|
|
Số 12, Ngày 24-7-2004
Thiên Chúa Cũng Đau Khổ - Huyền Vi Phương Pháp Cầu Nguyện Sẽ Thay Đổi Đời Bạn - Quang Thạch & Hoàng Quý Thử Tìm Một Hướng Đi Cho Linh Đạo Giáo Dân Thời Hiện Đại - Khổng Nhuận Con Chúng Tôi Dạy Chúng Tôi Cầu Nguyện - Maranatha sưu tầm Nghệ Thuật Làm Cha Mẹ - Nguyễn Chính Kết
Kính thưa Quý độc giả, Maranatha số 12 lại được đến với Quý Vị trong tâm tình của Chúa nhật thường niên 18 quanh năm. Nói đến mùa thường niên, đây là những Chúa nhật không có những lễ hội đặc biệt, những dịp kính mừng quan trọng. Điều này nhắc nhở chúng ta đến cuộc sống được coi là bình thường của người tín hữu. Một cuộc đời của những công việc lo cho miếng cơm manh áo, trong gia đình nhỏ bé hoặc mở rộng ra một chút là giáo xứ, họ đạo của địa phương nơi mình sinh sống. Các bài đọc trong Chúa nhật tuần này, chúng ta tìm thấy một cuộc đời bình thường nhưng thật sự không tầm thường chút nào. Mong rằng hình ảnh một người tín hữu chủ gia đình Abraham sẽ luôn là cảm hứng cho đời sống lao động và cầu nguyện của tất cả chúng ta: một thụ tạo nhưng lại rất gần gũi với Thiên Chúa, thưa chuyện, thậm chí mặc cả với Ngài để giúp cho những người lành cũng như những người dữ! Đời sống cầu nguyện của Abraham cho chúng ta thấy được sự liên kết mật thiết của ông với Thiên Chúa đến một mức độ cao sâu đến thế nào. Tin Mừng theo thánh Luca nêu ra hai câu chuyện dụ ngôn của Chúa Giêsu dùng để nói về Cầu Nguyện: quan hệ giữa tình cha con và của bạn bè. Tính kiên trì trong cầu nguyện là điều quan trọng mà Chúa Giêsu muốn nhắc chúng ta. Hơn nữa, trong dụ ngôn thứ hai, việc cầu xin với Chúa là Cha phải trở nên như những thân thương trong gia đình, nơi đó, điều quan trọng nhất là người Cha sẵn sàng cho con mình điều tốt đẹp nhất: Thánh Linh, mà con cái đôi khi vì không hiểu biết được đầy đủ, chỉ xin những chuyện riêng theo ý mình. Trong tâm tình Cầu Nguyện của phụng vụ tuần này, ngoài những mục thường lệ hay tiếp theo, Maranatha tuần này xin cống hiến quý vị những bài theo chủ đề cầu nguyện. Giờ Phép Lạ là một phương cách giúp cầu nguyện rất hiệu quả, đã giúp rất nhiều giáo dân cũng như tu sĩ, linh mục không những trong cầu nguyện mà còn trong đời sống thường ngày. Con Chúng Tôi Dạy Chúng Tôi Cầu Nguyện cũng là một hình ảnh đặc biệt qua đó, nhìn vào đời sống gia đình, chúng ta có thể cảm nghiệm phần nào tình thân của người Cha trên trời dành cho người con chỉ biết cầu nguyện bặp bẹ. Chúa nhật 25 tháng 7 này, một số quốc gia trên thế giới chọn là ngày của Cha Mẹ, bài Nghệ Thuật Làm Cha Mẹ vì thế rất phù hợp và cũng là tiếp nối những loạt bài về chủ đề Hôn Nhân Gia Đình, đưa ra những gợi ý rất cụ thể, nhưng đồng thời cũng nhắc lại tầm quan trọng của cầu nguyện. Tiếp nối loạt bài về Linh Đạo Giáo Dân, chúng tôi xin được giới thiệu bài nhận định về nhân vật A-ki trong việc tìm hiểu sống đạo và gợi ý Thử Tìm Một Hướng Đi Cho Linh Đạo Giáo Dân Thời Hiện Đại. Maranatha ước mong có thêm sự đóng góp chia sẻ về vấn đề này qua những kinh nghiệm cụ thể của đời sống giáo dân từ nơi các bạn đọc. Trong tuần, ngày 26 cũng là lễ thân phụ mẫu của Đức Mẹ: thánh Gioa-kim và A-na, ngày 29 mừng thánh Mat-ta, người được phúc âm Gio-an kể là người Chúa yêu cùng với các em của bà. Ngày cuối tháng, 31, chúng ta lại mừng thánh I-nha-xi-ô, người đã đề ra một linh đạo mà bao thế hệ sau đó vẫn nhờ vào để tìm hiểu và sống tình thân với Chúa. Thế nên, nếu chỉ là một tuần lễ thường niên bình thường, chúng ta vẫn được bao bọc bởi tình thương của Cha trên trời trong quan hệ gia đình ngọt ngào yêu dấu, và với các thánh, tuy chỉ là người thường như chúng ta nhưng đã rất không bình thường trong tình yêu mến Chúa. Nguyện chúc Quý độc giả một tuần lễ bình thường nhưng sẽ lớn lên rất nhiều trong tình yêu mến Cha trên trời, và sống cuộc sống chứng nhân theo Đức Giê-su Ki-tô để được mỗi ngày thêm gần Người. MARANATHA HỌC ĐẠO (tiếp theo Maranatha_11) Huyền ViNỗi đau khổ của các ngôn sứ Ngôn sứ là những người được Thiên Chúa chọn để thay Ngài nói với trần gian. Chính Thiên Chúa dùng miệng các ngôn sứ để nói với con người. Họ là những người có những kinh nghiệm hay cảm nghiệm trực tiếp về Thiên Chúa. Họ nhận những sứ điệp của Thiên Chúa qua nhiều cách: bằng thị kiến (Is 6, Ed 1.2.8, Đn 8-12) đặc biệt là những thị kiến ban đêm (Ds 12,6; Đn 7), hay bằng tiếng nói từ trong tâm trí, nhưng thường là bằng sự linh ứng thần linh ở bên trong. Họ nhận những sứ điệp đó không qua sách vở hay Kinh Thánh, không qua lời giảng dạy của người khác, cũng không do suy niệm cá nhân. Do đó, những điều họ nói ra thường là những điều mới mẻ, là những quan niệm thường chỉ phù hợp với tương lai, có thể chưa từng có sách vở nào viết ra. Có như thế họ mới đúng là «tiên tri» đích thực, vì «tiên tri» nghĩa là biết trước, thấy trước. Là «tiên tri» mà chỉ nói những điều ai cũng biết thì đâu còn là «tiên tri» nữa! Lời họ nói ra với dân là lời của Thiên Chúa: «Ta đặt lời Ta trong miệng con» (Gr 1,9), đến nỗi sau khi họ nói, họ có thể bắt đầu hay kết thúc bằng công thức: «Đây/đó là lời của Đức Chúa» (x. Is 45,18; Dc 4,14), «Hãy nghe lời của Đức Chúa» (Gs 3,9; 2V 7,1; 2V 20,16; Is 28,14) «Đức Chúa các đạo binh phán thế này/như thế» (x.1Sm 15,2; 1Sb 17,7; Is 45,13; Gr 6,6; Kg 1,2)… Thật khác hẳn với lời của các giáo sĩ trong Do Thái giáo cũng như trong Kitô giáo. Các ngôn sứ được Thiên Chúa chọn đích danh, thường không thuộc phẩm trật tư tế, lêvi, hay trong giới lãnh đạo tôn giáo hoặc giáo sĩ, trước cũng như sau khi được chọn. Cho dẫu có thuộc dòng dõi tư tế như Giêrêmia hay Gioan Tẩy giả, họ cũng có thể không làm tư tế. Tuy nhiên cũng có những ngôn sứ đồng thời là tư tế như Êdêkien… Vì thế, có thể nói họ nói năng tương đối độc lập với giáo huấn của giáo sĩ; họ được kêu gọi và nhận sứ điệp của Thiên Chúa không qua hệ thống của giới lãnh đạo tôn giáo. Nếu nói theo ngôn ngữ thời đại thì họ thường thuộc giới «giáo dân» hơn là «tu sĩ» hay «giáo sĩ». Đức Kitô cũng như các tông đồ cũng đều như vậy. Chính vì thế, người đương thời nhiều khi không biết họ là các ngôn sứ được Thiên Chúa sai đến. Thông thường, chỉ khi họ chết đi – thường là bị giết vì nói ngược lại với quan niệm hoặc lòng mong ước của dân chúng – và một thời gian sau người ta mới nhận ra họ là các ngôn sứ của Thiên Chúa, vì thấy những lời họ tiên báo đều ứng nghiệm, và những giáo huấn của họ hoàn toàn phù hợp với giáo huấn của Kinh Thánh (x. Gr 28,9; Đnl 18,22; Gr 23,2; Đnl 13,2-6). Lúc đó thì đã quá muộn, họ đã bị các vua chúa, hoặc giới lãnh đạo tôn giáo và dân chúng hùa theo giết chết. Số phận các ngôn sứ là như thế. Gọi họ là «tiên tri» (nghĩa là biết trước) thì thật là đúng. Vì họ là những người nhận được từ Thiên Chúa những quan niệm mới, tiến bộ, đúng đắn và phù hợp với tương lai hơn quan niệm của người đương thời. Họ là những người khám phá và đưa ra những giá trị mới, những giá trị mà người đương thời ít ai nhận ra là giá trị. (Đương nhiên không phải ai có đặc tính biết trước, thấy trước, đưa ra những quan niệm mới đúng đắn, phù hợp với thời đại cũng đều là tiên tri, nhưng đã là tiên tri thì phải có đặc tính ấy). Đang khi giới lãnh đạo tôn giáo là những người chủ trương bảo vệ những giá trị đã tìm được, những giá trị mà ai cũng nhận là giá trị. Vì thế họ thường được dân chúng tôn trọng và ưu đãi. Nhờ đó họ có nhiều uy tín và thế lực. Khi các ngôn sứ đưa ra những quan niệm mới, những giá trị mới để hướng dẫn con người đi vào con đường mới của Thánh Thần, Đấng luôn luôn «đổi mới mặt địa cầu» (Tv 104,30; x. Kn 7,27; Ep 4,23; Kh 21,5), thì giới lãnh đạo tôn giáo chưa nhận ra được đó là những giá trị mới, những định thức mới của chân lý và cũng là ý của Thiên Chúa. Họ chỉ thấy những quan niệm mới, những giá trị mới ấy đi ngược lại với những quan niệm cũ mà họ coi là chân lý, với những giá trị cũ mà họ cho là vĩnh cửu. Thế là họ kết án các ngôn sứ là những kẻ phá hoại, như trường hợp của Đức Giêsu mà chúng ta đã thấy ở trên. Và sẵn quyền bính trong tay, họ kết án và giết chết các ngôn sứ một cách vô tội vạ, «tưởng rằng làm như thế là phụng thờ Thiên Chúa» (Ga 16,2). Khi những quan niệm mới của các ngôn sứ đã được thế hệ sau nhận ra là chân lý, thì những quan niệm mới lúc ấy đã trở thành cũ, và được giới lãnh đạo tôn giáo các thế hệ sau bảo vệ. Nhưng chính giới lãnh đạo tôn giáo này sẽ lại giết các ngôn sứ đồng thời với mình nhân danh những giá trị họ đang bảo vệ. Cứ như thế hết thế hệ ngôn sứ này đến thế hệ ngôn sứ khác, không có ngôn sứ đích thực nào mà không bị bách hại, bạc đãi, thậm chí bị giết chết (x. Mt 5,12b; 23,30). Chính Đức Giêsu đã nói lên số phận bi đát đó của các ngôn sứ từ thế hệ này sang thế hệ khác, được lập đi lập lại như một định luật của lịch sử Do Thái giáo: «Khốn cho các ngươi, hỡi các kinh sư và người Pharisêu giả hình! các người xây mồ cho các ngôn sứ và tô mả cho những người công chính. Các người nói, “nếu như chúng ta sống vào thời của tổ tiên, hẳn chúng ta đã không thông đồng với các ngài mà đổ máu các ngôn sứ”. Như vậy các người tự làm chứng rằng các người đúng là con cháu của những kẻ đã giết các ngôn sứ. Chính các người đổ thêm cho đầy đấu tội của tổ tiên các người đấy!» (Mt 23,29-32). Thế hệ này thì tôn vinh các ngôn sứ của các thế hệ trước nhưng lại vùi dập và loại trừ các ngôn sứ của chính thế hệ mình! Liệu những người đang tôn thờ Đức Giêsu, đang căm thù giới lãnh đạo tôn giáo Do Thái đã bạc đãi giết chết Ngài, có đi vào vết xe cũ của người xưa không? Liệu những ngôn sứ của thời đại mới, của Kitô giáo có được may mắn hơn các ngôn sứ thời đại cũ chăng? Lời tiên báo của Đức Kitô chắc hẳn khó mà sai được: «Tôi tớ không lớn hơn chủ nhà. Nếu họ đã bắt bớ thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em» (Ga 15,20), «Họ sẽ khai trừ anh em ra khỏi hội đường. Hơn nữa, sẽ đến giờ kẻ nào giết anh em cũng tưởng đó là phụng thờ Thiên Chúa. Họ sẽ làm như thế vì họ không biết Chúa Cha cũng chẳng biết Thầy» (16,2-3). Liệu giới lãnh đạo tôn giáo ngày nay có sáng suốt hơn giới lãnh đạo tôn giáo ngày xưa chăng? Có rút ra được bài học nào từ lịch sử chăng? Nỗi đau khổ và số phận ngôn sứ của Đức Giêsu Cũng như tất cả mọi ngôn sứ đích thực của Thiên Chúa, Đức Giêsu cũng phải nói lên những sai sót, những lầm lỗi của dân chúng cũng như của mọi giới, dù là vua chúa hay giới lãnh đạo tôn giáo. Đối với dân chúng hay đối với những người tội lỗi, Ngài tỏ ra rất khoan dung, dịu dàng, vì họ thường có một thái độ khiêm nhượng, cảm thông, vả lại họ thường dốt nát, ít học. Nhưng đối với giới lãnh đạo tôn giáo, với những người Pharisêu, các rabbi Do Thái, Ngài tỏ ra rất cứng rắn trước thái độ kiêu căng, giả hình, vị lợi, ích kỷ, thiếu tình thương và vị luật của họ. Ngài không phải là một «con chiên ngoan đạo» lúc nào cũng thấy những người lãnh đạo của mình là đúng, là gương mẫu, mà Ngài là một ngôn sứ, lúc nào cũng thấu suốt lòng dạ của họ và thấy được những sai lầm của họ. Đương nhiên Ngài phải lên tiếng. Đọc Tin Mừng Mátthêu, chương 23, ta thấy Ngài nói «cạn tàu ráo máng» với họ. Khó có thể tìm thấy những lời lẽ thậm tệ hơn của Ngài với những giới khác trong dân. Giới này là giới khó lãnh hội chân lý nhất, mặc dù họ hiểu biết nhất, họ thông thạo Kinh Thánh và luật pháp nhất. Họ cũng là giới gây khó khăn cho công việc rao giảng Tin Mừng của Ngài nhất. Chính giới này đã âm mưu lên án và giết Ngài trên Thập Giá. Và đám «con chiên ngoan đạo» của họ đã hùa theo họ. Trước hết, Ngài tố cáo họ và gọi họ là những kẻ giả hình, bề ngoài thì rất nhân nghĩa, đạo hạnh, nhưng trong tâm hồn thì đầy xấu xa, đê tiện, bỉ ổi, với những tư tưởng ghen ghét, hại người. Họ «giống như những mồ mả tô vôi, bên ngoài thì đẹp lắm, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế» (Mt 23,27). Ngài tố cáo họ là những người nói thì thật hay nhưng không chịu thực hành điều mình nói (c.3). Họ hùng hồn khuyên người khác hãy hy sinh cho nhau, hy sinh cho tôn giáo, cho đại cuộc, nhưng chính họ lại «không buồn động ngón tay vào» (c.4) Tuy vậy, họ lại thích được ca tụng, tôn trọng, thích mặc những loại áo khác hẳn người thường để ai cũng có thể phân biệt họ với những người khác mà kính trọng ưu đãi họ (c.5-6). Họ thích được gọi bằng «thầy», bằng «rabbi» (c.7). Họ khéo lợi dụng lòng tin, lòng sùng đạo và nhẹ dạ của những «con chiên ngoan đạo» để «nuốt hết tài sản» của họ (c.14). Họ thích những hành vi tỏ ra mình là người đạo đức thánh thiện như rửa tay, lau sạch chén đĩa… (c.25). Nhưng những điều ấy không quan trọng bằng sự kiện họ là «những người dẫn đường mù quáng» (c.24), là «những người mù dẫn dắt người mù» (Mt 15,14), khiến những người nghe họ rao giảng cũng bị sai lạc đường nẻo của Chúa. Họ không phải là những người bận tâm hay khắc khoải về chân lý, nên tư tưởng của họ dễ bị lệch lạc, nhưng họ lại có nhiệm vụ chỉ dạy cho người khác. Họ đã đảo lộn những bậc thang giá trị hợp lý: lấy cái chính làm phụ, lấy phụ làm chính, cái quan trọng thì đặt nhẹ, cái chẳng là gì thì đặt nặng, cái quan trọng nhất trong lề luật là chân lý, công lý và tình thương thì chẳng lưu tâm mà cứ để ý tới những chuyện bì phu như «nộp thuế thập phân về bạc hà, thì là, rau húng» (c.23). Họ dạy: «Ai chỉ vàng trong đền thờ mà thề thì bị ràng buộc, còn chỉ chính đền thờ thề thì không sao» (c.16), đang khi chính đền thờ mới làm cho vàng trở nên giá trị (c.17)… Nhìn thấy Đạo Thánh mà Cha Ngài đã lập nên đang bị méo mó bởi những giảng dạy sai lệch như thế, làm sao Ngài tránh khỏi chua xót? Trong Dân Ngài, có biết bao nhiêu chuyện trái tai gai mắt, nhất là nơi những người lãnh đạo là những người có trách nhiệm cao nhất. Quan niệm của Ngài và của họ, cuộc sống sống của Ngài và của họ, đường lối của Ngài và của họ luôn luôn đối nghịch nhau. Chắc chắn Ngài cũng bị cám dỗ để mặc họ như vậy cho yên thân mình. Nhưng nếu như vậy thì Ngài đến trần gian để làm gì? Nếu Ngài không sửa đổi họ thì còn ai sửa đổi nữa? Các ngôn sứ trước đây người nào mà chẳng muốn sống an thân, có người nào muốn động chạm đến những kẻ có quyền để phải chết oan ức đâu? Ngôn sứ Giona đã cố tình trốn không muốn nói lên tội ác của thành Ninivê, mà nào có trốn được (x. Gn 1,1-15)? Đã được Thiên Chúa kêu gọi thì chỉ có nước làm theo ý của Ngài, huống gì Đức Giêsu chính là Con của Ngài! Vì thế, Ngài phải dấn thân, phải chiến đấu, phải nói cho những người lãnh đạo Dân Chúa biết những tội lỗi và sai trái của họ, nếu không thì hóa ra Ngài là kẻ đào nhiệm! Thế là Ngài và giới lãnh đạo tôn giáo chống đối nhau kịch liệt, để cuối cùng Ngài bị họ giết chết trên Thập Giá. Thế là từ lúc sinh ra đến cuối cuộc đời, Ngài luôn luôn bị dân Ngài hất hủi, tẩy chay, cho dù Ngài chính là hiện thân của Giavê Thiên Chúa, Đấng mà họ tôn thờ, cho dù Ngài yêu thương dân Ngài hết tình. Đó chính là nỗi khổ tâm của Ngài mà chúng ta có thể hiểu và thấy được. Nỗi khổ tâm của Đức Giêsu chính là những nét phác họa giúp ta hiểu được nỗi khổ tâm vô biên của Thiên Chúa trước sự sa đọa và đau khổ của con người. Tìm hiểu ý nghĩa sự đau khổ của Đức Giêsu ta sẽ hiểu được nỗi đau khổ của Thiên Chúa để nhờ đó nhận ra tình yêu vô biên của Ngài. Nỗi đau khổ của Đức Giêsu đã được cô đọng lại và diễn tả rõ nét nhất trong hai lần hấp hối của Ngài, lần thứ nhất tại vườn Giệtsê, và lần thứ hai trên thánh giá.
CẦU NGUYỆN Phương Pháp Cầu Nguyện Sẽ Thay Đổi Đời Bạn Linda Schubert
|
|
Lời cầu nguyện của con Lạy Cha chúng con ở trên trời Chúng con nguyện danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến, Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời Xin cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày và tha lỗi chúng con như chúng con cũng tha kẻ có lỗi với chúng con. Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ Nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ
Amen,
|
Lời nhắn nhủ của Cha Này con của Cha ở dưới đất Cha mong sao Danh Cha cả sáng trong con Nước Cha trị đến trong con Ý Cha thể hiện trong con. Cha luôn ban cho con lương thực hằng ngày và tha thứ những lỗi lầm của con, để con biết tha thứ cho anh em mình. Cha luôn canh phòng con trước chước cám dỗ và luôn cứu con khỏi mọi sự dữ. Vì Cha là Cha của con, và con là con của Cha! Con có biết không? |

HÔN NHÂN GIA ĐÌNH
Chúng ta thường được giáo dục để trở nên những đứa con tốt trong gia đình, nhưng rất ít khi chúng ta được giáo dục để trở nên những cha mẹ tốt. Ở trường học, chúng ta học rất nhiều môn, nhưng không môn nào dạy ta nghệ thuật làm cha mẹ, là nghệ thuật mà ta phải áp dụng suốt cả cuộc đời kể từ khi có con, đồng thời cũng là một nghệ thuật hết sức quan trọng cho hạnh phúc của ta cũng như cho tương lai con cái ta. Vì thế, đa số nhân loại khi lên làm cha mẹ đã không biết phải đóng vai trò đó thế nào cho sáng suốt. Thường thì chỉ khi đã làm cha mẹ chúng ta mới bắt đầu học nghệ thuật ấy, học theo kiểu «nghề dạy nghề», tự học, học cách mò mẫm, phải tự suy nghĩ để tìm ra phương pháp. Cũng có những sách nói về nghệ thuật này, nhưng không nhiều.
Trong ý hướng giúp các bậc cha mẹ nắm vững hơn nghệ thuật này, chúng tôi xin đưa ra một số suy tư hay ý kiến góp phần xây dựng. Sau đây là 10 đề nghị, hay nói khác đi là 10 điều tâm niệm của các bậc cha mẹ.
1. Đã là người đương nhiên bất toàn
Ngoài Thiên Chúa ra, không có ai hoàn hảo cả. Vì thế, ta đừng đòi hỏi con cái ta phải hoàn hảo, phải làm ta hài lòng. Chính ta, trong quá khứ cũng như hiện tại, ta có hoàn toàn làm hài lòng cha mẹ ta đâu! Chính ta cũng bất toàn. Tuy nhiên, vì tính cách sư phạm, ta có thể tỏ ra đòi hỏi con cái chút ít để chúng cố gắng hơn. Cùng là thân phận con người yếu đuối như nhau, ta nên thông cảm với những tật xấu, những khuyết điểm của con cái. Ta phải tập biết hài lòng về những cố gắng của con cái mình, về mức độ tốt đẹp mà chúng đã từng nỗ lực để đạt được.
2. Đừng kỳ vọng về con cái quá mức
Ai cũng có giới hạn của mình, dù có cố gắng lắm cũng khó vượt qua giới hạn ấy. Điều quan trọng là biết được đâu là giới hạn của con cái mình để tôn trọng giới hạn đó, để đặt ra mục tiêu thích hợp bắt chúng đạt tới. Thông thường, khi có con, ai cũng kỳ vọng con mình phải thành người thế này thế kia. Ta mong con ta hơn ta, và sẵn sàng hy sinh tất cả để con ta đạt được những gì ta kỳ vọng nơi chúng. Nhưng trong hầu hết các trường hợp, những kỳ vọng đó vượt quá khả năng thực hiện của chúng. Có thể chúng không có nhiều tài năng và nghị lực bẩm sinh như ta, có thể chúng có khuynh hướng khác với ta. Ta không nên lấy mình làm khuôn mẫu để ép con cái phải như mình. Đặt lý tưởng quá cao cho con cái dễ làm cho chúng có mặc cảm tự ty và buồn phiền nếu chúng không thể đạt tới được, đồng thời dễ làm ta thất vọng và chán nản về chúng.
3. Chấp nhận, cầu nguyện cho con cái mình
Chấp nhận con cái không có nghĩa là không bắt chúng nỗ lực để nên tốt đẹp hơn, mà là chấp nhận mức độ chúng đạt được sau khi ta đã nỗ lực tạo đủ mọi điều kiện để chúng tốt đẹp hơn và chính chúng cũng đã cố gắng. Đừng ép con cái mình phải giống hay bắt chước một trẻ em khác: trên đời này không thể có hai đứa trẻ giống nhau. Để chấp nhận trẻ, ta phải biết đặt mình vào địa vị của trẻ và nhìn theo quan điểm của chúng. Đừng bắt chúng nhìn theo quan điểm của ta. Tích cực hơn, ta nên cầu nguyện cho chúng, xin Thiên Chúa ban thêm sức mạnh để chúng có khả năng cố gắng nhiều hơn nữa. Chỉ có Thiên Chúa mới có khả năng biến đổi tâm hồn chúng.
4. Dành thì giờ để đối thoại với con cái
Nên bỏ ra mỗi ngày ít nhất 15 hay 30 phút để tiếp xúc với con cái, để nói chuyện, tìm hiểu chúng, trao đổi tư tưởng, cảm nghĩ và tâm tình với chúng. Giờ rất thuận tiện là các bữa ăn. Phải lắng nghe chúng nói, khuyến khích chúng bày tỏ những điều chúng nghĩ trong đầu, chứ không phải chỉ biết bắt chúng nghe mình thôi. Đồng thời phải biết phản ứng kịp thời và thích hợp với những gì chúng biểu lộ: vui, buồn, ngạc nhiên, sửa sai, bất đồng, tán thành, khuyến khích… Phải luôn luôn nắm được tư tưởng và ý muốn của chúng. Phải tập trò chuyện với chúng như với bạn bè, nhất là khi chúng đã lớn, khoảng 10 tuổi trở lên. Đừng để chúng hư lúc nào ta không biết.
5. Cố gắng tạo quan hệ tình cảm với con cái
Con cái ta rất cần được yêu thương, khuyến khích, hỗ trợ để chúng có thể phát triển. Do đó, ta phải làm sao để chúng cảm nhận được tình thương của ta. Cần phải biểu lộ tình thương của ta ra bên ngoài, qua ánh mắt, qua những cử chỉ âu yếm, những lời nói ngọt ngào, những hy sinh cụ thể và thường xuyên của ta. Càng nhỏ, chúng càng nhạy cảm với tình thương của ta. Chúng cần tình thương để lớn lên và phát triển cũng như cần cơm bánh. Đừng dấu tình thương trong lòng mà phải biểu lộ ra ngoài. Đừng chỉ yêu thương bằng khối óc dù rất cần thiết, mà còn phải yêu thương bằng con tim nữa.
6. Phải làm sao cho con cái tin tưởng nơi ta
Trẻ cảm thấy cần được bảo đảm tốt đẹp về mọi phương diện: vật chất cũng như tinh thần. Chúng mong tìm được những bảo đảm đó nơi cha mẹ chúng. Vì thế, ta phải trở nên chỗ dựa vững chắc cho chúng về mọi mặt. Phải sống làm sao để chúng có thể cảm thấy an tâm: mọi lời ta nói phải đúng để chúng tin tưởng, mọi việc ta làm phải tốt để chúng bắt chước. Phải làm sao để chúng tin vào tình yêu, sự thành thật, khả năng hy sinh và sự cao thượng của ta. Ta muốn con cái ta tốt tới mức nào thì ít ra ta phải sống tốt tới mức đó. Hành động của ta - tốt hay xấu - ảnh hưởng tới con cái ta tới mức độ ta không ngờ.
7. Đồng hành với con cái trên đường tiến tới hoàn mỹ
Tuy nhiên ta không nên tự thần tượng hóa mình trước mặt con cái. Tới một lúc nào đó ta phải cho chúng thấy rằng chính ta cũng là người bất toàn đang nỗ lực tiến tới trưởng thành, hoàn thiện và nên thánh. Ta chỉ là người đi trước có nhiệm vụ dẫn dắt chúng trong những bước đầu cuộc đời chúng, đưa chúng đi vào đời sống thần linh (với Thiên Chúa) và nhân bản (với bản thân và người khác). Và sau này chính ta cũng nên sẵn sàng nhận lại sự nâng đỡ của chúng. Cần phải khiêm tốn nhận những khuyết điểm của chính mình. Trên đường tiến tới hoàn thiện, ta hãy biến chúng thành những người bạn đồng hành và cho phép chúng được coi lại ta như thế, đồng thời chấp nhận sự xây dựng của chúng. Như thế chúng sẽ tự tin và dễ trưởng thành hơn.
8. Phải tôn trọng phẩm giá của con cái
Con cái ta là người, chúng có quyền và rất cần được đối xử như những con người, như con cái của Thiên Chúa. Đừng xử với chúng như nô lệ hay đầy tớ trong nhà. Hãy tôn trọng tự do của chúng, đừng cấm đoán chúng những gì ta xét thấy vô hại. Cũng nên tôn trọng giờ làm việc, giờ ngủ và thì giờ của chúng một cách vừa phải. Nếu cần phải sửa phạt thì nên sửa phạt đúng mức, hợp lý, đừng đánh đập chúng quá đáng hoặc chửi rủa chúng những câu thậm tệ, như «Đồ quỉ!», «Đồ chó má!», «Con đĩ!», đừng xúc phạm tới phẩm giá hoặc làm tổn thương tự ái chúng quá mức cần thiết. Đừng bêu xấu con trước mặt người khác hoặc những trẻ em khác. Có tôn trọng chúng thì chúng mới biết tự trọng và tự tin.
9. Khai phóng cho con cái
Khi còn nhỏ, con cái ta lệ thuộc ta mọi mặt. Lúc đó, ta phải bắt chúng vâng lời, làm theo ý ta để chúng đi đúng đường. Nhưng ta phải huấn luyện và giáo dục chúng làm sao để dần dần chúng trưởng thành, có khả năng tự do và tự lập về mọi mặt. Đừng bắt chúng cứ phải lệ thuộc ta mãi, cứ phải theo ý muốn của ta hoài. Đó cũng là cách để ta tự giải phóng chính mình. Nên ý thức rằng con cái ta không phải là của ta mãi, mà là của Thiên Chúa, của cuộc đời. Muốn chúng lệ thuộc ta mãi đó là ý muốn của những cha mẹ còn non nớt. Cần phải biết biến chúng thành những người bạn mà xét về nhiều mặt là ngang hàng với mình. Có như thế chúng mới dễ phát triển và trưởng thành.
10. Trao cho chúng trách nhiệm
Phải tập cho con cái tinh thần trách nhiệm ngay từ hồi chúng còn nhỏ bằng cách trao cho chúng những trách nhiệm từ dễ đến khó, từ nhỏ đến to trong gia đình. Phải tập cho con cái dần dần quán xuyến được mọi việc. Và khi chúng đã lớn, khoảng 20-25 tuổi, phải tập cho chúng làm những công việc có tầm vóc xã hội: làm ăn, giao thiệp, nhận trách nhiệm nghề nghiệp, điều hành công việc… Phải tập cho chúng làm được hầu hết những công việc của mình, thậm chí có thể thay thế mình trong địa vị của mình.
Hãy bắt chước các nhà vua của ta ngày xưa biết nhường ngôi cho con ngay khi chúng tạm đủ tư cách thay thế mình giải quyết mọi việc, còn mình thì đứng đằng sau hướng dẫn, cố vấn, làm «thái thượng hoàng». Tại nhiều nước đang phát triển mạnh, các giám đốc công ty, xí nghiệp, thậm chí các bộ trưởng… đa số thuộc giới trẻ (25-40 tuổi) rất năng nổ hoạt động. Người ta không sợ họ đi quá lố vì đằng sau những người trẻ ấy còn có cha mẹ của họ cố vấn, chỉ đạo và hỗ trợ họ. Nhờ vậy, đất nước của họ tiến bộ rất mau.
Trong gia đình, chúng ta cũng nên sớm giao trọng trách cho con cái đang khi chúng ta còn có thể đứng sau để hướng dẫn giúp đỡ. Đừng để tới lúc ta không còn làm được gì nữa mới nhường trách nhiệm cho chúng. Tới lúc đó chúng mới tập sự làm việc thì đã hơi muộn, nên sẽ ít hữu hiệu và mắc nhiều sai lầm.
Kết luận
Thế hệ con cái của chúng ta có đức hạnh và tài năng hay không tùy thuộc vào sự giáo dục chúng nhận được từ cha mẹ chúng rất nhiều. Vì thế, ta cần phải giáo dục chúng một cách khôn ngoan sáng suốt. Đừng phó mặc công việc quan trọng này cho may rủi, cũng đừng làm một cách tùy tiện, thiếu suy nghĩ. Hãy lắng nghe thế hệ của chúng ta đang lên tiếng: «Hãy giáo dục chúng tôi cho tử tế, chúng tôi sẽ biến xã hội và thế giới này thành thiên đường». Và một điều rất quan trọng là hãy cầu nguyện cho chúng, xin Thiên Chúa chúc lành, bảo vệ và thánh hóa chúng.
LTS: Trong tuần qua, Maranatha tiếp tục nhận thư yêu cầu tòa soạn gửi những số báo cũ. Hiện nay, các số báo từ1 đến 11 đã được lưu trên websites http://maranatha-vn.net và http://tiengnoigiaodan.net. Xin quí vị vui lòng vào hai trang trên để download những số báo mình cần. Nếu vì lý do trục trặc kỹ thuật, xin liên lạc về địa chỉ: maranatha@saintly.com
Maranatha cũng nhận được thư của các độc giả xin nhận báo và hỏi về xuất xứ tuần báo này. Xin Quý Vị vui lòng tìm đọc lại trong các số báo đầu tiên (hiện có lưu tại các websites đã giới thiệu ở trên).
Xin kính gửi đến một vài tâm tình của độc giả đã gửi về trong tuần qua để hiệp thông và cầu nguyện cho nhau. Chân thành cám ơn sự đón nhận và những khích lệ của Quý độc giả đã dành cho Maranatha.
Nguyện xin Chúa chúc lành cho Quý Vị.
Trân trọng,
MARANATHA

v Kính gửi Quý Tòa Soạn, Anh chị em ca đoàn chúng con rất cám ơn khi nhận được báo MARANATHA, chúng con IN ra 19 trang và truyền cho tất cả Anh Chị Em, cùng photo và đọc. Xin Chúa chúc lành cho công việc Loan Báo Tin Mừng của Chúa đến với mọi người như vậy, đời sống chúng con được đổi mới hơn. T.M. Ca đoàn Trinh Vương, Nguyễn Phương.
v Tôi, Linh mục Dom.Tran van Dung sss (Dòng Thánh Thể Việt Nam- Nhà Thờ Khiết Tâm, Thủ Đức). Xin chân thành cám ơn Báo Maranatha đã giúp cho tôi suy niệm và học hỏi qua những bài viết bổ ích, phong phú và thiết thực cho đời sống người Kitô hữu hôm nay. Nguyện xin Chúa Giêsu Thánh Thể và Mẹ Maria luôn chúc lành trên Ban Giám Đốc và Quý độc giả xa gần. Dom.Tran van Dung SSS.
v Đọc tuần báo MARANATHA tôi thấy nhiều điều bổ ích cho mình và cho việc phục vụ dân Chúa. Xin Chúa chúc lành cho công việc hữu ích của Quý Vị nơi dân Thiên Chúa.
v Kính thưa MARANATHA; vì mới dùng Vi tính nên thời gian trước bị trục trặc không nhận được tuần báo (tôi có nhớ có chỗ nào đó, báo đã hướng dẫn cách tìm các số đã mất, nhưng bây giờ tôi không biết ở chỗ nào nữa. Vậy làm phiền xin Quý Vị miễn thứ và chỉ dùm cho để khỏi thiệt thòi vì mất một ít số trước). Xin chân thành cám ơn và xin Chúa Thánh Thần luôn làm việc cùng Quý Vị. Kính chào, LM. Vu Dinh Cong.
v Kính gửi quý báoMaranatha! Tôi thường xuyên nhận được báo Maranatha qua sự giới thiệu của anh Ngọc – thành viên của CĐ Trùng Dương (Nhà thờ Mac Tin Nho) và cũng nhận được chính thức từ quý báo. Nay tôi xin gởi đến quý báo thư này để xác nhận lòng mong muốn được nhận thường xuyên báo. Xin chân thành cám ơn vì đã nhận được lòng ưu ái và những bữa ăn tinh thần mà quý báo đã tận tình chăm sóc. Xin Chúa là Đường Đi, là Sự Thật và là Chân Lý nâng đỡ công việc mà quý báo đang tiến hành. Kính chúc quý báo dồi dào sức khoẻ. Ptle.
v Cám ơn quí báo có nhã ý gởi báo cho chúng tôi. Xin Thánh Thần Thiên Chúa hướng dẫn cho quí báo được luôn thăng tiến. Cầu chúc. Dzung Nguyen .
v Mình có một người quen giới thiệu, mình có thể “nhận Maranatha”? Để đọc bài và đọc tin. Thân mến, Bao Quyen.
v + IN JESUS! Mến chào Quý Vị trong ban biên tập Maranatha! Thật vui nhận được email gửi báo điện tử hàng tuần của Quý Vị! Thêm bất ngờ nữa là không biết bạn hữu nào đã ưu ái giới thiệu địa chỉ của tôi cho Quý Vị chuyển báo? Nhưng lúc này đây tôi rất thích đọc thư tin này và cả những nhiệt thành chia sẻ và loan báo Tin Mừng trên NET của Quý Vị! Xin chân tình cầu chúc Quý Ban Biên Tập luôn tràn đầy ơn sủng và Thần Khí Chúa và tiếp tục hăng say Rao Giảng Nước Trời trong xã hội hôm nay. Xin cám ơn! In Christo, JBNGO.
v Xin quí vị gửi tiếp cho số thứ 2, tôi đã được đọc số 1 và số 11. Xin Thiên Chúa ban xuống thật nhiều hồng ân trên quí vị và các việc tốt lành mà quí vị đang thực hiện. Xin chân thành cám ơn. Nam Nguyen.
v Kính thưa ban biên tập Maranatha. Trước hết chúng tôi xin vô cùng biết ơn quý vị đã cho chúng tôi món ăn tinh thần thật là quý giá là báo điện tử. Chúng tôi trông báo từng ngày. Chúng tôi trân trọng những ý nguyện, những tâm tình, những chia sẻ quý báu của quý vị là những người đã từng lo âu, quan tâm đến Giáo Hội và Ơn Cứu Độ. Chúng tôi mong có được báo từ số 1 đến số 5. Từ số 6 chúng tôi đã có. Chúng tôi đang mong chờ và có thể sẽ đóng góp trong loạt bài Linh Đạo Giáo Dân bằng những kinh nghiệm của con người giáo dân bình thường. Nguyện xin Thiên Chúa với sự cầu bầu của Đức Mẹ, ban thật nhiều ơn lành trên tất cả quý vị. Kính, Ngo Van Thong, Dan Mach.
![]()
Trang Nhà (website) http://www.maranatha-vietnam.net
Thư từ, ý kiến, xin gửi về maranatha@saintly.com
Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về
Chân thành cám ơn
![]()