Nền Linh-Ðạo Công Giáo Việt Nam

Tác-giả bản Anh-ngữ: Chu-Công
Dịch-giả: Chu-kim-Nam

1) Ðịnh nghĩa danh từ Linh-đạo, và danh-từ Tôn-giáo:

Linh-đạo (spirituality) và tôn-giáo (religion) khác nhau:

Tôn Giáo là một cơ cấu tổ-chức, với những lễ nghi; đạo-lý và niềm tin của mỗi Tôn Giáo, như Phật Giáo, Hồi Giáo, Kitô Giáo, Do Thái Giáo, v. v..

Linh-đạo là đường lối tìm kiếm một ý nghĩa và mục đích của cuộc sống.

Linh-đạo đã có từ muôn thuở. Linh-đạo là Hành động trong Ðức Tin của một tôn giáo.
Ðể có linh-đạo ta phải có: Ðức Tin thực-hành, và Tôn Giáo phải là một tôn giáo sống động, chứ không chỉ có danh nghĩa là một tôn giáo.

Theo David Hay thì bẩy mươi phần trăm người lớn có linh-đạo, nhưng chỉ mười phần trăm có tôn-giáo. Theo văn-hoá nhân-chủng-học, và tôn-giáo-học thì linh-đạo đi sâu trong tâm-tính con người hơn là tôn-giáo.

Linh đạo của Kitô hữu là đường lối rèn luyện đức tính và tập quán đưa cuộc sống của Kitô hữu đến chỗ tuyệt hảo, theo lời giảng dậy của Chúa trong Phúc-âm..

Linh-đạo của Người Công Giáo Việt Nam được đánh dấu bằng sự sùng kính (popular devotions) đặc biệt là sự tôn thờ Chúa Giêsu Kitô Chúa Chúng Ta, và sùng kính Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa, và các Thánh Tử đạo.

Trước khi bàn đến Linh-đạo Công Giáo của người Việt Nam, chúng ta cần thảo luận qua về linh-đạo tổng-quát của tất cả người Việt-Nam.

2) Khái niệm về “Ông Trời» của người Việt Nam

Người Việt Nam tin có Thượng Ðế, cai quản vũ trụ. Thượng Ðế, đấng Tạo Dựng trời đất, Hiện Hữu, tự có, không sanh bởi ai. Thượng Ðế, hay là Ông Trời, cai quản vũ trụ và điều khiển mọi hoạt động một cách khôn ngoan. Không ai thấy Thượng Ðế, nhưng Thượng Ðế thấy hết mọi sự, mọi người, kể cả những điều kín ẩn; ta không thể dấu Thượng-Ðế bất cứ điều gì. Cũng vậy, Thượng Ðế biết cả qúa khứ, hiện tại và tương lai.

Là Đấng Tạo dựng nhân loại, và thiên nhiên, Thượng Ðế đầy lòng thương xót nhân loại và tất cả sinh vật mà Thượng Ðế đã dựng nên. Thượng Ðế ban cho mọi loài của nuôi và hạnh phúc.

Chúng ta tin tưởng Trời là toàn năng, toàn mỹ, nhưng Trời không ngăn cản quyền tự do và trách nhiệm của con người. Con người có trách-nhiệm về hoạt-động đưa tới hạnh-phúc hay bất hạnh. Trời thưởng hay phạt con người theo công việc của họ. Do đó con người đạt được hạnh phúc và bình an trong cuộc sống là vì họ nghe theo Trời dạy bảo. Sau đây là lời Khẩn Cầu Trời cho mưa:

Lạy Trời mưa xuống,
lấy nước tôi uống,
lấy ruộng tôi cầy,
lấy bát cơm đầy,
lấy ngày ấm no…
»

3) Người Việt Nam hướng về Thiên Nhiên

Người Việt Nam nghe theo thiên-nhiên trong cuộc sống vật chất và làm ăn của họ. Thiên Nhiên cũng ảnh hưởng chi phối tinh thần của con người. Bởi vậy có một tình cảm trói buộc con người Việt Nam vào môi trường Thiên-nhiên.

Thiên-nhiên có cảm giác và có hồn. Thiên-nhiên chia sẻ với con người về tư tưởng và tình cảm. Người bình dân Việt Nam coi Thiên-nhiên như phản ảnh của nỗi vui cũng như nỗi buồn. Ðùng đùng một lúc, Thiên-nhiên dễ làm giao động con người. Thay đổi khí trời, chẳng hạn, ánh mặt trời giãi trên ngọn tre có thể làm nẩy nở một tình cảm trong con người. Thiên-nhiên ảnh hưởng tới người Việt-nam, cũng như người Á-đông, hơn người Tây Phương.

Dù mưa xuống, hay nắng chói, người Việt-Nam hay nghĩ đến ảnh hưởng của mùa màng gặt hái trong đồng ruộng của họ. Thí dụ:

Trời nắng tốt dưa,
Trời mưa tốt lúa
».

 (Lời dịch-giả: Như thế có nghĩa là nắng hay mưa đều tốt cả! )

Nhờ kinh nghiệm thực thể, và quan sát, người bình dân Việt-Nam đạt được hiểu biết về Thiên-nhiên và điềm-lạ trong Thiên-nhiên. Họ thường theo ca-dao để tiên đoán thời tiết trong công việc đồng áng. Và biết được thiên-tai hay địa-họa bởi việc ngắm mây, ngắm trời, trăng sao, gia súc, chim chóc, và côn trùng. Kiến-thức này giúp người Việt-Nam điểu chỉnh môi trường sinh hoạt trong cuộc sống. Thí dụ:

Mống Ðông Vồng Tây,
Không mưa giây cũng bão giật
»

Hay câu:

Tháng bẩy heo may,
Chuồn chuồn bay thì bão
»

Sống giữa Thiên-nhiên, người Việt-Nam liên tục trí minh mẫn của họ và sức mạnh vũ lực Thiên-nhiên. Ðôi lúc họ thành công, nhưng nhiều lúc bị thất-bại và bị tàn phá bởi vũ lực Thiên Nhiên. Có lẽ vì cảm thấy mình bất lực trước Thiên-nhiên người Việt-Nam thận trọng trước tai ương và bái phục Thiên Nhiên.

 (Lời dịch giả: Không riêng gì Việt Nam, ngay cả những nước tân tiến, như Hoa-Kỳ, cũng phải chịu thua Thiên-nhiên. Thí dụ như Ðộng đất, núi lửa…)

Nhưng mối liên lạc linh thiêng giữa người Việt và Thiên-nhiên không chỉ căn cứ trên sợ hãi, lo âu và dị đoan. Thiên-nhiên còn cho ta vẻ đẹp và thơ mộng. Mặt trăng và các vì sao, bầu trời, áng mây, sông núi, cây cỏ và bông hoa, mọi thứ trong Thiên Nhiên (trừ sức vũ bão tàn phá) thức tỉnh niềm vui sướng và thâm sâu trong lòng người.

Trăng có ảnh hưởng đặc biệt đến con người Việt-Nam. Trăng thường gắn bó trong công việc đồng áng của người nông dân và trong vui chơi của họ. Trăng cũng thường được dùng làm đề tài cho thơ-phú và ca hát. Trong văn-hoá Việt-Nam, Trăng được biểu-hiệu nữ-tính và sắc đẹp duyên dáng. Câu ẩn-dụ như: “Cô Hằng Nga» nói đến người tiên nữ đẹp.

Người Việt-Nam là Con Rồng Cháu Tiên

Ðể hiểu rõ linh-đạo của người Việt-Nam ta cần biết tổng quát tâm tính của họ với nguồn gốc tổ-tiên. Dân-tộc nào cũng có thần-thoại về nguồn-gốc của họ, chẳng hạn:

1) Tín hữu khắp thế-giới tin nguồn gốc loài người là do Thiên Chúa dựng nên. Kinh-Thánh kể rằng Thượng Ðế tạo dựng con người như hình ảnh của Ngài; người nam và người nữ đã được dựng nên bởi Thượng Ðế (Khởi Nguyên 1: 27);

2) Theo thần thoại La Mã, thì “Cupid» -con trai cuả Nữ-thần Venus- kết bạn với “Psyche».

3) Người Trung-Hoa tin rằng Tối-Hậu (Supreme Ultimate) sinh ra Âm và Dương (Yin-Yang, nữ-tính và nam-tính). Sách Ðạo-đức-Kinh (Tao-Te-Ching) viết rằng:

Vũ-trụ cõng Âm sau lưng,
Và ôm Dương ở trước ngực.
Do sự phối-kết của hai Thái-cực
Mà thế giới có hoà-bình du dương
».

4) Thần thoại về nguồn gốc người Việt Nam:

Thần-thoại về nguồn gốc người Việt có nhiều, như truyện Sơn-Tinh lấy Thuỷ-Tinh, truyện Tiên kết bạn với Rồng. Ðể có ý-niệm sâu sắc về linh-đạo người Việt tôi xin trưng truyện Tiên Rồng. Truyện rằng:

«Từ Thượng Ðế có Tiên Rồng.
Tiên phối- hợp Rồng;
Tiên mang thai và đẻ ra một bọc có trăm trứng.
Trứng nở ra trăm con.

Sau khi Tiên sanh hạ trăm con, Rồng nói với Tiên:

“Ta thuộc về dòng giống Rồng,
còn em thuộc dòng giống Tiên.
Vì vậy, em hãy đưa năm mươi con lên núi,
Còn anh, anh đem năm mươi con xuống biển”.

Và Rồng dặn thêm rằng:
“Khi nào cần trợ giúp,
hãy tìm anh, anh sẽ đến giúp em ngay!”
»

Từ đó dòng giống người Việt-Nam sanh sản thêm lên, và họ tự- hào cho mình là Con Rồng Cháu Tiên». Ngụ ý của truyện:

Theo Carl Jung, tâm lý gia Thụy sĩ, thì truyện thần-thoại là sản phẩm của sinh lực dồi dào từ vô-thức đại-đồng (Universal Unconsiousness). Trong văn-hóa Hy-lạp và La Mã thì thần-thoại là những câu truyện về Thượng-đế.

Theo Kitô giáo thời xưa, thì thần-thoại là những câu truyện giả-mạo; nhưng khoa học ngày nay về phong tục và luân lý cổ truyền, song song với những nghiên cứu của nhân- chủng-học, của các nhà sử học của tôn giáo, truyện thần-thoại đã được phục hồi trở lại ý nghĩa nguyên thủy của nó:

Theo Carl Jung thì thần-thoại là sản-phẩm của tưởng tượng trong tiềm thức của cá-nhân; theo Mircea Eliad thần-thoại gắn liền con người với ý-thức thời nguyên-thủy, và theo Cloud Levi Straus thì thần-thoại vọng lại cơ-cấu của tâm thức con người.

Xét những tác-dụng thần-thoại cung-hiến cho cuộc sống chung của nhân loại ta sẽ thấy nó liên-quan tới linh-đạo. Theo Joseph Campbell, tác-dụng đầu tiên của thần-thoại là mở đường cho nhân loại nhận thấy có sự hiện-diện của mầu-nhiệm (the presence of mystery). Nó cho ta cảm thấy sự kinh-sợ và kinh-ngạc mà Rudolf Otto gọi là «tư-tưởng về sự Thánh – sự mầu-nhiệm đáng sợ hãi» (the mysterium tremendum).

Tác-dụng thứ hai của Thần Thoại là nâng đỡ và hợp-thức hoá trật tự xã-hội. Thí dụ thần-thoại Tiên-Rồng kể cho ta biết Tiên sanh ra một trăm con. Ngụ ý là: đời sống xã hội của người Việt Nam là một cuộc sống liên hệ gần gũi chứ không lẻ loi, không giai cấp, chẳng hạn như người Ấn Ðộ. Do đó qua Truyện Thần Thoại Tiên Rồng, Tổ tiên để lại cho chúng ta một ý niệm đẹp đẽ về nguồn gốc con người của chúng ta.

Hơn thế nữa, Tổ Tiên chúng ta đã muốn nhấn mạnh rằng Tiên - Rồng là nguồn gốc của con người, nó bao trùm tất cả mọi người và mọi dân tộc không dị biệt. Sự hoà hợp của Tiên Rồng, sanh ra trăm con là dấu chỉ toàn thể nhân loại.

Tiên Rồng biểu-hiệu Nam-tính và Nữ-tính trong con người.

Theo sự hòa hợp của Tiên Rồng, Tổ Tiên ta cũng muốn ám chỉ đến hai đức tính riêng biệt trong con người: nam-tính và nữ-tính; đàn ông và đàn bà. Con người là sự hòa hợp tuyệt hảo của cá tánh Tiên và Rồng. Ðiều này cùng nghĩa với câu nói của Thánh-Kinh: «Thiên Chúa dựng nên người giống hình ảnh của Thiên Chúa; cả hai nam và nữ được Thiên Chúa dựng nên» (Gen. 1: 27).

Carl Jung, bác sĩ tâm lý Thụy Sỹ nổi tiếng, đã gọi hai đặc tính này là nữ-tính và nam- tính. Do đó sự hòa hợp của Tiên Rồng là nền tảng căn bản của nhân loại. Một tư tưởng khác lạ vẫn có là: “Trong nam có nữ, và trong nữ có nam». Tư tưởng này bắt nguồn từ truyện thần-thoại, như truyện Tiên và Rồng. Theo Carl Jung thì sự phát triển tâm lý ở tại sự hoà-hợp của hai thái-cực nam và nữ (the conjunctio oppositorum).

(Còn tiếp)

 

Trở về Muc Lục