|
THIÊN CHÚA CŨNG ĐAU KHỔ (tiếp theo Maranatha_10) Huyền ViTình thương của Đức Giêsu dành cho người tội lỗi Tình yêu thương của Thiên Chúa qua Đức Giêsu được biểu lộ rõ rệt nhất nơi tình thương dành cho những người tội lỗi. Bởi Ngài đã từng bị cám dỗ như họ (Mt 4,1-11), và Ngài cũng phải chiến đấu mới thắng được, vì Ngài cũng chia sẻ thân phận yếu hèn như họ. Ngài chỉ khác họ ở chỗ Ngài không bao giờ thua cơn cám dỗ nhờ tình yêu rất mạnh ở nơi Ngài (x. Dt 4,15). Do đó, Ngài cảm thông sâu xa với họ. Vả lại, phân tích cho tới cùng thì kẻ tội lỗi cũng chỉ là những kẻ ngu muội về tâm linh, nên đã hành động ngược lại với hạnh phúc vĩnh cửu là quyền lợi đích thực và cao cả nhất của họ. Mà sự ngu muội đó nào có phải do họ muốn! Ai mà chẳng muốn mình khôn ngoan! Có ai lại cố tình hành động ngược với lợi ích và hạnh phúc của mình! Vì thế, những kẻ cần được nâng đỡ nhất, đáng thương nhất, chính là những kẻ ngu muội này chứ không phải những người khôn ngoan đạo đức kia. Do đó, Đức Kitô luôn lưu tâm và đặc biệt yêu thương những kẻ tội lỗi. Sứ mạng của Ngài là cứu vớt những người đó, họ cũng là con cái của Thiên Chúa. Lập trường của Ngài là: «Kẻ khỏe mạnh đâu cần đến thầy thuốc, chỉ người đau yếu mới cần» (Mt 9,12). Nếu thế giới này toàn là người công chính cả thì Ngài đến trần gian làm gì? Chính những kẻ tội lỗi mới cần Ngài giúp đỡ để thoát khỏi cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sắp giáng xuống. Chủ trương của Ngài rõ rệt: «Ta đến không phải để kêu gọi người công chính, mà là kêu gọi những người tội lỗi» (Mt 9,13). Lập trường của Ngài như thế khiến Ngài năng đến với những kẻ tội lỗi vốn bị mọi người khinh chê, giao du thân mật với họ. Không có hạng người tội lỗi nào mà Ngài tránh gặp: từ những cô gái điếm đến những người thu thuế, từ người Samaria đến người Rôma, cả những người què quặt, câm điếc, bệnh tật… Ngài giao du toàn là với những hạng người bị luật pháp Môsê coi là ô uế, không nên lại gần. Ngài đã bất chấp luật Môsê và tục lệ tiền nhân để gần gũi nâng đỡ họ. Ngài không sợ mất uy tín hay danh dự đối với quần chúng cũng như đối với giới lãnh đạo tôn giáo. Ngài không câu nệ gì cả, miễn sao cứu được họ. Đặt mình vào địa vị và thời của Ngài, ta mới thấy được sự hy sinh và lòng can đảm của Ngài đối với hạng tội lỗi lớn biết bao! Ngài làm bạn với họ, và họ coi Ngài như bạn. Đương nhiên Ngài hòa với họ mà không đồng với họ. Nhưng những người tự cho mình là thánh thiện như giới lãnh đạo tôn giáo không thể chấp nhận (x. Lc 8,39), coi Ngài như cùng một giuộc với họ: tội lỗi, tham ăn, say sưa (x. Mt 11,19). Nhờ tinh thần hòa đồng như thế, nhiều người tội lỗi tin Ngài và từ bỏ nếp sống cũ (x. Lc 7,36-50; 19,1-10). Quan điểm và cách sống của Ngài ngược hẳn lại với giới lãnh đạo tôn giáo, khiến Ngài và họ chống lại nhau. Ngài rất ghét thái độ hợm hĩnh của họ, cứ tự cho mình là công chính để rồi khinh chê kẻ khác. Ngài đã đảo ngược lại cách đánh giá thưòng tình của dân chúng qua chuyện người Biệt Phái và người thu thuế vào đền thờ cầu nguyện: người đạo đức mà lại kiêu ngạo, khinh chê kẻ khác thì trở thành tội lỗi trước mặt Thiên Chúa; còn kẻ tội lỗi biết khiêm nhường nhận lỗi và hối cải thì lại trở thành công chính (x. Lc 18,9-17). Sự đảo ngược giá trị như thế động chạm mạnh đến giới lãnh đạo tôn giáo, khiến họ căm ghét và tìm cách hãm hại Ngài. Tinh thần «tứ hải giai huynh đệ» của Đức Giêsu Tinh thần yêu thương rộng mở của Ngài cũng bị giới lãnh đạo tôn giáo chống đối. Đối với Ngài, tất cả mọi người đều là anh em «con cùng một Cha trên trời, Đấng làm mặt trời mọc lên soi sáng cho kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất lương» (Mt 5,45). Sự phân biệt bạn và thù, kẻ xấu và người tốt đối với Ngài không quan trọng lắm. Hễ ai là người thì ta phải yêu thương, cho dẫu là kẻ thù hay kẻ bách hại mình (x. Mt 5,44). Nhưng những người đồng thời với Ngài, nhất là những người trong đảng Nhiệt Thành (Zélotes), không thể chấp nhận điều đó. Làm sao người Rôma đang đặt ách thống trị và nô lệ trên họ lại là anh em với họ được? Làm sao dân ngoại thờ thần tượng và những người Do Thái thờ Giavê lại là anh em với nhau được? Làm sao người Samari không thờ Giavê trong cùng một đền thờ với họ lại có thể là anh em với họ được? – Không thể được, một chủ trương cho rằng mọi người đều là anh em phải yêu thương nhau không những không thể chấp nhận được mà còn có hại, vì nó làm tê liệt tinh thần chiến đấu, làm mất đi sự căm thù cần thiết phải có đối với kẻ thù để lật đổ ách thống trị của chúng. Kẻ nào tuyên bố mọi người là anh em, một cách nào đó, là phá hoại tổ quốc. Làm sao người Do Thái có thể nhận Ngài là Đấng Cứu Thế khi họ cho rằng Ngài chủ trương sai lầm như thế. Họ nghĩ Đấng Cứu Thế phải là một «đại bàng» sẵn sàng chiến đấu, làm sao họ chấp nhận được một Đấng Cứu Thế «bồ câu» như thế? – Còn Ngài, Ngài quyết phá đổ mọi bức tường ngăn cách con người với con người, để con người xích lại gần nhau, cộng tác với nhau, yêu thương nhau, coi nhau như anh em, không phân biệt tôn giáo, dân tộc ngôn ngữ, văn hóa… Ngài mong muốn mọi người hiệp nhất với nhau: «Ước gì họ nên một» (Ga 17,21). Nước Thiên Chúa chỉ có thể thực hiện khi không còn thứ biên giới nào ngăn cách con người với nhau nữa. Sứ mạng canh tân tôn giáo của Đức Giêsu Đức Giêsu còn gặp rất nhiều khó khăn, đau khổ, bị nhiều người ngộ nhận và chống đối vì Ngài có sứ mạng canh tân tôn giáo, đem lại cho tôn giáo một tinh thần mới, làm một cuộc cách mạng tôn giáo, hay nói đúng hơn là lập một tôn giáo mới. Nhưng thường tình thì cái cũ khó chấp nhận cái mới, đồng thời cái mới đòi hỏi thay đổi cái cũ. Do Thái giáo là một tôn giáo chân thật được chính Thiên Chúa thiết lập qua các tổ phụ, Môsê và các tiên tri với tất cả vẻ huy hoàng rực rỡ của nó. Nhưng cũng như tất cả mọi sự vật hữu hạn khác bị chi phối bởi luật «thành, trụ, hoại, không», Do Thái giáo cũng bị già cỗi, mất phẩm chất, cần phải được canh tân, cải tổ, và thay đổi. Vả lại, khi con người còn sơ khai về mặt tâm linh cũng như mặt nhận thức, Thiên Chúa mặc khải và huấn luyện con người theo một cách thức phù hợp với trình độ của họ. Nhưng khi con người đã tiến bộ về mặt tâm linh và nhận thức, cách thức cũ không thể phù hợp với con người mới được. Con người phải «lên lớp», phải được mặc khải và huấn luyện cách khác cao hơn. Con người không thể dậm chân tại chổ trong một trình độ mãi được. Do đó, phải có một cuộc cách mạng về giáo lý, luân lý… Phải có những mặc khải mới về Thiên Chúa: Thiên Chúa không phải chỉ là một vị thần đáng sợ đầy quyền năng, mà còn là một người Cha đầy yêu thương, một người bạn chân tình nữa. Còn tôn giáo cũ, trước hết, là một tôn giáo đầy luật lệ, đặt rất nặng luật pháp. Mục đích của luật pháp là thuần hóa con người, tập cho con người đi đến chỗ yêu thương Thiên Chúa và đồng loại bằng những qui định cụ thể, với những điều phải làm và không được phép làm. Vì con người chưa đủ trình độ tâm linh và trí tuệ để có thể tự động sống phù hợp với tinh thần yêu thương ấy, nên cần phải đưa ra những qui định cụ thể cho từng tình huống của đời sống, đồng thời phải có sự thưởng phạt rõ ràng để giúp họ giữ luật lệ nghiêm chỉnh… Suốt bao nhiêu thế hệ, các tiên tri được Thiên Chúa sai đến để giúp con người càng ngày càng có tinh thần yêu thương hơn khi tuân giữ luật pháp, đồng thời răn đe và sửa phạt những vi phạm luật lệ. Đả phá tinh thần vị luật trong tôn giáo Nhưng vẫn có sự khác biệt rõ rệt giữa việc giữ đúng luật lệ và việc yêu thương. Không phải cứ giữ đúng luật lệ thì đã là yêu thương. Người ta có thể giữ đúng luật cách nghiêm nhặt mà tâm hồn họ vẫn chẳng có tình yêu. Do đó, thời gian nhấn mạnh đến việc tuân hành luật pháp phải qua đi, vì xét về mặt giữ luật, người Do Thái thời Đức Giêsu đã đạt tới mức độ tương đối rất cao. Họ giữ luật một cách chi li, và đồng hóa việc giữ luật lệ với sự công chính. Qua Thánh Kinh, Giavê đã khuyên dân Ngài tôn trọng luật pháp: Ai yêu mến, kính sợ Thiên Chúa thì phải tuân hành luật pháp của Ngài, và Ngài sẽ ân thưởng người ấy (x. Xh 15,26; 20,6; 6,2). Tuy nhiên người ta vẫn có thể giữ luật một cách hoàn hảo chỉ vì lợi ích thiêng liêng của họ, vì mong được ân thưởng, được mọi người khen ngợi, ca tụng họ là công chính, chứ không hề có tình thương trong lòng. Do đó, tôn giáo chỉ còn là luật pháp, qui tắc, thói quen, tập tục, nên đã trở thành trống rỗng, chỉ có cái vỏ bên ngoài trông rất đẹp. Vì thế, đạo Do Thái một phần nào đã trở thành một tôn giáo phi tôn giáo, phản tôn giáo. Để canh tân Do Thái giáo, cần phải đả phá tính duy lề luật, thiếu tình thương của nó. Lề luật giúp con người thực hiện sự công bằng và yêu thương nhưng nó có những giới hạn của nó. Trong đời sống, có nhiều tình huống nếu cứ áp dụng theo đúng luật thì sẽ đi ngược lại tình yêu thương là linh hồn và mục đích của lề luật. Đó là những kẽ hở của lề luật. Đức Giêsu đã lợi dụng ngay những kẽ hở đó để cho những kẻ giữ luật vì lề luật chứ không phải vì tình thương một bài học. Ngài cố tình lỗi luật trong những tình huống đó để làm nổi bật sự quan trọng của tình thương trong việc giữ luật, đồng thời cho thấy yêu thương chính là mục đích của lề luật. Khi nào việc giữ luật đi ngược lại với mục đích của nó là tình thương, thì việc giữ luật lúc đó trở thành «lỗi luật». Còn việc lỗi luật mà lại phù hợp với mục đích của lề luật là tình thương thì trở thành «đúng luật». Lúc đó phải hy sinh lề luật cho tình thương. Đức Giêsu đã cố tình vi phạm luật nghỉ ngày sabát – một khoản luật mà người Do Thái đặt rất nặng – với mục đích trên: để các môn đệ bứt lúa ăn (x. Mt 12,1-8), chữa người bại tay (x.12,9-14), chữa người đau ốm ở hồ Bếtđatha (x. Ga 5,1-18), chữa người mù từ thuở mới sinh (Ga 9,1-34). Và còn nhiều loại vi phạm khác. Nhưng người Do Thái chưa hiểu được sự đúng đắn và hợp lý của Ngài. Theo truyền thống, họ bám vào luật pháp, coi đó như cốt lõi của công chính và thánh thiện. Yêu thương chưa có một chỗ đứng vững chắc và quan trọng trong quan niệm của họ. Vì thế, làm sao họ chấp nhận được quan niệm đặt nặng yêu thương hơn cả lề luật, coi lề luật chỉ là một phương tiện thể hiện tình yêu thương? Đang khi trong tư tưởng của Đức Giêsu, Ngài cho rằng toàn bộ lề luật đứa con tóm gọn trong hai điều căn bản: yêu Chúa hết lòng và yêu người như chính mình (x. Đnl 6,5; Lv 19,18; Mt 22,37-40). Đó là cốt tủy của lề luật, không có cốt tủy ấy thì việc giữ luật trở thành vô giá trị trước Thiên Chúa, vì Thiên Chúa chỉ «muốn tình yêu chứ không muốn lễ vật» (Hs 6,6): chỉ có tình yêu mới có giá trị. Vì nếu đã có tình yêu thì chẳng cần phải có lề luật nào cả, vì tự bản chất lề luật đâu phải để dành cho những người có tình yêu, mà chỉ dành cho những ai không có tình yêu (x. l Tm 1,9-10). Đối với Đức Giêsu, hai giới răn yêu thương ấy chỉ là một, vì người ta không thể yêu mến Thiên Chúa đích thực khi họ không yêu thương tha nhân, và cũng không thể yêu mến tha nhân đích thực khi không yêu mến Thiên Chúa. Vì thế, Ngài tóm gọn hai giới răn đó thành một, và gọi giới răn duy nhất đó là «điều răn mới» của Ngài: «Ta cho các con một điều răn mới là hãy yêu thương nhau», không phải chỉ «như chính mình» mà «như Ta yêu thương các con» (Ga 13,34). Giới răn yêu Thiên Chúa đã bao hàm trong giới răn yêu tha nhân, vì ai yêu tha nhân như Đức Kitô yêu thương họ, thì người ấy đã yêu Thiên Chúa đúng nghĩa rồi. Về sau, Thánh Phaolô xác nhận điều đó: «Tất cả Lề Luật được nên trọn trong điều răn duy nhất này là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình» (Gl 5,14), và «Ai yêu tha nhân là đã thi hành trọn vẹn lề luật» (Rm 13,8.10). Như vậy, khi tiến đến được lên một trình độ tâm linh cao hơn, lề luật mất hẳn sự quan trọng của nó, và thay vào đó là tình yêu thương. Bộ luật Torah là cốt tủy cho Do Thái giáo gồm hàng mấy trăm điều bỗng mất đi địa vị tối thượng của nó, điều đó làm sao các Rabbi Do Thái có thể chấp nhận được? Do đó, họ chống lại Ngài, cho Ngài là kẻ phá hoại tôn giáo cần phải loại trừ như một kẻ nguy hiểm (x. Mt 11,48-50). Họ phản đối và chống lại Ngài như thế là diều dễ hiểu, vì chủ trương của Ngài vượt khỏi tầm nhận thức và hiểu biết của họ quá xa, và những nhận thức cũ của họ đã cản trở họ có được những nhận thức mới. Cứ xem trong Kitô giáo thì hiểu được Do Thái giáo thời xưa: ngày nay, nếu có ai tư tưởng khác với truyền thống, hay ngược lại truyền thống thì chúng ta sẵn sàng kết án họ là rối đạo mà không cần phải suy xét gì cho sâu xa, và có thể đi đến tẩy chay họ nữa! Đức Giêsu là tiên tri lớn nhất trong tất cả các tiên tri từ trước đến nay. Chính vì sứ mạng tiên tri đó mà Ngài phải đau khổ và cô độc giữa một xã hội không nhận ra chân lý của Thiên Chúa, để rồi bị chính đồng đạo của mình ám hại và giết chết. Số phận của tất cả các tiên tri đích thật do Thiên Chúa sai đến đều giống nhau: bị ngược đãi và bị giết (Mt 23,30-31; 5,12). Cũng như và còn hơn các tiên tri khác, Ngài chính là «tôi trung đau khổ của Thiên Chúa» được Isaia diễn tả (Is 52,13-53,12): bị khinh bỉ, chán ghét, bệnh hoạn, bị roi vọt, thương tích, bị hiếp đáp, xử đoán bất công, bị kể vào hàng tội lỗi, bị tưởng rằng Thiên Chúa trừng phạt… nhưng tại sao Ngài lại bị đau khổ và bạc đãi? Dân Do Thái đã chẳng khao khát trông mong Ngài đến hàng ngàn năm trước sao? Tại sao chính những kẻ trông mong Ngài đến lại bạc đãi và giết chết Ngài?
|