Thư Tòa Soạn
Kính thưa Quý độc
giả,
Chúng
ta
đang bước vào Chúa Nhật
thứ 18 Thường Niên.
Theo tinh thần của Lectio
divina, chúng
ta
có
thể dừng lại ở mỗi bài đọc của Chúa Nhật một câu Kinh Thánh
đánh động chúng
ta để suy niệm
và cầu nguyện. Trong bài đọc 1, sách Giảng Viên dạy chúng
ta một câu nói bất hủ: «Phù
vân, quả
là phù
vân. Phù
vân, quả
là phù
vân. Tất cả
chỉ
là phù
vân» (Gv
1,2). Phải, tất cả
chỉ
là phù
vân khi
con người
tách lìa
ra khỏi Thiên Chúa để đặt hy vọng
và mục đích nơi
thế giới tục lụy
này.
Tách rời khỏi Thiên Chúa,
con người sẽ không
tìm thấy
ý nghĩa đích thực của cuộc đời.
Cùng
trong chiều hướng coi mọi chuyện
thế sự
chỉ
là phù
vân
và
hãy quy hướng hoàn toàn về Chúa, trong bài đọc 2, Thánh
Phaolô khuyên
nhủ các
tín hữu Côlôsê: «Anh
em
hãy hướng
lòng
trí về những
gì thuộc thượng giới,
chứ đừng chú
tâm vào những
gì thuộc hạ giới... Vậy anh
em
hãy giết chết những
gì thuộc về hạ giới trong
con người anh
em: ấy
là gian
dâm,
ô uế,
đam
mê, ước muốn xấu
và tham
lam;
mà tham
lam cũng
là
thờ ngẫu tượng” (Cl 3,2,5-6) Trong bài Tin Mừng
Thánh Luca, Chúa Kitô dạy bảo chúng ta:
«Anh em phải coi chừng, phải
giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, không phải vì dư giả mà
mạng sống con người được bảo đảm nhờ của cải đâu».
(Lc 12,15). Tôn
thờ ngẫu tượng và tham lam vật chất sẽ dẫn dắt con người
tới chỗ lạc mất Thiên Chúa. Thiên Chúa muốn con
người nhận biết mọi chuyện đời là phù vân và biết quy
hướng về Ngài, kết hiệp với Ngài để có được hạnh phúc đích
thực.
Trong những tuần vừa qua
Maranatha đang
giới thiệu với quý độc giả những bài viết về
linh đạo giáo dân.
Tuần này chúng tôi xin giới thiệu bài viết
Nền Linh Đạo Công Giáo Việt
Nam của tác
giả Chu Công do Chu Kim Nam dịch. Hy vọng những bài viết
về linh đạo, về đường lối tu đức, về thần học giáo dân dần
dần sẽ phong phú và sâu sắc hơn. Linh mục Đỗ Xuân Quế, OP
cũng gửi tặng cho quý độc giả bài
Lòng Đạo Đức Đích Thực
để giúp cho giáo dân thực hành cách sống đạo đẹp
lòng Chúa hơn. Ngoài những bài viết về tu đức, về linh
đạo, Maranatha
tiếp tục gửi đến quý độc giả loạt về hôn nhân, về giáo dục
con cái.
Hôm
nay, ngày 31
tháng 7 Giáo Hội mừng kính Thánh I-Nhã,
sáng lập
Dòng
Tên, đấng
mà cả cuộc đời của Ngài dành trọn với phương
châm “Tất cả
vì vinh danh Thiên Chúa.” Ngày mai, 01
tháng 8, mừng kính Thánh An-phong-sô, đấng sáng lập Dòng
Chúa Cứu Thế với tôn chỉ phục vụ những người tất bạt,
nghèo khó, để “Ơn Phúc Lộc
nơi Ngài Chan Chứa.” Xin hiệp lòng tạ ơn Chúa
đã thương ban cho Giáo Hội Việt Nam nhận được Tin Mừng qua
những hy sinh, vất vả của các nhà truyền giáo. Qua đó, nền
linh đạo giáo dân và biết bao tín hữu đã được hướng dẫn và
hưởng ân phúc dồi dào cho đời sống đức tin của họ.
Maranatha tiếp tục cầu nguyện
“Lạy Chúa, xin hãy đến” và ước mong chúng ta
là những tín hữu biết dấn
thân vào cuộc sống trần
thế để
loan báo
Tin Mừng của Ngài. Nơi đâu
có vết chân con người, nơi
đó người giáo
dân phải
loan báo
Tin Mừng bằng lời nói cũng như bằng gương chứng nhân. Xin
Chúa chúc lành cho những cố gắng của anh
em giáo
dân
đang trên đường
tìm kiếm và
tôn
thờ Ngài trong Thần Khí
và Chân
Lý.
MARANATHA
Về mục lục >

HỌC ĐẠO
THIÊN CHÚA CŨNG ĐAU KHỔ
(tiếp theo Maranatha_12)
Huyền Vi
Nỗi đau khổ
của Đức Giêsu lúc hấp hối trong vườn Giệtsêmani
Cô độc, có cảm tưởng
bị bỏ rơi
Nỗi cô độc trong suốt cuộc đời Ngài được
thể hiện rõ nét nhất lúc Ngài hấp hối trong vườn Giệtsê:
Ngài cảm thấy cô đơn và cô độc hơn bao giờ hết. Trong bữa
tiệc ly, Ngài đã báo cho các môn đệ biết Ngài sắp bị bắt
và bị giết. Nhưng các ông tỏ ra rất thờ ơ, không ai lo
lắng hay buồn rầu cho số phận Thầy mình cả. Các ông vẫn vô
tình hết sức, họ còn «cãi nhau sôi nổi xem ai trong
nhóm được coi là lớn nhất» (Lc 22,24). Còn Ngài, ngoài
việc lo lắng vì những đau khổ tột cùng sắp xảy đến mà Ngài
biết trước, Ngài còn đau khổ vì biết Giuđa sẽ phản bội, và
các môn đệ khác sẽ bỏ rơi Ngài, hoàn toàn phó mặc số phận
Ngài trong tay kẻ ác. Ngài đưa ba môn đệ thân yêu nhất vào
vườn Giệtsê để cùng thông cảm và chia sẻ nỗi lo lắng buồn
phiền của mình, nhưng cả ba ông bỏ mặc Ngài một mình và
ngủ như chết.
Các môn đệ bỏ Ngài đã đành, mà cả Cha
trên trời dường như cũng bỏ rơi Ngài luôn. Và đó chính là
cao điểm của cô đơn và đau khổ của Ngài. Thiên Chúa hoàn
toàn im lặng, hờ hững trước nỗi lo lắng, sự cô đơn, nỗi sợ
hãi và đau khổ tột cùng của Ngài. Ngài cảm thấy hoàn toàn
cô độc. Trong cuộc chiến đấu cam go này, Ngài hoàn toàn
một mình. Trong cả cuộc đời Ngài, chưa bao giờ Ngài cảm
thấy buồn phiền, sầu não như bây giờ. Sức phấn đấu của
Ngài bình thường rất mạnh, bây giờ dường như biến đi đâu
mất. Chưa bao giờ Ngài cảm thấy yếu đuối như bây giờ. Bản
tính Thiên Chúa của Ngài dường như không còn nữa, chỉ còn
lại bản tính người.
Thông cảm với bản
tính yếu đuối của con người và muốn tha thứ tất cả
Trước nỗi đau đớn kinh khủng và kéo dài
sắp xảy đến, Ngài thoáng có ý tưởng chạy trốn, ý tưởng đó
phát xuất từ bản tính người của Ngài. Ngài biết đó là hèn
nhát nhưng sao ý tưởng đó cứ trở đi trở lại hoài. Chưa bao
giờ Ngài cảm thấy mình «người» như lúc này, và Ngài
cảm thấy thông cảm sâu xa với sự yếu hèn của con người hơn
bao giờ hết. Tội nguyên tổ và tội riêng của từng người đã
làm cho con người trở nên yếu đuối y như Ngài đang cảm
nghiệm bây giờ. Những người tội lỗi là những người yếu
đuối nhất về mặt tâm linh, có yếu đuối như họ mới hiểu
được và thông cảm với tội lỗi của họ. Họ đáng thương nhiều
hơn đáng trách. Xin Chúa Cha tha thứ cho họ!
Khi đi rao giảng, Ngài cảm thấy tinh
thần làm cho Ngài nhanh nhẹn phấn chấn bao nhiêu, thì bây
giờ Ngài đang cảm thấy xác thịt làm cho Ngài nặng nề trì
trệ bấy nhiêu. Ngài cảm thấy thông cảm sâu xa với ba môn
đệ yêu dấu đang bị cơn buồn ngủ vì say rượu (rượu tiệc
ly), và sự mệt mỏi đã làm cho họ trở nên hờ hững với nỗi
đau khổ và cô đơn tột cùng của Thầy mình. Ngài đã cảm
nghiệm sâu sắc sự yếu đuối của thân xác đến nỗi phải thốt
lên: «Tinh thần thì hăng say, nhưng thể xác lại yếu hèn»
(Mt 26,41). Ngài thông cảm sâu xa với Giuđa đã bán Ngài vì
nhẹ dạ tưởng rằng Ngài sẽ dùng quyền năng để tự cứu và
nhân đó đó sẽ giải phóng dân Do Thái khỏi ách thống trị
của Rôma.
Ngài cũng thông cảm với giới lãnh đạo
tôn giáo, vì quyền lợi bản thân, vì cố chấp và kém trí
tuệ, nên đã không hiểu Ngài và chủ mưu hại Ngài. Họ hại
Ngài một phần vì Ngài đã từng tố cáo tội lỗi của họ khiến
họ bị mất uy tín trước mặt dân chúng (x. Mt 23), phần khác
vì Ngài đang bị họ coi là kẻ phá hoại tôn giáo mà họ cảm
thấy có nhiệm vụ phải bảo vệ. Họ giết Ngài nhưng họ vẫn
tưởng làm như thế chính là phụng thờ Thiên Chúa (x. Ga
16,2).
Ngài thông cảm với tất cả mọi người và
tha thứ cho họ hoàn toàn. Cảm nghiệm sâu xa tình trạng yếu
đuối của con người, Ngài cảm thấy dường như không ai cố
tình chống lại Thiên Chúa hay muốn làm hại anh em đồng
loại cả. Nếu có, chỉ là do yếu đuối, ngu muội hay cố chấp;
mà có ai muốn mình yếu đuối, ngu muội hay cố chấp đâu!
Ngài cũng mong muốn và xin Chúa Cha tha thứ cho họ.
Nỗi sợ hãi vì biết
trước những đau khổ tột cùng sắp phải chịu
Sự sáng suốt khiến Ngài thấy rõ tất cả
những cực hình đang chờ đón Ngài. Ngài đang cảm nghiệm
được rõ rệt sự đau đớn vì roi vọt, vì mũ gai, vì chịu đóng
đinh vào Thập Giá, cùng với tất cả mọi sỉ nhục nhạo báng.
Ngài thấy trước tất cả và Ngài rùng mình run sợ. Ngài cảm
thấy hoàn toàn kiệt sức, mồ hôi Ngài vã ra lẫn với máu.
Trong lúc cảm nghiệm trước những nỗi đau đớn ấy, Ngài sợ
hãi tới mức độ một vài mạch máu nhỏ vì quá căng thẳng đã
bị bể khiến máu thấm ra ngoài da cùng với mồ hôi (x. Lc
22,44).
Bị cám dỗ đào nhiệm
để khỏi đau khổ
Cho tới lúc này, Ngài vẫn có thể từ chối
không nhận chịu những cực hình đó, Ngài vẫn hoàn toàn tự
do để chịu hay không chịu. Chính sự tự do này làm cho Ngài
phải chiến đấu. Mọi cám dỗ đều xuất phát từ cái tự do này.
Tội lỗi hay thánh thiện đều vì cái tự do này mà phát sinh.
Không có tự do thì chẳng thể có thánh thiện mà cũng chẳng
hề có tội lỗi, và cũng chẳng có vấn đề trách nhiệm.
Tư tưởng của Ngài đang là một bãi chiến
trường: một bên là bản tính Thiên Chúa lúc này đang bị mờ
nhạt đi rất nhiều cơ hồ như mất hẳn; bên kia là bản tính
con người với tất cả sự nặng nề yếu đuối của nó, một sự
yếu đuối rất mạnh mẽ không dễ gì thắng được. Một bên là
tinh thần rất nhanh lẹ chóng vánh, bên kia là xác thịt ù
lì chậm chạp. Một bên là tình yêu, bên kia là khuynh hướng
vị kỷ của bản tính con người. Một bên là ý muốn của Thiên
Chúa, bên kia là ý muốn của riêng Ngài. Ngài muốn ý của
Thiên Chúa thắng thế, nhưng sao lúc này ý của Thiên Chúa
nơi Ngài mờ nhạt quá, mà ý của Ngài sao mạnh quá, rõ rệt
quá! Ngài đang có ý tưởng muốn đào nhiệm, từ chối chén
đắng mà Thiên Chúa Cha muốn Ngài uống cho cạn. Ngài đã
phải thốt lên với Chúa Cha: «Lạy Cha, nếu có thể được,
xin cho con khỏi phải uống chén này» (Mt 26,39.42.44).
Muốn ý của Thiên Chúa thắng không đủ, còn phải chiến đấu
chống lại ý muốn của mình nữa. Ngài đã phải chiến đấu kịch
liệt với chính bản thân, và cuối cùng Ngài đã thắng: «Tuy
vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha» (nt).
Tự do là con dao hai lưỡi. Nhưng
muốn dùng lưỡi dao tốt thì lòng mong muốn suông
không đủ, phải có sức mạnh để cụp cái lưỡi dao xấu
lại và kéo cái lưỡi dao tốt ra. Lưỡi xấu lúc nào
cũng muốn bật ra chẳng phải dùng sức để kéo, còn lưỡi tốt
thì phải dùng sức kéo mới ra được. Đó chính là thảm trạng
của con người. Cần phải có sức mạnh mới làm theo ý Thiên
Chúa được, chứ chỉ một mình thiện chí thì không đủ. Ai
cũng đều muốn làm điều tốt cả, nhưng họ có làm nổi đâu! Và
đâu có ai muốn mình làm điều xấu, ác, nhưng sao họ vẫn cứ
làm? Điều ác hấp dẫn quá, ý chí yếu đuối của nhiều người
không đủ sức chống cự. Nếu Thiên Chúa không tiếp sức mạnh
cho con người, làm sao họ làm theo ý Ngài được? Nhưng làm
sao Thiên Chúa có thể tiếp sức cho con người được nếu họ
không muốn điều đó, vì Ngài phải tôn trọng tự do của họ?
Nhiều khi con người bị một đam mê nào đó lôi cuốn quá
mạnh, khiến họ không còn muốn làm một số điều tốt mà lại
muốn làm một số điều xấu.
Cơn cám dỗ cuối cùng này của Ngài giúp
Ngài hiểu và thông cảm với con người hơn bao giờ hết. Tất
cả những lý thuyết hay đến đâu cũng không thể thực hiện
được nếu không có sức mạnh để thực hiện. Ngài cảm thấy con
người đáng thương quá! Thiên Chúa cần phải cảm thông với
sự yếu đuối cũng như sự ngu muội ngông cuồng của họ. Con
người có tự do, nhưng con người không có đủ sáng suốt và
sức mạnh để sử dụng tự do đó đúng theo ý muốn của Thiên
Chúa. Xét cho cùng thì mọi tội lỗi của họ đều do họ ngu
muội thiếu sáng suốt mà ra, cho dẫu họ có cố tình và cảm
thấy như hoàn toàn tỉnh táo lúc họ quyết định phạm tội.
Đâu phải Thiên Chúa không ban cho con người khôn ngoan
sáng suốt, nhưng sự sáng suốt đó tổ tông con người đã đánh
mất vì kiêu ngạo không muốn phục tùng Thiên Chúa. Dẫu vậy,
Thiên Chúa vẫn thông cảm với con người nên đã có kế hoạch
cứu chuộc. Và chính vì kế hoạch này mà Ngài đến với con
người. Và bây giờ là thời điểm mấu chốt quyết định cho sự
cứu chuộc ấy.
Tình thương đối với
con người đã thắng sự sợ hãi và yếu đuối
Sự cảm thông với con người làm cho tình
yêu của Ngài đối với họ bỗng trở nên mãnh liệt hơn bao giờ
hết, tình yêu đó đã trở thành sức mạnh có tác dụng như một
thiên thần từ trời xuống an ủi nâng đỡ Ngài. Thế là tình
yêu đã thắng, cuộc chiến đã kết thúc. Ngài cảm thấy hăng
hái chấp nhận tất cả những gì khủng khiếp nhất đang chờ
đợi Ngài vì yêu thương con người. Thì ra tình yêu là sức
mạnh, một sức mạnh kinh khủng. Thì ra con người yếu đuối
là vì con người thiếu tình yêu, con người không chạy đến
với tình yêu. Tình yêu mạnh hơn sự chết. Chính tình yêu
làm con người thành thánh thiện, mạnh mẽ, làm cho con
người sáng suốt. Tình yêu chính là chìa khóa thần diệu cứu
con người, giải thoát con người khỏi tội lỗi và đau khổ.
Mọi tội lỗi đều phát sinh từ sự thiếu tình yêu. Ngay cả sự
ngu muội cũng phát xuất từ sự thiếu tình yêu.
Tình yêu,
hay nói
đúng
hơn
ý tưởng về tình yêu
đã giúp Ngài thắng
và
ra khỏi
cơn
cám dỗ kinh khủng,
và
làm Ngài bình tĩnh,
can đảm
trở lại.
Và
bây
giờ, Ngài
đang bình thản
đón
chờ bọn lính của giới lãnh đạo
tôn giáo cùng Giuđa đến bắt Ngài. Tình yêu
đã giúp Ngài chịu đựng được tất cả những đau khổ trong suốt
cuộc hành trình khổ nạn, từ dinh Philatô,
và cuối cùng đến núi Sọ, nơi Ngài bị hành quyết.
Thế là nơi Thiên Chúa, Tình Yêu lại hòa
giải được với Công Bình! Những đòi hỏi của tình yêu đã hóa
giải được những đòi hỏi của công bình! Khi nhập thể làm
một con người yếu đuối như tất cả mọi người, Ngôi Hai
Thiên Chúa đã cảm nghiệm sự yếu đuối và khốn nạn của con
người, và Ngài thông cảm với họ hơn bao giờ hết. Sự thông
cảm này làm cho tình yêu của Ngài dành cho con người vốn
đã dào dạt và mãnh liệt lại càng dào dạt và mãnh liệt hơn.
Và chính tình yêu đó đã thúc đẩy Đức Giêsu vui vẻ và tự
nguyện chấp nhận những đau khổ kinh khiếp và cái chết vô
cùng nhục nhã. Đó là cái giá mà sự Công Bình của Thiên
Chúa đòi hỏi Tình Yêu của Ngài phải trả để sự Công Bình ấy
được thỏa mãn. Nhờ đó cả Công Bình lẫn Tình Yêu của Thiên
Chúa đều được thỏa mãn. Tình Yêu ấy, thánh Gioan đã viết
rất đúng: «Đức Giêsu biết giờ của Người đã đến, giờ
phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn yêu thương
những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu
thương họ đến cùng» (Ga 13,1).
Về mục lục >

LINH ĐẠO
LÒNG ĐẠO ĐỨC ĐÍCH THẬT
Lm. An-rê Đỗ
xuân Quế
O.P.
Đạo đức là bổn phận của người tín hữu
như lời Chúa Giê-su dạy: «Anh
em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trới là Đấng
hoàn thiện». (Mt 5,48) Nên hoàn thiện có nghĩa
là thành người đạo đức như thánh Gia-cô-bê nói. Lòng đạo
đức này hệ tại việc kiềm chế miệng lưỡi, thăm viếng cô
nhi quả phụ gặp bước gian truân và giữ lòng cho khỏi các
vết nhơ của trần gian (x. Gc 1,27). Giữ và làm được
như thế quả là hoàn thiện và đạo đức thật. Lòng đạo đức đó
đem lại hạnh phúc cho con người ngay ở đời này như thánh
Phao-lô nói: «Hãy luyện tập
sống đạo đức… Lòng đạo đức thì lợi ích mọi bề, bởi Chúa
hứa ban sự sống hiện tại cũng như tương lai cho người có
lòng đạo đức. Đó là lời đáng tin cậy và đáng mọi người đón
nhận». (1 Tm 4,7-9) Vậy đạo đức
chính ra là gì?
Nghĩa thông
thường
Người ta vẫn cho đạo đức là siêng năng
đi lễ, đi nhà thờ, đọc kinh sớm tối, năng xưng tội rước
lễ, chầu Mình thánh Chúa v. v… Nhưng bấy nhiêu chưa đủ, vì
đó mới chỉ là đạo đức cho riêng mình. Đạo đức như vậy kể
là khó nhưng cũng dễ. Khó vì phải khổ công luyện tập để
làm những công việc tự nhiên người ta thấy ngại, nhưng lại
dễ vì một khi đã quen, cứ thế mà làm, không phiền phức hay
đụng chạm đến ai. Còn đạo đức thật là đạo đức có tính xã
hội, liên quan đến người khác, thành ra nhiều khi vướng
vít đòi hỏi, đôi khi phải hy sinh thiệt thòi, bị xáo trộn
về giờ giấc cũng như công ăn việc làm, và trái với tính tự
nhiên thích an thân của mỗi người. Đàng khác, do sự đòi
hỏi của bí tích Rửa tội, mỗi người tín hữu không chỉ lo
phần rỗi cho riêng mình mà còn phải lo cho người khác nữa.
Nghĩa đặc
biệt
Nghĩa này dựa vào câu của thánh
Gia-cô-bê mới nói ở trên, nhưng nhiều người không để ý hay
không biết, thành ra cứ sống theo mẫu đạo đức cá nhân mà
chưa chuyển sang nghĩa đích thật. Câu đó vắn tắt nhưng ý
nghĩa rất rõ như sau:
Thứ nhất
là kiềm chế miệng lưởi,
Thứ hai là thăm viếng cô nhi
quả phụ gặp bước gian truân,
Thứ ba là giữ mình cho khỏi
các vết nhơ của trần gian.
1. Kiềm chế
miệng lưỡi
Miệng lưỡi là một bộ phận cần thiết để
ăn uống, nói năng, ca hát. Thực phẩm bên ngoài vào qua
miệng, tư tưởng bên trong phát ra cũng qua miệng. Như thế
đủ biết vai trò và chức năng của miệng lưỡi. Nhưng miệng
lưỡi con người thế nào mà lại phải kiềm chế nó? Thưa miệng
lưỡi thường có khuynh hướng khoác lác. Người ta hay nói
quá sự thật để khoe khoang, tô điểm, che đậy hay đánh lừa.
Ngoài ra, có người lại còn thích bày đặt, kiếm chuyện nói
cho người khác chú ý đến mình hay nói cho bõ ghét. Rồi
miệng lưỡi lại độc ác nữa. Vì thế mới có câu «giết
người không gươm» là vậy.
1.1 Làm thế nào
để kiềm chế miệng lưỡi?
Vì miệng lưỡi lợi hại như thế nên chúng
ta phải coi chừng. Coi chừng có nghĩa là để ý đến
tính thiếu kín đáo và thiếu cẩn trọng. Một điều chúng ta
nghe biết có thể nói với người này mà không nói với người
kia. Có thể là không nên nói, vì nói ra sợ gây hiểu lầm và
làm trống chuyện của người khác. Phải coi chừng, vì mỗi
người chúng ta đều có nhu cầu nói ra với người này hay
người kia những điều chúng ta biết hay mang nặng trong
lòng. Nếu không coi chừng thì dễ nói khác đi không đúng
với sự thật, thành dễ sinh ra lắm chuyện không hay.
Tiếp đến là nhịn nói. Có những
người thích nói và không nhịn nói được, nhất là khi gặp
điều bực tức. Bây giờ để kiềm chế miệng lưỡi thì hãy nhịn
nói hay khoan nói để cho cơn giận hạ xuống, kẻo nhỡ vì
nóng nảy mà nói quá lời, sau sẽ hối không kịp.
Nghĩ kỹ rồi hãy nói, đừng bạ đâu nói
đó, gặp gì cũng nói. Người mau nói thì thường dễ sai, dễ
vấp. Điều gì không cần nói thì bỏ qua; điều gì phải nói
thì cũng lựa lời mà nói để tránh gây khó chịu cho người
khác.
1.2 Tại sao nếu
không kiềm chế miệng lưỡi là tự dối lòng mình?
Thưa vì nếu không kiềm chế thì ta lỗi
đức bác ái hoài. Mà lỗi đức bác ái thì đâu phải là người
đạo đức, hay có đạo đức thì đó cũng chỉ là một thứ đạo đức
hão huyền, vì chỉ có vẻ đạo đức bên ngoài, còn đạo đức
chính xây dựng trên đức bác ái thì không. Vì thế, nhiều
người siêng đi lễ, đi nhà thờ, năng xin lễ, dâng hoa cho
Đức Mẹ, nhưng lại cho vay nặng lãi, giam tiền công không
chịu trả ngay cho người làm… mà cứ tưởng mình là người đạo
đức!
Thật đúng như Chúa Giê-su nói: «Không
có cái gì cái từ bên ngoài vào trong con người lại có thể
làm cho con người ra ô uế được; nhưng chính cái từ con
người xuất ra, là cái làm cho con người ra ô uế».
(Mc 7,15; Mt 15,11) Đó là những tư tưởng xấu, những
ước muốn bậy và những lời nói ác độc. Muốn là người đạo
đức thật thì phải kiềm chế miệng lưỡi, không nói lời gây
chia rẽ làm cho người khác buồn phiền, không nói lời chua
cay độc địa làm cho người ta phải điêu đứng, không nói
sai, nói khác với lời được nghe hay sự việc đã xảy ra.
Cuối cùng là giữ yên lặng, không
nói khi thấy không cần thiết.
2. Thăm viếng
cô nhi quả phụ gặp bước gian truân
Nét thứ hai của lòng đạo đức đích thật
là thăm viếng cô nhi quả phụ gặp bước gian truân. Cô nhi
quả phụ là một loại người yếu trong xã hội cần được nâng
đỡ. Trẻ em không cha mẹ, đàn bà goá chồng là những người
mất nơi nương tựa. Tình cảnh của những người này thật đáng
thương. Nay nếu chúng ta đem lại cho họ tình thương, khơi
động lên cho họ một niềm an ủi bằng những cuộc thăm viếng,
những lời nói xoa dịu nỗi thương đau và những sự giúp đỡ
cần thiết tùy khả năng của mỗi người thì đó là chúng ta
sống đạo, chúng ta là những người đạo đức thật.
Cô nhi quả phụ chỉ là một loại người nói
chung cho gọn để chỉ tất cả những ai nghèo khổ, túng đói,
cô thế cô thân mà thôi. Bởi vậy, thăm viếng cô nhi quả phụ
cũng là làm việc bác ái đối với những người đáng thương cả
phần hồn lẫn phần xác, một việc bác ái vô vị lợi, âm thầm
kín đáo tế nhị. Điều này không làm cho người được thương
có cảm giác là họ đáng thương và đang cần đón nhận tình
thương của chúng ta, kẻo họ mặc cảm. Về điểm này, chúng ta
nên theo lời dạy của Tin Mừng là không cho tay trái biết
việc tay phải làm (Mt 6,3). Vậy cụ thể chúng ta làm công
việc này như thế nào?
2.1 Để ý
Trước hết để ý đến việc thăm viếng cũng
như để ý đến việc đi lễ, đi nhà thờ, đọc kinh, lần chuỗi.
Có để ý thì mới nhớ mà làm và coi đó là việc cần thiết. Ở
bên cạnh chúng ta có những người đau khổ túng thiếu mà
chúng ta chỉ biết đọc kinh, đi nhà thờ thì đạo của chúng
ta là một thứ đạo quá yên lành, và giữ đạo như thế chỉ là
giữ đạo cho một mình thôi. Xưa nay nhiều người trong chúng
ta có khi quá thiên về điểm này mà chưa để ý đến chiều
kích xã hội của đạo, đành rằng đạo của chúng ta có những
hội và những tổ chức từ thiện cũng như có các dòng tu
chuyên lo việc bác ái. Nhưng đó là chuyện đoàn thể, còn cá
nhân chúng ta cũng phải làm như Chúa dạy:
«Nào những kẻ Cha Ta chúc
phúc, hãy đến thừa hưởng vương quốc dành sẵn cho các ngươi
ngay từ thuở tạo thành trời đất, vì xưa Ta đói các ngươi
đã cho ăn; Ta khát các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ
các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng các ngươi đã cho
mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã chăm nom; Ta ngồi tù, các
ngươi đã thăm viếng» (Mt 25,34-36).
Những lời này rất quen thuộc đối với
chúng ta. Chúng ta biết là cần, nhưng lại cho như là quá
đòi hỏi và lý thuyết, còn thực tế, ai hơi sức đâu mà lo
cho những người ấy được, vì họ quá đông, lại có những
người lợi dụng và lạm dụng lòng tốt của người khác mà đi
đến chỗ bày đặt để đánh lừa thiên hạ.
Thực ra, những vấn đề xã hội thì mênh
mông như biển cả; nếu chúng ta có làm được gì thì cũng như
muối bỏ bể mà thôi. Nhưng ý nghĩa là ở chỗ chúng ta làm
hơn là ở kết quả đạt được. Về điểm này, chúng ta có kinh
Thương xác bảy mối, Thương linh hồn bảy mối. Những
kinh này trước kia thường được đọc vào các ngày Chúa nhật.
Kinh thì cũ nhưng ý nghĩa vẫn hợp thời. Chúng ta chỉ cần
để ý và đem ra thực hành là đủ.
2.2 Làm thực sự
Để ý mới chỉ là bước đầu. Nếu dừng lại
đó thì chúng ta vẫn ở trong vòng thiện chí, chứ chưa đi
tới hành động. Vậy phải hành động mới thiết thực. Nhưng
hành động làm sao?
2.2.1 Hỏi xem.
Hỏi và nhìn xem chung quanh chúng ta có
những ai là cô nhi quả phụ lâm cảnh gian truân. Hỏi cho
biết đã, rồi tùy như nên chăng mà thăm viếng, giúp đỡ ủi
an. Phải nói là nên chăng, vì nếu là quả phụ còn trẻ mà
nam giới đến viếng thăm thì e không tiện và có thể sinh ra
điều tiếng. Còn điều này nữa là nếu không khéo thì sự thăm
viếng có thể bị coi như một cách thế mua chuộc, một sự
ngầm gây ảnh hưởng. Vì thế, nếu là phụ nữ với nhau thì
không phải ngại gì, nhất là khi làm một cách kín đáo tế
nhị, với tất cả lòng chân thành.
2.2.2 Đích thân hay nhờ người tới
thăm giúp đỡ.
Chúng ta sẽ đích thân đến thăm viếng,
giúp đỡ, ủi an, nếu thấy không có gì trở ngại về phía
chúng ta hay về phía những người được thăm viếng. Có thể
là chúng ta có tiền và đồ vật, nhưng không có hoàn cảnh
thuận tiện để làm công việc này. Trong trường hợp đó, có
thể nhờ người nào đáng tin cậy làm giùm. Nhiều người đã
làm như thế. Nhờ vậy, một số cô nhi quả phụ lâm cảnh gian
truân đã một phần nào được nâng đỡ.
Tất nhiên, công việc giúp đỡ này hoàn
toàn tự nguyện và tùy ở lòng quảng đại và khả năng của mỗi
người, cộng thêm với sự thúc đẩy của ơn Chúa. Bình thường
thì «ách giữa đàng chẳng ai muốn quàng vào cổ». Xưa
ông Tô-bi-a cha đã làm công việc này. Cũng vì vậy, ông bị
bà vợ cằn nhằn. Nhưng cuối cùng, ông đã được cất cho khỏi
nỗi tủi nhục và được ân thưởng xứng đáng là đòi được nợ và
cưới vợ được cho con, lại được sáng mắt như trước khi bị
mù.
2.2.3 Thăm viếng mấy lần và vào những
lúc nào?
Thăm mấy lần là tùy ơn Chúa soi sáng và
thúc đẩy mỗi người. Có điều nếu ấn định được vào những
thời kỳ rõ rệt trong năm thì dễ nhớ và dễ làm hơn. Còn
những trường hợp khẩn cấp và bất thường thì không kể, làm
lúc nào cũng được và càng làm ngay càng tốt. Thường trong
năm có ba thời kỳ nên chú ý đến việc thăm viếng giúp đỡ cô
nhi quả phụ hơn cả, đó là Mùa Vọng, Mùa Chay và dịp Tết
Nguyên đán. Vào những dịp này, song song với các tuần tĩnh
tâm, nên có những cuộc vận động đạo đức nhằm thực hành lời
khuyên của thánh Gia-cô-bê.
Trường hợp không có tiền bạc, quà bánh
thì sao? Thánh Gia-cô-bê không nói đến những thứ này mà
chỉ nói tới việc thăm viếng. Nguyên việc thăm viếng cũng
đã đáng kể rồi, vì nó đòi ta phải nhớ, phải mất thời giờ,
phải mất công đi và như vậy là ta bị rầy rà vì người khác,
mộât việc làm đáng kể. Chấp nhận sự rầy rà để đem lại cho
người khác một chút an ủi, một niềm vui nhỏ, đó chính là
bác ái. Điều nói về cô nhi quả phụ cũng có thể áp dụng cho
những người ốm đau bệnh tật, nghĩa là thăm viếng cô nhi
quả phụ hay người ốm đau bệnh tật cũng như nhau. Làm như
vậy mới là người đạo đức thật, một thứ đạo đức có chiều
kích xã hội, đi đến với người khác, liên đới với người
chung quanh để hàn gắn, xoa dịu một phần nào vết thương
cho họ. Đây mới là thước đo lòng đạo đức thật. Từ nay
chúng ta cứ dựa vào đây mà đánh giá lòng đạo đức của mình
cũng như của người khác. Có đọc kinh, xem lễ, đi nhà thờ,
xưng tội, rước lễ mà không thăm viếng cô nhi, quả phụ gặp
cảnh gian truân thì cũng chưa phải là đạo đức thật.
3. Giữ mình
cho khỏi các vết nhơ của trần gian
Điều kiện thứ ba của lòng đạo đức tinh
tuyền và không tì ố trước mặt Thiên Chúa là giữ mình cho
khỏi các vết nhơ của trần gian. Như vậy có nghĩa là gì?
Thời trước chúng ta hay được nghe nói
đến ba thù là ma quỉ, thế gian, xác thịt. Bây giờ thì ít
khi nghe nói đến những thứ này. Nhưng không nói đến không
có nghĩa là những thứ đó không còn nữa, hay không đáng kể.
Thực ra ba thù vẫn còn đó và hàng ngày chúng ta vẫn phải
đương đầu với chúng. Có điều là bây giờ vấn đề được trình
bày khác hơn và tầm quan trọng của cuộc đời người tín hữu
cũng được nhấn mạnh ở một điểm khác nữa. Trước kia đời
sống người tín hữu được trình bày một cách hơi đen tối và
tiêu cực. Có thể nói lúc nào chúng ta cũng bị ám ảnh bởi
tội lỗi và mối bận tâm của chúng ta luôn luôn là thiên
đàng, hỏa ngục, sự chết, cuộc đời này chóng qua, thế gian
là chốn lưu đầy v. v…
Bây giờ thì ba thù và tứ chung là những
điều vừa nói vẫn còn đó, không thay đổi và không bị coi
nhẹ, nhưng được trình bày cách tích cực và đúng vị trí
hơn.
3.1 Giữ mình
Trước hết là giữ mình. Giữ mình
là một hành động tích cực, nghĩa là canh chừng, đề phòng.
Chúng ta nhìn vào đời sống của mình để nhận ra những điểm
mạnh, điểm yếu. Chúng ta biết mình mang những thứ quí
trong một cái bình dòn mỏng, dễ vỡ là thân xác chúng ta,
như thánh Phao-lô nói: «Nhưng kho tàng ấy, chúng tôi
lại chứa đựng trong những bình sành» (2 Cr 4,7) mà ý
tứ, cẩn thận hơn. Thân xác chúng ta vừa là đền thờ của
Chúa Thánh Thần, vừa là cái bình mỏng manh nên chúng ta
vừa phải tô điểm cho đền thờ đo, ù lại vừa phải bảo trì
cái bình kia. Về phần tô điểm thì chúng ta phải tập tành
các nhân đức, làm các việc phước thiện; còn về phần bảo
trì, chúng ta phải xa lánh tội lỗi, đề phòng các dịp hiểm
nghèo có thể gây nguy hại cho đức tin, lòng chung thủy,
đức trong sạch, đức bác ái và đức công bình v. v…
Cách thế hữu hiệu giúp chúng ta giữ mình
là sống dưới cái nhìn của Đức Chúa và bước đi trong đường
lối của Người, như xưa Người đã phán bảo tổ phụ Áp-ra-ham:
«Ngươi hãy đi trước mặt Ta và
hãy sống hoàn hảo» (St 17,1). Thánh vịnh
15 cũng có lời chép:
«Con chúc
tụng Chúa hằng thương chỉ dạy,
ngay cả đêm trường, lòng dạ nhắn
nhủ con.
Con luôn nhớ có Ngài truớc mặt,
được Ngài ở bên, chẳng nao núng
bao giờ»
(Tv 15,7-8).
Phải sống ở trước mặt Chúa, dưới cái
nhìn của Người, chúng ta mới giữ mình được. Tư thế này làm
cho chúng ta dễ canh chừng vì biết rằng ma quỉ như sư tử
rống lên tìm mồi cắn xé, nên phải dựa vào Chúa thì mới
mong chống cự lại chúng được. Vậy thiết thực là chúng ta
phải cẩn thận khi làm việc này việc khác, xem có gì sai
trái không mà đề phòng, đồng thời cũng thầm xin ơn Chúa
giúp nữa, để chúng ta làm nên những việc phải làm và tránh
được những sơ hở hay cạm bẫy.
3.2 Những vết nhơ của trần gian
Những vết nhơ của trần gian ở đây là
những sự đối chọi giữa xác thịt và thần khí, giữa bóng tối
và ánh sáng, giữa lòng yêu mến Chúa và yêu mến sự đời được
bàn giải trong các thư của thánh Gio-an và thánh Phao-lô.
Cụ thể liên can đến đề tài đang bàn giải ở đây là thư thứ
nhất của thánh Gio-an đoạn thứ 2 câu 16. Câu đó như sau:
«Anh em đừng yêu thế gian, kẻ
nào yêu thế gian thì nơi kẻ ấy không có lòng mến Chúa Cha,
vì mọi sự trong thế gian: như dục vọng của con người, dục
vọng của đôi mắt và thói cậy mình có của, tất cả những cái
đó không phát xuất từ Chúa Cha, nhưng phát xuất từ thế
gian». (1Ga 2,16).
Căn cứ vào hai câu này, chúng ta có thể
hiểu những vết nhơ đó là dục vọng của con người, dục vọng
của đôi mắt và thói cậy mình có của. Chúng ta phải giữ
mình cho khỏi những thứ đó, những sự ham muốn của lòng
người nói chung, như ham muốn được thỏa thích mọi đường,
bất kể có hợp với luật Chúa hay không, ham muốn những gì
vừa mắt, dù có làm cho mình đắm đuối mà lỗi phạm luật Chúa
về đức trong sạch.
Cuối cùng là giữ mình cho khỏi thói cậy
của. Thói này dễ làm cho người ta coi thường, coi khinh kẻ
khác, kể cả Thiên Chúa. Người cậy vào của thì không cần
đạo, ít nghĩ đến luân lý, dễ tìm hưởng thụ khoái lạc vật
chất. Họ coi của cải là tất cả và chỉ còn việc đổ dồn mọi
hơi sức vào việc tìm kiếm của cải mà thôi. Đó chính là một
vết nhơ làm hoen ố lòng tin của chúng ta đặt vào Thiên
Chúa, làm lu mờ lý trí và vẩn đục lương tâm chúng ta.
Tất cả những vết nhơ đó là điều nghịch
với lòng đạo đức tinh tuyền và không tì ố trước mặt Thiên
Chúa mà tín hữu phải cố gắng tẩy sạch và loại trừ, để
thành người nghĩa thiết với Chúa và làm chứng cho mọi
người thấy rằng có một thứ hạnh phúc riêng, nhẹ nhàng sâu
sắc dành cho những người thực hành lời Chúa dạy.
Về mục lục >

Nền Linh-đạo
Công Giáo Việt Nam
Tác-giả bản Anh-ngữ:
Chu-Công
Dịch-giả: Chu-kim-Nam
1) Ðịnh nghĩa
danh từ Linh-đạo, và danh-từ Tôn-giáo:
Linh-đạo (spirituality) và tôn-giáo
(religion) khác nhau:
Tôn Giáo
là một cơ cấu tổ-chức, với những lễ nghi; đạo-lý và niềm
tin của mỗi Tôn Giáo, như Phật Giáo, Hồi Giáo, Kitô Giáo,
Do Thái Giáo, v. v..
Linh-đạo
là đường lối tìm kiếm một ý
nghĩa và mục đích của cuộc sống.
Linh-đạo đã có
từ muôn thuở. Linh-đạo là
Hành động trong Ðức Tin của một tôn giáo.
Ðể có linh-đạo ta phải có: Ðức Tin thực-hành, và Tôn Giáo
phải là một tôn giáo sống động, chứ không chỉ có danh
nghĩa là một tôn giáo.
Theo David Hay thì bẩy mươi phần trăm
người lớn có linh-đạo, nhưng chỉ mười phần trăm có
tôn-giáo. Theo văn-hoá nhân-chủng-học, và tôn-giáo-học thì
linh-đạo đi sâu trong tâm-tính
con người hơn là tôn-giáo.
Linh đạo của Kitô hữu là đường lối rèn
luyện đức tính và tập quán đưa cuộc sống của Kitô hữu đến
chỗ tuyệt hảo, theo lời giảng dậy của Chúa trong Phúc-âm..
Linh-đạo của Người Công Giáo Việt Nam
được đánh dấu bằng sự sùng kính (popular devotions) đặc
biệt là sự tôn thờ Chúa Giêsu Kitô Chúa Chúng Ta, và sùng
kính Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa, và các Thánh Tử đạo.
Trước khi bàn đến Linh-đạo Công Giáo của
người Việt Nam, chúng ta cần thảo luận qua về linh-đạo
tổng-quát của tất cả người Việt-Nam.
2) Khái niệm
về “Ông Trời» của người Việt Nam
Người Việt Nam tin có Thượng Ðế, cai
quản vũ trụ. Thượng Ðế, đấng Tạo Dựng trời đất, Hiện Hữu,
tự có, không sanh bởi ai. Thượng Ðế, hay là Ông Trời, cai
quản vũ trụ và điều khiển mọi hoạt động một cách khôn
ngoan. Không ai thấy Thượng Ðế, nhưng Thượng Ðế thấy hết
mọi sự, mọi người, kể cả những điều kín ẩn; ta không thể
dấu Thượng-Ðế bất cứ điều gì. Cũng vậy, Thượng Ðế biết cả
qúa khứ, hiện tại và tương lai.
Là Đấng Tạo dựng nhân loại, và thiên
nhiên, Thượng Ðế đầy lòng thương xót nhân loại và tất cả
sinh vật mà Thượng Ðế đã dựng nên. Thượng Ðế ban cho mọi
loài của nuôi và hạnh phúc.
Chúng ta tin
tưởng Trời là toàn năng, toàn mỹ, nhưng Trời không ngăn
cản quyền tự do và trách nhiệm của con người. Con
người có trách-nhiệm về hoạt-động đưa tới hạnh-phúc hay
bất hạnh. Trời thưởng hay phạt con người theo công việc
của họ. Do đó con người đạt được hạnh phúc và bình an
trong cuộc sống là vì họ nghe theo Trời dạy bảo. Sau đây
là lời Khẩn Cầu Trời cho mưa:
“Lạy Trời mưa xuống,
lấy nước tôi uống,
lấy ruộng tôi cầy,
lấy bát cơm đầy,
lấy ngày ấm no…»
3) Người Việt
Nam hướng về
Thiên Nhiên
Người Việt
Nam nghe theo thiên-nhiên trong cuộc sống vật chất và làm
ăn của họ. Thiên Nhiên cũng ảnh hưởng chi phối tinh thần
của con người. Bởi vậy có một tình cảm trói buộc con người
Việt Nam vào môi trường Thiên-nhiên.
Thiên-nhiên có cảm giác và có hồn.
Thiên-nhiên chia sẻ với con người về tư tưởng và tình cảm.
Người bình dân Việt Nam coi Thiên-nhiên như phản ảnh của
nỗi vui cũng như nỗi buồn. Ðùng đùng một lúc, Thiên-nhiên
dễ làm giao động con người. Thay đổi khí trời, chẳng hạn,
ánh mặt trời giãi trên ngọn tre có thể làm nẩy nở một tình
cảm trong con người. Thiên-nhiên ảnh hưởng tới người
Việt-nam, cũng như người Á-đông, hơn người Tây Phương.
Dù mưa xuống, hay nắng chói, người
Việt-Nam hay nghĩ đến ảnh hưởng của mùa màng gặt hái trong
đồng ruộng của họ. Thí dụ:
“Trời nắng tốt dưa,
Trời mưa tốt lúa».
(Lời dịch-giả: Như thế có nghĩa
là nắng hay mưa đều tốt cả! )
Nhờ kinh nghiệm thực thể, và quan sát,
người bình dân Việt-Nam đạt được hiểu biết về Thiên-nhiên
và điềm-lạ trong Thiên-nhiên. Họ thường theo ca-dao để
tiên đoán thời tiết trong công việc đồng áng. Và biết được
thiên-tai hay địa-họa bởi việc ngắm mây, ngắm trời, trăng
sao, gia súc, chim chóc, và côn trùng. Kiến-thức này giúp
người Việt-Nam điểu chỉnh môi trường sinh hoạt trong cuộc
sống. Thí dụ:
“Mống Ðông Vồng Tây,
Không mưa giây cũng bão giật»
Hay câu:
“Tháng bẩy heo may,
Chuồn chuồn bay thì bão»
Sống giữa Thiên-nhiên, người Việt-Nam
liên tục trí minh mẫn của họ và sức mạnh vũ lực
Thiên-nhiên. Ðôi lúc họ thành công, nhưng nhiều lúc bị
thất-bại và bị tàn phá bởi vũ lực Thiên Nhiên. Có lẽ vì
cảm thấy mình bất lực trước Thiên-nhiên người Việt-Nam
thận trọng trước tai ương và bái phục Thiên Nhiên.
(Lời dịch giả:
Không riêng gì Việt Nam, ngay cả
những nước tân tiến, như Hoa-Kỳ, cũng phải chịu thua
Thiên-nhiên. Thí dụ như Ðộng đất, núi lửa…)
Nhưng mối liên lạc linh thiêng giữa
người Việt và Thiên-nhiên không chỉ căn cứ trên sợ hãi, lo
âu và dị đoan. Thiên-nhiên còn cho ta vẻ đẹp và thơ mộng.
Mặt trăng và các vì sao, bầu trời, áng mây, sông núi, cây
cỏ và bông hoa, mọi thứ trong Thiên Nhiên (trừ sức vũ bão
tàn phá) thức tỉnh niềm vui sướng và thâm sâu trong lòng
người.
Trăng có ảnh hưởng đặc biệt đến con
người Việt-Nam. Trăng thường gắn bó trong công việc đồng
áng của người nông dân và trong vui chơi của họ. Trăng
cũng thường được dùng làm đề tài cho thơ-phú và ca hát.
Trong văn-hoá Việt-Nam, Trăng được biểu-hiệu nữ-tính và
sắc đẹp duyên dáng. Câu ẩn-dụ như: “Cô Hằng Nga»
nói đến người tiên nữ đẹp.
Người Việt-Nam là Con Rồng Cháu
Tiên
Ðể hiểu rõ linh-đạo của người Việt-Nam
ta cần biết tổng quát tâm tính của họ với nguồn gốc
tổ-tiên. Dân-tộc nào cũng có thần-thoại về nguồn-gốc của
họ, chẳng hạn:
1) Tín hữu khắp thế-giới tin nguồn gốc
loài người là do Thiên Chúa dựng nên. Kinh-Thánh kể rằng
Thượng Ðế tạo dựng con người như hình ảnh của Ngài; người
nam và người nữ đã được dựng nên bởi Thượng Ðế (Khởi
Nguyên 1: 27);
2) Theo thần thoại La Mã, thì “Cupid»
-con trai cuả Nữ-thần Venus- kết bạn với “Psyche».
3) Người Trung-Hoa tin rằng Tối-Hậu
(Supreme Ultimate) sinh ra Âm và Dương (Yin-Yang, nữ-tính
và nam-tính). Sách Ðạo-đức-Kinh (Tao-Te-Ching) viết rằng:
“Vũ-trụ cõng Âm sau lưng,
Và ôm Dương ở trước ngực.
Do sự phối-kết của hai Thái-cực
Mà thế giới có hoà-bình du dương».
4) Thần thoại
về nguồn gốc người Việt Nam:
Thần-thoại về nguồn gốc người Việt có
nhiều, như truyện Sơn-Tinh lấy Thuỷ-Tinh, truyện Tiên kết
bạn với Rồng. Ðể có ý-niệm sâu sắc về linh-đạo người Việt
tôi xin trưng truyện Tiên Rồng. Truyện rằng:
«Từ Thượng Ðế có Tiên
Rồng.
Tiên phối- hợp Rồng;
Tiên mang thai và đẻ ra một bọc có trăm trứng.
Trứng nở ra trăm con.
Sau khi
Tiên sanh hạ trăm con, Rồng nói với Tiên:
“Ta thuộc về dòng giống
Rồng,
còn em thuộc dòng giống Tiên.
Vì vậy, em hãy đưa năm mươi con lên núi,
Còn anh, anh đem năm mươi con xuống biển”.
Và Rồng dặn thêm rằng:
“Khi nào cần trợ giúp,
hãy tìm anh, anh sẽ đến giúp em ngay!”»
Từ đó dòng giống người Việt-Nam sanh sản
thêm lên, và họ tự- hào cho mình là
“Con Rồng Cháu Tiên».
Ngụ ý của truyện:
Theo Carl Jung, tâm lý gia Thụy sĩ, thì
truyện thần-thoại là sản phẩm của sinh lực dồi dào từ
vô-thức đại-đồng (Universal Unconsiousness). Trong văn-hóa
Hy-lạp và La Mã thì thần-thoại là những câu truyện về
Thượng-đế.
Theo Kitô giáo thời xưa, thì thần-thoại
là những câu truyện giả-mạo; nhưng khoa học ngày nay
về phong tục và luân lý cổ
truyền, song song với những nghiên cứu của nhân-
chủng-học, của các nhà sử học của tôn giáo, truyện
thần-thoại đã được phục hồi trở lại ý nghĩa nguyên thủy
của nó:
Theo Carl Jung
thì thần-thoại là sản-phẩm của tưởng tượng trong tiềm thức
của cá-nhân; theo Mircea Eliad thần-thoại gắn liền con
người với ý-thức thời
nguyên-thủy, và theo Cloud Levi Straus thì thần-thoại
vọng lại cơ-cấu của tâm thức con người.
Xét những tác-dụng thần-thoại cung-hiến
cho cuộc sống chung của nhân loại ta sẽ thấy nó liên-quan
tới linh-đạo. Theo Joseph Campbell, tác-dụng đầu tiên của
thần-thoại là mở đường cho nhân loại nhận thấy có sự
hiện-diện của mầu-nhiệm (the presence of mystery). Nó cho
ta cảm thấy sự kinh-sợ và kinh-ngạc mà Rudolf Otto gọi là
«tư-tưởng về sự Thánh – sự mầu-nhiệm đáng sợ hãi»
(the mysterium tremendum).
Tác-dụng thứ hai của Thần Thoại là nâng
đỡ và hợp-thức hoá trật tự xã-hội. Thí dụ thần-thoại
Tiên-Rồng kể cho ta biết Tiên sanh ra một trăm con. Ngụ ý
là: đời sống xã hội của người
Việt Nam là một cuộc sống liên hệ gần gũi chứ không lẻ
loi, không giai cấp, chẳng hạn như người Ấn Ðộ. Do
đó qua Truyện Thần Thoại Tiên Rồng, Tổ tiên để lại cho
chúng ta một ý niệm đẹp đẽ về nguồn gốc con người của
chúng ta.
Hơn thế nữa, Tổ Tiên chúng ta đã muốn
nhấn mạnh rằng Tiên - Rồng là nguồn gốc của con người, nó
bao trùm tất cả mọi người và mọi dân tộc không dị biệt. Sự
hoà hợp của Tiên Rồng, sanh ra trăm con là dấu chỉ toàn
thể nhân loại.
Tiên Rồng biểu-hiệu Nam-tính và Nữ-tính
trong con người.
Theo sự hòa
hợp của Tiên Rồng, Tổ Tiên ta cũng muốn ám chỉ đến hai đức
tính riêng biệt trong con người: nam-tính và nữ-tính; đàn
ông và đàn bà. Con người là sự hòa hợp tuyệt hảo
của cá tánh Tiên và Rồng. Ðiều này cùng nghĩa với câu nói
của Thánh-Kinh: «Thiên
Chúa dựng nên người giống hình ảnh của Thiên Chúa; cả hai
nam và nữ được Thiên Chúa dựng nên» (Gen. 1: 27).
Carl Jung, bác sĩ tâm lý Thụy Sỹ nổi
tiếng, đã gọi hai đặc tính này là nữ-tính và nam- tính. Do
đó sự hòa hợp của Tiên Rồng là nền tảng căn bản của nhân
loại. Một tư tưởng khác lạ vẫn có là: “Trong nam có nữ,
và trong nữ có nam». Tư tưởng này bắt nguồn từ truyện
thần-thoại, như truyện Tiên và Rồng. Theo Carl Jung thì sự
phát triển tâm lý ở tại sự hoà-hợp của hai thái-cực nam và
nữ (the conjunctio oppositorum).
(Còn tiếp)
Về mục lục >

CẦU NGUYỆN
PHƯƠNG PHÁP CẦU NGUYỆN SẼ THAY ĐỔI ĐỜI
BẠN
(tiếp theo Maranatha_12)
Linda Schubert
Quang Thạch & Hoàng Quý chuyển ngữ
LTS.
Vì tài liệu Giờ Phép Lạ khá dài, do đó chúng tôi phải chia
ra thành 5 kỳ. Như đã trình bầy ở bài lần trước, Giờ Phép
Lạ gồm có 12 múi 5-phút. Mỗi mũi 5-phút là một đề mục cầu
nguyện. Ngay ngày hôm nay bạn có thể bắt đầu cầu nguyện
với mấy múi 5-phút phép lạ đầu tiên này. Tuy nhiên, để bạn
có thể nắm vững được lối cầu nguyện mới mẻ này và đi vào
cầu nguyện có hiệu quả, chúng tôi xin mời bạn đọc lại các
lời giới thiệu kỳ trước. Cầu chúc bạn đi vào cầu nguyện
thành đạt.
1. NGỢI KHEN
«Linh hồn
tôi ơi, hãy ngợi khen Chúa; tất cả thần trí tôi, hãy ngợi
khen Thánh Danh Ngài» (Tv 103,1).
Xuyên qua Kinh Thánh, Thiên Chúa rất
nhấn mạnh đến việc ngợi khen chúc tụng. Tôi nghĩ rằng
chúng ta chưa học hiểu nhiều về sức mạnh thần diệu và
huyền nhiệm của hoạt động khiêm cung này. Khi ngợi khen
Chúa, chúng ta sẽ nhận ra quyền tối thượng và uy thế của
Ngài trên cuộc sống chúng ta. Qua việc ngợi khen Ngài,
chúng ta nhìn nhận chúng ta yếu hèn và Ngài là Đấng uy
dũng. Khi ngợi khen chính là chúng ta dành chỗ trong trái
tim chúng ta để Thánh Ý Thiên Chúa được thể hiện, và nhận
biết sự dại dột của chúng ta khi cố công lèo lái Ngài
trong lời cầu nguyện. Ngài là Đấng toàn năng, Đấng Tạo Hóa
uy quyền này hằng yêu thương chúng ta đến nỗi Ngài đã sai
Chúa Giêsu đến trần gian chết thay cho chúng ta, để chúng
ta có một chỗ đứng trong gia đình của Ngài. Như thế, Ngài
xứng đáng chúng ta thờ phượng và ngợi khen. Tình yêu của
Ngài dành cho chúng ta quá vĩ đại, vượt quá tầm hiểu biết
của chúng ta.
Có một điểm đặc biệt nào đó nơi một con
người biết ngợi khen Chúa. Đôi mắt họ như tỏa sáng phản
ánh một điều gì cao quang. Những người biết ngợi khen là
những con người sống đức tin. Cuộc sống của họ xác nhận
với thế giới rằng họ tín thác Người Cha trên trời đầy từ
ái của họ. Họ hiểu biết Ngài luôn luôn muốn điều tốt lành
cho con cái của Ngài và ngưỡng vọng những đáp ứng kỳ diệu
cho lời cầu nguyện.
«Việc
hiến tế» ngợi khen (sacrifice of praise) - cả
khi chúng ta cảm thấy không ưa thích - đang lôi cuốn chúng
ta đi vào sự hiện diện của Thiên Chúa. Con người biết ngợi
khen khám phá ra rằng việc ngợi khen phát xuất từ con tim,
từ khối óc trở thành bồi bổ cho cả tâm hồn lẫn thể xác.
Việc ngợi khen lôi cuốn chúng ta đi vào tư thái tâm hồn
lành mạnh. Việc ngợi khen làm tăng cường khả năng sống và
lớn lên trong yêu thương và thánh thiện. Việc ngợi khen
dẫn đưa chúng ta đi vào cuộc sống phong phú Thiên Chúa đã
tạo dựng chúng ta. Chúng ta hãy ngợi khen Thiên Chúa trong
mọi sự.
Bạn hãy đọc lớn tiếng kinh cầu ngợi khen
sau đây để mở rộng thần trí bạn đón nhận các hồng ân huyền
diệu. Trong vòng năm phút tới, bạn hãy quên đi chính bạn
và tập trung vào chính Chúa. Ngài là đấng uy dũng! (5
phút)
KINH CẦU NGỢI KHEN
LẠY CHÚA GIÊSU, CHÚNG CON NGỢI KHEN CHÚA, Chúa là sức
sống, là tình yêu của con.
LẠY CHÚA GIÊSU, CHÚNG CON NGỢI KHEN CHÚA, Chúa là Tên cao
cả hơn mọi tên.
LẠY CHÚA GIÊSU, CHÚNG CON NGỢI KHEN CHÚA, Chúa là
Emmanuel, là Thiên Chúa ở cùng chúng con.
(…), Chúa là Vua trên hết các vua.
(…), Chúa là Chúa tạo dựng muôn loài.
(…), Chúa là Vua vũ trụ.
(…), Chúa là Chúa các chúa.
(…), Chúa là Đấng Toàn Năng.
(…), Chúa là Chúa Cứu Thế.
(…), Chúa là Vua Cứu Thế.
(…), Chúa là Con Chiên Thiên Chúa.
(…), Chúa là Ngôi Sao Sáng Ban Mai.
(…), Chúa là Nhà Vô Địch và là Thuẫn Che của chúng con.
(…), Chúa là Sức Mạnh và là Bài Ca của chúng con.
(…), Chúa là Đường Đi cho cuộc sống chúng con.
(…), Chúa là Chân Lý duy nhất của chúng con.
(…), Chúa là Sự Sống thật sự của chúng con.
(…), Chúa là Đấng An Ủi tuyệt diệu của chúng con.
(…), Chúa là Hoàng Tử của hoà bình.
(…), Chúa là Ánh Sáng cho trần gian.
(…), Chúa là Lời Hằng Sống.
(…), Chúa là Đấng Cứu Độ chúng con.
(…), Chúa là Đấng Cứu Chúa của chúng con.
(…), Chúa là Đấng Được Xức Dầu.
(…), Chúa là Đấng Thánh của dân Israel.
(…), Chúa là Đấng Chăn Chiên Lành.
(…), Chúa là Cửa Chuồng Chiên.
(…), Chúa là Chúa của mọi gia chủ.
(…), Chúa là Đá Tảng của mọi thời đại.
(…), Chúa là Nơi Ẩn Núp của chúng con.
(…), Chúa là Đấng Cứu Rỗi muôn dân.
(…), Chúa là Tháp Đài kiên cố.
(…), Chúa là Ngọn Núi Chở Che con.
(…), Chúa là Bánh Nuôi Đời Sống.
(…), Chúa là Nền Tảng Thánh Thiện.
(…), Chúa là Nước Hằøng Sống.
(…), Chúa là Rượu Nho Tinh Tuyền.
(…), Chúa là Người Yêu và là Đấng Tạo Thành Con.
(…), Chúa là Thành Lũy của con.
(…), Chúa là Đấng Giải Thoát con.
(…), Chúa là Chiến Thắng của con.
(…), Chúa là Ơn Cứu Độ của con.
(…), Chúa là Sự Chính Trực của con.
(…), Chúa là Sự Khôn Ngoan của con.
(…), Chúa là Đấng Thánh Hóa con.
(…), Chúa là Sự Công Chính của con.
(…), Chúa là Cánh Cửa mở vào tất cả.
(…), Chúa là Đấng Xưng Mình Vĩ Đại.
(…), Chúa là Linh Mục Thượng Phẩm.
(…), Chúa là Viên Đá Góc Tường.
(…), Chúa là Nền Tảng Kiên Cố.
(…), Chúa là Niềm An Vui của chúng con.
(…), Chúa là Lương Thực nuôi dưỡng chúng con.
(…), Chúa là Ơn Chữa Lành và Trọn Hảo của con.
(…), Chúa là Lời Giao Ước của chúng con.
(…), Chúa là Lời Hứa của Chúa Cha.
(…), Chúa là Đấng Vĩnh Hằng của chúng con.
(…), Chúa là Thiên Chúa Cao Cả nhất.
(…), Chúa là Con Chiên hiến tế.
(…), Chúa là Thẩm Phán Công Chính.
(…), Chúa là Dũng Sĩ Cao Cả.
(…), Chúa là Đấng Bảo vệ con.
(…), Chúa là Sự Kiên Nhẫn của con.
(…), Chúa là Thực Tại vững chắc của con.
(…), Chúa là Đấng Quan Phòng của con.
(…), Chúa là Sự Sống lại và là Sự Sống của con.
(…), Chúa là Đấng Trước Tiên và Tận Cùng của vạn vật.
(…), Chúa là Đấng Khởi Đầu và Kết Thúc của thời gian.
(…), Chúa là Tất Cả những gì con cần đến.
(…), Chúa là Tất Cả những gì con mong muốn.
(…), Chúa là Đấng xứng đáng muôn chúc tụng!
(Tv 34,1; Mt 21,16; Gs 5,13; Tv 92,1-3;
Tv 150,2; 2Sb 20,22; Tv 35,28; Tv 51,15; 1Pr 2,9; Mt 18,3;
Tv 107,22; Dt 13,15; Tv 116,17; Kh 5,11-12; Kh 19,5).
(Kinh Lạy Cha…. )
2. HÁT TÔN
VINH CHÚA
«Hãy
đến, ta reo mừng Thiên Chúa, ta hãy hoan hô Tảng Đá Cứu Độ
ta. Ta hãy đến trước nhan Ngài với muôn lời cảm tạ và chúc
tụng Ngài với muôn tiếng nhạc bài ca» (Tv
95,102).
Chúng ta thường nghe nói,
«Hát hay là cầu nguyện hai
lần». Thánh Ca có một sức mạnh phi thường mở
rộng lòng trí chúng ta. Bạn hãy nhắm mắt lại, lắng đọng và
để tiếng nhạc dâng cao trong tâm hồn. Hãy dùng miệng lưỡi
hát lên tiếng lạ nếu bạn đã nhận được đặc sủng này, hoặc
hát những bài Thánh Ca đặt trọng tâm vào Chúa Giêsu, các
bài «Alleluia,»
theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Linh. (5 phút)
(Tv 89,1; Tv 149,1; 1Cr 14,15; Ep 5,19;
Cl 3,16; Tv 63,5-7; Tv 90,14; Tv 40,3; 1Sb 6,32; Tv 57,7;
Tv 126,5; Is 12,6; Tv 100,2)
3. TRẬN CHIẾN TÂM
LINH
«Anh em hãy
tìm sức mạnh trong Chúa và trong uy lực toàn năng của
Ngài. Hãy mang toàn bộ binh giáp vũ khí của Thiên Chúa, để
có thể đứng vững trước những mưu kế của ma quỷ»
(Ep 6,10-11).
Kinh Thánh nhắc nhở chúng ta rằng có
những sức mạnh tinh thần tiêu cực có thể gây tác động chi
phối cuộc sống chúng ta, và làm giảm mất khả năng sống tự
do, cởi mở, cũng như yêu thương người khác. Đồng thời
Thánh Kinh cũng nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta đã được
ban quyền năng chiến đấu với sức mạnh của địch thù (Mc
16,17). Chúng ta hãy cầu xin Chúa Thánh Linh giúp chúng ta
khôn ngoan và can đảm tận dụng quyền năng này.
Có những lúc trong cuộc đời, hẳn bạn đã
bất cẩn mở tâm trí cho các ảnh hưởng xấu đến quấy phá. Đây
là giờ phút bạn phải đóng các cánh cửa ấy lại. Đây là giờ
phút quan trọng chúng ta cần phải đặt mình đặc biệt dưới
sự bảo vệ của Thiên Chúa và nắm lấy ưu thế trên quyền lực
của quỷ ma. (Chúng ta đã bắt đầu rồi đó, vì ca ngợi Chúa
là một trong những khí giới thần diệu chống lại địch thù,
ma quỷ). (5 phút)
LỜI CẦU NGUYỆN XIN ƠN
CHIẾN ĐẤU THIÊNG LIÊNG
Lạy Cha trên
trời, con đến trước tôn nhan Cha để ngợi khen, thờ phượng
và tôn kính Cha. Xin cảm tạ Cha đã sai Người Con Duy Nhất
là Chúa Giêsu đến ban cho con sự sống, ơn tha thứ và nhận
con vào gia đình của Cha. Xin cảm tạ Cha đã ban Chúa Thánh
Linh đến dìu dắt con và tăng cường sức mạnh cho con trong
cuộc sống hàng ngày. Lạy Cha trên trời, xin mở mắt con để
con nhìn thấy được vẻ vĩ đại của Cha, nét oai phong của
Cha và cuộc toàn thắng của Cha đem đến cho con.
Giờ đây con
xin đặt mình dưới chân Thánh Giá Chúa Giêsu Kitô và xin
Cha đổ Máu Châu Báu của Chúa Giêsu trên con. Xin ánh sáng
Chúa Giêsu bao bọc, để con có thể nhân danh Ngài nói lên
rằng không gì sẽ làm cản trở hoạt động của Thiên Chúa hoàn
thành trong cuộc đời con.
Con xin mặc
chiến bào của Chúa để chống trả lại các đòn phép của ma
quỷ. Con đứng vững với chân lý thắt đai lưng và liêm khiết
chắn trước ngực. Con mang thuẫn đức tin để gạt đi những
mũi tên lửa cháy của quỷ ma. Con đội nón cứu độ của Chúa
và cầm gươm Thần Khí là Lời Chúa để giao tranh (Ep
6,11-17).
Lạy Cha trên
trời, xin chỉ cho con thấy các cách thức ma quỷ muốn ám
hại đời con. Giờ đây con muốn xa tránh các đường lối của
chúng. Bất cứ lãnh vực nào con đã nhường cho ma quỷ, giờ
đây con đòi lại và đặt dưới vương quyền của Chúa Giêsu
Kitô.
Nhân danh Chúa
Kitô, con trói buộc các tà thần trong không khí, nơi lửa
đốt, dưới nước, trên đất và trong âm phủ. Con trói cột mọi
sức mạnh của quỷ dữ khi công bố Máu Chúa Giêsu chan hòa
trong không khí, dưới nước, trên đất và khắp địa cầu. Nhân
danh Chúa Giêsu Kitô, con xin đóng dấu ấn căn phòng này,
mọi phần tử trong gia đình, các người thân quyến, những ai
hợp tác và mọi phương tiện bằng Máu Chúa Giêsu Kitô. Nhân
danh Chúa Giêsu Kitô, con cấm đoán bất cứ tà khí nào xuất
phát từ đâu có thể gây phương hại cho con.
Nhân danh Chúa
Giêsu Kitô,
con từ bỏ mọi quyến
rũ nhục dục của quỷ thần dưới bất cứ hình thức nào
và
con từ khước mọi tội lỗi
có quyền
bá
chủ
con.
Con từ bỏ
sa
tăng cũng như một
công việc của
nó
và các lời hứa hẹn suông của
nó nữa. Lạy
Cha trên trời,
con xin
Cha tha
thứ cho chính
con, cho các bạn hữu của
con, cho các người
thân thiết của
con
và cả tổ tiên
con nữa,
vì
đã
có những lần chống đối lại Chúa Giêsu Kitô.
Con xin xa tránh mọi
mê
tín dị đoan.
Con xin từ bỏ mọi quyền lực không
phát xuất từ Thiên Chúa
và bất cứ hình thức
sùng bái nào không
đem lại vinh danh cho Chúa Giêsu Kitô. Đặc biệt
con xin từ bỏ … … … (Chẳng hạn như coi bói, coi bài
tây, coi
bóng thủy tinh, cầu
cơ…). Nhân danh Chúa Giêsu Kitô,
con xin bẻ gẫy mọi lời nguyền rủa chính
con
hay gia đình
con,
và
con xin ngăn lại những lời nguyền rủa
lan truyền
này từ tổ tiên
con.
Nhân danh Chúa
Giêsu Kitô, con trói cột tà khí … … … (Xin Chúa soi chiếu
cho biết tên của nó. Nếu bạn không biết rõ tên của nó, bạn
hãy đồng hóa nó với hoa quả tiêu cực của nó như: giận dữ,
sợ hãi, bất ổn, không tha thứ, bệnh hoạn, chấn thương…).
Nhân danh Chúa Giêsu Kitô, ta trói cột tụi bay lại ngay từ
bây giờ. Lạy Chúa Giêsu Kitô, xin đổ đầy Tình Yêu Chúa
trong con để thay cho những lo sợ, xin đổ đầy sức mạnh
Chúa trong con để thay cho những yếu hèn… (tiếp tục xin
Chúa đổ đầy những khía cạnh tích cực để thay cho những gì
tiêu cực: tình yêu/lo sợ, sức khỏe/bệnh tật, sức mạnh/yếu
hèn…).
Lạy Cha Chí
Ái, xin nước rửa tội tẩy sạch và chữa lành chảy ngược lại
các thế hệ, để thanh tẩy gia đình con khỏi mọi truyền
nhiễm. Lạy Cha, con xin cảm tạ Cha đã giải thoát con.
«… Nhưng trong mọi thử
thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng hằng thương mến
chúng ta» (Rm
8,37).
Dành thêm vài phút ngợi khen Chúa.
(Rm 13,12; 2Cr 6,7; 1Tx 5,8; 1Ga 4,1-6;
1Tx 5,21; 2Cr 4,4; Ep 2,2; Cv 26,18; 2Tx 2,9; Lc 9,42; 1Pr
5,8-9; Ep 4,27; Tv 44; 5, Lc 10; 19, Rm 8; 37,1Ga 5; 5)
(Kinh Lạy Cha…)
Về mục lục >
HÔN NHÂN VÀ GIA
ĐÌNH
HÃY LÀ MỘT NGƯỜI MẸ XỨNG ĐÁNG TRƯỚC ĐÃ!
Nguyễn Chính
Kết
Khi Mẹ và các anh em Chúa Giêsu đến tìm
Ngài, một phụ nữ lên tiếng: «Phúc
cho lòng dạ đã cưu mang Ngài và vú đã cho Ngài bú»
(Mt 12, 46-50). Ý của người phụ nữ đó là muốn ca ngợi Mẹ
Ngài: Được làm Mẹ Ngài là một hạnh phúc tuyệt vời, một
vinh dự lớn lao, vì được làm mẹ của một vị tiên tri, một
Đấng Cứu Thế: một con người vĩ đại và lý tưởng.
Đọc đoạn Tin Mừng này chắc hẳn có nhiều
người mẹ đã nghĩ: Phải chi mình sinh được một người con
làm vĩ nhân: phải chi những đứa con của mình biết sống đạo
hạnh, cao thượng theo gương Đức Giêsu. Chắc chắn người mẹ
nào cũng mong ước con mình nên người xứng đáng, hữu ích
cho gia đình, xã hội và quê hương. Đó là những mong ước
rất chính đáng.
Trong số những phụ nữ có con, Đức Maria
là người diễm phúc nhất. Nhưng không phải Ngài được diễm
phúc đó một cách ngẫu nhiên, không có công lênh gì. Cuộc
sống và chí hướng của Ngài cho thấy Ngài xứng đáng được
vinh dự đó. Nói chung, người mẹ nào cũng muốn có con tài
giỏi, đức hạnh hơn người. Nhưng vấn đề là chính người mẹ
có xứng đáng có những người con như lòng mình mong ước
không? Mình có xứng đáng với chính đứa con mình sinh ra
không? Mình có sẵn sàng chấp nhận mọi hy sinh gian khổ,
sống một cuộc đời đẹp lòng Thiên Chúa để xứng đáng với một
người con thánh thiện tốt đẹp mà Thiên Chúa có thể ban cho
mình không?
Cái gì cũng có cái giá của nó. Được làm
Mẹ Đức Kitô, Đức Maria cũng phải là một người như thế nào
đó tương xứng với diễm phúc đó. Cái giá Ngài trả cho vinh
dự đó chắc hẳn rất nhiều người mẹ không dám chấp nhận. Đôi
khi đành chấp nhận có những đứa con tầm thường hơn là phải
chấp nhận những hy sinh cao cả để có được những người con
cao cả!
Đức Giêsu nói: «Những
kẻ làm theo Thánh Ý Cha Ta trên trời mới là Mẹ và là anh
chị em Ta» (Mt 12, 50). Như thế, xem ra Ngài đã
coi nhẹ cái vinh dự làm nhân vật này hay nhân vật kia, cho
dẫu là làm Mẹ Đấng Cứu Thế đi nữa. Điều Ngài đặt nặng là «làm
theo Thánh Ý Cha trên trời». Chỉ có Thánh Ý
Thiên Chúa mới là chuyện quan trọng, còn tất cả mọi sự
khác – dù là hạnh phúc, vinh dự hay chính mạng sống của
mình đi nữa – đều không đáng phải quan tâm cho bằng Thánh
Ý Thiên Chúa. Nhưng chính vì Ngài coi mình không là gì cả
mà Ngài trở thành vĩ đại. Chính vì Ngài sẵn sàng tự hạ nên
Ngài được tôn vinh (Pl. 2, 6-11). Với tinh thần như thế,
chắc chắn Ngài không đặt nặng cái vinh quang của một Đấng
Cứu Thế mà muôn đời phải tôn thờ, một vị Tôn Sư mà muôn
thế hệ phải vâng nghe. Điều duy nhất mà Ngài quyết tâm
thực hiện và quan tâm suốt cả cuộc đời là làm sao sống cho
đúng Thánh Ý Thiên Chúa Cha, làm tất cả những gì Thiên
Chúa Cha muốn Ngài làm. Không phải là Ngài vô cảm trước
những vinh quang trần thế, không phải là của cải vật chất
không quyến rũ Ngài, không phải là Ngài không hề bị lôi
cuốn vào con đường hưởng thụ của thế gian. Ngài cũng bị
cám dỗ (Mt 4, 1-11), cũng phải chiến đấu với chúng ta ở
chổ không bao giờ thất bại trong những cuộc chiến đấu. Lý
do là Ngài yêu mến Thiên Chúa tha thiết hơn chúng ta, sự
lựa chọn căn bản của Ngài – là lấy Thánh Ý Thiên Chúa làm
lẽ sống – dứt khoát và mạnh mẽ hơn sự chọn lựa của chúng
ta.
Sự chọn lựa căn bản của Ngài là dứt
khoát đứng về phía Thiên Chúa chứ không về phía bản ngã
của Ngài, về phía Thánh Ý Thiên Chúa chứa không về phía ý
riêng của Ngài. Ngài đã dứt khoát một lần thay cho tất cả
«sát tế» «cái tôi đáng yêu» của Ngài cùng
với ý riêng của Ngài như một của lễ toàn thiêu dâng lên
Thiên Chúa Cha. Và Ngài cũng lập lại sự «sát tế» đó
trong từng giây phút cuộc đời Ngài. Sự lựa chọn căn bản đó
khiến Ngài nói: «Ta đến không
phải để làm theo ý Ta mà theo ý Đấng đã sai Ta»
(Ga 6, 38), «Ta không tìm ý
riêng Ta mà tìm ý Đấng đã sai Ta. Ta không tự ý mình làm
một điều gì» (Ga 5, 30). Không phải Ngài nói
không có ý riêng, và không phải ý riêng của Ngài lúc nào
cũng phù hợp với ý của Thiên Chúa. Nhưng lập trường của
Ngài lúc nào cũng là: «Xin
đừng theo ý con, mà hãy theo ý Cha» (Lc 22,
42).
Đức Giêsu thế nào thì Mẹ Ngài cũng như
vậy. Suốt đời, lúc nào Đức Maria cũng đặt ý Chúa lên hàng
đầu, Ngài sẵn sàng hy sinh tất cả cho Thánh Ý Thiên Chúa.
Vì thế, Ngài đã thành tựu được mọi sự tốt đẹp, đã trải qua
mọi thử thách ghê gớm một cách chiến thắng. Nếu không đặt
ý Chúa lên hàng đầu làm sao Ngài có thể im lặng đứng
nhìn con quằn quại trên Thánh Giá đầy đau thương
nhục nhã, mà không vật vã khóc lóc thảm thiết như những bà
mẹ khác? (Ga 19, 25). Đâu phải Ngài không thương con bằng
những bà mẹ khác! Ngài có thái độ can đảm như thế chỉ vì
Ngài biết thuận theo thánh Ý Thiên Chúa. Chắc chắn lúc đó
Ngài lập lại tiếng «xin vâng»
như hồi được Thiên Sứ truyền tin (Lc 1, 38), và như thói
quen của Ngài trong suốt cuộc đời. Có thể nói toàn bộ cuộc
đời Ngài được dệt bằng những tiếng «xin vâng» như
thế!
Xét về bản tính con người, chắc chắn Đức
Giêsu cũng chịu ảnh hưởng Đức Maria rất nhiều. Đức Giêsu
đã sống thật thánh thiện sống hoàn toàn phù hợp với Thánh
Ý Thiên Chúa một phần nào đó là nhờ gương sáng và sự dạy
dỗ của Đức Maria và Thánh GiuSe. Nếu Đức Giêsu đã nói: «Cứ
xem trái thì biết cây»... (Mt 7, 16-18), ta có
thể hiểu được con người của Đức Maria khi ta biết được con
người của Đức Giêsu. Nếu câu tục ngữ Việt Nam “Con gái nhờ
đức cha, con trai nhờ đức mẹ” mà đúng, thì nó càng đúng
trong tương quan của Đức Giêsu và Mẹ Ngài.
Đức Maria lúc nào cũng mong con mình
biết luôn luôn tuân theo ý Thiên Chúa, sẵn sàng hy sinh ý
riêng để làm theo ý Thiên Chúa. Ngài chỉ mong con mình làm
điều đó, mà chính Ngài đã làm gương về điều đó một cách
trọn hảo. Đức Giêsu đã noi gương Mẹ mình và trở nên một
người hoàn toàn đẹp lòng Thiên Chúa (Mt 3, 17; 17, 5). Và
Đức Giêsu đã nhận ra rằng cái diễm phúc to lớn của Mẹ mình
không hệ tại được làm Mẹ Đấng Cứu Thế hay Mẹ của vị Thiên
Chúa Nhập Thể, mà hệ tại việc Ngài hoàn toàn làm theo
Thánh Ý Thiên Chúa. Ngài đã nhìn vào nguyên nhân sâu kín
chứ không nhìn vào hậu quả trước mắt. Nếu Mẹ Ngài không
biết tuân hành ý Thiên Chúa thì làm sao xứng đáng với diễm
phúc ấy?
Đó là một bài học thật quý giá cho mọi
người mẹ. Nếu ta mong muốn con cái mình trở nên người tốt,
thánh thiện, biết tuân hành Thánh Ý Thiên Chúa, thì chính
ta phải thực hiện điều đó trước đã. Chính ta phải làm
gương trước rồi dạy con làm theo gương đó. Muốn con mình
sống thế nào thì ta hãy sống như thế trước đã, và rồi ta
sẽ thấy «mẹ nào con nấy».
Lúc đó diễm phúc của ta là ở chổ làm theo Thánh Ý Chúa chứ
không phải ở chổ con ta trở thành thế này hay thế kia. Nếu
ta đã làm đúng theo ý Thiên Chúa, ta đừng sợ con mình sẽ
hư hỏng, hay không được như ta ước nguyện. Gương Thánh
Mônica và Augustinô khuyến khích những người mẹ hiện đang
có những đứa con hư hỏng hãy kiên trì tin vào Chúa, vào
hiệu lực của lời cầu nguyện.
Tóm lại, hãy lo thực hiện Thánh Ý Thiên
Chúa trước đã, hãy trở nên một người mẹ xứng đáng trước
đã, còn mọi sự khác hãy phó thác cho Thiên Chúa, Ngài sẽ
ban cho sau (x. Mt 6, 33).
Về mục lục >

TÂM
TÌNH BẠN ĐỌC
LTS:
Tuần qua, Maranatha đã
nhận được thư đóng góp ý kiến và xin gửi báo của độc giả
Đỗ Hữu Nghiêm, Nguyễn Minh
Chu, Bích Ngọc, Anh Thy, Thu Phương, Le Quang Hung.
Rất mong quý vị tiếp tục đóng góp ý
kiến, bài vở để Maranatha
ngày càng phong phú và mang lại ích lợi thiêng liêng cho
quý độc giả xa gần.
Xin kính gửi đến một vài tâm tình của
độc giả đã gửi về trong tuần qua để hiệp thông và cầu
nguyện cho nhau.
Chân thành
cám ơn sự đón nhận và những khích lệ của Quý độc giả đã
dành cho Maranatha.
Nguyện xin
Chúa chúc lành cho Quý Vị.
Trân trọng,
MARANATHA
THƯ BẠN ĐỌC
v
Xin cám ơn quí toà soạn đã gửi báo đều đặn.
Để đáp lễ, xin đóng góp thêm bài này (Lòng Đạo Đức Đích
Thật). Trân trọng, An-rê Do Xuan Que.
v
Maranatha số 11 có bài viết của A-Ki hay
quá! Nội dung hay, ý tưởng sắp xếp hay và văn viết cũng
rất hay! Xin cám ơn! Ho Thi Dieu Van.
v
Những bài báo Maranatha rất hữu ích. Em cũng
giới thiệu cho các bạn của em để họ đăng ký. Xin vui lòng
gửi đến cho em. Cám ơn các anh chị em phụ trách báo. Do
Kim Phuong.
v
Đọc được bài báo Maranatha qua một người bạn
giới thiệu, con thấy thật sung sướng và cảm động vì đó là
món ăn tinh thần cho con, một người lữ hành đi tìm
chân lý. Ý thức được điều này, con kính xin ban biên tập
cho con nhận được số báo này như là một bí quyết để con có
thể sống đời cầu nguyện một cách chân thành với Chúa hơn.
Trong khi chờ đợi, con xin gởi đến ban biện tập lời thành
kính tri ân và biết ơn sâu xa. Con xin trân trọng hết lời.
+Paulmarie Huy Dung.
v
Em xin quí anh chị gửi báo đến cho các bạn
của em, những người này cũng muốn có thêm kiến thức để
sống đạo và giảng đạo nữa. Lien Tran.
v
Maranatha thân mến, rất vui mừng được làm
quen và cộng tác với Maranatha. Hy vọng Maranatha sẽ là
một mâm cỗ với đủ mùi hương vị thơm ngon thích hợp cho
từng độc giả. Rất thân mến, Khổng Nhuận.
v
Xin cám ơn đã gửi báo MARANATHA. Hiệp thông
trong kinh nguyện và trong ý muốn phục vụ Nước Chúa.
Marcel Minh Doan.
v
Xin vui lòng gửi báo cho người nhận sau đây.
HL là một nữ tu bác ái Vinh Sơn đang đi truyền giáo tại
Nhật. Nơi đó có rất nhiều người Việt Nam. Cám ơn. Nữ Tu
Bác Ái Vinh Sơn.
v
Xin chào và cám ơn quý báo đã nhiều
lần gửi vào địa chỉ này. Do trước đây tôi nghĩ là nội dung
có virus, nên đã không mở ra. Tôi hiện nay đang cộng tác
với cha xứ trong việc phục vụ cộng đoàn giáo xứ Bùi Môn,
Hóc Môn, TPHCM. Qua nội dung báo tôi thấy có nhiều điều
rất hay và thực tiễn. Mong sẽ có dịp để trao đổi những suy
nghĩ của mình là những giáo dân trong xã hội VN hiện nay.
Xin kính chào. Do Mon Dinh.
Về mục lục >