Số 15, Ngày 14-8-2004

 

MỤC LỤC

 

Thư Tòa Soạn

Thiên Chúa Cũng Đau Khổ - Huyền Vi

Tha Thứ, Suy Niệm Kinh Thánh - Quang Thạch &Hoàng Quý

Tiếng Gọi Phổ Quát Đến Với Thần Bí - Tu sĩ Maria Gioan

Cha Tôi Ở Trên Trời - Trần Mỹ Duyệt

Lễ Mông Triệu, Một Truyền Thống Trở Thành Tín Điều - Maranatha sưu tầm

Niềm Vui Chia Sẻ: Mẹ Maria Vội Vã Lên Đường - Đ Ô. Giuse Phạm X. Thắng

Mẹ Maria Xứng Đáng Được Đưa Hồn Xác Về Trời - Nguyễn Chính Kết

Mẹ Về Trời  - Thơ - Lệ Hằng

Tâm Tình Bạn Đọc - Thư Bạn Đọc

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

Kính thưa quý vị độc giả,

Maranatha_15 đến với quý vị vào ngày lễ mừng kính Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, vì thế chúng ta cùng hướng lòng về Mẹ.

Vì thiếu các chứng từ trong Tân Ước và trong những dữ liệu lịch sử đáng tin cậy, nên chúng ta không biết gì về cuộc đời của Đức Mẹ từ sau ngày lễ Hiện Xuống cũng như về hoàn cảnh Mẹ qua đời. Ta chỉ dự đoán rằng Mẹ đã tiếp tục sống với tông đồ Gioan theo lời dặn dò của Chúa Giêsu trên thập giá và rất gần gũi với cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi, chỉ vậy thôi.

Qua sự thiếu vắng đó, ta có thể nhận ra ý định đặc biệt của Thần Khí: Người đã muốn thôi thúc Giáo Hội, trong quá trình tìm hiểu và cảm nhận tính chất chủ yếu của Mầu Nhiệm Chúa Kitô, đừng lạc vào các chi tiết liên quan đến cuộc đời Đức Mẹ, mà chỉ cố gắng tìm hiểu vai trò của Mẹ trong công trình cứu độ, sự thánh thiện của Mẹ và Thiên Chức làm Mẹ của Người trong đời sống Kitô hữu.

Thánh Thần hướng dẫn Giáo Hội sống theo mẫu gương của Đức Maria. Trong tường trình về cuộc giáng sinh của Chúa Giêsu, thánh Luca ghi rằng ‘mẹ Ngài giữ lấy mọi sự  và suy niệm trong lòng’ (Lc 2,19), nghĩa là Mẹ cố gắng ‘gom lại’ (symballousa) mọi biến cố mà Mẹ đã trải qua một cách vô cùng độc đáo, để rồi soi  rọi bằng một cái nhìn sâu lắng.

Tương tự như thế, Dân Chúa cũng được Thánh Thần thôi thúc nghiền ngẫm sâu sắc tất cả những gì đã được nói về Đức Maria, để dần dần thấu hiểu về sứ mạng của Mẹ, một sứ  mạng gắn liền với Mầu Nhiệm Chúa Kitô.

Niềm tin của những kẻ bé mọn luôn được Chúa Giêsu khen ngợi, vì họ luôn nhận ra những biểu hiện của lòng từ ái của Chúa Cha (x. Mt 11, 25; Lc 10, 21). Và qua bao thế hệ,  những  giáo dân thấp kém ấy đã tiếp tục công bố những kỳ công trong chương trình cứu độ, mà những người thông thái không biết được. Niềm tin dân gian ấy, mang nét đơn sơ của Đức Mẹ, đã giúp cho mọi người nhật ra sự thánh thiện và giá trị siêu việt của Người.

Mầu nhiệm Mẹ Maria mời gọi mọi Kitô hữu, cùng hiệp thông với Giáo Hội, ‘suy niệm trong lòng’ những mặc khải về Mẹ Chúa Kitô. Theo tiến trình của lời kinh ‘Magnificat’, mỗi người chúng ta noi gương Đức Mẹ để cảm nghiệm Tình Yêu Thiên Chúa đối với bản thân mình, và khám phá, qua các điều  kỳ diệu mà Ba Ngôi đã  thực hiện nơi ‘Đấng đầy ơn phúc’, một dấu chỉ về tình trìu mến của Thiên Chúa đối với con người.

Với những suy nghĩ trên, Maranatha xin gửi đến những nét sơ lược về Ngày lễ Mông Triệu kèm theo các mục thường xuyên, trong ý thức rằng Đức Mẹ là người giáo dân duy nhất trong  lịch sử đã cầu xin bằng trọn linh hồn và xác mình: Maranatha, lạy Chúa xin hãy đến, vì thế cho nên lời cầu xin đó đã trở  thành hiện thực: Và Ngôi Lời đã mặc lấy xác phàm và cư ngụ giữa chúng ta. (Ga 1,14).

Ngày lễ Mông Triệu cũng là lễ bổn mạng của gần một nửa số nữ Kitô hữu mang tên thánh Maria, xin chúc cho mọi độc giả Maria được ngày càng trở nên giống Mẹ.

 

MARANATHA

Về mục lục >

 

 HỌC ĐẠO

  THIÊN CHÚA CŨNG ĐAU KHỔ

 (tiếp theo Maranatha_14)

Huyền Vi

Lời nói thứ tư của Đức Giêsu trên thập giá: cảm tưởng bị Thiên Chúa bỏ rơi

Lời thứ tư là «Êli, Êli, lama xabatani, nghĩa là: Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?» (Mt 27,46), nói lên sự cô đơn cùng cực mà Ngài cảm thấy từ cơn hấp hối ở vườn Giệtsê tới lúc này, và nhất là lúc này. Vì Ngài gánh lấy toàn bộ tội lỗi của trần gian, nên Thiên Chúa Công Bình đã trút toàn bộ cơn thịnh nộ của mình lên đầu Ngài. Ngài đã bị trừng phạt thay cho toàn nhân loại để nhân loại được ơn tha thứ và làm hòa được với vị Thiên Chúa luôn luôn đòi hỏi sự công bằng. Thiên Chúa đã bỏ rơi Ngài cho nư cơn giận hầu có thể ôm lấy nhân loại vào lòng, một nhân loại tuy hư hỏng nhưng đã được Thiên Chúa thông cảm nhờ Đức Giêsu đã chia sẻ thân phận yếu hèn của con người, đã tự mình kinh nghiệm thân phận ấy. Khi mặc lấy và sống trong thân phận con người, Ngài đã thấy rằng con người thật đáng thương hơn đáng trách, cho dù tội lỗi con người có to tát đến đâu. Ơn cứu độ bắt nguồn từ sự thông cảm này.

Chính Thiên Chúa đã đau khổ vì nhân loại. Những đau khổ ấy đã thể hiện cụ thể trong lịch sử nhân loại qua những đau khổ tột cùng và đa dạng của Đức Giêsu. Chính đau khổ đã làm cho Thiên Chúa trở nên gắn bó và gần gũi con người hơn, và làm con người trở nên thân thiết với Thiên Chúa hơn. Chính nhờ Đức Kitô bị bỏ rơi mà con người trở nên con cái yêu dấu của Thiên Chúa. Ngài bị bỏ rơi để chúng ta khỏi bị bỏ rơi.

Lời nói thứ năm: «Tôi khát»

Lời thứ năm của Đức Giêsu trên thập giá là: «Tôi khát» (Ga 19,28). Nghe lời ấy, «người ta lấy miếng bọt biển có thấm đầy giấm, buộc vào một nhành hương thảo, rồi đưa lên miệng Người» (Ga 19,29). Giấm ở đây một loại đồ uống rẻ tiền, có chất men, mà các binh sĩ Rôma uống để giải khát trong thời gian thi hành lệnh hành quyết tội nhân. Chắc chắn lúc ấy Ngài hết sức khát nước vì máu và mồ hôi ra nhiều mà không được uống nước để bù lại số nước bị mất trong người. Khi cơn khát lên đến cùng cực, với bản tính yếu đuối của con người, Ngài đã phải thốt lên câu «Tôi khát!» Nhưng khi người ta đưa đồ uống đến cho Ngài, theo Tin Mừng Gioan thì Ngài chỉ «nhắp» chứ không uống. Phản ứng của những người bình thường trong trường hợp khát đến mức như thế là uống được nhiều ngần nào có thể cho đã cơn khát. Đức Giêsu không phản ứng như thế. Ngài tỏ ra hoàn toàn tự chủ trước cơn khát cháy cổ đang dày vò Ngài. Rất có thể Ngài muốn tiếp tục chịu đựng cơn khát và không muốn giảm bớt đau khổ bằng việc uống cho đã khát. «Chén đắng» mà Thiên Chúa Cha trao cho Ngài, Ngài muốn uống cạn đến giọt cuối cùng. Ngài không muốn giảm bớt bất cứ một đau khổ nào mà Thiên Chúa muốn Ngài chịu để biểu lộ tình yêu vô cùng của Thiên Chúa đối với nhân loại.

Câu nói «Tôi khát» còn có một ý nghĩa khác. Phản ứng của Ngài – chỉ «nhắp» một chút xíu – cho thấy Ngài nói «tôi khát» không phải để được người ta cho uống hầu làm giảm cơn khát thể lý. «Khát» ở đây mang ý nghĩa tâm lý nhiều hơn. Ngài khát gì vậy? Ta thấy, vì yêu thương nhân loại, đặc biệt Dân của Ngài, mà Ngài xuống trần gian tại đất nước Do Thái. Nhưng từ ngày Ngài sinh ra đến giây phút cuối cùng này, tình yêu vô bờ bến của Ngài chỉ được đáp trả bằng hờ hững, hận thù. Lúc nào Ngài cũng bị con người – mà Ngài yêu thương đến tận cùng – hất hủi, tẩy chay… Một người yêu thương như thế mà không được đáp lại thì khao khát gì? Có ai yêu thương mà không muốn được người mình yêu yêu lại mình. Đó chính là tâm sự đau thương của Ngài mà Ngài có nhu cầu bộc lộ ra vào lúc sắp từ giã cõi đời. Vì Ngài yêu thương con người vô hạn, nên Ngài cũng khao khát tình yêu của con người đối với Ngài vô hạn. Nhưng con người đã không thõa mãn cho Ngài nỗi khao khát đó. Yêu mà không được yêu lại thì còn gì khổ bằng? Đó cũng chính là nỗi khổ đau của Thiên Chúa, khổ đau vì nỗi khao khát không được thõa mãn.

Lời nói thứ sáu: phó thác linh hồn trong tay Thiên Chúa

Lời thứ sáu là: «Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha» (Lc 23,46). Đức Giêsu chính là Ngôi Lời. Theo Thánh Gioan thì «từ nguyên thủy đã có Ngôi Lời, và Ngôi Lời ở cùng Thiên Chúa» (Ga 1,1). Và Ngôi Lời đã xuống trần gian nhập thể trong lịch sử con người để cứu độ họ, bằng cách chia sẻ thân phận yếu đuối và đau khổ của họ. Ngài đã đau khổ tột cùng, và đã hoàn tất sứ mạng cứu độ con người bằng cuộc khổ nạn Thập Giá. Bây giờ Ngài lại trở về cùng Thiên Chúa. Sứ mạng cực kỳ gian khổ của Ngài đã hoàn tất, Ngài không còn đau khổ nữa. «Con phó thác linh hồn con trong tay Cha» là một thở phào nhẹ nhõm của một người đã làm xong nhiệm vụ và tới lúc trở về với người đã sai mình với tâm hồn hân hoan.

Thái độ phó thác trong tay Thiên Chúa là một thái độ thường hằng của Đức Giêsu. Không một lúc nào trong cuộc đời của Ngài mà Ngài không phó thác bản thân cũng như tất cả mọi sự của mình và của cả nhân loại cho Thiên Chúa. Ngài chỉ biết làm theo thánh ý Thiên Chúa Cha, và phó mặc tất cả những gì còn lại trong tay Cha. Ngài không lo gì cho bản thân Ngài, mà chỉ biết lo cho Chúa Cha và nhân loại. Bản thân Ngài, hạnh phúc và đau khổ hay thành công và thất bại của Ngài, Ngài đều hoàn toàn để Cha Ngài định đoạt. Cả cuộc đời, Ngài đã sống trọn vẹn câu: «Hãy lo tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Ngài trước đã, còn mọi sự khác Ngài sẽ ban cho sau» (Mt 6,33).

Câu «Con phó thác linh hồn con trong tay Cha» trên thập giá là câu nói tóm gọn lại thái độ phó thác mà Ngài đã thực hiện suốt cuộc đời Ngài.

Lời nói thứ bảy: «mọi sự đã hoàn tất»

Lời thứ bẩy, lời cuối cùng Đức Giêsu nói trên Thập Giá là: «Mọi sự đã hoàn tất» (Ga 19,30). Nói xong Ngài trút hơi thở cuối cùng. Trước khi lìa cõi đời, Đức Kitô cảm thấy Ngài đã làm xong tất cả những gì mình phải làm, tức công việc cứu độ nhân loại. Có thể nói đây là một câu nói thỏa mãn của một người vừa qua một tai nạn lớn, hay của một người vừa hoàn thành một nhiệm vụ hết sức khó khăn. Đức Kitô đã uống cạn «chén đắng» mà Chúa Cha trao cho một cách dũng cảm, hoàn hảo, không một chỗ nào đáng chê trách. Mọi công việc, mọi gian nan rồi cũng phải qua, không thể kéo dài mãi, nhưng nếu được hoàn thành một cách tốt đẹp do những cố gắng hết sức của mình, thì ta sẽ cảm thấy thỏa mãn, hài lòng. Mọi sự đều qua đi, nhưng kết quả của chúng thì tồn tại lâu dài.

Phần thưởng lớn nhất của Đức Kitô khi còn tại thế chính là lúc Ngài thốt ra được câu này. Có thể nói rằng Ngài đã chết trong tâm trạng rất thỏa mãn, hoàn toàn hạnh phúc, không có gì phải hối tiếc cả. Không có cái chết nào đẹp bằng cái chết của Ngài. Ngài đã sống rất đẹp và chết cũng rất đẹp. Cả đời Ngài là một tuyệt tác của Chúa Cha. Có thế mới bù lại được cái «sản phẩm bị hư hỏng» của Ngài là con người. Nhờ đó, kể từ nay, quan hệ giữa Thiên Chúa và nhân loại đã trở thành tốt đẹp: Đức Kitô đã bắc một nhịp cầu vững chắc nối con người lại với Thiên Chúa. Do đó, Ngài là «Đấng Trung Gian duy nhất giữa Thiên Chúa và con người» (1Tm 2,5).

Bây giờ, Ngài đã hoàn tất những đau khổ cần thiết để biểu lộ tình thương của Thiên Chúa đối với con người. Những đau khổ này do chính con người gây ra cho Ngài, cho dù mục đích của Ngài là đem hạnh phúc đến cho họ. Nhưng Ngài đã đến không như cách họ mong chờ Ngài. Người ta mong Ngài đến để giải phóng họ khỏi những đau khổ do ngoại bang áp bức, để đem lại ấm no hạnh phúc cho họ, thì Ngài lại đem tình yêu thương tới. Họ mong Ngài là một nhà chính trị hay quân sự thì Ngài lại là một vị đạo sư. Họ mong Ngài tới để xóa bỏ đau khổ, thì Ngài lại đến để cùng chịu đau khổ với họ và biến đau khổ thành phương tiện để mưu hạnh phúc… Tư tưởng của Thiên Chúa quả khác hẳn với tư tưởng con người, cái khôn của Thiên Chúa khác hẳn với cái khôn con người. Chính vì thế, con người không thể hiểu được cách hành động của Thiên Chúa, nên mới sinh ra chuyện con người giết Thiên Chúa, và Thiên Chúa chịu đau khổ vì con người. Đối với Thiên Chúa, con người là một tác phẩm, nhưng là tác phẩm gây đau khổ cho chính Ngài. (Còn tiếp1 kỳ)

Về mục lục >

 CẦU NGUYỆN

 THA THỨ, SUY NIỆM KINH THÁNH
& CHỜ ĐỢI NGHE TIẾNG CHÚA

Linda Schubert
Quang Thạch & Hoàng Quý chuyển ngữ

7. THA THỨ

«Và khi đứng cầu nguyện, nếu các con còn bất bình với ai điều gì, các con hãy tha thứ cho họ, ngõ hầu Cha các con trên trời cũng tha thứ tội lỗi cho các con» (Mc 11:25).

Khi Chúa Giêsu ở giữa trung tâm điểm đời sống chúng ta, chúng ta có thể xin Ngài giải hòa với chính chúng ta và với tha nhân. Chúa Thánh Linh không để chúng ta xa lìa Ngài trong các mối giây liên hệ tan vỡ, và Ngài cũng chẳng trông mong chúng ta tha thứ bằng sức riêng của chúng ta. Ngài sẽ hoạt động nơi chúng ta nếu chúng ta mời Ngài giúp đỡ.

Bạn hãy quyết định làm hòa với người khác trong cuộc đời bạn. Bạn hãy giải quyết cho họ cũng như cho chính bạn được tự do. Đời sống quá ngắn ngủi và quý giá để lãng phí vào công việc trói buộc mình vào những vòng giây xích giận hờn, oán ghét. Hôm nay, bạn hãy giải tỏa đi. Bạn sẽ không hối tiếc đâu. Lòng tha thứ bắt đầu bằng việc quyết tâm, và tình cảm sẽ theo sau đó.

Lời nguyện sau đây bao trùm một số các lãnh vực nền tảng trong đời sống, nhằm giúp tâm trí bạn biết cởi bỏ, biết chôn đi những tức tối, cay đắng, giận hờn bằng việc tha thứ. (Khi bạn đọc chậm rãi và nghiền ngẫm lời kinh này, bạn hãy ngừng lại từng đoạn và xin Chúa Thánh Linh giúp bạn nhớ lại từng người, từng trường hợp bạn muốn tha thứ. Bạn hãy vẽ lại hình ảnh lý tưởng của người bạn muốn họ hoàn thiện, qua công việc tạo dựng và cứu độ của Chúa. Bạn hãy nài xin máu Chúa Giêsu tẩy rửa họ và nguyện xin Chúa chữa lành họ nhân danh Chúa Giêsu Kitô. Amen = Mong được như vậy). (5 phút)

LỜI NGUYỆN THA THỨ

«Trong Ngài, chúng ta được cứu độ nhờ máu Ngài, tức là ơn tha thứ tội lỗi, chiếu theo lượng hồng ân dư dật của Thiên Chúa, để Ngài ban xuống tràn đầy nơi chúng ta ơn khôn ngoan và hiểu biết» (Ep 1:7-8).

Lạy Cha Chí Ái, con xin tự nguyện tha thứ cho từng người trong cuộc sống con, bao gồm cả chính con, vì Cha đã tha thứ cho con. Lạy Cha, con xin cảm tạ Cha vì hồng ân này.

Con xin tha thứ cho chính mình con, vì những tội lỗi của con, những lỡ lầm của con và những sa ngã của con, nhất là ___ ___ ___. Con xin tha thứ cho chính con, vì con người bất toàn của con, con chấp nhận chính mình và con quyết định không tự oán trách mình cũng như coi mình là kẻ thù xấu xa của chính con nữa. Con xin cởi bỏ những gì làm vướng víu, gây bận tâm cho con và con xin làm hoà với chính con hôm nay, nhờ thần lực Chúa Thánh Linh.

Con xin tha thứ cho mẹ con, vì tất cả những gì mẹ con làm đau lòng con và thiếu yêu thương con, một cách vô tình hoặc hữu ý, nhất là ___ ___ ___. Hôm nay con xin tha thứ cho mẹ con, vì mọi lạm dụng làm tổn thương con. Hôm nay con xin tha thứ cho mẹ con, vì mẹ con đã không cung ứng cho con ơn phúc thâm sâu, trọn vẹn, thư thái của một người mẹ. Con xin cởi bỏ những trói buộc này cho mẹ con và làm hòa với mẹ con ngay hôm nay.

Con xin tha thứ cho cha con, vì tất cả những gì cha con làm đau lòng con và thiếu yêu thương con, một cách vô tình hoặc hữu ý, nhất là ___ ___ ___.  Hôm nay con xin tha thứ cho những lần cha con lạm dụng, những hành động cứng cỏi hoặc thô bạo, những thiếu trách nhiệm. Hôm nay con xin tha thứ cho cha con, vì cha con đã không cung cấp cho con ơn phúc tràn đầy và thư thái của bậc làm cha. Con xin cởi bỏ những trói buộc này cho cha con và làm hòa với cha con ngay hôm nay.

Con xin tha thứ cho người bạn trăm năm của con, vì tất cả những gì làm đau lòng con và thiếu yêu thương con trong suốt thời gian chúng con chung sống với nhau, nhất là ___ ___ ___. Hôm nay con xin tha thứ cho tất cả những vết thương lòng của chúng con. Con xin cởi bỏ những trói buộc này cho người bạn trăm năm của con và làm hòa giữa chúng con ngay hôm nay.

Con xin tha thứ cho các con cái của con vì tất cả những tổn thương đã gây cho con, nhất là ___ ___ ___. Con xin cởi bỏ tất cả những trói buộc này và làm hòa với con cái của con ngay hôm nay. Lạy Cha, xin Cha chúc phúc lành cho các con cái của con.

Con xin tha thứ cho các anh chị em con, vì tất cả những lạm dụng con, nhất là ___ ___ ___. Con xin tha thứ cho tổ tiên con, vì những hành động tội lỗi đã ảnh hưởng đến cuộc sống con hôm nay và gây cho con khó khăn sống trong tự do làm con cái Cha. Con xin cởi bỏ những trói buộc này và làm hòa với các ngài ngay hôm nay, nhân danh Chúa Giêsu Kitô.

Con xin tha thứ cho bạn hữu của con, vì tất cả những hành động tiêu cực và thiếu yêu thương, nhất là ___ ___ ___. Con xin tha thứ cho các bạn hữu con, vì tất cả những lần bạn hữu con đã lợi dụng con hoặc dẫn dắt con đi sai lạc. Con xin cởi bỏ những trói buôc này và làm hòa với các bạn hữu của con ngay hôm nay, nhờ thần lực Chúa Thánh Linh.

Con xin tha thứ cho các chủ nhân của con, vì những xử đối tiêu cực và thiếu yêu thương trong quá khứ cũng như hiện tại, nhất là ___ ___ ___. Con xin cởi bỏ tất cả những trói buộc này và cầu phúc lành cho họ ngay hôm nay, nhân danh Chúa Giêsu Kitô.

Con xin tha thứ cho các thầy cô của con, vì những hành động tiêu cực và lợi dụng con, nhất là ___ ___ ___. Con xin tha thứ cho các luật sư, bác sĩ, y tá và những người chuyên nghiệp, nhất là ___ ___ ___. Con xin tha thứ cho hàng giáo phẩm và tất cả những ai nắm giữ vai trò trong Giáo Hội, nhất là ___ ___ ___. Con xin cởi bỏ cho tất cả, nhân danh Chúa Giêsu Kitô.

Con xin tha thứ cho từng phần tử trong xã hội đã gây tổn thương cho con dưới mọi hình thức; những ai gây khốn khổ cho con bằng hành động tội phạm hoặc những ai gây tổn hại cho gia đình con. Con xin tha thứ cho những ai đã đưa các luật lệ chống lại các giá trị Kitô giáo. Con xin tha thứ cho các nguồn gốc gây ra bất công, khổ đau và những quấy nhiễu đời sống con.

Lạy Cha trên trời, giờ đây con xin ơn biết tha thứ cho một người đã gây khổ đau cho con nhất trong đời. Giờ đây con xin chọn tha thứ cho một người khó tha thứ nhất, dầu cho lúc này con còn cảm thấy tức giận và đau đớn. Con cũng xin làm hòa với một người trong gia đình, một người bạn và một gương mặt nắm giữ quyền uy làm con đau khổ nhất.

Lạy Cha, còn ai con cần phải tha thứ nữa không? (Hãy yên lặng và lắng nghe). Lạy Cha Chí Ái, xin cảm tạ Cha đã giải thoát cho con được tự do.

Giờ đây con chúc phúc cho tất cả những ai đã làm con đau khổ. Lạy Cha, xin Cha hãy ban cho họ một ơn đặc biệt ngay hôm nay. Lạy Cha, con xin cảm tạ Cha. Con ngợi khen Cha. Amen.

(Lc 17,4; Ep 4,31-32; Cl 3,13; Mt 6,14; Mt 5,44; Lc 6,35; Gl 5,14; 1Tx 3,12; 1Pr 4,8; 1Ga 4,12; Mt 26,28; 2Tm 2,24; Tt 3,2; Gs 3,17; 1Pr 1,22).

(Lạy Cha...)

8. SUY NIỆM KINH THÁNH

Một buổi sáng kia, tôi chợt đọc thấy câu Kinh Thánh trong sách Giêrêmia 40:4, «Hôm nay Ta đang cởi xiềng xích nơi tay ngươi». Đột nhiên tôi nhận ra Chúa đang nói với tôi và Ngài đang cởi bỏ khó khăn cho tôi, khi tôi từng cầu nguyện xin Ngài giúp tôi hoàn thành tập sách này. Hiển nhiên tôi đã tận dụng câu Kinh Thánh này và rõ ràng Chúa sử dụng lời này nói với tôi. Từ ngày ấy, tôi cảm nghiệm được ơn thoải mái viết sách.

Kinh Thánh là một trong những đại lộ trọng yếu nhất giao thương với Thiên Chúa, gắn liền với ơn Chúa Thánh Linh gợi hứng. Khi chúng ta ngồi vào dự bàn tiệc Kinh Thánh, chúng ta đi vào hiểu biết về Chúa. Chúng ta được tăng cường đức tin, đức cậy và đức mến khi dành ra thời giờ đọc Lời Chúa. Việc dành thời giờ đọc Kinh Thánh dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Linh, sẽ mở ra các đường giây thông thương tâm linh. Thời gian cầu nguyện có thể là một chuyến phiêu du, nhất là khi chúng ta tập được thói quen đối thoại tự nhiên và dễ dàng với Chúa. Tôi tin tưởng nếu chúng ta thực hành tâm sự với Chúa trong ngày, «Giờ Phép Lạ» này sẽ mang lại kết quả cho bạn.

Khi bạn bắt đầu đọc đoạn này, bạn hãy đơn thành thưa với Chúa, «Lạy Chúa, hôm nay xin Chúa hãy nói với con qua Lời Chúa». Bạn hãy mở Sách Thánh, rảo mắt qua và dừng lại câu nào hoặc lời nào làm bạn chú tâm. Thí dụ, chữ «hy vọng» đập vào mắt bạn, bạn hãy ngừng lại và tìm ra ý nghĩa ở đó. Hãy xin Chúa chỉ cho biết tại sao lời đó khiến bạn quan tâm. Có lẽ dòng chữ «lòng chính trực» cũng bất thần gây cảm hứng cho bạn. Bạn hãy nói với Chúa, «Chúa Thánh Linh ơi, Chúa muốn dậy bảo con điều gì qua lời này?» Bạn hãy ghi các suy niệm vào cuốn tập và sau này cứ tiếp tục suy niệm thêm. Đây là thành tích biểu rất quan trọng ghi lại hành trình tâm linh của bạn. (5 phút)

(Tv 119,15; Rm 15,4; 2Tm 3,16; Rm 10,8; Cl 3,16; Tv 19,8; Tv 119,130; Tv 119,140; G 23,12; Tv 119,103; Dt 4,12; Tv 119,9; Gr 23,29; Rm 1,16; Ga 20,31; Ep 6,17; Ep 5,26)

(Lạy Cha...)

9. CHỜ ĐỢI NGHE TIẾNG CHÚA

Đây là giây phút đặc biệt nhất trong «Giờ Phép Lạ». Chúa nói với chúng ta, «Chiên Ta biết nghe tiếng Ta» (Ga 10:27).

Là những người Kitô hữu chân thành muốn tiến bộ trong mối giây sống thân tình với Chúa, chúng ta phải tìm kiếm một nơi yên tĩnh, xa khuất những nơi ồn ào, và chỉ còn biết lắng nghe tiếng Chúa. Tốt hơn nên nhắm mắt lại. Ngài muốn nói với chúng ta hơn là chúng ta muốn lắng nghe. Ngài là Thiên Chúa của tình yêu và tình yêu lại thích tâm sự. Bạn hãy lấy sẵn giấy viết và mong mỏi Ngài nói. Những bước tiến vừa rồi đã chuẩn bị cho phút giây tuyệt diệu này. Bạn hãy lắng dịu trí khôn, mở cửa lòng ra, lương tâm thanh thản và bạn tập trung vào Chúa. Phần đông chúng ta cần đến lời nói khích lệ từ nơi Chúa. Bạn hãy nói như Samuel, «Lạy Chúa xin hãy nói, đầy tớ Chúa đang lắng nghe đây» (1 Sam 3:10). Khi một lời nói hay một tư tưởng đến trong tâm trí, bạn hãy viết xuống cuốn sổ. Thông thường Chúa ban cho bạn một lời an ủi yêu thương, hy vọng và chữa lành. Bạn sẽ lớn lên với khả năng nghe được tiếng Chúa nói qua các công việc thường nhật, khi bạn biết dành thời giờ vàng ngọc vào cầu nguyện và đọc Lời Chúa. Sau cùng, sự thật là tình yêu không đòi hỏi phải dùng lời nói. Chúa có thể yêu thương bạn trong thinh lặng đấy (5 phút). (Xin đọc lại bài viết về Lectio Divina).

(Dt 30,20; Lc 10,39; Rev 3,20; Tv 95,7; Is 30,21; Kb 2,2; Ga 16,13; Cv 10,19; Pr 3,4; Tv 25,9; Tv 73,24; Mt 13,23)

(Lạy Cha...)

Về mục lục >

 

SỐNG ĐẠO

TIẾNG GỌI PHỔ QUÁT ĐẾN VỚI THẦN BÍ

Tu sĩ  Maria - Gioan de la Rédemption, o.c.d.

Thaùi Vaên Hieán dòch

Lần nữa, Giáo huấn của công đồng Vatican II lại đặc biệt đưa ra ánh sáng tầm quan trọng của đời sống các giáo dân trong sứ mệnh thánh hoá thế giới và tin mừng hoá.

Việc ngẫm suy về tính phổ quát của sự thánh thiện Kitô giáo cũng đưa ra ánh sáng tính chất huyền bí thiết yếu của sự thánh thiện ấy, nghĩa là mối liên kết của sự thánh thiện ấy  với mầu nhiệm về sự Thánh thiện của Thiên Chúa.

Đảm trách toàn bộ sứ vụ cứu độ được Chúa Kitô ký thác cho Hội Thánh là công việc không chỉ thuộc về những thừa tác viên có chức. Tất cả các tín hữu, đã chịu phép Rửa trong một Thần Khí duy nhất của Chúa Giêsu, đều nhận lãnh một phần sứ vụ ấy và được kêu gọi thực hiện trong đó chức năng của bậc sống mình giữa lòng cộng đoàn Hội Thánh.

Qua những trang viết sau đây, chúng tôi muốn suy ngẫm một vài đoạn trong hiến chế tín lý Lumen gentium có liên quan đến sứ vụ ấy, bằng cách thử nhấn mạnh những điểm giúp cho chiều kích thần bí của đời sống Kitô hữu được cắm rễ cách thần học trong công trình cứu độ. Từ ngữ “thần bí” ở đây được dùng theo một nghĩa rộng với hai lý do : một là để tránh nguy cơ dẫn đến hạn chế ý nghĩa của nó bằng cách chỉ nhằm xác định những khía cạnh phi thường trong cuộc sống của một số Kitô hữu 1 ; hai là mang lại khả năng tiếp xúc với nội dung khó hiểu của từ ngữ ấy bằng cách dựa trên một vài điểm thần học của CĐ Vatican II, và áp dụng những điểm ấy một cách đặc thù cho các giáo dân 2 .

Giáo dân, thật vậy, được tháp nhập trong Chúa Kitô và là những chi thể của dân Thiên Chúa, nhân danh phép Rửa của mình, họ dự phần vào sứ vụ thiên sai của Chúa Kitô với ba chức năng : tư tế, ngôn sứ và vương giả. Chính là trong những tư cách ấy mà họ tiếp tục trên trần thế công trình cứu độ của vị Thượng Tế duy nhất :

“Họ được gọi bởi Thiên Chúa, để dưới sự hướng dẫn của tinh thần Tin mừng, như men từ trong bột, họ thánh hóa thế giới bằng việc thi hành những nhiệm vụ của mình; và như thế, với lòng tin cậy mến sáng ngời, và nhất là với bằng chứng đời sống, họ tỏ lộ Chúa Kitô cho kẻ khác” (Lumen gentium [LG] 31)

Lời chứng ấy của đời sống, được chuyển biến tự bên trong bởi những nhân đức hướng thần, xác định tính chất người môn đệ của Chúa Kitô nhận lãnh từ Thiên Chúa sự thánh hoá của mình, chuyển thông nó cho những người chung quanh, và trong tâm tình tạ ơn, cống hiến tất cả những hồng ân mà mình đã được nhận lãnh.

Thần bí và sự thánh thiện

Trong khi chú giải tiêu đề của chương 5 Hiến chế Lumen gentium 3 , chúng tôi muốn chỉ ra rằng sự thánh thiện của Hội Thánh và các chi thể là thuộc phương diện thần bí : cơ bản đó là một sự kết hiệp với Chúa Kitô, Đấng Thánh duy nhất và thánh hóa nhiệm thể của Ngài bằng tình yêu hôn ước mà Ngài mang lại cho Hội Thánh. Sự kết hiệp ấy vẫn là một kết hiệp ẩn giấu chỉ đối với cái nhìn tự nhiên và trí thông minh đang bước đi trong bóng tối đức tin. Nó là việc thực hiện mầu nhiệm của sự thánh thiện Kitô giáo :

“Đức Kitô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh; như vậy Ngài thánh hóa và thanh tẩy Hội Thánh bằng nước và lời hằng sống, để trước mắt Ngài, có một Hội Thánh xinh đẹp lộng lẫy, không tì ố, không vết nhăn hoặc bất cứ một khuyết điểm nào, nhưng thánh thiện và tinh tuyền” (Eph. 5,25-27)

Do đó, tất cả chi thể của Hội Thánh, không trừ một ai, đến lượt mình cũng được kêu gọi để cho chính mình được thánh hoá bởi Chúa Kitô và được mời gọi, bằng toàn bộ cuộc sống của mình,  đáp trả lại công trình cứu độ. Đời sống thánh thiện của Kitô hữu là một hoa quả của Thần Khí và qua đó nó biểu hiện sự thánh thiện của Thiên Chúa là nguồn mạch kín ẩn của nó.

Như vậy, có một mối dây liên kết sâu xa và nội tại giữa sự thánh thiện của Hội Thánh trong tổng thể của mình và sự thánh thiện của các chi thể. Mối liên kết ấy là của đức ái hoàn hảo kết nối và kiến thiết toàn thân trong sự hoàn hảo (xem Êph. 4, 1-6; Col. 3, 12-15)

“[Sự thánh thiện ấy] được diễn tả dưới nhiều hình thức nơi tất cả những ai đang cố đạt tới Đức Ái trọn hảo trong bậc sống của mình trong khi xây dựng kẻ khác. Đặc biệt hơn, sự thánh thiện ấy tỏ lộ trong việc thực hành các lời khuyên, quen gọi là lời khuyên của Tin mừng” (LG. 39)

Sự sống thần bí không là gì khác ngoài sự sống trong Đức Kitô, sự sống được làm cho năng động bởi hoạt động của Thần Khí thánh thiện, và được định hướng đến với sự hoàn hảo vốn là sự hoàn hảo của tình yêu Chúa Cha dành cho mỗi người con của Ngài. Cuộc sống mới được lãnh nhận qua lần tắm gội trong sự tái sinh gọi là phép Rửa, quả thật là môt dự phần đích thực vào bản tính thần linh, một biến đổi theo cách con người hành động để mà hành động trước sự hiện diện và dưới sự thúc đẩy của những tác động của Ba Ngôi Thiên Chúa.

Sự vĩ đại ấy của mầu nhiệm sự sống Kitô giáo không phải là để dành riêng cho một vài chi thể ưu việt, do những đức hạnh hoặc chức năng của họ trong thân thể Hội Thánh. Nó cách riêng thuộc về ơn gọi của hết thảy mọi người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, và làm thành phần nội tại trong giáo huấn của Chúa Kitô, đặc biệt là trong bài giảng trên núi mà qua đó vang lên lời kêu gọi dứt khoát làm cho sản sinh lại trong chúng ta thực tại sự hoàn hảo của Thiên Chúa.

“Vậy anh em, anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện”  (Mt. 5,48).

Lệnh truyền ấy có giá trị phổ quát. Tất cả mọi người đều được kêu gọi đặt niềm tin của mình một cách hiệu quả trong Đức Giêsu để từ đó thực hiện con người mới được làm nghĩa tử của mình :

“Tất cả các Kitô hữu, bất cứ theo bậc sống hay địa vị nào, đều được kêu gọi tiến đến sự viên mãn của đời sống Kitô giáo và đến sự trọn lành của Đức Ái”  (LG. 40)

Lời kêu gọi của Chúa Kitô hãy sống những đòi hỏi của sự công chính Nước trời, làm việc bố thí, cầu nguyện và ăn chay một cách kín đáo, đặt tất cả niềm tin tưởng vào sự quan phòng đầy tình phụ tử của Thiên Chúa, và sau hết là thực hiện ý định của Cha, lời kêu gọi ấy chỉ giúp cho cụ thể hóa, trong cuộc sống hằng ngày, thực tại của các mối phúc được dùng dạo đầu cho toàn bộ bài  giảng. Tâm hồn thánh thiện thì hạnh phúc một cách thần bí, bởi vì nó được sở hữu sự sung mãn của Nước Trời bằng việc thực hành đức nghèo khó, sự hiền hòa, đức công chính, lòng thương xót, đức trinh khiết, sự bình an.

Vọng theo âm vang của lời giáo huấn về các mối phúc, thánh Gioan Thánh Giá đã hát mừng những điều kỳ diệu của việc được sở hữu tất cả mọi sự bằng tâm hồn được thánh hoá và được biến đổi bởi sự sung mãn của đức ái.

“Các tầng trời là của con và trái đất cũng là của con, các dân tộc là của con; những người công chính là của con và những người tội lỗi cũng là của con; các thiên thần là của con, và Mẹ Thiên Chúa cũng như mọi sự cũng là của con. Và chính Thiên Chúa là của con và cho con, vì Đức Kitô là của con và tất cả đều là của con, Vậy thì còn kêu xin và tìm kiếm gì nữa đây, hỡi hồn ta? Của mi là tất cả và tất cả là của mi. Đừng tự đánh giá mình là nhỏ nhoi. Đừng chỉ dừng lại nơi những vụn bánh rơi xuống từ bàn ăn của Cha mi. Hãy bước ra và hãy tôn vinh mi trong vinh quang của mi. Hãy ẩn mình trong đó và hãy ở trong niềm vui sướng và mi sẽ nhận được những gì mà con tim mi cầu xin.”

Hoa quả của sự sung mãn ấy không chỉ là “thiêng liêng”, mà còn góp phần vào việc biến đổi xã hội loài người và những điều kiện sinh sống cụ thể của toàn thể nhân loại. Được múc kín từ nguồn mạch thần linh của chúng, và được duy trì cho sống động bằng cuộc gặp gỡ không ngừng được canh tân với Thiên Chúa, những sự hoàn hảo như lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu,  hiền hòa hoặc nhẫn nại (xem Col. 3,12) làm cho Kitô hữu trở nên đồng hình đồng dạng với hình ảnh Chúa Kitô và bảo đảm sự toả sáng cũng như sự phong nhiêu của hồng ân trong thế gian.

Kết hiệp với mầu nhiệm Chúa Kitô.

Sự sung mãn của tính chất hoàn hảo Kitô giáo, vốn được triển nở cách tự nhiên trong đời sống thần bí, dẫn dắt tất cả Kitô hữu bước đi theo Chúa Kitô. Di chứng Kitô  (sequela Christi) ấy là một lối dẫn vào con đường của sự nghèo khó mà Chúa Kitô đã muốn cam chịu trong cuộc đời tại thế của Ngài. Nó dẫn đến Thập Giá, trước hết không phải thập giá của chúng ta, mà là thập giá Chúa Giêsu đã chấp nhận gánh lấy trên chính đôi vai Ngài hòng giúp chúng ta bước vào vinh quang. Sự thông hiệp của Hội Thánh và các chi thể như thế vào những thống khổ của Chúa Kitô, mầu nhiệm khó hiểu thấu, là tác phẩm lớn nhất của đức ái mang tính chất: “không tình yêu nào lớn bằng tình yêu của kẻ hiến mạng sống mình cho bạn hữu” (Ga.15,13). Nó làm cho chúng ta dự phần vào tình yêu cứu độ của Đức Giêsu, và chính trong ý nghĩa đó mà thánh Gioan Thánh Giá có thể nói rằng chỉ cần một hành vi duy nhất của tình yêu tinh tuyền cũng đã là quí giá cho Hội Thánh hơn tất cả mọi công trình gộp lại. Bởi chưng chính tình yêu cứu độ thế gian, chứ không phải những hành vi của con người, cho dù giá trị đến mấy đi  nữa.

Tình yêu ấy được dàn trải trong tâm hồn chúng ta và giúp chúng ta yêu thương hết thảy mọi người bằng cách hoàn toàn múc kín lấy nó trong cung lòng Ba Ngôi Thiên Chúa, nơi mà chúng ta cùng được nên một bởi lòng tin và, cũng ở đó, chúng ta hy vọng nhìn thấy qui tụ tất cả những kẻ mà Cha đã chọn từ đời đời. Bởi thế, toàn bộ sự sống Kitô giáo chính là sự triển nở của cuộc sống hướng thần:

“Cho nên mỗi người, tùy theo ân sủng và nhiệm vụ mình. phải nhất quyết tiến bước bằng con đường đức tin sống động, đức tin khơi động đức cậy và hoạt động nhờ đức ái.” (LG. 41)

Nguyên lý của cuộc sống thần bí, như vậy, không là gì khác ngoài chính đức ái của Thiên Chúa được cống hiến một cách nhưng không cho toàn thể nhân loại và trong đó tất cả chúng ta đều được kêu gọi ở lại bằng sự kết hiệp của chúng ta với Chúa Kitô :

“Hễ ai tuyên xưng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, thì Thiên Chúa ở lại trong người ấy và người ấy ở lại trong Thiên Chúa. Còn chúng ta, chúng ta đã biết tình yêu của Thiên Chúa nơi chúng ta, và đã tin vào tình yêu đó. Thiên Chúa là tình yêu: ai ở lại trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở lại trong người ấy. Căn cứ vào điều này mà tình yêu đã nên hoàn hảo với chúng ta, đó là chúng ta được mạnh dạn trong ngày phán xét, vì Đức Giêsu thế nào thì chúng ta cũng như vậy ở thế gian này.”  (Ga. 4,15-17)

Đức ái ấy chỉ có thể triển nở trong điều kiện được nuôi dưỡng bằng lời của Thiên Chúa và bằng đời sống bí tích. Cường độ triển nở ấy của đức ái trong chúng ta vừa tùy thuộc vào điều gì đó là nguồn mạch lại vừa tuỳ thuộc vào sự phong nhiêu của chính nó một cách huyền bí. Một đằng, nó chỉ gặp thấy nguồn cội của mình trong cử hành phụng vụ mà Thánh Thể là đỉnh cao nhất. Nhưng đằng khác, nó chỉ có thể sống được trong và bởi những hoa quả mà nó mang trong kinh nguyện của từng cá nhân, trong sự quên mình vì Tin mừng và trong việc phục vụ tích cực tha nhân. Chỉ có một đức ái duy nhất được kín múc từ nguồn mạch của nó và đồng thời được dàn trải ra chung quanh. Chính vì thế mà tình yêu đối với Thiên Chúa và với tha nhân chỉ hợp thành một giới răn duy nhất, và cũng do đó, tình yêu ấy được nhận ra là sự  thực thi lề luật cách hoàn hảo.

Trong khi làm cho đức ái ấy trở thành tích cực trong cuộc sống, thì tất thảy những ai đã chịu phép Rửa đều tiếp tục công trình cưu độ bằng cách tự định vị mình trong sự nối dài mầu nhiệm Nhập thể. Sứ vụ của Chúa Kitô, linh mục, ngôn sứ và vương giả, bấy giờ cũng được triển nở trong toàn bộ tính hiệu quả của nó bởi lễ dâng của nhân loại và của tất cả mọi sinh hoạt con người (chức năng tư  tế), bởi lời chứng rõ ràng về đức cậy Kitô giáo và việc tuyên xưng đức tin công khai (chức năng ngôn sứ), bởi việc phục vụ khiêm tốn và nhẫn nại với hết thảy mọi người (chức năng vương giả) 4 .

Đời sống thần bí của các giáo dân, được kết hiệp hoàn toàn với sứ vụ cứu độ của Chúa Kitô, như vậy, không bị giới hạn chỉ trong đời sống cầu nguyện. Nếu đời sống cầu nguyện, hết sức hiển nhiên, làm thành bộ phận của chức tư tế thiêng liêng, thì bản thân nó, bằng cách này hay cách khác và dưới nhiều hình thức khác nhau, phải được diễn dịch ra bên ngoài bằng lời chứng của cuộc sống và bằng sự phong nhiêu của công việc tông đồ.

Chính lúc bấy giờ mà đời sống thần bí mới trở nên, cách phong phú nhất, một hiểu biết đích thực bằng cảm nghiệm về mầu nhiệm của Thiên Chúa. “Khoa học” về các Thánh được thành lập chủ yếu bởi mối tương quan sống động với mầu nhiệm đang được triển nở trong con người, và để lại một ấn tích của hồng ân 5 như được khắc sâu vào nội tâm. Phần của mỗi người trong cuộc sống của mình là đi theo vết chân của Thiên Chúa và, như vậy, thực hiện chuyến xuất hành của chính mình hướng về miền đất hứa của sự kết hiệp tình yêu.

Về mục lục >

 

CHA TÔI Ở TRÊN TRỜI

Trần Mỹ Duyệt

Có bao giờ bạn đã đếm được trên đầu mình có bao nhiêu sợi tóc? Hoặc trên đầu người yêu, người thân, hay con cháu mình có bao nhiêu tóc? Có lẽ trên đời này chưa ai làm được chuyện ấy. Nhưng nếu có ai đó đã hoặc sẽ làm được, thì một điều chắc chắn là người đó cũng không thể biết được khi nào sợi tóc nào đang đen hóa trắng, hoặc sợi nào rụng xuống vì lý do gì? Vậy mà Đấng Tự Hữu, Đấng Tạo Hóa đã làm điều đó cho con người: «Tóc trên đầu các ngươi đã được đếm hết» (Mt 10,30). Có nghĩa là cuộc đời con người từ khi được hoài thai trong lòng thân mẫu cho đến lúc trở về với cát bụi, nó hoàn toàn nằm trong bàn tay quan phòng và thương yêu của Thiên Chúa. Qua Chúa Giêsu, Thiên Chúa đã mặc khải cho nhân loại biết lý do hành động của Ngài, đó là vì Ngài là Cha của chúng ta.

Tin hay không tin, con người cũng không thể chối bỏ được sự thật rõ ràng này. Và tin hay không tin, con người cũng không thể sống được ngoài sự săn sóc thương yêu của Thiên Chúa. Tâm lý tự nhiên cho biết rằng những lúc con người nhận ra sự có mặt của Ngài dễ dàng nhất, thường là những lúc họ gặp gian nan, đau khổ. Đối với những ai đã từng sống trong cảnh tù ngục sau 1975 tại Việt Nam. Hoặc đối với những ai đã từng hốt hoảng, sợ hãi trên những con thuyền nhỏ bé, mong manh trên đại dương trong những ngày tháng tìm đường vượt biên. Hay những ai đang phải chiến đấu với thần chết trên giường bệnh, thì sự có mặt của Thượng Đế là điều như nắm được trong tầm tay. Những lúc như thế, khi mà khả năng con người không còn làm được gì, thì hình ảnh của một Thượng Đế toàn năng, Thiên Chúa đầy quyền uy lại bừng sáng trong tâm trí con người.

Nhưng Thiên Chúa không chỉ là một Thượng Đế với đầy uy quyền và sẵn sàng xử dụng quyền năng ấy để đè bẹp con người, hoặc cứu vớt con người. Trong các tôn giáo, thần linh luôn luôn được biểu tượng bằng những hình ảnh siêu phàm, cách biệt với con người, hoặc thẳng tay với những yếu đuối hay lầm lỡ của con người. Tóm lại, không có sự cảm thông, và cũng không có sự gần gũi thân mật giữa thần linh và con người.

Thiên Chúa, Thượng Đế, Đấng Tạo Hóa của người Kitô Giáo, ngược lại, là một người Cha rất mực nhân từ, rất mực thương yêu và luôn luôn có mặt trong cuộc đời của con người và từng người. Trời cao, biển rộng, sông dài, núi đồi trùng điệp. Hoa cỏ đồng nội. Cây cối, thảo mộc. Chim trời, cá biển, muông thú rừng hoang. Tài nguyên trên mặt đất, dưới lòng đất. Tài nguyên trong biển và dưới lòng biển. Trài nguyên trên các tầng trời. Gió mát, hơi ấm và không khí trong lành. Tất cả đều được dựng nên để phục vụ con người và cho con người. Tất cả đều được tạo dựng từ bàn tay nhân lành của Thiên Chúa. Nhưng sự kỳ diệu nhất và cũng lạ lùng nhất là sự sống. Khi Thiên Chúa ban cho con người sự sống, là Ngài chia sẻ sự hiện hữu của Ngài với con người. Khi Ngài ban cho con người được cộng tác với Ngài trong việc tạo dựng sự sống, là Ngài đã cho con người dự phần vào quyền sáng tạo toàn năng của Ngài.

Tiếp theo sự sống là trí khôn, lòng muốn, tài năng, và vẻ đẹp của thân xác con người; nhất là tình yêu. Ôi! Tình yêu lạ lùng của con người. Nếu Thiên Chúa không mặc khải cho biết Ngài là Tình Yêu: «Thiên Chúa là tình yêu» (1Ga 4,8), thì con người sẽ không biết phải nói gì về cái thiêng liêng, cao cả và tuyệt vời của tình yêu. Con người trải qua muôn thế hệ phải cảm ơn Thánh Gioan về định nghĩa này, vì chỉ có Ông mới là người đã khám phá và thấu triệt được thế nào là một Thiên Chúa đầy yêu thương khi khẳng định Ngài là «Tình Yêu».

Và hôm nay, Tình Yêu ấy được hiện thực và sống động giữa những cảm nhận của con người khi Chúa Giêsu dậy các môn đệ Ngài - và cũng dậy chúng ta - kinh Lậy Cha, một kinh nguyện tóm lược tình yêu hành động của Thiên Chúa. Đó là mặc khải về một Thiên Chúa không xa vời, không vô cảm, và không lạnh lùng. Ngài gần kề với nỗi lo âu và những thao thức của con người. Ngài hiểu được những dằn vặt, những thao thức của con người và từng người: «Xin Cha cho chúng con hằng ngày dùng đủ, và tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con. Xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ» (Lc 11, 3-4). Qua những nhu cầu thường ngày như cơm áo, và qua những khó khăn trăn trở của kiếp người mà tình yêu Thiên Chúa được tỏ hiện.

Con người nghĩ gì và cảm gì khi thấy Thiên Chúa của mình cầm những chiếc bánh và những mẩu cá đưa cho mình ăn. Nếu không phải là Ngài, thì ai dám nghĩ và hình dung ra một Thiên Chúa tự nguyện qùi xuống rửa chân cho các môn đệ. Một Thiên Chúa đồng hành và đồng bàn với những người bị coi là tội lỗi. Nhất là một Thiên Chúa chia sẻ đến tận cùng cái nghèo mạt rệp và cuộc sống lầm than của con người trong suốt 30 năm dưới mái nhà Nagiarét. Tình yêu! Tình yêu hy hiến. Tình yêu đã khiến Ngài luôn luôn có mặt trong các nhà chầu trên khắp thế giới. Trong các bí tích, và trong Thánh Thể để làm của nuôi linh hồn con người. Và cũng chính tình yêu đã cho phép con người được gọi Ngài là Cha: «Lạy Cha chúng con ở trên trời» (Mt 6,9). Điều này hẳn làm cho các thiên thần phải sửng sốt, các quỉ thần phải ghen tương và bực tức. Tội lỗi đã lọt vào thế gian cũng vì sự căm thù và ghen tương ấy. Satan đã không muốn có sự thân mật này khi nhìn thấy Thiên Chúa chiều chiều tản bộ với con người trong vườn Diệu Quang.

«Cha chúng con ở trên trời». Đây là một mặc khải đem lại niềm vui, hạnh phúc và bình an cho con người. Qua đó con người biết rằng từ trên cao thẳm, Cha mình luôn luôn để mắt nhìn xem, hướng dẫn, và quan phòng mọi ngả đường mình đi. Và nếu như con người gặp phải những thử thách, những lỗi lầm trên đường đi, thì Ngài đã có đó để an ủi, chữa lành và tha thứ. Tuy nhiên, nếu con người đã có Thiên Chúa ở cùng mà vẫn lo lắng, băn khoăn, sợ hãi thì đó là vì con người đã không thật lòng tin nhận và tín thác nơi Ngài. Con người đã không mở rộng lòng mình để đón nhận tình thương yêu quan phòng của Ngài. Và bằng cách này hay cách khác, con người không muốn làm con của Ngài, không muốn nhìn nhận Ngài là Cha.

Mỗi sáng khi nhìn ánh bình minh lên cao. Chiều về khi nhìn ánh tà dương khuất dần sao chân trời. Hay khi màn đêm buông xuống, ngước mắt nhìn lên trời với muôn vì tinh tú lấp lánh, ai mà không cảm thấy lòng mình chùng xuống khi nghĩ rằng từ nơi cao thẳm ấy, một người Cha rất mực thương yêu đang mỉm cười nhìn mình, và để lòng thổn thức với Ngài: «Cha ơi! Cha ở trên trời».

Về mục lục >

 MỪNG LỄ ĐỨC MẸ LÊN TRỜI

 LỄ MÔNG TRIỆU,

MỘT TRUYỀN THỐNG TRỞ THÀNH TÍN ĐIỀU

 

MARANATHA sưu tầm

Chúng tôi khẳng  định, chúng tôi tuyên bố và chúng tôi minh định như một tín điều được Thiên Chúa mặc khải rằng Mẹ Vô Nhiễm của  Thiên Chúa, Đức Maria trọn đời đồng trinh, sau khi hoàn tất cuộc sống thế trần, đã được nâng vào đời sống thiên thượng cả xác lẫn hồn.” Đấy là những lời mà Đức Piô XII đã dùng để công bố tín điều Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, ngày 1 tháng 11 năm 1950, qua tông  hiến Munificentissimus Deus.

Đây  là một biến cố bắt nguồn từ truyền thống xa xưa của Giáo Hội, và chín muồi qua một thế kỷ suy tư của nền Thánh Mẫu Học. Tuy nhiên, ta không biết gì về giây phút cuối đời của Đức Mẹ ở trần gian. Chỉ có một văn bản ngụy thư thế kỷ thứ V, tên là “Đức Mẹ đi vào giấc ngủ” (Mary’s Dormition), kể lại những giây phút cuối cùng của Mẹ. Khi các tông đồ vây quanh để cầu nguyện thì Chúa Kitô đến đưa Mẹ về Thiên Đàng. Như vậy, từ  thời sơ khởi, Kitô hữu đã linh cảm rằng Mẹ Thiên Chúa, Đấng Vô Nhiễm, không thể  nào phải chịu sự hư nát của cái chết. Đây là một trực giác đã được các Giáo phụ đào sâu, đặc biệt là thánh Jean Damascène. Vào thế kỷ thứ 6, lễ Đức Mẹ Đi Vào Giấc Ngủ đã được cử hành ở các Giáo Hội phương đông, vào khoảng giữa tháng giêng. Sau này, hoàng đế Maurice (582-602) xác định dứt khoát là ngày 15 tháng 8.

Như vậy, lễ này bắt nguồn từ truyền thống Giáo Hội Đông Phương, rồi chuyển sang Rôma nhờ Đức Giáo Hoàng Theodore (642-649), người gốc Constantinople. Lễ ấy dần dần được loan truyền ở phương Tây: năm 813, Công Đồng Mayence truyền cho toàn Châu Âu (lúc bấy giờ gọi là Đế Quốc FRANC) cử hành lễ này với tên gọi là Lễ Mông Triệu (Assumption = Thiên Chúa triệu hồi Đức Mẹ về trời), mặc dù lễ Mông Triệu và lễ Đức Mẹ Ngủ (Dormition) không khác nhau gì lắm. Dù sao đi  nữa, Giáo hội chưa thấy cần phải đưa niềm tin này lên thành tín điều.

Sau khi đức Piô IX công bố tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm (1854) thì phong trào sùng kính Đức Mẹ được nâng lên mạnh mẽ và các thư thỉnh cầu tuôn về Rôma để xin chính thức xác định tín điều về Đức Bà Mông Triệu hay Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời. Từ năm 1854 đến 1945, tám triệu tín hữu viết thư về Rôma để xin xét việc này! Cần phải  thêm vào số  này các thư thỉnh cầu của 1332 giám mục (80% các tòa giám mục) cùng 83.000 linh mục và tu sĩ nam nữ. Trước những lời thỉnh cầu tha thiết ấy, đức Piô XII công bố Thông Điệp Deiparae Virginis để yêu cầu toàn thể các giám mục trên thế giới nói lên ý kiến của mình. Hầu như toàn thể các giám mục đều một lòng một ý: 90% các giám mục nêu ý kiến thuận. Phần lớn trong số 10% còn lại e dè không biết là  đã phải lúc để công bố thành tín điều chưa. Chỉ có sáu giám mục nghi ngờ về tính chất ‘mặc khải’ của việc Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời.

Khi Đức Thánh Cha Piô XII công bố  tín điều này thì toàn thể các giáo hội trên thế giới đón mừng bằng những lễ hội trọng thể. Cho đến nay, đây là lần duy nhất mà Đức Giáo Hoàng thực thi quyền bất khả ngộ của mình, theo định nghĩa của Vatican  I. Ngày lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời được khắp Âu Châu tôn vinh đến độ trở thành một ngày nghỉ thường niên của các quốc gia, và hiện nay vẫn còn như thế. Buồn thay, rất nhiều người dân Âu Châu hàng năm vui vẻ đón ngày 15 tháng 8 như một ngày nghỉ xả hơi toàn quốc, mà không  biết và cũng không thắc mắc vì sao mình lại được nghỉ vào ngày ấy.

Về mục lục >


 

Niềm Vui Chia Sẻ:

Maria Vội Vã Lên Đường

 

Đ.Ô. Giuse Phạm Xuân Thắng.

Mến tặng mọi thành viên trong Toà Soạn Maranatha nhân ngày lễ mừng kính Mẹ Lên Trời.

Chưa bao giờ tôi cảm nghiệm tâm tình và cung cách sống đời của người Việt chúng ta lại gần gũi và giống như cuộc sống của Đức Trinh Nữ Maria. Khi có gì vui chúng ta luôn biết chia sẻ. Những ai có chuyện đau buồn ta luôn đến ủi an nâng đỡ. Câu nói “chia vui-sẻ buồn” trên môi miệng của người Việt nam chúng ta hôm nay được thể hiện rõ nét nhân ngày mừng kính Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời. Được tin bà chị họ Elizabeth có thai được sáu tháng, Mẹ Maria vui mừng vội vã lên đường đến thăm. Trong lúc vội vã chắc Mẹ cũng không thể nào ngờ sự mình đến thăm lại niềm vui tột đỉnh cho gia đình người chị họ. Sự vui mừng đã bật thành tiếng kêu êm dịu khi Maria vừa vào nhà bà Elizabeth: “Bởi đâu tôi được Mẹ Thiên Chúa đến viếng thăm? Vừa nghe lời chào, thì hài nhi trong lòng tôi liền nhảy mừng.” Hai người thiếu nữ gặp nhau; nhung không phải chỉ là sự gặp gỡ của hai người mẹ, nhưng còn là sự gặp gỡ thánh thiêng của hai người con. Con Thiên Chúa và con của con người. Thiên Chúa gặp gỡ nhân loại. Còn sự gì sung sướng hơn sau bao ngày đợi trông nay đã thành hiện thực. Dấu hiệu của hy vọng đã đưa đến cho chúng ta tin mừng giải thoát. Đức Mẹ đã bộc lộ nỗi vui mừng qua lời kinh Magnificat. Mẹ nói lên nỗi vui mừng vì Thiên Chúa đã đoái thương đến những người nghèo đói và nâng dậy những người phận nhỏ. Lời kinh của Mẹ đã khơi dậy niềm vui và sự hy vọng cho kiếp người đau khổ, nghèo đói...Trong thời đại chúng ta không ít những người đang sống thiếu niềm hy vọng; tai hại đến độ tuyệt vọng. Thống kê con số những người này từ từ gia tăng. Dữ kiện đó khiến chúng ta lưu tâm đến con người và cuộc sống hiện tại của mỗi người. Hàng ngày chúng ta đối diện và đương đầu với những áng mây mù cuộc sống! Chìa khoá mở lối cho ánh sáng, niềm vui chính là sự hy vọng chúng ta lãnh nhận qua lời kinh của Mẹ Maria trong ngày Mẹ thăm viếng người chị họ của Mẹ. Trong bài Tin Mừng của ngày lễ Mẹ Lên Trời, chúng ta chứng kiến niềm vui và hy vọng được bộc lộ từ nơi cung lòng của Mẹ Maria và bà Elizabeth. Sự nhảy mừng của thai nhi trong lòng bà Elizabeth dẫn đưa chúng ta tới niềm vui, sự hy vọng và lòng phấn khởi đang tiềm ẩn nơi cuộc sống tâm hồn mọi người. Điều quan trọng là làm sao chúng ta khơi dậy những tia sáng tiềm ẩn này nơi cung lòng mỗi người. Qua sự gặp gỡ của Mẹ Maria và bà Elizabeth, hai bà đã biết khơi dậy niềm hy vọng trong cuộc đời. Sức mạnh và hiệu lực của sự hy vọng đã giúp hai bà thắng vượt được những gian truân, những khổ ải liên tiếp xảy đến trong cuộc đời. Còn gì tủi nhục, đau khổ cho bằng trong lúc cưu mang con mà bị nghi ngờ chẳng sao giải thích. Ngay cả Giuse, người bạn đời của Maria cũng nghi ngờ, thắc mắc để rồi dự tính âm thầm, tế nhị ban đêm tìm cách ra đi...Còn sự bẽ bàng nào cho bằng càng hướng tới ngày khai hoa nở nhụy lại không tìm được một chỗ nương thân, lang thang trong trời đông tuyết lạnh, cuối cùng phải mượn chốn chuồng bò để hạ sanh con Đức Chúa Trời. Niềm vui và danh dự làm Mẹ Con Đức Chúa Trời đâu chưa thấy, chỉ thấy đau khổ miên man! Sau khi sinh con, tưởng sóng đã  yên, gió đã lặng nào ngờ đang đêm lại phải lên đường chạy trốn vì Hêrôđê đang tìm giết con mình. Xuyên suốt cuộc đời Mẹ đã trải qua biết bao nhiêu gian truân, bươn chải qua những sóng gió của cuộc đời; Mẹ vẫn không ngừng nuôi hy vọng. Chính nơi nguồn Hy Vọng đã giúp Mẹ đủ can đảm, nghị lực thắng vượt những gian nan, khốn khó và đủ sức mạnh chống chọi với phong ba, bão táp cuộc đời. Nhưng niềm đau, nỗi khổ ít ai để ý đế nơi cuộc đời của Mẹ Maria, lý do bởi nơi những gương lành của Mẹ toả sáng chói chan che lấp đi những mây mù nơi cuộc đời Mẹ. Qua cuộc thăm viếng của Mẹ đến với bà Elizabeth, nhắc nhở những người Việt Tộc chúng ta hãy trở về với triết lý, những châm ngôn cuộc sống mà cha ông chúng ta đã đề xướng: “Chia vui sẻ buồn.” Cả cuộc đời của Mẹ Maria đã thể hiện lối sống đó. Xin Mẹ cho chúng con cũng biết sống như Mẹ. Đem Chúa đến cho mọi người, đem niềm vui đến cho đời và gieo rắc tình đến những ai sầu khổ, đói nghèo cùng chiếu toả niềm cậy trông, hy vọng đến những ai đang gặp những chán nản, thất vọng. Và Mẹ ơi, một ngày nào đó xin Mẹ cũng đưa chúng con về Trời với Mẹ.

Về mục lục >

MẸ MARIA XỨNG ĐÁNG
ĐƯỢC ĐƯA HỒN XÁC VỀ TRỜI

Nguyễn Chính Kết

1. Đức Maria đã được Thiên Chúa thưởng hạnh phúc vĩnh cửu cả hồn lẫn xác

Đức Maria là Mẹ của Đức Giêsu, Đấng Cứu Thế, cũng là người đồng lao cộng khổ nhiều nhất với Đức Giêsu trong công cuộc cứu thế. Ngoài ra, Mẹ còn là người duy nhất trên trần gian được ơn vô nhiễm nguyên tội, cũng là người luôn luôn tuân theo thánh ý Chúa Cha trên trời cách gương mẫu nhất. Vì thế, theo niềm tin của Giáo Hội, Thiên Chúa đã ân thưởng Đức Maria một cách đặc biệt và duy nhất: được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu với cả hồn lẫn xác, được đưa về Thiên Đàng trọn vẹn cả con người trần thế. Tất cả những vị thánh khác trên thiên đàng chỉ có hồn mà không có xác, vì xác bị mục nát như bao thứ vật chất khác. Các ngài chỉ được như Đức Maria vào ngày tận thế khi xác của tất cả mọi người đều được sống lại.

2. Bởi đâu Đức Maria được diễm phúc như thế?

Kho tàng ca dao tục ngữ Việt Nam có những câu như: «Công Cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra», «Công cha to như núi, công mẹ chẳng khác non». Xét về mặt nhân bản, công lao của Đức Maria đối với Đức Giêsu thật hết sức lớn lao. Để sinh ra Đức Giêsu, Đức Mẹ đã hy sinh ý riêng của mình là muốn sống đời đồng trinh để phụng sự Thiên Chúa. Khi đồng ý mang thai Đức Giêsu, Mẹ đã sẵn sàng chịu biết bao tai tiếng, hiểu lầm, kể cả của Giuse nếu có. Một sự chấp nhận rất to lớn! Lúc chuẩn bị sinh Đức Giêsu, Mẹ đã chịu biết bao khổ cực: đến ngày sinh rồi mà lại phải rời nhà, rời nơi sinh sống, di tản từ bắc vào nam khoảng 150 km, băng qua vùng miền Trung Do Thái đầy đồi núi. Khi sinh Đức Giêsu, Mẹ phải chấp nhận tủi nhục: sinh con của mình tại chuồng súc vật, thiếu thốn trăm bề. Mẹ vừa tủi cho mình, vừa tủi cho con.

Cuộc đời của Mẹ – từ khi có Đức Giêsu – đã phải gặp biết bao đau khổ, lo lắng, sợ hãi, mất ăn mất ngủ:

– được Simêon tiên báo con mình sẽ bị người đời chống đối, còn chính mình sẽ rất đau khổ như bị «một lưỡi gươm đâm thâu tâm hồn» (Lc 2,34-35).

– bị lạc mất con suốt ba ngày, lòng đầy lo âu và phiền muộn.

– thấy con mình bị giáo quyền hiểu lầm, chống đối và mưu toan hãm hại, đúng như lời ông Simêon nói xưa.

– thấy con bị bắt, bị án tử hình, bị giết cách oan ức, nhục nhã, thảm thiết. Nhất là lúc đứng dưới chân thánh giá, lúc ôm xác con khi hạ xác xuống, lúc an táng và mấy ngày sau đó.

Cuộc đời của Mẹ đầy tủi nhục đau thương, tất cả chỉ vì vâng theo thánh ý Thiên Chúa. Chính vì thế, Mẹ rất đáng được thưởng, vì công càng lớn bao nhiêu, càng đáng được thưởng bấy nhiêu. Nhất là khi Thiên Chúa của chúng ta là một Thiên Chúa rất công bằng.

3. Đức Maria rất xứng đáng được hưởng ơn hồn xác lên trời

Lẽ thường của đạo làm người là: «Công đức sinh thành, làm con phải hiếu», «Trai thời trung hiếu làm đầu». Phật cũng dạy: «Hiếu là hạnh đứng đầu muôn hạnh». Nhất là chính Thiên Chúa cũng ra điều răn cho con người: «Thứ bốn, thảo kính cha mẹ». Do đó, Đức Giêsu – vốn là gương mẫu của nhân loại – tất phải là người hoàn hảo nhất trong đức hiếu thảo với cha mẹ.

Vậy Ngài phải làm gì cho thật xứng đáng là con hiếu thảo đối với một người mẹ hết sức thánh thiện đã chịu cực khổ vì mình dường ấy? Nhất là xét về mặt thể chất, trong trường hợp đặc biệt của Đức Giêsu, thịt máu của mình cũng hoàn toàn là do thịt máu của mẹ mình làm ra?

Nếu Đức Giêsu đã hoàn toàn hồn xác ở trên trời, lẽ nào Ngài lại để cho xác thịt Mẹ mình bị hư nát? Nhất là khi Mẹ không bị tội lỗi thống trị, kể cả từ khi còn được cưu mang trong lòng mẹ? Nếu sự chết và sự hư nát của thân xác chỉ là do tội lỗi, thì làm sao Mẹ Maria lại phải chịu cảnh thân xác hư nát khi chính Mẹ không hề nhiễm tội lỗi? Nếu Mẹ là trường hợp duy nhất ở trần gian hoàn toàn thoát khỏi tội lỗi, thì Mẹ cũng xứng đáng được ân thưởng một cách duy nhất trên thiên đàng, là được vào đó cả hồn lẫn xác như Đức Giêsu, con mình.

4. Bài học khiêm nhường của Đức Maria

Bài Tin Mừng hôm nay cũng cho thấy một phong cách của Đức Maria: rất khiêm nhượng. Mẹ luôn luôn nhìn nhận mình chỉ là một tôi tớ hèn mọn của Thiên Chúa, một nữ tỳ của Ngài. Đức Giêsu đã tự hủy mình ra không, còn Đức Maria coi mình không là gì cả trước mặt Thiên Chúa, nhưng coi Thiên Chúa là tất cả. Nếu Đức Giêsu vì tự hủy đến độ chết trên thập giá nên Thiên Chúa đã tôn vinh Ngài đến tột cùng, thì một cách tương tự, vì Mẹ Maria đã khiêm nhường đến tột cùng nên Thiên Chúa cũng làm cho Mẹ được tôn vinh đến cùng tột. Đó là cách hành động của Thiên Chúa:

«Từ đời nọ tới đời kia, Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người. Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh, dẹp tan phường lòng trí kiêu căng. Chúa hạ bệ những ai quyền thế. Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường. Kẻ đói nghèo, Chúa ban của đầy dư, người giàu có, lại đuổi về tay trắng».

Như vậy, khiêm nhường, tự hủy để kính sợ Thiên Chúa và yêu thương tha nhân, đó chính là cách để chúng ta trở nên đẹp lòng Thiên Chúa và đạt được vinh quang và hạnh phúc bất diệt. Đó cũng chính là cách Đức Maria đã dùng và nhờ đó đã được Thiên Chúa tôn vinh cho cả hồn xác lên trời.

Về mục lục >

  THƠ

Mẹ Về Trời

                                                                                          Lệ Hằng

 

                                               Hôm nay Lễ Mẹ về Trời                                                      

Chúng con kính nhớ hợp lời cầu kinh.

Cúi xin Mẹ đoái thương tình

Chúng con khấn Mẹ van xin hết lời.

 

Năm xưa Mẹ sống trong đời

“Xin Vâng” hai tiếng cao vời bên Con.

Trên đồi tử nạn u buồn

Trong hồn quằn quại đau thương ngần nào!

Xác thân mệt mỏi làm sao

Mẹ không xé nổi cơn đau thành lời.

Âm thầm lặng lẽ mà thôi

Xót xa thế mấy vẫn thời bình an.

Dù cho bão tố tâm can

Mẹ lòng có Chúa bình an vô cùng.

 

Tuy nhiên Mẹ vẫn uy hùng

Như vầng trăng sáng chập chùng trên cao.

Giơ tay đón nhận con vào

“Này là con Mẹ,” ngọt ngào Chúa trao.

Trái tim Mẹ sáng như sao

Dưới chân thập giá hôm nao diệu kỳ.

Yê-su từ giã ra đi

“Đây là con Mẹ, đây là Mẹ con”.

Yê-su chính thật Anh con

Mọi người quấn quít trong hồn xôn xao.

Trong vòng tay Mẹ ôm vào

Bao la bát ngát dạt dào mến yêu.

 

Niềm tin lòng mến sớm chiều

Của người tín hữu yêu nhiều Mẹ ta.

Như dòng suối mát tuôn ra

Hết lòng trông cậy thiết tha Mẹ mình.

Mẹ luôn che chở hết tình

Mẹ lòng thắm thiết đẹp xinh ngàn đời.

Sau cùng Mẹ được về Trời

Mừng vui vĩnh phúc tuyệt vời bên Con.

Về mục lục >

 

 

 TÂM TÌNH BẠN ĐỌC

LTS: Chân thành cám ơn Anh Chị Hùng Mai (Australia), chị Madalena Phạm Thị Thúy, Sơ Kim Liên (TX), Lm. GB Tam Khanh, Mai Bac Hung, Nguyen Van Thi đã giới thiệu tuần báo Maranatha đến với các thân hữu.

Maranatha cũng đã nhận thư của quý độc giả: VanPQuyen, Bửu Sao, Nguyen Xuan Cao, NlitPaul, Pham Hoang, Vu Phat, Le Anna Suong, Nguyen Ngoc Trac, Tran Dung. Vì khổ báo có giới hạn nên các vấn đề quý vị nêu trong thư về font chữ, sự xuất hiện của website hoặc các câu hỏi liên quan đến Kinh Thánh trong bài Giờ Phép Lạ do tác giả Hoàng Quý chuyển ngữ sẽ được giải đáp thư riêng đến quý vị. Mong quý độc giả thông cảm.

Để hồi âm chung cho một số độc giả hỏi về font chữ, Maranatha hiện đang sử dụng font Times New Roman (Unicode) để viết và nhận bài. Nếu quý vị sử dụng Windows trước 98SE, xin install font Unicode này vào máy. Viết bài cho Maranatha xin quý vị cũng sử dụng font này.

Đối với những độc giả nhận báo lần đầu tiên hoặc độc giả nào còn thiếu một vài số báo cũ, xin quý vị vui lòng vào hai trang websites http://maranatha-vn.net hoặc http://tiengnoigiaodan.net để download những số báo mình cần.  Hiện nay, các số báo từ 1 đến 14 đã được lưu trên hai websites  trên.  Nếu vì lý do trục trặc kỹ thuật, xin liên lạc về địa chỉ: maranatha@saintly.com.

Xin kính gửi đến một vài tâm tình của độc giả đã gửi về trong tuần qua để hiệp thông và cầu nguyện cho nhau. Chân thành cám ơn sự đón nhận và những khích lệ của Quý độc giả đã dành cho Maranatha.

              Nguyện xin Chúa chúc lành cho Quý Vị.

Trân trọng,

MARANATHA

 

                                            

THƯ BẠN ĐỌC

 

v     Xin cảm ơn Vị trách nhiệm phát hành MARANATHA ngàn lần! Tôi là độc giả rất trung thành và rất quí mến MARANATHA. Nói quí mến Maranatha tức là quí mến mọi người đang vất vả để lo cho nó được sống và sống mạnh. Con thuyền ra khơi thì không thể không gặp gió! Nhưng nếu có CHÚA nằm trong thuyền thì lo gì??? Xin Chúa ban nhiều ơn lành cho những ai đang lo cho Giáo Hội Chúa. Chúc MARANATHA sống muôn năm cho nhiều ngưòi được nhờ.  J.TRAC.

v     Làm ơn xin gửi Maranatha cho tôi đọc với. ...Chân thành cảm tạ Tòa Soạn rất nhiều! Kính mến, Huyen Nguyen

v     Kính Tuần Báo MARANATHA.

      1-Trước tiên tôi xin chân thành cám ơn Tuần Báo Maranatha đã gởi báo đều đặng   đến tôi hằng tuần.

     2-Xin quí Báo cho phép tôi trích Bài CẦU NGUYỆN được chuyển ngữ bởi Quang Thạch và Hoàng Quí để tự in thành một quyển sách nhỏ (khi bài này kết thúc trên báo Maranatha) để phổ biến (biếu) cho nhiểu người trong Cộng đoàn và trong Phong trào Cursillo, LM Thánh Tâm và nhiều người khác nữa.vì tôi nhận thấy Bài này sẽ thiết thực giúp ích cho mọi người trong sự cầu nguyện. Xin thành kính cám ơn quí Báo và xin Thiên Chúa   luôn phù trợ quí Báo ngày càng vững bước đem Tin Mừng Chúa đến cho mọi người. Litpaul.

v     Tôi đã nhận được báo Maranatha ngay từ số đầu và tôi cũng đã ghi danh cho rất nhiều bạn bè. Riêng việc in Bài cầu nguyện thì tôi chỉ dùng Computer ở nhà để thực hiện rất đơn sơ mà thôi, chứ không có in ấn như ở nhà in. Quan niệm của tôi là làm sao cho bài này đến với nhiều người mà họ không có phương tiện đón nhận báo trực tiếp như tôi. Nguyen.

v     Tôi là Lm.Đinh Ngọc Lễ, Chánh xứ Hà Nội, kiên Hạt Trưởng Xóm Mới Sài gòn xin nhận  MARANATHA. Chân thành cám ơn. Thân mến, ĐINH NGỌC LỄ.

v     Tôi thấy những người đã có sáng kiến biên soạn và phát hành điện báo Maranatha là rất thành tâm thiện chí. Thiện chí đó đã làm cho tôi liên tưởng đến thánh nữ Catarina thành Siena và viết bài này để tặng toà soạn, vì mối liên hệ xa gần giữa đôi bên, và cầu mong cho Nhóm Chủ biên luôn hăng say phục vụ lợi ích của Hội Thánh và các linh hồn như thánh nữ Catarina. Nguyện xin Chúa đến, Maranatha. L.M. An-re Do xuan Que.

v     Qua sự giới thiệu của người chị em, chúng tôi cũng mong muốn được đón nhận hồng ân như mọi người  đó là được quí anh chị gửi báo đến. Là một nữ tu sống thánh hiến giữa dòng đời, lại sống ở giáo xứ Bùi Thái, chúng tôi xa những phương tiện thuận lợi của thành phố. Vì vậy, những gì chúng tôi cần, chúng tôi đều phải phấn đấu ghê lắm mới đạt được. Nay nhờ có tuần báo mà chúng tôi bớt nhà quê đi, trí tuệ cũng phần nào mở ra . Thật đúng là TÌNH CHO KHÔNG BIẾU KHÔNG. Xin Chúa chúc lành cho quí anh chị thật nhiều. Được biết chị em của chúng tôi đang sống tại Mỹ đã thoát được cảnh nghèo vì nhờ có tuần báo Maranatha. Xin tri ân quí anh chị thật nhiều. Hoa Tran.

v     Tôi là một độc giả tại Texas muốn được học hỏi thêm để sống Đạo tốt, nên mong nhận được Maranatha thường xuyên để tìm hiểu. Chân thành cám ơn quí Báo. Dinh Thanh Nguyen.

v     Ngợi khen Chúa. Tôi đã nhận được thư hồi âm. Xin hết lòng cám ơn. Tôi đã đọc các bài trong MARANATHA và thấy rất phong phú. Xin cứ tiếp tục duy trì tờ báo để phục vụ các linh mục và giáo dân trong những vấn đề về đạo để có thể cập nhập những cái mới nhất. Hy vọng tờ báo sẽ là nhịp cầu thông cảm giữa linh mục và giáo dân để có thể cộng tác tốt hơn. Nhưng xin góp ý là không nên đăng những bài có tính cách tranh luận và bút chiến trong tờ báo kẻo những người thiếu hiểu biết nhất là giáo dân chưa trưởng thành có thể vì đó mà gây chia rẽ giữa giáo dân và linh mục. Về việc góp bài thì tôi mới về đây chưa ổn định, nên chưa đóng góp ngay được. Hy vọng tương lai sẽ gửi bài cho báo. Xin kính chào trong Chúa Kitô.  In Xto. Lm Xuan Thinh.

Về mục lục >

 


1 Trong khi thu hẹp kinh nghiệm về thần bí vào trong những cuộc xuất thần, rốt cuộc người ta giơ đầu hứng lấy sự chỉ trích của chủ thuyết duy lý vốn không còn nhìn thấy một kinh nghiệm như thế chỉ là một trực giác hoàn toàn phi lý : “Bạn hiểu thế nào về “thần bí” ?” - điều đó giả thiết và đòi hỏi phải bỏ quên lý trí (André Gide, trích “le Petit Robert”).

2 Giới hạn như thế để chỉ ra một cách rõ ràng rằng người ta sẽ chẳng gặp thấy ở đây một  khảo luận tổng hợp về vấn đề thần bí.

3  Tiêu đề đầy đủ là : “Tiếng gọi phổ quát đến với sự thánh thiện trong Hội Thánh”. Tuy nhiên người ta lại thường nói về “tiếng gọi đến với sự thánh thiện”, trong khi quên mất rằng Hội Thánh  không chỉ là nơi sự thánh thiện được thực hiện, mà trước hêt  chính Hội Thánh là thánh thiện, và  từ sự thánh thiện của Hội Thánh mà đến lượt chúng ta dự phần vào.

4 Về vấn đề ba chức năng thiên sai của người giáo dân, có thể đọc lại các chương tuyệt diệu từ 34 đến 36 của Hiến chế Lumen gentium.

5 Các bậc thầy về đời sống thiêng liêng đã tìm cách để nêu rõ đặc tính của những định luật tâm lý về sự tăng trưởng thiêng liêng. Trong bối cảnh đó, từ ngữ  “thần bí”, một cách tổng quát, mang một ý nghĩa chuyên môn thích hợp cho việc đưa nó ra sử dụng một cách  xác đáng.

 

     

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn