Số 14, Ngày 7-8-2004

 

MỤC LỤC

 

Thư Tòa Soạn

Khi Tình Yêu Là Thiên Chúa  - Trần Duy Nhiên

Thiên Chúa Cũng Đau Khổ - Huyền Vi

Tuôn Đổ Thánh Linh - Quang Thạch & Hoàng Quý 

Kinh Cầu Cho Các Gia Đình  - ĐGH Gioan Phaolô II

Nền Linh Đạo Công Giáo Việt Nam - Chu Công / Chu Kim Nam dịch

Thông Cảm Giữa Cha Mẹ Và Con Cái - Trần Anh Linh

Đức Tin - Maranatha dịch

Tâm Tình Bạn Đọc 

 

 

Thư Tòa Soạn

 Kính thưa Quý độc giả,

Maranatha_14 đến với Quý vị trong ngày lễ Hiển Dung. Câu hỏi của Chúa Kitô đối với các tông đồ trước khi Ngài biến hình vẫn một câu hỏi mang tính thời sự cho mỗi Kitô hữu chúng ta: "Còn đối với anh em, Thầy ai?"

Maranatha cố gắng trong sức mình để vẽ gương mặt Chúa Kitô cho đúng với Mặc Khải được loan truyền qua giáo huấn Giáo Hội, nhưng thao thức thường xuyên của Maranatha là làm sao gửi đến hàng tuần một cái đó để thôi thúc mỗi độc gitrả lời cho bản thân mình: "Đối với tôi, Chúa Kitô ai?"

Xét cho cùng, đối với mỗi một Kitô hữu chúng ta, đấy là câu duy nhất cần thiết cho cuộc sống trần thế và cuộc sống đời đời.

Trong chiều hướng đó, trong số này quý vị sẽ cùng với Maranatha nhìn lại hình ảnh của Thiên Chúa qua mặc khải của Chúa Kitô, với các bài viết của Trần Duy Nhiên Huyền Vi. Từ đó, thông qua đời sống cầu nguyện với Chúa Thánh Thần trong nếp linh đạo mang tâm tình Việt Nam, với các bài viết của Hoàng Quý Chu Công, đế rồi bước vào cuộc sống gia đình trong tinh thần Kitô giáo với bài viết của Trần Anh Linh.

Thực sự, những gì Maranatha gửi đến quý vị hằng tuần thì thật là ít so với những mong ước của Maranatha, tuy nhiên số trang của Maranatha không cho phép đăng tải nhiều hơn nữa. Và đây cũng là một chọn lựa của Maranatha.

Maranatha xuất phát Website Tiếng Nói Giáo Dân, nhưng chỉ tập trung vào những vấn đề Học Đạo, Sùng Đạo và Hành đạo. Tuy nhiên đời sống của một giáo dân còn bao gồm cả những thao thức khác đối với con người trong những cơ chế cụ thể của nhân loại và của Hội Thánh. Những thao thức này sẽ không được đề cập đến trong Maranatha, và nếu quý vị tha thiết với các vấn đề ấy thì có thể tham khảo trực tiếp vào Website Tiengnoigiaodan, và hàng tuần, trang báo này sẽ giới thiệu những bài mới được đăng lên mạng, đề cập đến mọi vấn đề liên quan đến người Kitô hữu, những vấn đề nhiều khi gây nhức nhối cho một số người nhất định.

Dù sao đi nữa, Maranatha mong đem đến cho độc giả mình một sự bình an xuất phát từ Đấng hàng ngày đặt câu hỏi cho mỗi một môn đệ  mình: “Còn con, con nói Thầy là ai?”

MARANATHA

Về mục lục >

 

HỌC ĐẠO

KHI TÌNH YÊU LÀ THIÊN CHÚA

Trần Duy Nhiên
 (Viết theo tư tưởng cha Varillon)

Từ Thiên Chúa Toàn Năng đến Thiên Chúa Tình Yêu

Thiên Chúa Ai? Chúa Giêsu đã đến mặc khải cho chúng ta biết rằng Thiên Chúa Cha. Hay theo ngôn ngữ của Thánh Gioan: Thiên Chúa Tình yêu (1Ga 4,8.16). Vâng, biết rồi nói mãi khổ lắm. Nhưng chúng ta thực sự coi đó điều nghiêm túc chăng? Ta hãy trở lại lịch sử xem.

Toàn bộ lịch sử Mặc khải là một sự chuyển biến dần dần từ một Thiên Chúa Toàn Năng Toàn Quyền đến một Thiên Chúa Tình Yêu. Chúng ta phải đọc lại Kinh Thánh theo cái nhìn đó. Lẽ tự nhiên từ ngày đầu lịch sử, con người quan niệm Thiên Chúa là một đấng toàn năng. Chúng ta cứ đặt mình vào vị thế của những con người đầu tiên trên mặt đất thì sẽ hiểu ngay lập tức. Họ được quăng vào một thế giới đầy hiểm nguy, và đời sống họ thật mỏng manh. Họ phải đối mặt với bao nhiêu đe dọa do thú dữ, bão tố, thiên tai, bệnh tật. Đương nhiên họ phải đi tìm một quyền năng để bảo vệ họ. Những người sơ khai đã từng thần thánh hóa tất cả những gì mà họ cảm thấy là một sức mạnh: sấm sét, mặt trời, cấy cối, mặt trăng, v... v...

Nhưng khái niệm về quyền năng, về sức mạnh là một khái niệm hàm hồ: một sức mạnh có thể làm điều tốt cũng như điều xấu. Ta hãy nhớ lại năng lượng nguyên tử xem: sức mạnh ấy đã giúp con người qua nhà máy điện, tàu ngầm… nhưng cũng không ai quên hai trái bom nguyên tử đã tàn phá Hiroshima và Nagasaki, hay thảm họa Tchernobyl. Hãy nhớ lại chính quyền Mỹ, họ thực sự có sức mạnh; và nếu ta cố tình quên đi chiến tranh Việt Nam trong quá khứ thì ta không thể nào quên rằng hiện nay, tại Iraq, biết bao nhiêu người đang bị sức mạnh ấy tiêu diệt. Do đó, trước một quyền năng, một sức mạnh ghê gớm, lương dân đã cúng tế, khẩn cầu để đừng chọc giận các vị thần ấy.

Thiên Chúa đầu tiên trong Cựu ước cũng mang hình tượng của loại thần đầy quyền lực đó. Người là Thiên Chúa các đạo binh, Người ra tay quyền lực hủy diệt những phường gian ác. Người là Đấng đã phán với Môsê: «Ngươi không thể thấy mặt Ta, vì không ai thấy được mặt Ta mà vẫn còn sống» (Xh 33,20). Mỗi lần vọng phục sinh, ta thường nhắc lại biến cố Vượt qua Biển Đỏ, để nhớ lại cách Người cứu dân Do Thái, nhưng đồng thời cũng ca ngợi sức mạnh tiêu diệt của Người: Nhiều nơi, cộng đoàn công giáo vẫn hân hoan hát lại bài ca của dân Do Thái ca tụng một Thiên Chúa quyền lực theo đoạn 15 sách Xuất Hành: Vang lên muôn lời ca, ta ca ngợi Chúa, vì uy danh Người cao cả, chiến mã với kỵ binh, Người đã quăng chìm đáy biển… Tay phải Người, lạy Yavê, ra oai sức mạnh. Tay phải Người, đánh tan quân thù. Bởi quyền uy vũ bão của Người, Người cho phiến loạn bổ nhào. Bởi khí nộ Người, nước đã ùn ùn thành đống….

Nghe mà khiếp! Thật là khác xa với Vị Thiên Chúa là Cha của Đức Giêsu. «Đấng cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính» (Mt 6,45).

Lịch sử thánh là hành trình đi từ một Thiên Chúa quyền lực như thế đến Thiên Chúa Tình yêu. Trong quá trình chuyển biến này, các ngôn sứ đã gợi ý về một Thiên Chúa trung thành với chính mình nên sẵn sàng tha thứ. Một trong bao nhiêu ví dụ: Ezekiel 16,59tt: «Vì Đức Yavê đã phán thế này: Ta sẽ đối xử với ngươi như ngươi đã đối xử với ta, ngươi đã khinh rẻ lời thề mà hủy bỏ Giao Ước. Nhưng Ta sẽ nhớ Giao Ước mà ta đã kết với ngươi vào những ngày thơ bé của ngươi; Ta sẽ giữ vững cho ngươi giao ước đến muôn đời… Ta sẽ giữ vững Giao ước của Ta với ngươi, và ngươi sẽ biết Ta là Yavê, ngõ hầu ngươi ghi nhớ mà xấu hổ và không còn dám mở miệng trước cái hổ nhục ngươi cảm thấy khi Ta ân xóa cho ngươi tất cả những gì ngươi đã từng làm»

Và cuối cùng, Chúa Giêsu đến mặc khải rằng Thiên Chúa là Cha. Lịch sử của sự biến đổi từ một Thiên Chúa quyền lực, quyền năng, toàn năng đến một Thiên Chúa tình yêu, xét cho cùng, cũng là lịch sử của chúng ta. Chúng ta cũng phải hoán cải từng ngày để đến với một Thiên Chúa là Cha của Đức Giêsu, một Thiên Chúa tình yêu. Hay nói cách khác: Tình Yêu là Thiên Chúa; bởi vì bảo rằng Thiên Chúa là Tình yêu thì có nghĩa là nói rằng Thiên Chúa đơn thuần chỉ là Tình Yêu. Chúng ta sẽ xem xét theo cái nhìn của cha François Varillon trong cuốn La joie de Vivre, La joie de Croire, mà có những đoạn tôi gần như trích dịch nguyên văn.

Thiên Chúa chỉ là tình yêu

Mọi sự đều hệ tại ở tiếng «chỉ» đó. Chúng ta hãy nhìn điều đó qua cái nhìn loại suy, sự thật sẽ được phô bày một cách rõ hơn. Thiên Chúa có phải là Đấng quyền năng không? Không, Thiên Chúa chỉ là tình yêu. Đừng bảo rằng Thiên Chúa là Đấng quyền năng. Thiên Chúa có phải là đấng vô cùng không? Không, Người chỉ là Tình Yêu, xin đừng nói gì khác. Thiên Chúa có phải là Đấng khôn ngoan không? Không. Đấy là điều mà tôi gọi là cái nhìn loại suy. Đối với mọi câu hỏi về bản chất Thiên Chúa, câu trả lời sẽ là không. Không, Thiên Chúa chỉ là Tình yêu.

Bảo rằng Thiên Chúa là đấng quyền năng, có nghĩa là xem bản chất Thiên Chúa là quyền lực, nhưng quyền lực thì có thể hủy diệt. Cứ xem lại quyền lực của Hitler, ông hủy diệt 6.000.000 người Do Thái đấy! Nhiều người xem bản chất Thiên Chúa là toàn năng rồi sau đó nói thêm: Thiên Chúa yêu thương chúng ta. Không, như thế là sai. Cái toàn năng của Thiên Chúa là cái toàn năng của tình yêu, chính Tình Yêu mới toàn năng. Đôi khi người ta bảo rằng: Thiên Chúa có thể làm được mọi sự. Không, Thiên Chúa không thể làm được mọi sự. Thiên Chúa chỉ có thể làm điều gì mà tình yêu có thể làm thôi. Người không thể hủy diệt, không thể ghét bỏ, không thể xua đuổi ai. Người «Cha nhân hậu» không thể không chia của cải cho đứa con thứ khi nó đòi, dù là đòi một cách vô lý; Người cũng không thể không tha thứ nó khi nó trở về, dù nó trở về vì đói rách chứ cũng chẳng phải vì yêu thương Cha.

Nhưng Giáo dạy chúng ta rằng Chúa Đấng Toàn Năng, Đấng vô cùng. «Tôi tin kính một Thiên Chúa Cha toàn năng» (Ngày xưa ta đọc: Cha phép tắc vô cùng). Thế thì chẳng lẽ tất cả đều sai sao? Thưa không, nhưng tất cả các điều ấy ch phẩm chất của Thiên Chúa chứ không phải bản chất của Người. Người Cha. Ch Tình Yêu mới bản chất của Người. thế tôi đề nghị đặt lại mọi giá trị của Thiên Chúa như sau: Thiên Chúa Tình yêu Tình Yêu đó một tình yêu toàn năng, vô cùng, khôn ngoan, công bình, trọn tốt, trọn lành «Thiên Chúa Tình yêu toàn năng» hay «Thiên Chúa Cha toàn năng» ch hai cách tuyên xưng của một chân duy nhất.

Tình yêu toàn năng là gì? Là một tình yêu đi đến cùng. Sức mạnh của tình yêu là có thể đi đến cái chết, là chết đi cho người mình yêu. Là tha thứ cho người mình yêu. Tất cả chúng ta đều có kinh nghiệm đau đớn khi mọi sự gãy đổ trong gia đình, trong bằng hữu, chúng ta biết rằng tha thứ là một điều khó khăn đến độ nào. Cần phải có nhiều sức mạnh lắm mới có thể tha thứ được. Thực sự tha thứ.

Tình yêu vô cùng là gì? Là một tình yêu không còn giới hạn. Là con người, mỗi khi yêu thương ai, chúng ta muốn nên một với người mình yêu. Mình với ta tuy hai mà một. Nhưng bởi lẽ con người luôn có giới hạn nên thảm kịch vẫn còn đó: ta với mình tuy một mà hai. Còn Thiên Chúa là tình yêu vô cùng nên Người có thể trở nên một với con người: «Và Ngôi lời trở thành xác thịt» (Kinh Truyền Tin; x. Ga 1,14).

Đặc tính của tình yêu

Nhưng rốt cuộc, tình yêu là gì? Cố nhiên không phải là trở nên đa cảm ủy mị. Nói mãi về tình yêu mà không đi vào các đặc tính thì đến một lúc ta sẽ cảm thấy mình «ngô ngố» thế nào ấy. Vấn đề là đi tìm đặc tính của tình yêu. Ai yêu thương đích thực thì trở nên nghèo khó, lệ thuộc và khiêm nhường. Và vì Thiên Chúa là Tình yêu nên Người nghèo khó, lệ thuộc và khiêm nhường.

Đây là điều làm ta choáng váng. Và đó cũng là điều mà ta phải cảm nhận, nếu không chúng ta chưa phải là người của Đức Kitô, chúng ta vẫn thờ phượng một vị thần nào đó chứ không phải là những người Con của Cha trên trời, và cũng là Cha của Đức Giêsu.

Thiên Chúa nghèo

Kinh nghiệm cho ta thấy rằng không thể nào yêu thương mà không thấy mình nghèo đi. Dù là tình yêu nhân loại rất giới hạn, chúng ta cũng có thể dựa vào đó mà hình dung được tình yêu vô biên của Thiên Chúa. Khi một người nam nhìn một người nữ với một cái nhìn tình yêu thì anh ta có thể nói gì nào? Câu nói nào sẽ diễn đạt được cái nhìn ấy? Hẳn phải là câu này: «Em là tất cả của anh, em là tất cả hạnh phúc của anh». Nếu «em là tất cả», thì có nghĩa là «anh không là gì cả». «Thiếu em, anh là một người nghèo. Sự giàu sang phong phú của anh không ở trong anh, mà ở trong em. Sự giàu sang của anh chính là em, và anh là một người nghèo».

Nếu điều này đúng đối với tình yêu tương đối của con người thì lại càng đúng biết bao đối với tình yêu tuyệt đối của Thiên Chúa. Thiên Chúa là đấng nghèo tuyệt đối. Trong Người không hề có một dấu vết nào là chiếm hữu.

Hình ảnh này quả thật là khá xa lạ với suy nghĩ thường ngày của chúng ta. Nhưng đó là cốt lõi của Công giáo. Có những người ngoài công giáo nghĩ về Kitô giáo một cách không nghiêm túc, nhưng cũng có những Kitô hữu nghĩ về đạo mình một cách không nghiêm túc. Và Kitô hữu nghiêm túc là người khẳng định rằng Thiên Chúa nghèo.

Thiên Chúa lệ thuộc

Và Thiên Chúa nghèo thì kéo theo Thiên Chúa lệ thuộc.

Chúng ta thử suy nghĩ bằng phản chứng. Ta hãy tưởng tượng một cái nhìn yêu thương của người vợ nhìn chồng mình. Không thể nào người vợ này nói với chồng: «Em yêu anh, nhưng dĩ nhiên, nếu anh được bổ nhiệm lên Miền Núi, thì em sẽ ở lại Saigon». Nói cách khác, «Em muốn nói rằng em yêu anh nhưng em sống đời sống độc lập, không tùy thuộc vào anh». Một thái độ như thế không thể nào xảy ra được. Yêu thương là lệ thuộc: «Em yêu anh, và em sẽ theo anh đến chân trời góc bể, em muốn lệ thuộc vào anh». Trong tình yêu chân chính luôn luôn ngầm chứa ý muốn lệ thuộc lẫn nhau. Vì sao những xã hội phương tây người ta thay đổi tình yêu xoành xoạch, ấy là vì mỗi người miệng nói là yêu mà vẫn không đánh mất sự tự do của mình, không ai muốn lệ thuộc người kia. Và trong tình yêu, người nào yêu nhiều hơn thì người ấy lại càng lệ thuộc hơn. Đối với con người đã thế thì đối với Thiên Chúa, đấng chỉ là Tình Yêu, điều này lại được đẩy đến mức độ vô biên. Nếu Thiên Chúa chỉ là Tình Yêu, thì Người là Đấng lệ thuộc hơn ai hết. Trong dụ ngôn người cha nhân hậu, người cha đã lệ thuộc vào đứa con thứ của mình. Nếu nó không về, ông sẽ khóc, nếu nó về, ông mở tiệc ăn mừng. Ngày nào nó chưa về, ông không làm gì được, ngoài việc ra ngõ đứng chờ…

Nhưng hãy lưu ý điều này. Có hai thứ lệ thuộc. Đứa con sơ sinh lệ thuộc mẹ mình hay người mẹ lệ thuộc đứa con. Trên bình diện sự sống, sự tồn vong, thì đứa con tùy thuộc mẹ mình, nhưng trên bình diện tình yêu thì người mẹ lệ thuộc người con. Sự lệ thuộc của đứa con chẳng liên quan gì đến tình yêu cả. Nếu mẹ không cho nó bú, dĩ nhiên là nó đói, nó khóc, sự sống nó bị đe dọa. Nhưng nếu mẹ thực sự yêu con thì chính người mẹ lệ thuộc người con. Nếu đứa con khó thở, bệnh hoạn, thì bà mẹ không sống nổi nữa. Thiên Chúa là đấng lệ thuộc hơn bất cứ ai, nhưng lệ thuộc trong tình yêu, chứ không phải trong sự sống, trong hiện hữu của Người.

Thiên Chúa khiêm nhường

Và cũng bởi vì Thiên Chúa chỉ là tình yêu nên Người cũng là Đấng khiêm nhường nhất. Ở đây cũng xin nói ngay để tránh mọi sự hiểu lầm, tôi nói là Thiên Chúa khiêm nhường, không theo nghĩa rằng Người là thấp kém hay hèn yếu. Chúng ta khiêm nhường khi tự nhận rằng mình thấp kém yếu hèn. Nhưng Thiên Chúa thì không phải thế, Người khiêm nhường vì trong tình yêu không thể nào có một tương quan từ trên xuống, một cái nhìn trịch thượng. Chúng ta cứ thử lấy một ví dụ trong thế giới nhân loại. Làm sao có thể tin rằng một người nam yêu một người nữ, khi người ấy nói: «Anh yêu em, nhưng hãy nhớ là anh ở tầng lớp trên, anh là tiến sĩ khoa học còn em mới tốt nghiệp cấp hai thôi». Một cái nhìn từ trên xuống dưới như thế thì làm sao là một cái nhìn tình yêu. Và chúng ta phải suy nghĩ đến thái độ yêu thương của chúng ta. Nhiều khi phải cần cả cuộc đời mới hiểu rằng việc Nhập thể của Thiên Chúa là một biểu hiện của Tình Yêu theo nghĩa là Thiên Chúa đã thể hiện đặc tính khiêm nhường của Người.

Cha của Chúa Giêsu

Và đó là Thiên Chúa mà Đức Giêsu đã mặc khải, Người là Cha của Đức Giêsu và là Cha chúng ta. Người chỉ là tình yêu, và do đó, Người nghèo, lệ thuộc và khiêm nhường. Vì sao ta dám quả quyết như thế? Có ai thấy được Chúa Cha đâu? Đúng như vậy. Nhưng Tất cả chúng ta đều nhớ lời Chúa Giêsu ngỏ với Philip trong buổi tiệc ly: «Ai thấy Thầy là đã thấy Cha» (Ga 14,9). Vì thế, chúng ta đừng tưởng tượng về Chúa Cha, nhưng hãy nhìn Chúa Giêsu để thấy Chúa Cha.

Dưới chân thập giá bao nhiêu người bảo Ngài hãy chứng tỏ quyền năng bằng cách xuống khỏi thập giá, nhưng Ngài vẫn chết trên ấy một cách bất lực. Nếu Ngài chứng tỏ quyền lực mình, Ngài sẽ không mặc khải cho chúng ta một Thiên Chúa Cha chỉ là Tình Yêu mà vẽ cho chúng ta một Vị thần hung hăng nào đó. Và vị đó chắc chắn không phải là Cha của Ngài.

Ta hãy nhìn lại đời sống của Chúa Giêsu để thấy Chúa Cha. Chúa Giêsu là một người nghèo: nghèo từ lúc sinh ra ở Bêlem, nghèo trong cuộc sống rày đây mai đó không có một hòn đá gối đầu, nghèo đến độ phải để cho môn đệ bứt bông lúa mà ăn, nghèo đến độ không tiền nộp thuế, nghèo đến độ chết mình trần trên thập giá. Cái nghèo vật chất đó nói lên cái nghèo bên trong của Ngài: Ngài không có một ý muốn nào là của mình: «Lương thực của Thầy là thi hành ý Cha» (Ga 4,34): «Xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha» (Mt 26,39). Nhìn Chúa Giêsu nghèo ta thấy được rằng Chúa Cha nghèo, nghèo vì yêu thương.

Chúa Giêsu là người lệ thuộc. Lệ thuộc những môn đệ vì họ không bao giờ hiểu gì, lệ thuộc dân chúng đói không có gì ăn, lệ thuộc Giuda khi chỉ điểm Ngài…

Chúa Giêsu cũng là Đấng khiêm nhường. Không phải vì Ngài đã phán: «Hãy học cùng ta vì ta khiêm nhường trong lòng» (Mt 11,29), nhưng vì Ngài đã sống bằng hàng với mọi người. Ngài đến với kẻ ngư phủ thất học, những kẻ phong cùi, đui mù, Ngài chịu đóng đinh ngang hàng với các tên trộm. Và ngay với môn đệ Ngài, Ngài đã quỳ xuống rửa chân. Đây không phải là một màn biểu diễn mị dân, mà là một sự thể hiện bằng hình ảnh điều Ngài đã làm suốt cuộc đời, khi từ bên hữu Chúa Cha Ngài đã xuống mang lấy thân phận con người. Qua đó Ngài cho thấy hình ảnh của Thiên Chúa là Cha muôn đời quì gối dưới chân con cái mình.

Và mặc khải gây bàng hoàng của Chúa Giêsu nhất chính là mặc khải đó. Chúa không đến để chết hầu làm vừa lòng một Vị Thần Thịnh Nộ và đầy quyền lực sanh sát, nhưng đến để nói rằng Cha của Ngài là Đấng Yêu Thương nghèo khó, lệ thuộc, và khiêm nhường. Vì yêu thương vô biên nên cũng đã nghèo vô cùng, nghèo đến không còn cả mạng sống; lệ thuộc vô biên nên con người muốn đối xử với Ngài thế nào cũng được, và khiêm nhường vô biên, nên Ngài chưa hề mở miệng trách cứ một ai, mà chỉ biết thứ tha: «Xin Cha tha thứ cho họ vì họ không biết việc họ làm» (Lc 23,34)

Lời xin thứ tha đó có vang đến tai chúng ta hôm nay không? Chúng ta có biết việc mình làm không? Chúng ta đã tôn thờ Thiên Chúa nào, chúng ta vẫn còn thờ một quyền lực nào đó hay chúng ta đã thực sự là con cái của Cha trên trời? Và chúng ta phải trở lại với điều cốt lõi của đức tin mình. Phải nghiêm túc hiểu lời thánh Irênê, giám mục Lyon, đã nói từ thế kỷ thứ ba: Thiên Chúa làm người để cho con người làm Thiên Chúa.

Ngày nào chúng ta chưa làm Thiên Chúa thì ngày ấy chúng ta vẫn là chưa có «đạo», vì Tình Yêu Thiên Chúa vẫn chưa chạm đến chúng ta. Và vị Thiên Chúa mà ta muốn trở nên là một Thiên Chúa nghèo khó, lệ thuộc và khiêm nhường.

Cứ mỗi năm là một lần Giáo Hội lại kêu gọi hoán cải. Đối với Kitô hữu sự hoán cải chủ yếu và tiên quyết là hoán cải cái nhìn của chúng ta về Chúa Cha. Hoán cải để thấy rằng Chúa Cha chỉ là Tình yêu, và rồi từ đó chúng ta chỉ sống cho Tình yêu trong thái độ nghèo nàn, lệ thuộc, khiêm nhường đối với mọi người, ở mọi bình diện từ gia đình đến xã hội, từ công giáo đến mọi tôn giáo, từ đồng bào trên tổ quốc mình đến toàn thể nhân loại cho đến sơn cùng thủy tận trên mặt đất. Như thế chúng ta sẽ làm chứng cho Tình Yêu; và Tình yêu đó là một Tình Yêu toàn năng, vô biên, công bình, vĩ đại, trọn tốt, trọn lành

Về mục lục >

THIÊN CHÚA CŨNG ĐAU KHỔ

 (tiếp theo Maranatha_13)

Huyền Vi

Cơn hấp hối trên thập giá

Đau khổ và nhục nhã cùng cực

Tình yêu và nỗi đau khổ của Thiên Chúa còn được biểu hiện một cách cụ thể và cảm động qua cơn hấp hối thứ hai của Đức Giêsu Kitô… Ngài đang bị treo trên Thánh giá, không một tấm vải che thân trước vô số người hiếu kỳ đang nhìn lên bình luận, chỉ trỏ, nhạo báng. Chưa bao giờ Ngài thấy xấu hổ và nhục nhã như vậy, cho dẫu trong những giờ bị hành hạ vừa qua, Ngài đã chịu đủ mọi cực hình và nhục nhã, và hiện nay những vết thương ở cổ tay và bàn chân Ngài do bị đóng đinh đang làm cho Ngài nhức nhối ghê gớm. Chính trong tình trạng này, Ngài cảm nghiệm được sự nhục nhã cùng tột mà con người có thể dành cho nhau, đặc biệt cho những đối tượng mình thù ghét. Với Ngài, sự nhục nhã này còn làm Ngài đau khổ hơn cả những vết thương trên khắp thân thể hiện đang hành hạ Ngài. Thà chịu đau đớn gấp đôi còn hơn phải trần truồng trước cả một đám đông đang nhạo báng như thế. Thế là Ngài đã thực hiện được sự nghèo khổ cùng tột của con người để chuộc lại vô số tội lỗi mà con người đã gây ra do lòng ham muốn danh vọng, giàu sang, quyền lực và những vui thú từ những thứ này đem lại.

Trong lúc cô đơn, nhục nhã và đau khổ cùng tột ấy, cũng may mà còn một vài người thân của Ngài đang hiện diện để cùng cảm thông và chia sẻ. Dưới chân thập giá có Mẹ Ngài cùng một số phụ nữ thân quen và Gioan đang giả dạng thành một người khác. Còn các môn đệ khác mà Ngài cũng yêu thương vô bờ bến đều trốn biệt. Chính lúc nếm trọn sự đau khổ cùng tột mà thế gian có thể dành cho một con người, Ngài thông cảm hơn bao giờ hết sự yếu đuối, sự hèn nhát vì sự sợ hãi và sự trốn chạy trước đau khổ của mọi người. Đau khổ quả rất đáng sợ, vì nhiều khi nó thật khủng khiếp! Chính Ngài đã cảm nghiệm vô cùng sâu xa nỗi sợ hãi đó khi ở trong vườn Giệtsê tối hôm trước. Vì thế, Ngài thông cảm và muốn tha thứ hết cho các môn đệ của Ngài về những hèn nhát và bội phản của họ.

Tình thương và sự đau khổ của Thiên Chúa còn được biểu lộ một cách sâu sắc qua 7 lời nói sau cùng của Đức Giêsu trên thập giá.

Lời nói đầu tiên của Đức Giêsu trên thập giá: tha thứ và hứa thiên đàng cho người trộm lành

Đang khi tất cả mọi người bên dưới cười nhạo Ngài thì một trong hai tên gian phi cùng chịu đóng đinh với Ngài tỏ ý hối hận và nhìn nhận tội lỗi mình, đồng thời xưng rằng Ngài vô tội và xin Ngài thương anh ta (x. Lc 23,42). Lời nhận lỗi và cầu xin tha thứ của người trộm lành như một cơn mưa rào mát mẻ tưới xuống mảnh đất đang nóng rực và khô cằn của tâm hồn Ngài. Ngài lập tức nhớ lại dụ ngôn con chiên bị lạc (x. Lc 15,4-7), dụ ngôn đồng bạc bị mất (x. Lc 15,8-10) và nhất là dụ ngôn người cha nhân từ tha thứ cho đứa con hoang đàng từ xa trở về (x. Lc 15,11-32) mà Ngài đã từng nói với dân chúng. Lúc này Ngài đang đóng vai người cha, và anh trộm lành kia đóng vai người con hoang đàng.

Chỉ trong một giây, Ngài thấu hiểu hết những tình huống đã thúc đẩy anh vào con đường tội lỗi, nỗi đau khổ dằn vặt của anh khi hoàn cảnh éo le đã khiến anh cứ phải tiếp tục con đường tội lỗi ấy cho đến khi bị bắt, và nhất là bây giờ sự hối hận đang dày vò tâm can anh trong cơn đau đớn và nhục nhã cùng tột này. Anh đã từng nghe Ngài giảng một vài lần và rất mến mộ Ngài. Một đôi lần do cảm kích vì lời của Ngài, anh đã muốn từ bỏ con đường tội lỗi ấy. Nhưng ý chí và nghị lực của anh quá yếu đuối không thắng nổi những trở lực của hoàn cảnh cứ cám dỗ và giữ chặt anh lại trên con đường ấy. Bây giờ anh đang cùng chịu đóng đinh bên cạnh Ngài, một con người vô cùng thánh thiện và hoàn toàn vô tội nhưng lại bị đánh đập tra tấn đau đớn hơn anh bội phần… Giờ đây anh thật sự hối hận. Sự hối hận ấy khiến anh trở nên hoa trái đầu mùa của ơn cứu chuộc mà Ngài đang phải trả giá bằng sự đau khổ và cái chết của Ngài. Ngài rất vui mừng khi thấy ngay trước mắt thành quả của những đau khổ Ngài đang chịu. Trong tương lai sẽ còn biết bao người hối hận và từ bỏ con đường tội lỗi như anh. Cũng như người cha nhân từ quên hết mọi lầm lỗi của đứa con hoang đàng đã làm mình đau khổ vô ngần, Ngài vui mừng đến nỗi quên hết tất cả tội lỗi của anh để chỉ nhìn thấy nơi anh lòng thống hối chân thành đầy giá trị trước mặt Thiên Chúa. Trong tâm tình tràn ngập yêu thương, Ngài hứa với anh: «Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng» (Lc 23,43). Đó là câu nói thứ nhất của Ngài trên Thập Giá.

Sự việc xảy ra thật ý nghĩa. Đức Kitô đến để kêu gọi những người tội lỗi (x. Mt 9,13). Và đây, người đầu tiên hưởng ơn cứu độ của Ngài chính là một kẻ tội lỗi, một tên gian phi. Anh đâu cần làm gì, chỉ cần hối hận, nhìn nhận tội lỗi mình, đồng thời nhận Ngài là Đấng vô tội có khả năng cứu anh ta. Thật là một điều an ủi và khích lệ cho mọi người, nhất là với những người tội lỗi. Từ nay ơn cứu độ luôn luôn nằm ngay trong tầm tay con người, dù là con người tội lỗi nhất.

Lời nói thứ hai của Đức Giêsu trên thập giá: xin tha thứ cho tất cả những kẻ giết Ngài

Lời thứ hai Ngài nói trên Thập Giá là «Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm» (Lc 23,34). Cho dẫu giới lãnh đạo tôn giáo cố tình và rất tỉnh táo trong việc hãm hại Ngài bằng những đau đớn cùng cực, nhưng Ngài vẫn nhận ra được sự ngu muội của họ. Họ bị lòng ham muốn danh vọng, quyền lực, địa vị, tiền bạc làm lu mờ lương tâm và lý trí. Họ chỉ quen nghe những lời ca tụng, tâng bốc, nịnh nọt, và tỏ ra thật khó chịu hoặc tức giận khi có ai chân tình nói lên những tội lỗi hay khuyết điểm của họ. Họ quyết tâm giết Ngài một cách thâm độc nhất chính vì Ngài đã chân tình sửa sai họ. Vì yêu thương và muốn xây dựng cho họ, muốn họ nên tốt hơn, xứng đáng với địa vị lãnh đạo của họ hơn, Ngài đã nói lên sự thật về họ. Nhưng họ không quen chấp nhận sự thật, nhất là sự thật về bản thân họ, nên họ đã chụp mũ Ngài là phá đạo, phạm thượng, chống lại Thiên Chúa, toàn là những tội đáng chết!

Còn dân chúng, họ đã hô hào đòi giết chết Ngài, sẵn sàng đòi thả Baraba tên ăn cướp để Ngài phải chết. Ngài rất thông cảm với việc làm của họ. Họ chỉ như những con chiên hiền lành nhưng ngu muội, không có khả năng phán đoán độc lập. Phán đoán của họ bị lệ thuộc hoàn toàn vào những người lãnh đạo tinh thần của họ mà họ đã phần nào thần thánh hóa. Khi không có ai ảnh hưởng trên phán đoán của họ, họ thấy Ngài đúng là một thầy đạo rất thánh thiện, rất uy tín, chẳng những không làm gì đáng tội mà rất đáng ca tụng. Họ rất quý mến Ngài vì thấy Ngài yêu thương họ hơn ai hết, sẵn sàng cứu giúp họ, chữa lành mọi thứ bệnh tật cho những ai trong họ đến cầu cứu. Ngài có những lời nói còn chí lý và thuyết phục hơn cả những người lãnh đạo họ (x. Mc 1,22). Nhưng một khi những người lãnh đạo họ kết án Ngài là phá đạo, là phạm thượng, là chống lại Thiên Chúa, thì họ lập tức quay ngược lại 180 độ và nghĩ rằng Ngài đúng là như vậy. Thế là họ hùa theo những người lãnh đạo họ để hô hào trước thế quyền đòi phải giết Ngài cho bằng được, và họ cho rằng họ đã làm đúng. Không thể nào đòi hỏi họ khác hơn được, vì họ chỉ biết làm như thế. Sự ngu muội của đám đông cố hữu là như thế!

Ngài thông cảm với sự ngu muội của con người hơn bao giờ hết. Chính sự ngu muội này đã khiến con người gây ra cho nhau và cho chính bản thân họ biết bao nhiêu đau khổ. Và hiện nay, Ngài đang chính là nạn nhân của sự ngu muội ấy nơi họ. Vì thế, con người dù sao vẫn đáng thương hơn đáng trách rất nhiều. Do đó, trước khi nhắm mắt lìa trần, Ngài muốn tha thứ tất cả, chẳng những cho những kẻ hại Ngài đến chết, mà cho tất cả mọi người đang bị sự ngu muội che mờ hết lương tâm và lý trí. Quả thật, chính vì ngu muội, họ đã «không biết việc họ làm» (Lc 23,34).

Hai lời nói đầu tiên của Ngài trên thập giá đều là những lời nói tha thứ. Ôi sự tha thứ mà chỉ những ai có tâm hồn yêu thương và thông cảm vô bờ bến mới làm được! Sự tha thứ vô điều kiện ấy quả là điều đầy an ủi cho con người, nhất là cho những người tội lỗi. Như thế, qua Đức Giêsu, Thiên Chúa đã biểu lộ sự cảm thông rất sâu xa với những yếu đuối và hạn chế của con người.

Lời nói thứ ba: trối Mẹ mình cho Giáo Hội và Giáo Hội cho Mẹ mình

Lời thứ ba của Ngài trên Thập Giá là lời nói với mẹ Ngài và môn đệ Ngài yêu dấu nhất, cả hai đang có mặt dưới chân thập giá: «Thưa Bà, đây là con của Bà»,«đây là mẹ của anh» (Ga 19,26-27). Đó là hai người yêu dấu nhất của Ngài trên trần gian: một người là mẹ, một người là con, đứa con tinh thần, đại diện cho 12 đứa con tinh thần sẽ tiếp nối «miêu duệ» của Ngài ở trần gian. Ngài không có con theo máu mủ ruột thịt, mà chỉ có những đứa con tinh thần. Đối với Ngài, quan hệ ruột thịt chưa phải là quan trọng, mà quan hệ tinh thần – ở đây là quan hệ trong sứ mạng cứu chuộc theo thánh ý Chúa Cha – mới là quan trọng. Đức Maria là Mẹ Ngài vì đã luôn luôn thi hành thánh ý của Thiên Chúa hơn là vì đã sinh ra Ngài. Ngài đã chẳng từng nói: «Ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Đấng ngự trên trời, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi» (Mt 12,50) sao? Bổn phận của đứa con khi phải lìa đời trước cha mẹ là phải tìm người phụng dưỡng cha mẹ thay cho mình. Và bổn phận của người cha khi mất sớm là phải lo tìm người thay thế mình để nuôi dưỡng và giáo dục đàn con. Thì đây là lúc thuận tiện nhất để Đức Giêsu làm công việc ấy. Ngài giao lại đàn con là các môn đệ yêu dấu của mình cho Đức Maria, Mẹ Ngài, để từ nay Mẹ sẽ chăm lo cho họ thay mình. Và Ngài cũng giao Mẹ mình cho các môn đệ phụng dưỡng thay cho mình.

Thế là kể từ nay, Đức Maria đã trở thành Mẹ của các môn đệ Ngài và cũng là Mẹ của Giáo Hội hay hơn nữa của cả nhân loại mà Ngài có sứ mạng cứu chuộc. Đó là gia tài tinh thần mà Ngài muốn để lại cho các môn đệ, cho Giáo Hội và cả nhân loại: người mẹ thân yêu của Ngài, người đã từng đồng lao cộng khổ với Ngài trong công việc cứu chuộc, đồng thời cũng là một gương mẫu hoàn hảo cho mọi người noi theo. Điều làm Ngài hài lòng nhất nơi Mẹ mình là Mẹ đầy tình thương yêu đối với tất cả mọi tạo vật, nhất là đối với những ai đau khổ và tội lỗi. Vì thế Ngài xứng đáng là Mẹ của Ngài, của các môn đệ Ngài, của Giáo Hội Ngài đang thành hình và của toàn nhân loại nữa. Thế là kể từ đây, sau khi Ngài ra đi, các môn đệ Ngài có Mẹ an ủi vỗ về, khích lệ tinh thần mỗi khi gặp khó khăn chán nản. Và nếu Giáo Hội cũng như toàn nhân loại đã có một người Cha chung trên trời, thì kể từ đây cũng có một người Mẹ chung đầy tình thương luôn quan tâm lo lắng cho sự cứu rỗi và hạnh phúc vĩnh cửu của mọi người. Tất cả đều do sự sắp đặt đầy tình thương của Đức Giêsu đối với Giáo Hội và nhân loại.               (Còn tiếp)

Về mục lục >

 

 CẦU NGUYỆN

TUÔN ĐỔ THÁNH LINH

Linda Schubert
Quang Thạch & Hoàng Quý chuyển ngữ

 

Vào ngày Lễ Ngũ Tuần hay Lễ Hiện Xuống (CVTĐ 2), các tông đồ miệt mài cầu nguyện liên lỉ cho tới khi Chúa Thánh Linh ngự xuống trên các ông bằng hình lưỡi lửa, tuôn đổ tràn đầy đời sống các ông và ban cho các ông ơn can đảm và năng lực đi làm chứng tá cho muôn dân. Có người gọi đây là việc tuôn đổ Chúa Thánh Linh, hay "Phép Rửa trong Chúa Thánh Thần," hay "nụ hôn của Chúa Thánh Thần." Mục tiêu chính yếu là ban sức mạnh cho các Kitô hữu đem Chúa Giêsu vào thế giới. Hiệu quả đầu tiên là họ cảm nghiệm sống động được tình yêu của Chúa Giêsu (Cái ôm hôn của thiên đàng!). Hàng ngày chúng ta hãy tiếp tục cảm tạ Chúa vẫn tuôn đổ Chúa Thánh Linh thâm sâu trên cuộc sống chúng ta. Được Chúa Thánh Linh ban sức mạnh, chúng ta có thể biến đổi thế giới. Một vị tuyên uý đại học xá nhận định về mục vụ của mình sau khi đã được tuôn đổ Chúa Thánh Linh như sau, "Giờ đây, những việc tôi đang làm đều trôi chảy!" Theo sách Công Vụ Tông Đồ chương 2, đây phải là nếp sống bình thường của Kitô giáo. Với lời kinh nguyện dưới đây, bạn có thể thay đổi ít nhiều thành công của riêng bạn. (5 phút)

 LỜI NGUYỆN XIN TUÔN ĐỔ CHÚA THÁNH LINH

"... các con sẽ lãnh nhận thần lực khi Chúa Thánh Linh ngự xuống trên các con và các con sẽ là chứng nhân của Thầy... cho tới ngày tận thế" (CVTĐ 1:8).

Xin Chúa Thánh Linh hãy đến và thanh tẩy con bằng lửa tình yêu của Chúa. Con đã dâng hiến những khả năng tốt đẹp nhất của con và giờ đây con mong muốn được đổ tràn đầy Chúa Thánh Linh. Con cần thần lực của Chúa trong cuộc đời con. Xin Chúa hãy đến và ngay bây giờ đổ tràn ngập con. Lạy Chúa, con tin rằng khi con thần phục Chúa là Chúa của con, Chúa và con đang biến nên một. Chúa là cây nho và con là ngành nho. Trọn vẹn Chúa đang ở trong con. Cuộc sống con đang tuôn chảy từ nơi Chúa. Con tin rằng khi con quy hàng và nài xin Chúa, Chúa sẽ tuôn tràn sức mạnh, sự khôn ngoan, ơn chữa lành..., đáp ứng cho các nhu cầu hiện tại. Giờ đây con quy phục Chúa để nhận lãnh các tặng phẩm thánh hóa của sách Isaia 11:2: ơn khôn ngoan và hiểu biết, ơn lo liệu và sức mạnh, ơn kiến thức và lòng kính sợ Chúa. Con cần các ơn huệ này trong cuộc đời con để giúp con lớn lên trong nếp sống Kitô hữu. Con quy phục và nài xin Chúa tuôn đổ các đặc sủng phục vụ của Chúa, được liệt kê trong thư Thánh Phaolô 1Cor 12: ơn khôn ngoan, kiến thức, đức tin, chữa lành, làm phép lạ, tiên tri, phân biệt thần khí, nói tiếng lạ và giải thích tiếng lạ. Con cần các đặc sủng này để làm chứng tá cho Chúa giữa một thế giới đau thương. Chỉ có thần lực của Chúa, được Chúa Thánh Linh vận dụng, mới có thể đem lại hoa trái cho cuộc đời con. Xin Chúa Thánh Linh hãy đến. Xin Chúa Thánh Linh hãy đến. Con mong muốn các hồng ân này được gói ghém trong quà tặng lớn lao nhất: Tình yêu. "... đức lớn nhất trong tất cả chính là đức ái, là tình yêu" (1 Cor 13:13).

Xin hãy làm tan chảy con, đúc khuôn con, đổ đầy con và sử dụng con. Xin ban cho con các cơ hội thể hiện các ân huệ của Chúa để biểu lộ tình yêu và lòng xót thương của Chúa. Lạy Chúa, xin hãy tận dụng con. Con không muốn hạn chế các ân huệ của Chúa bằng những nhận thức hạn hẹp của con. Lạy Chúa Thánh Linh, xin hãy phát triển khả năng của con. Xin Chúa hãy hoạt động trong con theo phương cách tràn đầy thần lực của Chúa. Con muốn từng mục đích Chúa nhắm cho cuộc đời con phải được hoàn thành, và con đang cần Chúa đây, lạy Thần Linh Chúa quyền năng, xin giúp con hoàn thành mục tiêu này. Xin Chúa Thánh Linh hãy đến. Xin Chúa hãy đến mau.

Khi Chúa tuôn chảy qua con để tác động tha nhân, con biết rằng Chúa đang tuôn chảy trong con để chữa lành chính cuộc đời con. Xin cảm tạ Chúa đang tràn ngập những nơi thầm kín trong cuộc đời con bằng tình yêu nảy lửa của Chúa. Xin cảm tạ Chúa đang rửa sạch và tẩy xóa từng thương tích, từng vết trầy trụa của quá khứ vẫn còn uy lực chế ngự các suy nghĩ của con, và xin Chúa xóa bỏ sự tự do thể xác và cảm xúc của con. Xin cảm tạ Chúa đang đem ánh sáng chiếu soi vào những vùng tăm tối, đem ấm áp vào những nơi giá lạnh trong tâm hồn con. Lạy Chúa Thánh Linh đầy tình thương xót, con xin cảm tạ Chúa vì Chúa đang đến và lôi kéo đi từng giọt nước mắt còn khô đọng, từng khổ đau đang dằn vặt, từng đớn đau vì mất mát, từng chấn thương khắc khoải, từng lo hãi kinh hoàng, từng vết hằn cảm xúc quá sầu khổ như mới bị chôn sống. Lạy Chúa Thánh Linh đầy Khôn Ngoan, con xin cảm tạ Chúa đang đi vào từng nguyên do cội rễ của mỗi thất bại trong dòng đời con. Lạy Chúa Thánh Linh dịu hiền, con xin cảm tạ Chúa đang rảo bước vào những năm tháng qua và đối diện với quá khứ với con. Con xin cảm tạ Chúa đang nhắc nhớ cho con rằng tình yêu Chúa Giêsu vẫn hiện diện ở đó, đang lấp đầy hố ngăn cách giữa tình yêu thương con cần đến và tình yêu thương con đã nhận được.  (Hãy cảm tạ Chúa Thánh Linh vì Ngài đang luyện lọc cuộc sống bạn và đang giúp bạn nhớ ra những ký ức đau thương cần được chữa lành. Nhớ được điều gì, bạn chỉ cần thân thưa với Chúa, "Lạy Chúa Thánh Linh, con xin trao phó điều này cho Chúa chữa lành. Con xin cảm tạ Chúa đang biến điều thương đau thành tốt đẹp (Rom 8:28). Lạy Chúa Giêsu, con xin ngợi khen Chúa"). Xin Chúa hãy biến cơ hội này thành nơi Chúa tuôn đổ tràn đầy Chúa Thánh Linh, để đời sống tình cảm của con không còn bị trói buộc nữa.

Lạy Chúa Thánh Linh, con xin cảm tạ Chúa đang hiện diện với con đây, xin Chúa hãy đổ tràn đầy Thần Khí Chúa trong con và qua con. Con xin cảm tạ Chúa đang là Người Bạn nghĩa thiết của con, là Thầy Dậy con, là Đấng Phù Trợ con, là Quân Sư của con, là Đấng Bầu Cử của con và là Đấng Ban Phát các quà tặng tuyệt vời cho con. Đặc biệt con xin cảm tạ Chúa vì ____________________________

(Tiếp tục cảm tạ Chúa một cách tự phát.)

Bạn hãy nhắm mắt và hát một bản Thánh Ca về Chúa Thánh Thần để mời Ngài đến với bạn. Amen.

(Ro 5:5, Joel 2:28, Mt 3:11, Lk 11:13, Jn 14:26, Gal 4:6, 1 Cor 2:13, Jn 16:13, Ro 8:11, Zec 4:6, Ac 2:2, Ro 8:9, 1 Cor 3:16, Is 55:1, Mt 25:35-36, Mt 10:8,1Pe 4:10

THỐNG HỐI

Càng mở lòng ra đón nhận Chúa Thánh Linh, bạn càng nhận thấy nhiều lúc trong cuộc đời bạn trống vắng Chúa Giêsu. Với ý thức đó, chúng ta sẽ nhìn nhận ra một cách thâm sâu về tình yêu vô điều kiện của Thiên Chúa. Nếu bạn bắt đầu cảm thấy như một thất bại, bạn hãy nhớ đến quyền năng của tình yêu tha thứ nơi Thiên Chúa được thể hiện trên thập giá trên đồi Calvariô. Và chúng ta hãy ca tụng Ngài! Khi chúng ta phạm tội, chúng ta chỉ việc đơn thành chạy đến với Ngài, thay vì nằm lì tại chỗ hoặc thất vọng. Chúa muốn chúng ta tiến lại với Ngài. Tội lỗi có năng lực lôi kéo chúng ta xuống và làm bế tắc dòng nước yêu thương của Chúa đến với chúng ta. Chúng ta chạy trốn khi cảm thấy mình tội lỗi. Lòng thống hối có năng lực vực chúng ta lại chỗi dậy và làm lưu thông dòng nước yêu thương của Ngài. "Nhưng nếu chúng ta đi trong ánh sáng cũng như Thiên Chúa hằng ngự trong ánh sáng, thì chúng ta được hiệp thông với nhau, và máu Đức Giêsu, Con của Ngài, thanh tẩy chúng ta sạch hết mọi tội lỗi" (1Ga 1:7). Đối với các tín hữu Công giáo, bí tích Hòa Giải là một trong những hồng ân cao cả nhất họ có thể nhận lãnh được khi họ đối diện với tội lỗi, với một lòng thống hối sâu xa chân thành, chứ không phải hình thức nghi lễ hoặc hời hợt bề ngoài. Nhiều người đã được chữa lành cả tâm hồn lẫn thể xác nhờ phương thế thần diệu này của ơn thánh. Như vậy, đây là giai đoạn ngắn ngủi để xét mình, để xin Chúa chiếu soi những tội quên xưng và sau đó quyết tâm chừa tội. Chúa có thể thôi thúc bạn tìm đến một linh mục để xưng tội hoặc với một ai khôn ngoan hay người bạn thân để giãi bầy nỗi lòng. Linh mục có thể đòi hỏi bạn phải đền bù cho người nào bạn đã gây thiệt hại cho họ. Bạn hãy vâng theo những gì Chúa Thánh Linh soi sáng. Ngài không đòi hỏi bạn điều gì mà không ban cho bạn sức mạnh để thành công.

Khi bạn cầu nguyện theo lời kinh sau đây, bạn đừng quá lo lắng đến các tội lỗi hoặc các lần té ngã, nhưng hãy để Chúa thánh Linh dìu dắt bạn. Đừng quá quan tâm đến các tiểu tiết của lời cầu nguyện, nhưng hãy sử dụng như một động lực kiểm điểm lương tâm. (5 phút)

LỜI NGUYỆN THỐNG HỐI
              "...trở lại với Ta bằng tất cả tấm lòng..." (Ge 2:12).

Lạy Cha Chí Ái, con đang thống hối vì tất cả những gì con đã xúc phạm tới Cha do hữu ý hoặc vô tình. Con đã phạm tội trong tư tưởng, lời nói và việc làm. Con đã lỗi phạm trong những gì con đã hoàn thành và trong những gì con đã thất bại. Con đến trước mặt Cha đây và xin Cha ban cho con một trái tim biết thống hối thâm sâu. Cha biết được những gì thầm kín nhất của con. Con xin mở tâm hồn con lên với Cha hôm nay, và xin Cha chỉ cho con biết những gì con đã ngăn chặn dòng nước yêu thương của Cha. Lạy Cha, xin tha thứ cho con, cho tất cả mọi tội lỗi của con, mọi khiếm khuyết của con cũng như mọi sa ngã của con. Xin Cha tha thứ cho tất cả những lần con đi lạc đường và không chọn lựa sự sống, con xin thành tâm hối lỗi. Con hối hận vì đã sống thiếu đức tin, đã hành động trong lo sợ thay vì trong niềm tin, đã không tin tưởng vào lòng từ nhân của Cha, hoặc đã không thực sự tín thác vào tình yêu của Cha dành cho con.

Con nài xin Cha tha thứ cho các tội lỗi đức trong sạch: tội dâm dục, tội gian dâm, tội ngoại tình, tội xem sách báo, phim ảnh khiêu dâm và các tội ăn chơi trác táng, nhất là tội_____________. Con muốn quay lưng lại với tất cả những hành vi tội lỗi này và quay đầu hướng về Chúa. Con đau lòng hối tiếc vì đã phá thai hoặc khuyến khích người khác phá thai. Lạy Chúa, xin hãy tha thứ cho con.

Con hối hận vì lối ăn ở phóng đáng nghiện ngập của con: say sưa chè chén, hút sách, bài bạc, dâm đãng và tất cả các loại say mê khác, nhất là ____________________. Lạy Cha, con xin tạ ơn Cha vì Cha đang giải thoát cho con được tự do. Con hối hận vì đã không chăm sóc sức khỏe thể xác, tình cảm và tâm linh của con: thiếu ăn uống chừng mực, ngủ nghỉ và tập luyện; có lẽ cả những xúc cảm không lành mạnh của con. Hôm nay con xin cam kết chăm sóc bản thân con chu đáo hơn.

Con thống hối vì đã bao lần con làm người khác buồn khổ. Con hối tiếc vì đã có những lần con ăn trộm, nói lời gian dối, lừa đảo và gạt gẫm người khác. Con ăn năn vì đã thiếu khích lệ người khác, trốn tránh người khác bằng lối sống lạnh nhạt, vô tình và làm ngơ. Con ân hận vì đã nói xấu người khác, tiết lộ các tâm sự thầm kín của anh chị em con và gây nghi ngờ, bất hòa nơi tha nhân.

Con hối tiếc vì những đố kỵ, những ghen ghét, những bất mãn, những thiếu thứ tha, những ghen tương, những phán đoán và những chỉ trích người khác, những không đón nhận yêu thương và những thiếu bộc lộ bác ái, dễ thương. Đặc biệt con nài xin tha thứ cho___________________.

Giờ đây con đem trình Chúa các vùng tăm tối con cảm thấy hổ thẹn khi đến trước mặt Cha; những vùng con đã che dấu, như một số các thói tật hư hỏng, những tội lỗi sâu kín, và những tội lem luốc mà trước đây con chưa đem ra trình lên Cha. Con xin trình lên Cha tất cả những gì con hổ thẹn nhất, đặc biệt _____________________. Lạy Cha, con không còn muốn giấu giếm Cha điều gì nữa. Hôm nay là ngày Cha chữa lành và giải thoát con.

Lạy Cha nhân ái, con còn gì nữa để trình lên Cha đây. (Hãy im lặng và lắng nghe). Hôm nay con khẩn nài Cha thứ tha cho những xúc phạm của con. Con xin nhận nơi Cha ơn tha thứ và chia sẻ ơn thứ tha này với người khác. Lạy Cha, con xin tạ ơn Cha. Amen.

(Ps 51:10, Ac 3:19, Pr 28:13, 1Jn 1:9, 2Ch 7:14, Is 55:7, Ac 2:38, Ps 51:17, Joel 2:13, Eph 5:11, 2Cor 7:10, Ps 103:3, Ac 13:38, Eph 1:7, Heb 9:14, Ro 12:2, Mic 7:18, Lam 3:22, Rev 22:14, Is 43:25, Ro 8:1,34, 1Co 14:25, 1Pe 1:16, 1Th 4:3, Heb 10:10, Eph 5:11).

(Lạy Cha...)

Về mục lục >

KINH CẦU CHO CÁC GIA ĐÌNH

 

(do Đức Gioan Phaolô II soạn)

Lạy Cha là Thiên Chúa chúng con, là nguồn mọi tình phụ tử trên trời dưới đất, là nguồn tình thương và sự sống,

Nhờ Con Cha là Đức Giêsu-Kitô, sinh làm con một người phụ nữ, và nhờ Chúa Thánh Thần là nguồn bác ái thần linh, xin Cha làm cho mỗi gia đình nhân loại trở nên một đền thánh dưỡng nuôi sự sống và xây dựng tình thương cho các thế hệ không ngừng kế tiếp nhau.

Xin Cha ban ân sủng hướng dẫn các đôi vợ chồng, để họ biết suy nghĩ và hành động nhằm mưu ích nhiều nhất cho gia đình mình, cũng như cho mọi gia đình trên thế giới.

Xin Cha cho các thế hệ trẻ luôn được gia đình kiên trì nâng đỡ, giúp họ mỗi ngày sống xứng đáng phẩm giá con người hơn, mỗi ngày thêm hăng say sống theo sự thật và thực hành tình thương.

Xin cho ân sủng của bí tích hôn nhân làm cho tình yêu thêm vững mạnh, giúp các gia đình chúng con vượt qua các yếu đuối và các cơn khủng hoảng đôi khi gặp trên đường đời.

Sau hết, nhờ Thánh Gia Nadarét chuyển cầu, chúng con nài xin Cha ban cho Hội Thánh được hoàn thành trong mọi nước mọi dân sứ mạng của mình trong các gia đình và nhờ các gia đình.

Chúng con nguyện xin Cha, là sự sống, là sự thật và là tình thương, Đấng luôn hiệp nhất với Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Amen

Về mục lục >

LINH ĐẠO

NỀN LINH ĐẠO CÔNG GIÁO VIỆT NAM

 (tiếp theo Maranatha_13)

Tác-giả bản Anh-ngữ: Chu-Công
Dịch-giả: Chu-kim-Nam

5) Ðặc Tính Linh-đạo của Người Công Giáo Việt Nam

Ðặc-tính linh-đạo của Người Công Giáo Việt Nam được phát-biểu trong sự sùng kính của quần chúng (popular devotions). Tất cả mọi nghi lễ gồm lời kinh, tiếng hát, ngay cả đến những điệu ca vũ. Sùng-kính này gồm nhất là: (A) Tôn thờ Chúa Giêsu trong Tuần Thánh (Holy Week), (B) Tôn-kính Nữ Vương Maria.

A) Tuần Thánh:

Cao điểm của Tuần Thánh là Tam Nhật (the Triduum), bắt đầu từ đêm Thứ Năm. Không bao giờ hình ảnh Chúa Giêsu được chú trọng đến nhiều như những ngày này. Sau đây tôi xin kể tắt lối giáo-xứ Kẻ-sặt -xứ của cả tác giả và dịch giả- mừng lễ Tam-nhật, hy vọng bạn đọc có một cái nhìn tổng quát về đặc-tính linh-đạo của người Việt-nam.

1) Thứ Năm Tuần Thánh (Holy Thursday):

Ngày Thứ Năm Tuần Thánh được cử hành từ Bữa Tiệc-Ly (Last Supper). Gian nhà sạch sẽ và lịch sự của một gia-đình trong giáo-xứ được chọn làm địa-điểm cho cuộc rước kiệu. Ðộ năm giờ chiều, linh-mục chủ-tế cùng với các hội đoàn bắt đầu đi kiệu từ nhà đó đến nhà thờ. Sau đó lễ Rửa Chân và lễ Chúa Lập Phép Thánh Thể được cử hành hết sức trọng thể.

Tôi không thể diễn đạt hết được những cảm-nhận trong thực tế mắt thấy tai nghe trong ngày lễ này: Cung Thánh được trang hoàng rất Trọng Thể, hằng ngàn giáo dân cung kính nhìn ngắm cha chủ tế rửa chân cho mười hai vị kỳ lão trong xứ. Phúc âm Thánh Gioan kể việc Chúa rửa chân cho các môn-đệ được hát lên. Sau đó, cha chủ tế cắt nghĩa lễ phép rửa chân như Chúa Giêsu đã làm xưa để dân chúng hiểu và đem ra thực hành.

Sau lễ, Mình Thánh Chúa được trưng bầy trên bàn thờ đã được trang-hoàng rất lộng lẫy để dân chúng thay phiên nhau thờ lậy suốt đêm. Xứ có bốn trường đồng nhi nam, và bốn trường đồng nhi nữ. Các em của bốn trường này, cùng với người lớn, thay phiên nhau thờ lậy Thánh-Thể suốt cả đêm.

2) Thứ Sáu Tuần Thánh (Good Friday):

Chiều Thứ Sáu Tuần Thánh tượng Chúa Kitô rất lớn vác Thánh Gía được đặt ở đầu làng về phía Bắc, và tượng Ðức Mẹ Sầu-bi được đặt ở phía Nam. Ðộ sáu giờ tối cuộc rước từ hai đầu làng bắt đầu. Hàng ngàn các ông và thanh niên đi theo kiệu Chúa Kitô. Hàng ngàn các bà và các cô theo kiệu Ðức Mẹ. Trên đường kiệu dân chúng vừa đi vừa hát, và đọc kinh Mân Côi. Ðồng thời kèn đồng đưa lên những điệu nhạc thê thảm.

Khi kiệu tới sân nhà thờ, tượng Chúa và Ðức Mẹ được rước lại gần nhau. Lúc đó phần Thương-Khó của Phúc-âm thánh Mát-thêu được ca xướng lên. khi tới câu: «Chúa Giêsu vác thánh giá đến ngọn đồi Gôn-gô-tha» thì kiệu tiếp tục vào trong nhà thờ. Tượng Chúa Giêsu được đưa vào cung-thánh đã được che phủ bằng bức màn thật lớn.

Trong gian cung thánh, sau bức màn, việc đóng đanh Chúa vào Thánh giá được diễn lại: Khi đọc lời Phúc-Âm tới câu: «Họ đóng đanh Chúa Giêsu vào thánh giá» thì lính cầm búa, giả đóng đanh. Tiếng búa nện trên cái đanh lớn ở sau bức màn trên cung-thánh làm tai nghe phải rùng rợn!

Sự việc diễn tiến chỉ có vài phút, nhưng những âm thanh chan chát của búa và đinh vẫn còn vang vọng trong tai; họ nghe thấy những tiếng khóc nức nở, và nước mắt chẩy trên má của những người tham dự!

Ðóng đinh xong, quân dữ dựng thánh gía lên. Những người trong đám đông tới gần Thánh Giá, u-sầu, thảm thương trước cảnh Chúa bị đóng đinh.

Những bài ngắm sự Thương Khó được các ông ca xướng. Các bà và các cô ngâm nga bẩy sự Thương Khó của Mẹ Maria… kèm theo những tiếng trống, tiếng chiêng cho đến 11 giờ khuya thì tháo đanh và mai táng Chúa trong mồ.

Trong hang đá nơi táng xác Chúa, dân chúng qùi gối, cầu nguyện và hôn chân Chúa Giêsu. Nghi thức này được kéo dài cả ngày Thứ Bẩy để mọi người trong xứ thay phiên nhau cầu nguyện và viếng xác Chúa mai táng trong hang đá.

3) Thứ Bẩy Tuần Thánh - Lễ Vọng Phục Sinh:

Thứ Bẩy là ngày nghỉ ngơi, ngày suy niệm về sự im lặng và bất động của Chúa Giêsu nằm trong mộ. Hôm nay dân chúng ai cũng mệt mỏi cả tinh thần lẫn thể xác trong những biến cố đã xảy ra trong mấy ngày trước.

Nhưng đến chiều thì sự nhộn nhịp trở lại, dân chúng đến đầy nhà thờ; các bà, các cô mặc diện thật đẹp như ngày đại hội. Lễ Vọng Phục Sinh được bắt đầu: Cha chủ-sự làm phép Lửa. Sau đó, cây nến Phục Sinh được đốt lên từ đống lửa vừa làm phép; giáo dân mỗi người cầm cây nến được đốt lên từ Cây Nến Phục Sinh. Khi vào nhà thờ, cha xứ theo cây Nến Phục Sinh đi lên cung thánh, đồng thới hát ba lần câu: «Ánh Sáng Chúa Kitô!» và mọi người đồng thanh thưa: «Cảm tạ Thiên Chúa!»

Mọi người ngồi im lặng để chú ý nghe những bài lịch sử cứu độ kể trong Cựu-Ước và Tân-Ước; sau đó cha chủ-tế đọc lớn tiếng: «Chúa đã sống lại!» Toàn thể dân chúng nhẩy mừng; màn che Cung Thánh được mở ra, các đèn bật sáng lên, đàn nhạc bắt đầu vang lên vui mừng, phá tan sầu muộn bao trùm lòng mọi người mấy ngày qua. Bài ca Phục-sinh vang lên: «Chúa thật đã Phục-sinh! Alleluia! Alleluia!»

Chiều Chúa-nhật Phục-sinh kiệu Chúa Giêsu Sống lại được rước quanh làng cùng với những tiếng kèn đồng và điệu ca khải hoàn, hát mừng Chúa đã thắng cái chết và sống lại hiển vinh!

B) Lòng Sùng kính Mẹ Maria!

Tùy mỗi địa phương, người Việt Nam sùng kính Mẹ Maria dưới những tước hiệu: Mẹ Mân Côi, Mẹ Hằng Cứu Giúp, Mẹ La-Vang. Lần Hạt Kinh Mân Côi được giáo dân thực hành ở nhà thờ và ở tư gia, ngay cả khi lái xe, hay trên xe chuyên chở hành khách.

Năm 1999 giáo-hội Việt-Nam đã mừng kỷ niệm hai trăm năm Ðức Mẹ hiện ra tại La-vang. Trong thời kỳ vua chúa Việt-nam, nhất là Văn-Thân, bắt bớ Ðạo. Một số giáo dân ẩn nấp trong rừng La-vang, thuộc tỉnh Quảng-trị, để tránh sự bắt bớ. Lúc đó họ được Ðức Mẹ hiện ra. Ðức Mẹ đã cứu giúp những người lánh nạn; Mẹ đã hướng dẫn họ lên rừng lánh nạn và chỉ cho những cây thuốc chữa bệnh để họ uống khi đau yếu. Biến cố này được xẩy ra trước biến cố Ðức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội hiện ra ở Lộ-đức.

6) Ðặc Tính Linh-Ðạo của Người Việt Nam

Cũng như đa số dân Á-Châu, linh-đạo Việt Nam hướng về toàn-diện (holistic) và nhập-thể (incarnational), nghĩa là họ cho thể xác (body), linh hồn (soul), và thần-linh (spirit) là một.

Tây Phương quan niệm về con người quá tiêu cực (negative); họ tách biệt thể-xác ra khỏi thần-linh (spirit). Chủ-trương này đưa tới thuyết nhị-nguyên không lành mạnh (unhealthy dualism).

Dualism: Thuyết nhị-nguyên.

Trong thời Thánh Phaolô giảng Ðạo Chúa Kitô, ngài đã thấy quan niệm nhị-nguyên này ở Cô-rin-tô: thuyết này dựa trên quan niệm rằng: Xác là thể chất, Hồn là linh thiêng. Thể chất là xấu xa, nhơ bẩn. Vì thế đã có chủ trương diệt dục khắt khe; Hay là buông thả phóng túng vì cho rằng phần linh thiêng nơi con người vượt quá thể chất không thể nào bị ố nhơ bởi việc làm của thân xác. Nhóm thì muốn cấm Hôn Nhân, nhóm thì không tin kẻ chết sống lại và cho rằng: diệt dục, đắc đạo rồi thì đã là một người phục sinh.

 (Lời dịch giả: Chú thích trên được dẫn nhập vào Thư thứ nhất của Phaolô gửi Corinthô của Lm Nguyễn-Thế-Thuấn trong bản dịch Kinh Thánh)

Dân chúng ngày nay khám phá ra khả năng vô song của thể xác và giá-trị cao siêu của dục-tính (sexuality); họ không thích nghe bàn đến vấn đề phạt xác, hay kìm dục. Cũng thời gian này, nhiều người đã hướng về Á-Châu với ước mong có được những gì mà Tây Phương còn thiếu.

Á-Châu không những cung-ứng khôn ngoan, và kỳ diệu huyền bí (wisdom and mysticism), nhưng còn cống hiến đường lối thực hành cụ thể để chiêm-niệm và tu đức. Á-châu hoàn toàn loại bỏ nguyên tắc nhị nguyên của xác hồn (body-soul dualism).

Thực hành tu-đức được tóm lược:

 (a) Luyện thân Thể.
 (b) Luyện thở.
 (c) Luyện ý trí.

A) Luyện Thân Thể

Thái-độ người Á-Châu về thân xác ảnh hưởng từ phương dược của Người Trung Hoa, phương dược nói đến những «đường tuyến», hay «những rãnh» để sức-lực chảy qua, và đem sự sống đến toàn thân một con người. Lực này được gọi là «khí» trong tiếng Việt Nam.

Nguồn nội lực là từ bụng (người Nhật gọi là «hara»); bụng là một biển nội lực, và đặc biệt là bụng dưới (tandem), vài phân dưới rốn. Nơi đây là nguồn mạch của sáng-tạo (creativity), của thực-nghiệm thiêng liêng (religious experience) là ngai toà của sức mạnh lành thánh. Ðúng vì thế, mà thiền-sư cho việc trụ vào bụng dưới là quan trọng nhất. Khi trụ ta có thể ngồi toạ-sen (lotus position), bán toạ-sen (semi lotus), ngồi trên gót chân, hay ngồi trên ghế. Khi ngồi trụ ta thảnh thơi hai vai, lưng thẳng, đưa ngực ra đằng trước, mắt khé mở và tập trung vào bụng.

B) Luyện thở.

Thở từ bụng dưới lên là chìa khóa căn bản. Thở từ từ và nhịp-nhàng. Cũng như ngồi có thể đưa tới thực-nghiệm thiêng liêng. Thở cũng vậy. Thở dẫn khí-lực đi khắp thân-thể.

C) Luyện trí.

Tâm Trí con người bận rộn không ngơi, nó nghĩ từ chỗ này đến chỗ khác; lo đến tương lai, hay nhớ về quá khứ.

Nghệ thuật luyện trí là để trí nghỉ ngơi trên một điểm nhất định. Chẳng hạn: để trí vào một lời Thánh-kinh, như chữ: «Chúa» hay câu: «Hãy ở lại trong tình thương của Cha» (Ga 15). Ta thực-hành cách này qua việc thở và ngồi như nói trên. Do đó, tâm trí bao giờ cũng ở trong hiện-tại. Chia trí sẽ đến, nhưng ta không chống lại. Nó đến, rồi nó sẽ đi.

Kết Luận

Linh-đạo toàn-diện (holistic spirituality) nhận rằng thân thể điềm-tĩnh có thể đưa đến sự phẳng lặng bên trong; yên lặng bên trong cần để nghe tiếng Chúa; để thực- nghiệm sự hiện-diện và tình-yêu say đắm của Chúa. Chúa Giêsu nói: «Nước Chúa ở trong con» (Lc17: 21). Ðức Tin cho ta nhận thấy Chúa ở trong ta, và đức Mến cho ta ôm lấy Chúa. Sự ôm ấp giữa Chúa và ta đem lại cho cả Chúa lẫn ta một sự nghỉ ngơi khôn tả. Ðây là linh-đạo chiều sâu!

Về mục lục >

HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

 THÔNG CẢM GIỮA CHA MẸ CON CÁI

Trần Anh Linh

LTS. Giáo sư Trần Anh Linh là nhà giáo dục giới trẻ đồng thời cũng là một nhạc sĩ và nhà văn. Giáo sư đã đóng góp nhiều bài vở giá trị cho nguyệt san Hiệp Nhất trước đây. Nhận thấy các bài viết của giáo sư vẫn hữu ích cho các độc giả bốn phương trên mạng lưới, chúng tôi xin hân hạnh giới thiệu bài «Thông cảm giữa cha mẹ và con cái».

***

Đa số phụ huynh cảm thấy lo ngại khi các con đến tuổi dậy thì thường trở nên xa lạ, khép kín và ít trò truyện với mình. Sự khó khăn trong vấn đề đối thoại, cảm thông giữa cha mẹ và con cái, giữa già trẻ, giữa người lớn với thanh thiếu niên là điều đương nhiên và cần phải xẩy ra. Sự đổi thay của con người vì môi trường, vì tâm lý, vì tuổi tác khiến cho cách đối xử với nhau cũng ra khác. Hai người bạn thân ở Việt Nam, một người vượt biên đi trước, người kia ở lại, sau mười năm gặp lại, qua vài câu trao đổi trò chuyện, họ bỗng nhận ra tình bằng hữu thuở nào nay không còn nữa. Trong câu chuyện hình như có mâu thuẫn, nếu không tế nhị, gìn giữ lời nói thì có thể trở thành một cuộc tranh luận và kết quả thường là hai người ít lui tới. Tình bạn cũng do đó mà phai lạt dần. Những gia đình đoàn tụ sau 9,10 năm xa cách cũng chịu chung một hoàn cảnh. Sau vài tuần hội ngộ, vui mừng vì được gặp nhau lại, nhưng nếu không cố gắng tìm cách san bằng những khoảng cách về tâm lý, về quan niệm sống thì nhiều gia đình cũng đành phải chia tay. Có khi đi đến chỗ ly thân, ly dị.

Sự khó khăn trong việc thông cảm giữa những con cái trong tuổi dậy thì với cha mẹ thường do bởi nhiều yếu tố. Yếu tố tâm sinh lý, yếu tố môi trường sinh sống, yếu tố tuổi tác và yếu tố phong tục tập quán… Muốn khắc phục được những mâu thuẫn này, cả cha mẹ lẫn con cái đều phải cố gắng tìm hiểu vấn đề và hiểu biết lẫn nhau. Trong bài này, chúng tôi muốn nêu ra những nguyên do chính yếu đã tạo ra khoảng cách giữa cha mẹ và con cái, và đề xướng ra một số biện pháp có thể san bằng những khoảng cách ấy để gia đình có thể an toàn vượt qua khỏi giai đoạn gay go nhất của cuộc đời.

I. Yếu tố tâm sinh lý

Đây là yếu tố căn bản nhất đã tạo ra những khó khăn trong việc cảm thông giữa cha mẹ và con cái. Trước tiên là yếu tố sinh lý. Con cái chúng ta tăng trưởng rất nhanh vào giữa tuổi 13 - 14. Bộ quần áo mới may vào dịp Tết, chỉ mới 6 tháng sau, vào lúc sửa soạn khai giảng niên học mới, bà mẹ bỗng la hoảng khi phải may bộ khác vì cậu con đã mặc cộc lên trên mắt cá. Tay áo chật không xỏ lọt tay. Cô em thì khóc tức tưởi nhất định không chịu mặc đồ đầm vì chê là trẻ con… đòi mẹ mua đồ dài hơn đi học như mấy cô bạn. Thế là xung đột xẩy ra. Bà mẹ tiếc tiền vì những chiếc áo còn «mới nguyên». Các con thì không chịu mặc vì «xấu hổ với các bạn». Phải có một sự dung hòa, nếu không, mâu thuẫn này âm ỉ và là đầu mối cho những mâu thuẫn khác.

Sự tăng trưởng về cơ thể là điều cần thiết của con cái khi bước vào tuổi dậy thì, và y phục thích hợp với cơ thể đã tăng trưởng cũng là nhu cầu tất yếu. Dù gặp cảnh khó khăn túng thiếu, cha mẹ cũng phải cố gắng để đáp ứng những nhu cầu này. Phần con cái cũng cần phải hiểu cho hoàn cảnh gia đình và đừng đòi hỏi quá khả năng của cha mẹ. Sống ở Hoa Kỳ, quần áo đủ kiểu, đủ cỡ (size), may sẵn và có bầy bán ở khắp các cửa hàng. Sự mâu thuẫn giữa cha mẹ và con cái đến tuổi dậy thì không phải là áo quần dài, áo quần cộc mà là các kiểu cọ, nhãn hiệu… hợp thời trang của tuổi trẻ. Một cái áo gió, một đôi giầy về phẩm chất cũng như nhau nhưng chỉ khác có nhãn hiệu cũng đã chênh nhau mấy chục đô, cha mẹ làm sao chiều lòng con cái khi mình chưa có việc làm tốt. Trong hoàn cảnh này, những lời nói ngọt ngào, dịu dàng giải thích cho các con hiểu hoàn cảnh gia đình là yếu tố quan trọng để giữ được sự thông cảm giữa cha mẹ và con cái. Những lời cứng cỏi, mắng chửi con cái vì đòi hỏi quá mức thường chỉ làm cớ cho chúng buồn bực mà bỏ nhà đi theo bè bạn để đạt được những điều mơ ước.

Khi cơ thể thay đổi thì tâm tính cũng đổi thay. Tuổi dậy thì là tuổi các em đang tập sự học làm người lớn. Tính tình bỗng trở nên khép kín, lầm lì ít nói, thích suy tư một mình, thích có bạn bè
đồng lứa để trò truyện tâm sự và thường có thái độ «lẩn tránh» với cha mẹ. Chúng ta cần thông cảm cho các con, trái lại cần ý thức đó là giai đoạn cần thiết để các con trưởng thành, hơn nữa cần có sự tiếp tay, hướng dẫn một cách khéo léo của cha mẹ để các con không bị lôi kéo bởi bạn bè xấu. Ở vào tuổi dậy thì, tâm hồn các em là một lò lửa, là một hoả diệm sơn đang âm ỉ, sùng sục với rất nhiều ước vọng, toan tính. Nhiều suy tư chưa chín mùi khiến cho lời nói trở nên «cộc cằn, ngắn ngủi, nhát gừng» trái với vẻ nũng nịu, ôn hoà khi còn thơ bé… Đó cũng là một yếu tố khiến cho cha mẹ buồn bực, dễ nóng giận la rầy. Vì chưa có đủ lý luận để giãi bầy lập trường, suy tư của mình thành ra các em thường im lặng một cách hậm hực, bỏ đi, làm lơ… điều này càng khiến các bậc cha mẹ không hiểu rõ về tâm lý tuổi trẻ càng thêm bực tức. Điều cần yếu là chúng ta cần có đủ kiên nhẫn để lắng nghe con cái, hãy tìm hiểu rõ nguyên nhân nào đã khiến cho các con có những ý nghĩ ấy, lời nói ấy, cử chỉ ấy. Dù có ngang bướng cách mấy, các con cũng không thể chống đối hay phủ nhận những lời phân giải ôn tồn và hữu lý của cha mẹ.

II. Yếu tố môi trường sinh sống

Quả vậy, chính hoàn cảnh sinh sống dễ tạo ra khoảng cách giữa cha mẹ và con cái. Có những gia đình cha mẹ và con cái không bao giờ có được một lúc ngồi chung với nhau để tâm tình. Vì bận rộn công ăn việc làm, nhiều cha mẹ đã ra đi sớm khi con cái chưa thức giấc, đến khi về nhà thì con cái đã vô giường. Ngày nghỉ cuối tuần thì con cái mải mê coi phim, chơi «game», còn cha mẹ thì lo trò chuyện với bạn hữu, tham gia một số sinh hoạt đoàn thể. Lần hồi, cha mẹ và con cái tuy chung một mái nhà nhưng sống cách biệt thành hai thế giới. Tại Hoa Kỳ, các bậc cha mẹ không có nhiều cơ hội để tìm hiểu về đời sống của xã hội, lại càng xa cách con cái hơn nữa. Mình thì cứ dậm chân tại chỗ, sống theo truyền thống của người Việt, còn con cái ngày một chìm sâu vào xã hội này. Điều này khó mà phiền trách các con vì đó là lẽ tự nhiên. Một đứa trẻ suốt ngày nói tiếng Mỹ ở trường, các tư tưởng, ý thức hệ, quan niệm sống do thầy cô, bạn bè, sách vở truyền hình cứ dần dần thấm sâu vào tâm hồn, trong khi cha mẹ thì không có gì để hướng dẫn, dìu dắt con cái để bảo tồn lấy truyền thống dân tộc, qua ngôn ngữ, văn hoá, tập tục. Đến khi có sự va chạm, mâu thuẫn, bấy giờ chúng ta mới giật mình hốt hoảng, nóng nẩy, rầy la… Kết quả chỉ làm cho mâu thuẫn càng thêm mâu thuẫn.

Để giải quyết mâu thuẫn này, chúng ta cần phải cân nhắc, quan tâm từ những năm mới đặt chân đến xứ này. Việc chọn lựa môi trường sinh sống là yếu tố khởi đầu. Có gia đình vì muốn cho con mau giỏi tiếng Mỹ, nên đã dọn nhà đến vùng của người Mỹ. Gia đình này sống lẻ loi xa cách với cộng đoàn. Do đó con cái khi lớn lên chỉ quen nói tiếng Mỹ, chơi với bạn Mỹ, kịp đến khi cha mẹ phát hiện ra rằng con mình đã hoàn toàn bị Mỹ hoá và đã xa lạ với chính mình thì đã quá muộn. Già néo đứt giây, thôi đành phải chấp nhận.

Yếu tố thứ hai là tạo cho gia đình có cuộc sống hoà hợp. Muốn thế, cha mẹ phải biết quân bình hoá thời giờ làm việc và thời giờ dành cho sự chăm sóc gần gũi con cái. Một số cha mẹ vì gặp thời làm ăn khấm khá, rồi quá say mê với công việc mà bỏ bê con cái. Họ nghĩ rằng: «thôi cố lên vài năm cho có dư chút ít rồi tính lại»Nhưng trên thực tế thì có mấy ai chịu lùi bước khi mình đang phát đạt như diều gặp gió. Chợt đến khi nhận thấy con cái đã hư hỏng, xa lạ với mình thì đã quá trễ, có bỏ bớt việc làm thì cũng không cứu vãn được tình thế.

Có những bậc cha mẹ tuy không quá bận rộn về công ăn việc làm, nhưng lại rất say sưa công việc xã hội đoàn thể, nhất là lại nghĩ rằng «không có mình thì mọi công việc đều hỏng hết hay chẳng ra gì». Thế là ông bà cứ ôm lấy công tác. Đi làm thì thôi, về qua một chút là thấy sốt ruột và lại vội vàng chạy đến cộng đoàn để đóng góp… Đồng ý rằng Chúa trao cho mình nhiều «nén bạc» hơn thì phải có bổn phận đóng góp nhiều hơn. Nhưng trách nhiệm quan trọng và lớn lao nhất đó là gia đình. Trước tiên hãy lo chu toàn bổn phận làm cha mẹ với con cái, rồi còn dư thì giờ hãy tiếp tay trong công tác xã hội… Đó cũng là một sai sót: đôi khi chưa hẳn là vì ích chung cho bằng vì tự ái cá nhân, vì muốn được nổi danh, nổi tiếng… Trong hoàn cảnh này, nếu con cái có hư hỏng thì chúng ta đừng vội trách Chúa: sao Chúa «để» con cái con hư hỏng trong khi mình chịu vất vả khổ cực để làm việc tông đồ cho Chúa. Có lẽ Chúa sẽ bảo chúng ta rằng: «nhiệm vụ chính Cha giao cho con, con không hoàn tất, con lại ‘khoán’ lại cho Cha ư?» Vậy hãy về mà lo chu toàn bổn phận làm cha mẹ trước đã, còn dư giờ thì hãy góp sức cho cộng đoàn, xã hội tuỳ theo khả năng.

III. Yếu tố tuổi tác

Tuổi tác cách biệt cũng là một yếu tố tạo ra những ngăn trở cho sự thông cảm giữa cha mẹ và con cái. Tuổi trẻ thì hăng say, liều lĩnh, quả cảm, tự tin, tự ái, mộng ước cao xa…, trong khi tuổi già thì chậm chạp, dè dặt, thận trọng và an phận. Khi con cái đến tuổi thành niên thì phần đông cha mẹ cũng bước vào tuổi già. Do tuổi tác mà tâm lý hai bên khác nhau, nên chỉ có sự tìm hiểu mới có thể đả thông được những mâu thuẫn này. Cha mẹ, khi đã đến tuổi già, phải biết mình và tìm hiểu tâm lý giới trẻ để biết con mình. Khi hai người một già, một trẻ tìm hiểu nhau thì có thể ngồi với nhau mà trò truyện. Cha mẹ và con cái không ngồi lại được với nhau để trao đổi cho nhau những lời tâm sự, nguyên do cũng là tại tự ái. Có những người suốt đời làm thầy dậy ở trường, làm cố vấn cho bao thanh niên, nhưng lại không sao dạy, không sao cố vấn được cho con cái mình. Có lẽ vì chúng ta quá tự tôn, lúc nào cũng cho mình là bậc cha mẹ, và nhìn con cái lúc nào cũng bé bỏng, dại dột. Trong khi thực tế chúng ta đã già, đã lẩm cẩm, còn con cái thì đã khôn ngoan, giỏi giang hơn. Nếu các bậc cha mẹ biết nhìn con cái như một chàng trai, thiếu nữ đã đến tuổi khôn và đối xử như khi ta tiếp đãi con cái của bạn bè… thì cho dù có cách biệt tuổi tác, cha mẹ và con cái vẫn có thể cảm thông và sống hạnh phúc với nhau.

IV. Yếu tố phong tục tập quán

Những người qua Mỹ vào tuổi thành niên thường vẫn cố giữ lại những phong tục tập quán tốt đẹp ở quê nhà. Những phong tục này được thể hiện qua ngôn ngữ, cách phục sức, đồ ăn thức uống, các lễ nghi, sinh hoạt trong các ngày lễ như Tết Nguyên Đán, Trung Thu… Nhưng với các trẻ em nhỏ rời xa quê nhà lúc tuổi thơ, cái kỷ niệm về quê hương hầu như đã phai lạt hay không có, trong khi nếp sống, tập tục của xứ người đã in sâu vào tâm hồn non trẻ. Nếu cha mẹ lơ là trong việc tạo điều kiện thuận lợi để con cái có cơ hội chia sẻ những phong tục truyền thống của quê hương thì đương nhiên phải có sự xa cách, mâu thuẫn. Những cha mẹ nào quan tâm đến việc duy trì phong tục, tập quán theo truyền thống thì họ đã cố tạo cho con cái có cơ hội để được tham gia từ nhỏ, chẳng hạn cho con cái đi học Việt ngữ, đi sinh hoạt trong những ngày kỷ niệm đại lễ, đi thăm viếng họ hàng, bà con, đi dự những buổi tang lễ, đám cưới, đám hỏi… Một số gia đình đã để cho con cái bỏ quên những truyền thống dân tộc và đi đâu cũng chỉ có cha mẹ…, còn con cái thì cho ở nhà hay đi chơi với bạn bè thì đương nhiên chúng ta đã chấp nhận hoàn cảnh.

Nói tóm lại, muốn giữ được sự cảm thông giữa cha mẹ và con cái, chúng ta phải có kế hoạch, có chương trình và có quyết tâm thi hành. Sự mâu thuẫn giữa cha mẹ và con cái tự nó đã có và ngày càng trở nên gay go khó khăn. Chỉ khi nào chúng ta quan tâm và kiên trì phá bỏ thì mới mong tạo được sự cảm thông giữa chúng ta và con cái. Chỉ có một cách duy nhất để giảm bớt sự cách biệt đó là chúng ta và con cái phải đồng tâm xích lại gần nhau. Cha mẹ phải cố học hỏi để theo kịp với nếp sống mà con cái mình đang sống, phần con cái cũng đừng bao giờ có thành kiến cha mẹ là người hủ lậu, trái lại, hãy học hỏi để am hiểu phong tục tập quán của tiền nhân để có thể sống hòa mình với ông bà cha mẹ. Tuy nhiên, yếu tố căn bản để có được sự cảm thông giữa cha mẹ và con cái vẫn là tình yêu thương và lòng quảng đại thứ tha.

Về mục lục >

[[

ĐỨC TIN

Maranatha dịch từ 1 email

Chuyện kể rằng có một nhà leo núi nọ, sau nhiều năm chuẩn bị, đã bắt tay thực hiện ước mơ của mình là leo một ngọn núi thật cao. Vì muốn dành trọn vinh quang cho bản thân, ông quyết định ra đi một mình. Ngày trôi nhanh và đêm ập xuống. Vì không chuẩn bị đồ đạc để cắm trại, ông quyết định tiếp tục leo lên. Trời tối đen như mực nên ông không thấy đường đi. Mây che khuất cả trăng sao.

Khi ông gần tới đỉnh, thì điều bất hạnh xảy ra. Ông trượt chân và rơi vào vực thẳm. Ông chỉ thoáng thấy vài chấm đem và rồi có cảm giác mình bị khoảng không nuốt chửng. Những biến cố lớn trong đời cũng ập về như một cuốn phim trước mắt ông.

***

Khi cái chết gần kề, bỗng một cái gì giật mạnh làm ông suýt rách bụng. Ông vừa rơi đến cuối đoạn dây mà đầu kia được buộc vào mỏm đá… và may thay điểm mốc còn giữ vững.

Ông thở phào mà nhận ra rằng ông đang treo lơ lững trong đêm đen và im lặng tuyệt đối. Bên bờ tuyệt vọng, ông kêu lên:

- Lạy Chúa, xin đến giúp con! ! !

Thình lình, một tiếng nói trầm lắng xé tan im lặng:

- Con muốn ta làm gì?

- Lạy Chúa, xin cứu con! ! !

- Con có thật sự tin rằng ta có thể cứu con không?

- Lạy Chúa, con tin! ! !

- Vậy thì con hãy cắt sợi dây đang buộc con đi! ! !

Người ấy do dự một lúc rồi bám chặt hơn nữa vào sợi dây.

Hôm sau đoàn cứu hộ phát hiện nhà leo núi đã chết.

Ông chết cóng và bàn tay đông cứng vẫn bám chặt vào sợi dây.

Ông chỉ cách mặt đất vỏn vẹn nửa thước! ! !

***

Còn bạn, bạn có nghĩ rằng mình sẽ cắt dây chăng?

Trong cuộc đời, nhiều lần chúng ta bị thử thách đức tin khi phải quyết định.

Phần bạn thì sao? Bạn đang bám chặt vào sợi dây của mình đấy…

Bạn có chấp nhận cắt dây không?

***

Mỗi ngày, chúng ta cần hâm nóng lại đức tin mình bằng cách tâm niệm lời tiên tri Isaia:

«Thiên Chúa, Chúa chúng ta, nắm tay chúng ta mà bảo: Đừng sợ, Ta đang ở cùng con».

Về mục lục >

 TÂM TÌNH BẠN ĐỌC


LTS: Tuần qua, Maranatha đã nhận được bài ờ đóng góp của Pham LeHang, Tran Dung SSS, và thư ghi danh nhận báo của Phạm Hoàng, Nguyễn Tâm, Huyen Nguyen, Ngô Văn Trực, Nguyễn Thế Quang, Hạnh Đức Lưu. Djoseph, Danh, và MTG Tân Việt. 

Đối với những độc giả nhận báo lần đầu tiên hoặc độc giả nào còn thiếu một vài số báo cũ, xin quý vị vui lòng vào hai trang websites http://maranatha-vn.net hoặc http://tiengnoigiaodan.net để download những số báo mình cần.  Hiện nay, các số báo từ 1 đến 13 đã được lưu trên hai websites  trên.  Nếu do trục trặc kỹ thuật, xin liên lạc về địa chỉ: maranatha@saintly.com

              Xin kính gửi đến một vài tâm tình của độc giđã gửi về trong tuần qua để hiệp thông cầu nguyện cho nhau. Chân thành cám ơn sự đón nhận những khích lệ của Quý độc giđã dành cho Maranatha.

              Nguyện xin Chúa chúc lành cho Quý Vị.

Trân trọng,

MARANATHA

THƯ BẠN ĐỌC

v     Con, Danh ở giáo xứ Proh thuộc giáo hạt Đơn Dương, giáo phận Đà Lạt. Qua một số người bạn giới thiệu, con cũng muốn đọc báo Maranatha để trao đổi thêm kiến thức về đạo. Xin chân thành cám ơn. Danhand Danh

v     Tôi Sr. Bảo Quyên, dòng Khiết Tâm Đức Mẹ Nha Trang. Qua sự giới thiệu của cha Khánh, tôi đã trở thành độc giả của bạn, rất may mắn cho tôi. Tôi đang nghiên cứu về đời sống đạo của người Kitô hữu Việt Nam truớc kia hiện nay. vậy tôi mong muốn những bài viết hoặc chia sẻ của bạn. Nếu thể bạn cho tôi biết thêm về vấn đề này. Tuy nhiện, những vấn đề khác cũng rất bổ ích cho tôi. Rất mong sự giúp đỡ của bạn. Xin Thiên Chúa chúc lành cho công việc của MARANATHA. Theresa. Bao Quyen

v     Xin gởi lời cám ơn. Một giáo dân cộng đoàn Thánh Gia Thất, CA, USA.

v     Tôi rất hân hạnh vui mừng khi được đọc báo của quý vị, mang lại nhiều lợi ích cho tôi gia đình tôi. Cầu xin Chúa Mẹ La Vang của chúng ta chúc lành cho toàn thể quý vị cho tuần báo của chúng ta ngày một thăng tiến. Nguyễn Hữu Phước, Melbourne, Australia.

v     Chân thành cám ơn Quý Tuần Báo, xin tiếp tục chuyển báo đến cho chúng tôi. Nguyện xin hồng ân Thiên Chúa Mẹ La Vang ban muôn ơn lành , phù tr trcông cho tất cả quý vị trong công việc làm mục vụ để vinh danh Thiên Chúa này. Kính, Nguyen Van Thi.

v     Tôi tên Nguyễn Quang Vinh, đã nhận được số báo đầu tiên 01-5-2004.  Maranatha rất cần cho những người tín hữu, muốn tìm hiểu sống theo ĐÚNG TINH THẦN KITÔ GIÁO. Tôi hiện đang sinh hoạt trong cộng đoàn Kolping, VietNam.

v     Rất cám ơn. Lm. Aug. Pham van Dung, GP Long Xuyên.

v     Xin quý vị gửi cho tôi báo điện tử hàng tuần. Cám ơn. Nguyen Tam

 

     

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn