THIÊN CHÚA CŨNG ĐAU KHỔ

 (tiếp theo Maranatha_13)

Huyền Vi

Cơn hấp hối trên thập giá

Đau khổ và nhục nhã cùng cực

Tình yêu và nỗi đau khổ của Thiên Chúa còn được biểu hiện một cách cụ thể và cảm động qua cơn hấp hối thứ hai của Đức Giêsu Kitô… Ngài đang bị treo trên Thánh giá, không một tấm vải che thân trước vô số người hiếu kỳ đang nhìn lên bình luận, chỉ trỏ, nhạo báng. Chưa bao giờ Ngài thấy xấu hổ và nhục nhã như vậy, cho dẫu trong những giờ bị hành hạ vừa qua, Ngài đã chịu đủ mọi cực hình và nhục nhã, và hiện nay những vết thương ở cổ tay và bàn chân Ngài do bị đóng đinh đang làm cho Ngài nhức nhối ghê gớm. Chính trong tình trạng này, Ngài cảm nghiệm được sự nhục nhã cùng tột mà con người có thể dành cho nhau, đặc biệt cho những đối tượng mình thù ghét. Với Ngài, sự nhục nhã này còn làm Ngài đau khổ hơn cả những vết thương trên khắp thân thể hiện đang hành hạ Ngài. Thà chịu đau đớn gấp đôi còn hơn phải trần truồng trước cả một đám đông đang nhạo báng như thế. Thế là Ngài đã thực hiện được sự nghèo khổ cùng tột của con người để chuộc lại vô số tội lỗi mà con người đã gây ra do lòng ham muốn danh vọng, giàu sang, quyền lực và những vui thú từ những thứ này đem lại.

Trong lúc cô đơn, nhục nhã và đau khổ cùng tột ấy, cũng may mà còn một vài người thân của Ngài đang hiện diện để cùng cảm thông và chia sẻ. Dưới chân thập giá có Mẹ Ngài cùng một số phụ nữ thân quen và Gioan đang giả dạng thành một người khác. Còn các môn đệ khác mà Ngài cũng yêu thương vô bờ bến đều trốn biệt. Chính lúc nếm trọn sự đau khổ cùng tột mà thế gian có thể dành cho một con người, Ngài thông cảm hơn bao giờ hết sự yếu đuối, sự hèn nhát vì sự sợ hãi và sự trốn chạy trước đau khổ của mọi người. Đau khổ quả rất đáng sợ, vì nhiều khi nó thật khủng khiếp! Chính Ngài đã cảm nghiệm vô cùng sâu xa nỗi sợ hãi đó khi ở trong vườn Giệtsê tối hôm trước. Vì thế, Ngài thông cảm và muốn tha thứ hết cho các môn đệ của Ngài về những hèn nhát và bội phản của họ.

Tình thương và sự đau khổ của Thiên Chúa còn được biểu lộ một cách sâu sắc qua 7 lời nói sau cùng của Đức Giêsu trên thập giá.

Lời nói đầu tiên của Đức Giêsu trên thập giá: tha thứ và hứa thiên đàng cho người trộm lành

Đang khi tất cả mọi người bên dưới cười nhạo Ngài thì một trong hai tên gian phi cùng chịu đóng đinh với Ngài tỏ ý hối hận và nhìn nhận tội lỗi mình, đồng thời xưng rằng Ngài vô tội và xin Ngài thương anh ta (x. Lc 23,42). Lời nhận lỗi và cầu xin tha thứ của người trộm lành như một cơn mưa rào mát mẻ tưới xuống mảnh đất đang nóng rực và khô cằn của tâm hồn Ngài. Ngài lập tức nhớ lại dụ ngôn con chiên bị lạc (x. Lc 15,4-7), dụ ngôn đồng bạc bị mất (x. Lc 15,8-10) và nhất là dụ ngôn người cha nhân từ tha thứ cho đứa con hoang đàng từ xa trở về (x. Lc 15,11-32) mà Ngài đã từng nói với dân chúng. Lúc này Ngài đang đóng vai người cha, và anh trộm lành kia đóng vai người con hoang đàng.

Chỉ trong một giây, Ngài thấu hiểu hết những tình huống đã thúc đẩy anh vào con đường tội lỗi, nỗi đau khổ dằn vặt của anh khi hoàn cảnh éo le đã khiến anh cứ phải tiếp tục con đường tội lỗi ấy cho đến khi bị bắt, và nhất là bây giờ sự hối hận đang dày vò tâm can anh trong cơn đau đớn và nhục nhã cùng tột này. Anh đã từng nghe Ngài giảng một vài lần và rất mến mộ Ngài. Một đôi lần do cảm kích vì lời của Ngài, anh đã muốn từ bỏ con đường tội lỗi ấy. Nhưng ý chí và nghị lực của anh quá yếu đuối không thắng nổi những trở lực của hoàn cảnh cứ cám dỗ và giữ chặt anh lại trên con đường ấy. Bây giờ anh đang cùng chịu đóng đinh bên cạnh Ngài, một con người vô cùng thánh thiện và hoàn toàn vô tội nhưng lại bị đánh đập tra tấn đau đớn hơn anh bội phần… Giờ đây anh thật sự hối hận. Sự hối hận ấy khiến anh trở nên hoa trái đầu mùa của ơn cứu chuộc mà Ngài đang phải trả giá bằng sự đau khổ và cái chết của Ngài. Ngài rất vui mừng khi thấy ngay trước mắt thành quả của những đau khổ Ngài đang chịu. Trong tương lai sẽ còn biết bao người hối hận và từ bỏ con đường tội lỗi như anh. Cũng như người cha nhân từ quên hết mọi lầm lỗi của đứa con hoang đàng đã làm mình đau khổ vô ngần, Ngài vui mừng đến nỗi quên hết tất cả tội lỗi của anh để chỉ nhìn thấy nơi anh lòng thống hối chân thành đầy giá trị trước mặt Thiên Chúa. Trong tâm tình tràn ngập yêu thương, Ngài hứa với anh: «Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng» (Lc 23,43). Đó là câu nói thứ nhất của Ngài trên Thập Giá.

Sự việc xảy ra thật ý nghĩa. Đức Kitô đến để kêu gọi những người tội lỗi (x. Mt 9,13). Và đây, người đầu tiên hưởng ơn cứu độ của Ngài chính là một kẻ tội lỗi, một tên gian phi. Anh đâu cần làm gì, chỉ cần hối hận, nhìn nhận tội lỗi mình, đồng thời nhận Ngài là Đấng vô tội có khả năng cứu anh ta. Thật là một điều an ủi và khích lệ cho mọi người, nhất là với những người tội lỗi. Từ nay ơn cứu độ luôn luôn nằm ngay trong tầm tay con người, dù là con người tội lỗi nhất.

Lời nói thứ hai của Đức Giêsu trên thập giá: xin tha thứ cho tất cả những kẻ giết Ngài

Lời thứ hai Ngài nói trên Thập Giá là «Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm» (Lc 23,34). Cho dẫu giới lãnh đạo tôn giáo cố tình và rất tỉnh táo trong việc hãm hại Ngài bằng những đau đớn cùng cực, nhưng Ngài vẫn nhận ra được sự ngu muội của họ. Họ bị lòng ham muốn danh vọng, quyền lực, địa vị, tiền bạc làm lu mờ lương tâm và lý trí. Họ chỉ quen nghe những lời ca tụng, tâng bốc, nịnh nọt, và tỏ ra thật khó chịu hoặc tức giận khi có ai chân tình nói lên những tội lỗi hay khuyết điểm của họ. Họ quyết tâm giết Ngài một cách thâm độc nhất chính vì Ngài đã chân tình sửa sai họ. Vì yêu thương và muốn xây dựng cho họ, muốn họ nên tốt hơn, xứng đáng với địa vị lãnh đạo của họ hơn, Ngài đã nói lên sự thật về họ. Nhưng họ không quen chấp nhận sự thật, nhất là sự thật về bản thân họ, nên họ đã chụp mũ Ngài là phá đạo, phạm thượng, chống lại Thiên Chúa, toàn là những tội đáng chết!

Còn dân chúng, họ đã hô hào đòi giết chết Ngài, sẵn sàng đòi thả Baraba tên ăn cướp để Ngài phải chết. Ngài rất thông cảm với việc làm của họ. Họ chỉ như những con chiên hiền lành nhưng ngu muội, không có khả năng phán đoán độc lập. Phán đoán của họ bị lệ thuộc hoàn toàn vào những người lãnh đạo tinh thần của họ mà họ đã phần nào thần thánh hóa. Khi không có ai ảnh hưởng trên phán đoán của họ, họ thấy Ngài đúng là một thầy đạo rất thánh thiện, rất uy tín, chẳng những không làm gì đáng tội mà rất đáng ca tụng. Họ rất quý mến Ngài vì thấy Ngài yêu thương họ hơn ai hết, sẵn sàng cứu giúp họ, chữa lành mọi thứ bệnh tật cho những ai trong họ đến cầu cứu. Ngài có những lời nói còn chí lý và thuyết phục hơn cả những người lãnh đạo họ (x. Mc 1,22). Nhưng một khi những người lãnh đạo họ kết án Ngài là phá đạo, là phạm thượng, là chống lại Thiên Chúa, thì họ lập tức quay ngược lại 180 độ và nghĩ rằng Ngài đúng là như vậy. Thế là họ hùa theo những người lãnh đạo họ để hô hào trước thế quyền đòi phải giết Ngài cho bằng được, và họ cho rằng họ đã làm đúng. Không thể nào đòi hỏi họ khác hơn được, vì họ chỉ biết làm như thế. Sự ngu muội của đám đông cố hữu là như thế!

Ngài thông cảm với sự ngu muội của con người hơn bao giờ hết. Chính sự ngu muội này đã khiến con người gây ra cho nhau và cho chính bản thân họ biết bao nhiêu đau khổ. Và hiện nay, Ngài đang chính là nạn nhân của sự ngu muội ấy nơi họ. Vì thế, con người dù sao vẫn đáng thương hơn đáng trách rất nhiều. Do đó, trước khi nhắm mắt lìa trần, Ngài muốn tha thứ tất cả, chẳng những cho những kẻ hại Ngài đến chết, mà cho tất cả mọi người đang bị sự ngu muội che mờ hết lương tâm và lý trí. Quả thật, chính vì ngu muội, họ đã «không biết việc họ làm» (Lc 23,34).

Hai lời nói đầu tiên của Ngài trên thập giá đều là những lời nói tha thứ. Ôi sự tha thứ mà chỉ những ai có tâm hồn yêu thương và thông cảm vô bờ bến mới làm được! Sự tha thứ vô điều kiện ấy quả là điều đầy an ủi cho con người, nhất là cho những người tội lỗi. Như thế, qua Đức Giêsu, Thiên Chúa đã biểu lộ sự cảm thông rất sâu xa với những yếu đuối và hạn chế của con người.

Lời nói thứ ba: trối Mẹ mình cho Giáo Hội và Giáo Hội cho Mẹ mình

Lời thứ ba của Ngài trên Thập Giá là lời nói với mẹ Ngài và môn đệ Ngài yêu dấu nhất, cả hai đang có mặt dưới chân thập giá: «Thưa Bà, đây là con của Bà»,«đây là mẹ của anh» (Ga 19,26-27). Đó là hai người yêu dấu nhất của Ngài trên trần gian: một người là mẹ, một người là con, đứa con tinh thần, đại diện cho 12 đứa con tinh thần sẽ tiếp nối «miêu duệ» của Ngài ở trần gian. Ngài không có con theo máu mủ ruột thịt, mà chỉ có những đứa con tinh thần. Đối với Ngài, quan hệ ruột thịt chưa phải là quan trọng, mà quan hệ tinh thần – ở đây là quan hệ trong sứ mạng cứu chuộc theo thánh ý Chúa Cha – mới là quan trọng. Đức Maria là Mẹ Ngài vì đã luôn luôn thi hành thánh ý của Thiên Chúa hơn là vì đã sinh ra Ngài. Ngài đã chẳng từng nói: «Ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Đấng ngự trên trời, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi» (Mt 12,50) sao? Bổn phận của đứa con khi phải lìa đời trước cha mẹ là phải tìm người phụng dưỡng cha mẹ thay cho mình. Và bổn phận của người cha khi mất sớm là phải lo tìm người thay thế mình để nuôi dưỡng và giáo dục đàn con. Thì đây là lúc thuận tiện nhất để Đức Giêsu làm công việc ấy. Ngài giao lại đàn con là các môn đệ yêu dấu của mình cho Đức Maria, Mẹ Ngài, để từ nay Mẹ sẽ chăm lo cho họ thay mình. Và Ngài cũng giao Mẹ mình cho các môn đệ phụng dưỡng thay cho mình.

Thế là kể từ nay, Đức Maria đã trở thành Mẹ của các môn đệ Ngài và cũng là Mẹ của Giáo Hội hay hơn nữa của cả nhân loại mà Ngài có sứ mạng cứu chuộc. Đó là gia tài tinh thần mà Ngài muốn để lại cho các môn đệ, cho Giáo Hội và cả nhân loại: người mẹ thân yêu của Ngài, người đã từng đồng lao cộng khổ với Ngài trong công việc cứu chuộc, đồng thời cũng là một gương mẫu hoàn hảo cho mọi người noi theo. Điều làm Ngài hài lòng nhất nơi Mẹ mình là Mẹ đầy tình thương yêu đối với tất cả mọi tạo vật, nhất là đối với những ai đau khổ và tội lỗi. Vì thế Ngài xứng đáng là Mẹ của Ngài, của các môn đệ Ngài, của Giáo Hội Ngài đang thành hình và của toàn nhân loại nữa. Thế là kể từ đây, sau khi Ngài ra đi, các môn đệ Ngài có Mẹ an ủi vỗ về, khích lệ tinh thần mỗi khi gặp khó khăn chán nản. Và nếu Giáo Hội cũng như toàn nhân loại đã có một người Cha chung trên trời, thì kể từ đây cũng có một người Mẹ chung đầy tình thương luôn quan tâm lo lắng cho sự cứu rỗi và hạnh phúc vĩnh cửu của mọi người. Tất cả đều do sự sắp đặt đầy tình thương của Đức Giêsu đối với Giáo Hội và nhân loại.               (Còn tiếp)

 

Trở về Muc Lục