc cha mẹ, phải làm chủ, hướng dẫn, làm mục tử. Là mục tử của gia đình, chúng ta hãy trở nên mục tử tốt lành theo gương Đức Giêsu (x. Ga 10,11.14). Hãy làm sao để nói được như Ngài: «Tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào» (Ga 10,10b), «Tôi biết các chiên tôi và các chiên tôi biết tôi» (Ga 10,14), «Tôi hy sinh mạng sống mình vì đàn chiên» (Ga 10,11b.15b). Cái thế giới hay giáo hội nho nhỏ ấy tốt hay xấu, có biến thành một «Nước Trời nho nhỏ» hay không, tùy thuộc vào chúng ta rất nhiều, vào sự điều khiển gia đình và nuôi dạy con cái của chúng ta. Nuôi dạy con cái cho tốt, chính là góp phần làm tăng chất lượng của thế giới và Giáo Hội lên. Và đó cũng là góp phần xây dựng Nước Trời, biến trần gian thành Vương Quốc của Thiên Chúa (x. Kh 11,15).
LINH ĐẠO GIÁO DÂN
BÀI LINH ĐẠO GIÁO DÂN CỦA TRẦN DUY NHIÊN Khổng Nhuận
Về phương diện lý luận, anh Nhiên đã trình bầy về Linh đạo Giáo dân thật xuất sắc. Tôi xin được phép sắp xếp lại Linh đạo giáo dân chính là việc tham gia vào sự sống dồi dào và trọn lành của Ngài trong mối tương giao mật thiết với Thiên Chúa để nên thánh trong và qua những công việc tầm thường nhất trong đời thường của mỗi người như giải trí, những cuộc họp hành, đến cơm áo gạo tiền, đến việc giáo dục con cái và thậm chí đến việc gối chăn…qua đó sống chiều kích của Kitô Hữu trong các biến cố hằng ngày. Tóm lại, Linh đạo giáo dân là con đường gặp gỡ Thiên Chúa và nên thánh ngay tại đây và bây giờ. Qua những ý cô đọng trên, tôi thấy rõ ràng · Mục tiêu của Linh đạo Giáo dân: chính là tham gia vào sự sống dồi dào và trọn lành của Ngài để nên thánh qua những công việc tầm thường nhất · Nền tảng: trong mối tương giao mật thiết với Thiên Chúa Còn về phương thức hành động cụ thể, anh Duy Nhiên đã khẳng định: Không có một (giải pháp) lý thuyết nào để đáp ứng cho mọi người trong những tình huống này. Vì thế, muốn tìm ra một linh đạo thì giáo dân phải khởi sự kể cho nhau nghe những mẩu chuyện đời mình, qua đó mình sống chiều kích của Kitô Hữu trong các biến cố hằng ngày. Linh đạo giáo dân phải do người giáo dân viết. Linh đạo giáo dân phải là sự tích lũy của những kinh nghiệm thực tế mà chúng ta chia sẻ cho nhau. Linh đạo giáo dân là con đường gặp gỡ Thiên Chúa và nên thánh ngay tại đây và bây giờ. Anh Duy Nhiên đã đề ra mục tiêu của Linh đạo Giáo dân rất rõ ràng, dựa trên nền tảng cực kỳ vững chắc. Rồi anh đã đề nghị một một phương thức hành động cụ thể với điểm lưu ý rõ ràng: sống chiều kích của Kitô Hữu có nghĩa là sống trong mối tương giao mật thiết với Thiên Chúa, đó chính là con đường gặp gỡ Thiên Chúa và nên thánh ngay tại đây và bây giờ. Thật tuyệt vời, nhưng cũng thật đáng tiếc, ngay dưới bài của anh Duy Nhiên, Maranatha lại giới thiệu bài Trách nhiệm của anh Phạm Ruệ như là một thí dụ điển hình. Tôi có cảm tưởng như cảnh ông nói gà bà nói vịt… .. Tôi xin dẫn chứng ngắn gọn như sau: Mục tiêu của Linh đạo Giáo dân là tham gia vào sự sống trọn lành trong mối tương giao mật thiết với Thiên Chúa trong khi đó bài trách nhiệm lại chỉ gói gọn trong tạo được hòa khí trong gia đình- hoàn toàn mang (tính chất) nhân loại, dù rất tốt, rất quý, nhưng không có (chiều kích) Linh đạo Giáo dân. Về phương thức thực hiện: Bài Linh đạo Giáo dân yêu cầu sống chiều kích của Kitô Hữu để gặp gỡ Thiên Chúa và nên thánh ngay tại đây và bây giờ; trong khi bài Trách Nhiệm lại đi tìm kỹ thuật của "Tình và Lý", Và kỹ thuật pre-announcement, một phương thức thuần túy con người không có dính dáng gì tới chiều kích của Kitô hữu. Ngay cả anh em cộng sản chân chính, họ cũng có thể thực hiện được kỹ thuật trên một cách ngon lành, nếu họ thực sự quan tâm tới con cái và hạnh phúc gia đình của mình. Tôi đã tìm mãi xem có thấy một tương giao thân mật với Thiên Chúa hoặc gặp gỡ Thiên Chúa không, hay qua đó người ta có thể lớn lên trong Chúa chút nào không, nhưng tìm mỏi mắt mà cũng chẳng thấy đâu. Không hiểu các anh có thấy không? hay là tôi bị cận thị nặng rồi! ĐỀ NGHỊ 1. Theo thiển ý tôi, Maranatha nên xếp những bài viết như bài TRÁCH NHIỆM này vào mục hôn nhân gia đình là tuyệt vời hơn cả, Maranatha có đồng ý không? 2. Maranatha nên tuyển chọn bài nào đáp ứng được những tiêu chuẩn sau: · Qua bất cứ một việc nào, dù lớn như lập gia đình, ngưòi thân yêu mất… hay dù nhỏ như bất ngờ đọc hay nghe một câu nào đó, hoặc găp gỡ người này người nọ, nhưng lại khiến cho tôi suy nghĩ và bắt gặp một khám phá mới giúp cho tôi thấy Chúa rõ hơn một chút, thấy con người đích thực của tôi hơn một chút, cảm nhận đuợc mối tương giao của tôi với Chúa trong lòng mình mặn mà hơn một chút.. và kết quả tất nhiên là tôi cảm thấy bình an với niềm vui nho nhỏ và đặc biệt là ngày một xác tín hơn một chút con đường sống kết hợp nên một với Chúa. · Muốn sống chiều kích Kitô hữu, người viết bài nên mang cặp kính “người Kitô hữu” để nhìn, để suy tư, để phản ứng, để hành động thì mới có thể đạt được mục tiêu mà anh Duy Nhiên đã nêu ở phần trên. Chứ không nhìn với cặp kính người quân tử, người trưởng thành dù rất tuyệt vời nhưng vẫn không mang chiều kích người Kitô hữu. · Thí dụ nho nhỏ: Vợ xúc phạm chồng. Chồng – như một người quân tử cao ngạo - không thèm chấp, hoặc trong lòng thầm nghĩ vì mình là người công giáo nên bỏ qua, nhưng lòng vẫn còn ấm ức đợi dịp thuận tiện sẽ cho cô ấy một bài học thì cả 2 trường hợp trên chưa sống chiều kích Kitô hữu. Trái lại, nếu người chồng lúc đầu cũng nổi sùng quát tháo vài câu, nhưng sau đó nghĩ lại: vợ chồng mình đều là con yêu dấu của Ngài, sao lại cãi nhau nhỉ, thế là ông chồng dâng lên Chúa những lời cầu nguyện rất ư là con người: Chúa ơi, giờ này con còn bực lắm nhưng xin Chúa ban cho con sức mạnh Thần Khí của Ngài để con cố gắng tha thứ cho em con và quên luôn. Xin Chúa cũng cho vợ con biết thông cảm với con và hiểu con hơn. Rồi chiều Chúa nhật, rủ nàng uống càfê, bên ly nước cam mát rượi, anh chồng bình tĩnh và nhẹ nhàng nhắc lại chuyện cũ với mục đích cho cô nàng hiểu ra vấn đề và cùng nhau tìm ra giải pháp nào tốt hơn sao cho chuyện như vậy còn xẩy ra nữa. Tôi nghĩ như vậy mới vẹn toàn được cả tâm linh lẫn nhân loại. (… ) Trao đổi của Maranatha Thưa anh Khổng Nhuận, Maranatha chân thành cám ơn lá thư góp ý rất tích cực của anh cũng như những đề nghị giúp cho Maranatha đạt được chất lượng phục vụ cao hơn. Đặc biệt là nhận định rất chính xác của anh về ý hướng rõ ràng của Trần Duy Nhiên và hình ảnh minh họa không khớp với ý hướng ấy khi chọn bài của Phạm Ruệ. Tuy không phủ nhận sự thiếu tương thích giữa hai bài về Linh Đạo Giáo Dân (mà anh viết là ông nói gà bà nói vịt), Maranatha cũng muốn trao đổi với anh (và qua đó, với nhiều độc giả có nhận định như anh) về lý do khiến Maranatha mở đầu loạt bài đóng góp của độc giả về linh đạo bằng bài Trách Nhiệm. 1. Bài của anh Phạm Ruệ đúng là có giá trị luân lý cho mọi gia đình hơn là nhằm vào việc nâng cao đời sống tâm linh của người giáo dân, và bài này sẽ thích hợp hơn nếu xếp vào mục Hôn Nhân và Gia đình. Ấy là chưa nói đến việc những sự kiện đưa ra không thể dùng làm điển hình cho mọi gia đình, mà chỉ thích hợp cho một số ít gia đình ở hải ngoại nhưng rất xa lạ với đại đa số các gia đình ở trong nước. Tóm lại, bài ấy gần như là chứng từ của một người sống trong một môi trường nhất định với một hoàn cảnh cụ thể, chứ không mang tính phổ quát. 2. Tuy nhiên, khi cho đăng bài ấy như một thí dụ, Maranatha muốn mở rộng lãnh vực Linh Đạo Giáo Dân hơn nữa. Không cứ gì phải nhắc đến Thiên Chúa và Phúc Âm mới là một đường hướng linh đạo (mặc dù đó là điều rất quan trọng, và vì thế, những góp ý của anh vẫn giữ nguyên giá trị). Điều không ai có thể phủ nhận, ấy là Kitô hữu phải sống chiều kích mà người đời cho là những giá trị nhân bản. (Như anh đã viết: Ngay cả anh em cộng sản chân chính, họ cũng có thể thực hiện được kỹ thuật trên một cách ngon lành, nếu họ thực sự quan tâm tới con cái và hạnh phúc gia đình của mình). Tuy nhiên Maranatha muốn lưu ý rằng khi Kitô hữu (và đây là trường hợp cụ thể của anh Ruệ) sống chiều kích nhân bản thì họ sống theo tinh thần Kitô giáo, và do đó chiều kích thế gian đã trở thành một chiều kích tâm linh. 3. Nói như thế, để thấy rằng mọi kinh nghiệm xã hội của Kitô hữu, dù có vẻ không liên quan gì đến Thiên Chúa và tâm linh cũng có thể biến thành con đường tu đức (linh đạo) cho người giáo dân nếu kinh nghiệm ấy xuất phát từ một Kitô hữu đích thực, nghĩa là một người lấy đức tin mà soi rọi cho đời thường; và đó cũng là điều mà tác giả Trần Duy Nhiên gợi ý như là một “con đường nên thánh ở đây và bây giờ.” Đấy cũng là con đường mà Chúa Kitô đã dùng để đưa những ‘giáo dân’ thời Ngài đi vào linh đạo. Ngài nhìn chim trời và cỏ đồng hoa dại, nghĩa là vào thực tế trước mắt mọi người, mà giúp con người cảm nghiệm sự quan phòng của Thiên Chúa, chứ Ngài không căn cứ vào sự quan phòng của Thiên Chúa mà giải thích cho sự sống còn của hoa cỏ và chim trời. 4. Với cách mở đề như thế cho loạt bài Linh Đạo mà Maranatha mong độc giả đóng góp, chúng tôi ao ước các Kitô hữu chưa quen cầm bút vẫn có thể kể lại kinh nghiệm của mình mà không sợ ‘lạc đề’ hay cho rằng ‘không ăn nhập gì đến linh đạo cả’. Chính qua những cái ‘không ăn nhập’ ấy người giáo dân mới mong tìm ra một con đường thích hợp cho mình, mà không buộc luôn luôn phải ‘nhập’ với con đường rất truyền thống mà các tu sĩ đã vạch ra suốt mấy trăm năm qua cho bậc sống tu trì. 5. Trong khi chờ đợi anh viết lên một vài kinh nghiệm bản thân để minh họa cho phần đề nghị của mình, Maranatha lại giới thiệu một bài khác, bài ‘Tôi, người con hoang đàng’ của tác giả A-Ki. Như anh sẽ thấy, bài này có nói về Thiên Chúa nhưng lại không phải là một biến cố xảy ra trong đời thường của mọi người; và như thế, nếu tuân theo những tiêu chuẩn rất chí lý mà anh đã đề ra, thì bài này cũng chẳng ăn nhập gì đến linh đạo giáo dân cả. Điều duy nhất khiến Maranatha cho đăng vào mục Linh Đạo Giáo Dân, ấy chỉ vì đó là kinh nghiệm sống cụ thể của một giáo dân đã gặp được Thiên Chúa trong biến cố cuộc đời. MARANATHA
A-KiTôi bước vào đời với một giấy thế vì khai sinh bằng tiếng Pháp, trong đó có ghi fils de parents inconnus, ‘con của cha mẹ vô danh’. Lần đầu tiên tôi biết họ tên mình đúng như được ghi trong khai sinh là khi tôi đọc danh sách học sinh thi vào trung học. Trước đó, người ta gọi tôi là A-Ki. Đến bây giờ tôi không biết vì sao tôi có cái tên đó, phải chăng vì vào thời ấy, người ta có thói quen đặt tên chó là Ki, hay vì không biết tôi xuất xứ từ đâu nên hỏi là ‘À Qui’? Tôi tôi lớn lên trong vòng tay của các Nữ Tử Bác Ái và các cha thừa sai dòng thánh Vincent de Paul. Các cha mẹ nuôi của chúng tôi yêu thương những trẻ mồ côi với một tình thương vô vị lợi đến độ tôi thấy mình hụt hẫng, bởi lẽ suốt tuổi thơ, chúng tôi không nhận được một tình yêu ‘bình thường’ nào như bao nhiêu bạn bè cùng lớp cùng trường. Thế nên khi tôi 17 tuổi, tôi đã bắt đầu nổi loạn và làm tất cả mọi sự đi ngược lại với tất cả mong ước của quí vị. Hết trung học, tôi đi vào cuộc đời trong tình trạng tứ cố vô thân. Tôi thi vào Đại Học Sư Phạm Pháp Văn vì đó là nơi để tôi trốn lính, được hưởng học bỗng, mà lại khỏi phải học hành gì cả, vì tôi vốn là một học sinh từng đứng nhất lớp về môn Pháp Văn khi còn ở một trường trung học công lập Pháp ở DL. Tóm lại, từ năm 18 tuổi, tôi không thấy được những ân huệ mình đã được nhận, mà chỉ oán trách cuộc đời vì mình luôn ở vị thế thua thiệt so với những người chung quanh. Tình yêu thương của Thiên Chúa mà các cha mẹ nuôi tôi đã dạy bỗng trở nên một lưỡi đòng đâm vào tự ái của tôi và là một cái cớ để tôi chống lại Người. Tôi không thể chấp nhận một người Cha ‘toàn năng và yêu thương vô cùng’ lại đối xử với tôi một cách bất công như thế, và tôi oán hận Người. Tôi ngang nhiên lăn vào đời sống tội lỗi một phần vì buồn chán và một phần như một hành động thách thức Thiên Chúa. Có lẽ các bạn không cần tôi phải kể lại những tội tôi đã phạm. Các bạn chỉ cần biết rằng trong 10 giới răn, tôi không chừa một giới răn nào. May ra là điều răn thứ năm: chớ giết người. Mà tôi cũng không chắc nữa: có thể tôi cũng đã vô tình giết đi một mạng sống mà tôi từng đặt vào lòng một cô gái nào đó từng liên hệ với tôi… Càng lao vào tội lỗi, tôi càng thấy mình kiệt quệ vừa thể xác về tinh thần, rồi đối diện với một lỗ trống ghê rợn. Để lấp đầy nỗi ám ảnh khủng khiếp này tôi cần có một người bên cạnh. Tôi lập gia đình như một hành động chạy trốn, khi đang học năm cuối cùng đại học. Trong 7 cô gái tôi cùng liên hệ một lúc, tôi chọn người mà mình chỉ mới quen được hai tháng. Cô ấy là thanh niên gia đình Phật Tử từng đi biểu tình chống ông Diệm đàn áp Phật Giáo. Tôi kết hôn mà không thắc mắc gì đến bí tích hôn nhân. Tôi đã tự tách mình ra bên lề Giáo Hội từ lâu rồi. Cuộc hôn nhân ấy đưa tôi vào một đêm đen khác. Thay vì tìm được lối thoát, tôi thấy mình vào một ngục tù ngộp thở hơn. Vì lớn lên cạnh những người quá vô vị lợi, nên tôi trở thành một người chỉ biết đòi hỏi mà không bao giờ biết nghĩ đến hy sinh. Vợ tôi có mang, tôi trả về cho gia đình cô ấy lo mọi sự… Tôi không hề áy náy, và cũng chẳng thấy trách nhiệm gì. Rồi tôi ra trường và chọn về CT, trong khi vợ tôi vẫn còn ở DL. Thỉnh thoảng cô xuống với tôi vài tháng. Tôi chẳng biết thế nào là hạnh phúc, chỉ thấy toàn là phiền hà… Nhưng tôi quá mệt mỏi nên cũng không hề nghĩ đến chuyện ly dị. Vợ tôi chắc chắn là bất hạnh, nhưng thuở ấy tôi không bao giờ thoáng nghĩ trong đầu là tôi đang gây đau khổ cho một người câm lặng yêu thương mình. Là một giáo sư, tôi không thể nào sống xô bồ như thời còn sinh viên. Tôi phải chọn một nơi vui chơi mà vẫn giữ được ‘tư cách’. Tôi tuyên bố mình là người công giáo và đến sinh hoạt trong nhóm sinh viên công giáo. Vị tuyên úy sinh viên công giáo CT; lúc bấy giờ là cha ADH. Vào thời ấy, cha là một linh mục trẻ, vừa lấy xong tiến sĩ thần học và cử nhân kinh thánh ở nước ngoài về, thế nên cha vừa cởi mở vừa sâu sắc. Cha đến CT với dự định thành lập tại đấy một trung tâm cho những trí thức công giáo tương lai, như cha Pineau đã thực hiện tại Câu lạc bộ Phục Hưng,44 Thévénet (Tú Xương hiện nay) Sàigon, vào thập niên 50. Đi với bụt thì mặc áo cà sa. Đi với sinh viên công giáo thì đọc Sách Thánh. Ngoài những giờ vui chơi ‘lành mạnh’ tôi cũng dự những buổi chia sẻ Phúc Âm. Tôi cũng đi dự lễ, cũng rước lễ vì không muốn các bạn thắc mắc, nhưng không bao giờ xưng tội... Chúa đối với tôi là một trò đùa... Tôi đóng kịch là người ngoan đạo, nhưng trong thâm tâm tôi vẫn oán ghét Thiên Chúa, vì Người đã để cho tôi cù bơ cù bấc trong cuộc đời và đặt nỗi tuyệt vọng trong một cái vỏ đàng hoàng của tôi: dù tôi có lăn lộn thế nào giữa đám đông, thì nỗi cô đơn của tôi cũng làm tôi ngộp thở từng giây từng phút. Không ít lần tôi đã nghĩ đến một phương thức tự tử êm ái. Cho đến mùa Phục Sinh năm ấy qua, tôi nghe đọc sự Thương Khó Chúa Giêsu… Khi nghe vị chủ tế đọc lên: “Lạy Chúa, sao Chúa bỏ con”, tôi bỗng rùng mình. Trong khoảnh khắc, tôi thấy toàn bộ sự chua chát của Ngài: Đêm cô đơn ở Giêtsêmani, tù đày, tra tấn, nhạo báng, phỉ nhổ, con đường lên núi Sọ với thập giá, tiếng búa, mũi đinh… tất cả. Và tôi cảm thấy Ngài là một người bạn chí thiết vì Ngài cũng đã bị cô đơn và bất công như tôi, hơn tôi. Hôm đó là lần đầu tiên tôi về nhà tự ý mở Phúc âm ra đọc lại sau mấy năm đọc máy móc với sinh viên. Không phải tôi đến với Lời Chúa đâu, tôi muốn chỉ đọc lại tiểu sử của một người bạn mà tôi thấy giống mình. Nhưng khi đọc Luca về giây phút cuối cùng, tôi không còn hiểu gì nữa. Luca viết: “Lạy Cha, con phó linh hồn trong tay Cha”. Tôi không thể hiểu tại sao một người bị bỏ rơi đến chết như thế mà vẫn còn tin tưởng và phó thác vào Cha mình. Tôi đến trao đổi với cha ADH. Cha lắng nghe thật lâu mà không nói tiếng nào. Cuối cùng cha đề nghị cùng đọc một đoạn khác của Luca: đoạn ‘Người con hoang đàng’. Tôi hiểu ý cha và bảo rằng tôi không muốn xưng tội vì không biết phải xưng thế nào… tội tôi nhiều quá. Cha bảo: Anh cứ nói với Chúa những gì anh nói với tôi nãy giờ. Rồi Cha quỳ xuống trước mặt tôi và làm dấu thánh giá. Bầu trời như sụp đổ. Không còn một linh mục khuyên nhủ đứa ‘con hoang đàng’ mà chỉ còn Thiên Chúa qua đại diện của Ngài đang quỳ cầu xin dưới chân tôi. Tôi choáng váng. Trước mặt tôi là hình ảnh một Thiên Chúa quì xuống để khẩn cầu tôi, để xin lỗi tôi: xin lỗi vì đã đem tình yêu vô biên của Người mà xúc phạm đến trái tim ti tiện của tôi. Không thể nào đứng vững được, tôi sà xuống bên cha và lắp bắp: “Lạy Cha xin Cha tha tội cho con.. ”. Tôi chỉ nói được có thế, rồi nghẹn họng… Nước mắt cứ chực trào. Lâu thật lâu, tôi nghe: “Cha tha tội cho con.. ” và tôi oà lên khóc… Kể từ ngày có trí khôn không bao giờ tôi khóc, tôi ghét cái sướt mướt đàn bà, hèn! Thế mà hôm đó tôi đã oà khóc như một đứa con nít… Và quả thật, kể từ ngày đó tôi đã trở thành một đứa con nít trong tay Cha trên trời, Đấng đã yêu tôi đến độ cho tôi cái đặc ân bị bỏ rơi giống như Con Chí Ái của Ngài. Tôi đã chấp nhận lại cuộc đời và cuộc đời đã chấp nhận tôi. Vâng, tôi là một đứa con hoang đàng đã trở về sau 10 năm chống đối, bởi vì tình yêu của Ngài mạnh hơn sự căm thù của tôi… Tôi kể lại cuộc đời mình theo lời đề nghị của một linh mục luôn thao thức gởi những chứng tích của Tình Yêu của Thiên Chúa đến cho từng người. Tôi viết lại đây theo đức vâng lời, vì tôi nghĩ đã đến lúc cuộc đời của tôi không còn thuộc về mình nữa. Sở dĩ tôi kể lại những đêm đen của đời mình, ấy không phải vì cuộc đời tôi có gì đáng nghe hơn một ai khác, nhưng chỉ để nói lên một điều mà hẳn nhiều người sẽ cho tôi là lộng ngôn nếu tôi không kể cái biến cố khiến tôi trở lại. Và đây là điều duy nhất tôi muốn nói với những ai đang ở trong cô đơn, tuyệt vọng, tội lỗi như tôi trước đây: Bạn từng nghe rằng Thiên Chúa là một người Cha nhân lành đang chờ đợi bạn trở về xin lỗi người, để Người có thể mặc lấy cho bạn chiếc áo thượng hạng, mở tiệc ăn mừng vì tìm lại một đứa con hoang đàng... Sai rồi! Đấy chỉ là câu chuyện trong dụ ngôn! Nhưng trong thực tế cuộc đời, Chúa không hề đợi bạn trở về. Người vẫn theo sát bạn, quì dưới chân bạn mà khẩn cầu, mà xin bạn tha thứ cho Người, bởi vì Người đã xúc phạm bạn khi yêu thương bạn bất chấp mọi vết nhơ mà bạn đã tạo ra cho tâm hồn mình. Bạn hãy nhìn xuống đi, rồi cũng như tôi, bạn sẽ nhìn thấy Thiên Chúa quì dưới chân bạn từ lâu để khẩn cầu. Xin bạn hãy thương xót Người. Bạn nỡ lòng nào…
MARANATHA Lm. Đỗ Xuân Quế, O.P.(Tặng tuần báo điện tử Maranatha)
Ma-ra-na-tha, ôi lạy Chúa, Xin đừng trì hoãn đến viếng thăm, Ban xuống ơn thiêng, ban sức mạnh, Đáp ứng mong chờ những tháng năm. Chúng con khao khát đợi trông Ngài, Tín hữu, tông đồ giữa trần ai, Xin đến đỡ nâng bao thiện chí, Tăng cường nghị lực chẳng tàn phai. Xin Chúa giữ gìn nhóm chúng con, Lòng tin bền vững chẳng hao mòn, Trung thành dấn bước đi theo Chúa Dù khó, kiên trì vẫn sắt son. Bãi Dâu 4-7-2004
Trang Nhà (website) http://www.maranatha-vietnam.net Thư từ, ý kiến, xin gửi về maranatha@saintly.com Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về Chân thành cám ơn
|