Thiên Chúa Cũng Đau Khổ

 (tiếp theo Maranatha_11)

Huyền Vi

Nỗi đau khổ của các ngôn sứ

Ngôn sứ là những người được Thiên Chúa chọn để thay Ngài nói với trần gian. Chính Thiên Chúa dùng miệng các ngôn sứ để nói với con người. Họ là những người có những kinh nghiệm hay cảm nghiệm trực tiếp về Thiên Chúa. Họ nhận những sứ điệp của Thiên Chúa qua nhiều cách: bằng thị kiến (Is 6, Ed 1.2.8, Đn 8-12) đặc biệt là những thị kiến ban đêm (Ds 12,6; Đn 7), hay bằng tiếng nói từ trong tâm trí, nhưng thường là bằng sự linh ứng thần linh ở bên trong. Họ nhận những sứ điệp đó không qua sách vở hay Kinh Thánh, không qua lời giảng dạy của người khác, cũng không do suy niệm cá nhân. Do đó, những điều họ nói ra thường là những điều mới mẻ, là những quan niệm thường chỉ phù hợp với tương lai, có thể chưa từng có sách vở nào viết ra. Có như thế họ mới đúng là «tiên tri» đích thực, vì «tiên tri» nghĩa là biết trước, thấy trước. Là «tiên tri» mà chỉ nói những điều ai cũng biết thì đâu còn là «tiên tri» nữa!

Lời họ nói ra với dân là lời của Thiên Chúa: «Ta đặt lời Ta trong miệng con» (Gr 1,9), đến nỗi sau khi họ nói, họ có thể bắt đầu hay kết thúc bằng công thức: «Đây/đó là lời của Đức Chúa» (x. Is 45,18; Dc 4,14), «Hãy nghe lời của Đức Chúa» (Gs 3,9; 2V 7,1; 2V 20,16; Is 28,14) «Đức Chúa các đạo binh phán thế này/như thế» (x.1Sm 15,2; 1Sb 17,7; Is 45,13; Gr 6,6; Kg 1,2)… Thật khác hẳn với lời của các giáo sĩ trong Do Thái giáo cũng như trong Kitô giáo.

Các ngôn sứ được Thiên Chúa chọn đích danh, thường không thuộc phẩm trật tư tế, lêvi, hay trong giới lãnh đạo tôn giáo hoặc giáo sĩ, trước cũng như sau khi được chọn. Cho dẫu có thuộc dòng dõi tư tế như Giêrêmia hay Gioan Tẩy giả, họ cũng có thể không làm tư tế. Tuy nhiên cũng có những ngôn sứ đồng thời là tư tế như Êdêkien… Vì thế, có thể nói họ nói năng tương đối độc lập với giáo huấn của giáo sĩ; họ được kêu gọi và nhận sứ điệp của Thiên Chúa không qua hệ thống của giới lãnh đạo tôn giáo. Nếu nói theo ngôn ngữ thời đại thì họ thường thuộc giới «giáo dân» hơn là «tu sĩ» hay «giáo sĩ». Đức Kitô cũng như các tông đồ cũng đều như vậy. Chính vì thế, người đương thời nhiều khi không biết họ là các ngôn sứ được Thiên Chúa sai đến. Thông thường, chỉ khi họ chết đi – thường là bị giết vì nói ngược lại với quan niệm hoặc lòng mong ước của dân chúng – và một thời gian sau người ta mới nhận ra họ là các ngôn sứ của Thiên Chúa, vì thấy những lời họ tiên báo đều ứng nghiệm, và những giáo huấn của họ hoàn toàn phù hợp với giáo huấn của Kinh Thánh (x. Gr 28,9; Đnl 18,22; Gr 23,2; Đnl 13,2-6). Lúc đó thì đã quá muộn, họ đã bị các vua chúa, hoặc giới lãnh đạo tôn giáo và dân chúng hùa theo giết chết.

 Số phận các ngôn sứ là như thế. Gọi họ là «tiên tri» (nghĩa là biết trước) thì thật là đúng. Vì họ là những người nhận được từ Thiên Chúa những quan niệm mới, tiến bộ, đúng đắn và phù hợp với tương lai hơn quan niệm của người đương thời. Họ là những người khám phá và đưa ra những giá trị mới, những giá trị mà người đương thời ít ai nhận ra là giá trị. (Đương nhiên không phải ai có đặc tính biết trước, thấy trước, đưa ra những quan niệm mới đúng đắn, phù hợp với thời đại cũng đều là tiên tri, nhưng đã là tiên tri thì phải có đặc tính ấy). Đang khi giới lãnh đạo tôn giáo là những người chủ trương bảo vệ những giá trị đã tìm được, những giá trị mà ai cũng nhận là giá trị. Vì thế họ thường được dân chúng tôn trọng và ưu đãi. Nhờ đó họ có nhiều uy tín và thế lực. Khi các ngôn sứ đưa ra những quan niệm mới, những giá trị mới để hướng dẫn con người đi vào con đường mới của Thánh Thần, Đấng luôn luôn «đổi mới mặt địa cầu» (Tv 104,30; x. Kn 7,27; Ep 4,23; Kh 21,5), thì giới lãnh đạo tôn giáo chưa nhận ra được đó là những giá trị mới, những định thức mới của chân lý và cũng là ý của Thiên Chúa. Họ chỉ thấy những quan niệm mới, những giá trị mới ấy đi ngược lại với những quan niệm cũ mà họ coi là chân lý, với những giá trị cũ mà họ cho là vĩnh cửu. Thế là họ kết án các ngôn sứ là những kẻ phá hoại, như trường hợp của Đức Giêsu mà chúng ta đã thấy ở trên. Và sẵn quyền bính trong tay, họ kết án và giết chết các ngôn sứ một cách vô tội vạ, «tưởng rằng làm như thế là phụng thờ Thiên Chúa» (Ga 16,2).

Khi những quan niệm mới của các ngôn sứ đã được thế hệ sau nhận ra là chân lý, thì những quan niệm mới lúc ấy đã trở thành cũ, và được giới lãnh đạo tôn giáo các thế hệ sau bảo vệ. Nhưng chính giới lãnh đạo tôn giáo này sẽ lại giết các ngôn sứ đồng thời với mình nhân danh những giá trị họ đang bảo vệ. Cứ như thế hết thế hệ ngôn sứ này đến thế hệ ngôn sứ khác, không có ngôn sứ đích thực nào mà không bị bách hại, bạc đãi, thậm chí bị giết chết (x. Mt 5,12b; 23,30). Chính Đức Giêsu đã nói lên số phận bi đát đó của các ngôn sứ từ thế hệ này sang thế hệ khác, được lập đi lập lại như một định luật của lịch sử Do Thái giáo: «Khốn cho các ngươi, hỡi các kinh sư và người Pharisêu giả hình! các người xây mồ cho các ngôn sứ và tô mả cho những người công chính. Các người nói, “nếu như chúng ta sống vào thời của tổ tiên, hẳn chúng ta đã không thông đồng với các ngài mà đổ máu các ngôn sứ”. Như vậy các người tự làm chứng rằng các người đúng là con cháu của những kẻ đã giết các ngôn sứ. Chính các người đổ thêm cho đầy đấu tội của tổ tiên các người đấy!» (Mt 23,29-32). Thế hệ này thì tôn vinh các ngôn sứ của các thế hệ trước nhưng lại vùi dập và loại trừ các ngôn sứ của chính thế hệ mình! Liệu những người đang tôn thờ Đức Giêsu, đang căm thù giới lãnh đạo tôn giáo Do Thái đã bạc đãi giết chết Ngài, có đi vào vết xe cũ của người xưa không? Liệu những ngôn sứ của thời đại mới, của Kitô giáo có được may mắn hơn các ngôn sứ thời đại cũ chăng? Lời tiên báo của Đức Kitô chắc hẳn khó mà sai được: «Tôi tớ không lớn hơn chủ nhà. Nếu họ đã bắt bớ thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em» (Ga 15,20), «Họ sẽ khai trừ anh em ra khỏi hội đường. Hơn nữa, sẽ đến giờ kẻ nào giết anh em cũng tưởng đó là phụng thờ Thiên Chúa. Họ sẽ làm như thế vì họ không biết Chúa Cha cũng chẳng biết Thầy» (16,2-3). Liệu giới lãnh đạo tôn giáo ngày nay có sáng suốt hơn giới lãnh đạo tôn giáo ngày xưa chăng? Có rút ra được bài học nào từ lịch sử chăng?

Nỗi đau khổ và số phận ngôn sứ của Đức Giêsu

Cũng như tất cả mọi ngôn sứ đích thực của Thiên Chúa, Đức Giêsu cũng phải nói lên những sai sót, những lầm lỗi của dân chúng cũng như của mọi giới, dù là vua chúa hay giới lãnh đạo tôn giáo. Đối với dân chúng hay đối với những người tội lỗi, Ngài tỏ ra rất khoan dung, dịu dàng, vì họ thường có một thái độ khiêm nhượng, cảm thông, vả lại họ thường dốt nát, ít học. Nhưng đối với giới lãnh đạo tôn giáo, với những người Pharisêu, các rabbi Do Thái, Ngài tỏ ra rất cứng rắn trước thái độ kiêu căng, giả hình, vị lợi, ích kỷ, thiếu tình thương và vị luật của họ. Ngài không phải là một «con chiên ngoan đạo» lúc nào cũng thấy những người lãnh đạo của mình là đúng, là gương mẫu, mà Ngài là một ngôn sứ, lúc nào cũng thấu suốt lòng dạ của họ và thấy được những sai lầm của họ. Đương nhiên Ngài phải lên tiếng.

Đọc Tin Mừng Mátthêu, chương 23, ta thấy Ngài nói «cạn tàu ráo máng» với họ. Khó có thể tìm thấy những lời lẽ thậm tệ hơn của Ngài với những giới khác trong dân. Giới này là giới khó lãnh hội chân lý nhất, mặc dù họ hiểu biết nhất, họ thông thạo Kinh Thánh và luật pháp nhất. Họ cũng là giới gây khó khăn cho công việc rao giảng Tin Mừng của Ngài nhất. Chính giới này đã âm mưu lên án và giết Ngài trên Thập Giá. Và đám «con chiên ngoan đạo» của họ đã hùa theo họ.

Trước hết, Ngài tố cáo họ và gọi họ là những kẻ giả hình, bề ngoài thì rất nhân nghĩa, đạo hạnh, nhưng trong tâm hồn thì đầy xấu xa, đê tiện, bỉ ổi, với những tư tưởng ghen ghét, hại người. Họ «giống như những mồ mả tô vôi, bên ngoài thì đẹp lắm, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế» (Mt 23,27).

Ngài tố cáo họ là những người nói thì thật hay nhưng không chịu thực hành điều mình nói (c.3). Họ hùng hồn khuyên người khác hãy hy sinh cho nhau, hy sinh cho tôn giáo, cho đại cuộc, nhưng chính họ lại «không buồn động ngón tay vào» (c.4) Tuy vậy, họ lại thích được ca tụng, tôn trọng, thích mặc những loại áo khác hẳn người thường để ai cũng có thể phân biệt họ với những người khác mà kính trọng ưu đãi họ (c.5-6). Họ thích được gọi bằng «thầy», bằng «rabbi» (c.7). Họ khéo lợi dụng lòng tin, lòng sùng đạo và nhẹ dạ của những «con chiên ngoan đạo» để «nuốt hết tài sản» của họ (c.14). Họ thích những hành vi tỏ ra mình là người đạo đức thánh thiện như rửa tay, lau sạch chén đĩa… (c.25).

Nhưng những điều ấy không quan trọng bằng sự kiện họ là «những người dẫn đường mù quáng» (c.24), là «những người mù dẫn dắt người mù» (Mt 15,14), khiến những người nghe họ rao giảng cũng bị sai lạc đường nẻo của Chúa. Họ không phải là những người bận tâm hay khắc khoải về chân lý, nên tư tưởng của họ dễ bị lệch lạc, nhưng họ lại có nhiệm vụ chỉ dạy cho người khác. Họ đã đảo lộn những bậc thang giá trị hợp lý: lấy cái chính làm phụ, lấy phụ làm chính, cái quan trọng thì đặt nhẹ, cái chẳng là gì thì đặt nặng, cái quan trọng nhất trong lề luật là chân lý, công lý và tình thương thì chẳng lưu tâm mà cứ để ý tới những chuyện bì phu như «nộp thuế thập phân về bạc hà, thì là, rau húng» (c.23). Họ dạy: «Ai chỉ vàng trong đền thờ mà thề thì bị ràng buộc, còn chỉ chính đền thờ thề thì không sao» (c.16), đang khi chính đền thờ mới làm cho vàng trở nên giá trị (c.17)… Nhìn thấy Đạo Thánh mà Cha Ngài đã lập nên đang bị méo mó bởi những giảng dạy sai lệch như thế, làm sao Ngài tránh khỏi chua xót?

Trong Dân Ngài, có biết bao nhiêu chuyện trái tai gai mắt, nhất là nơi những người lãnh đạo là những người có trách nhiệm cao nhất. Quan niệm của Ngài và của họ, cuộc sống sống của Ngài và của họ, đường lối của Ngài và của họ luôn luôn đối nghịch nhau. Chắc chắn Ngài cũng bị cám dỗ để mặc họ như vậy cho yên thân mình. Nhưng nếu như vậy thì Ngài đến trần gian để làm gì? Nếu Ngài không sửa đổi họ thì còn ai sửa đổi nữa? Các ngôn sứ trước đây người nào mà chẳng muốn sống an thân, có người nào muốn động chạm đến những kẻ có quyền để phải chết oan ức đâu? Ngôn sứ Giona đã cố tình trốn không muốn nói lên tội ác của thành Ninivê, mà nào có trốn được (x. Gn 1,1-15)? Đã được Thiên Chúa kêu gọi thì chỉ có nước làm theo ý của Ngài, huống gì Đức Giêsu chính là Con của Ngài! Vì thế, Ngài phải dấn thân, phải chiến đấu, phải nói cho những người lãnh đạo Dân Chúa biết những tội lỗi và sai trái của họ, nếu không thì hóa ra Ngài là kẻ đào nhiệm! Thế là Ngài và giới lãnh đạo tôn giáo chống đối nhau kịch liệt, để cuối cùng Ngài bị họ giết chết trên Thập Giá.

Thế là từ lúc sinh ra đến cuối cuộc đời, Ngài luôn luôn bị dân Ngài hất hủi, tẩy chay, cho dù Ngài chính là hiện thân của Giavê Thiên Chúa, Đấng mà họ tôn thờ, cho dù Ngài yêu thương dân Ngài hết tình. Đó chính là nỗi khổ tâm của Ngài mà chúng ta có thể hiểu và thấy được. Nỗi khổ tâm của Đức Giêsu chính là những nét phác họa giúp ta hiểu được nỗi khổ tâm vô biên của Thiên Chúa trước sự sa đọa và đau khổ của con người. Tìm hiểu ý nghĩa sự đau khổ của Đức Giêsu ta sẽ hiểu được nỗi đau khổ của Thiên Chúa để nhờ đó nhận ra tình yêu vô biên của Ngài. Nỗi đau khổ của Đức Giêsu đã được cô đọng lại và diễn tả rõ nét nhất trong hai lần hấp hối của Ngài, lần thứ nhất tại vườn Giệtsê, và lần thứ hai trên thánh giá.

 

Trở về Muc Lục