Thư Tòa Soạn
Kính thưa quý vị độc giả,
Maranatha_15
đến với quý vị vào ngày lễ mừng kính
Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời,
vì thế chúng ta cùng hướng lòng về Mẹ.
Vì thiếu các chứng từ trong Tân Ước và trong
những dữ liệu lịch sử đáng tin cậy, nên chúng ta không biết gì
về cuộc đời của Đức Mẹ từ sau ngày lễ Hiện Xuống cũng như về
hoàn cảnh Mẹ qua đời. Ta chỉ dự đoán rằng Mẹ đã tiếp tục sống
với tông đồ Gioan theo lời dặn dò của Chúa Giêsu trên thập giá
và rất gần gũi với cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi, chỉ vậy thôi.
Qua sự thiếu vắng đó, ta có thể nhận ra ý
định đặc biệt của Thần Khí: Người đã muốn thôi thúc Giáo Hội,
trong quá trình tìm hiểu và cảm nhận tính chất chủ yếu của Mầu
Nhiệm Chúa Kitô, đừng lạc vào các chi tiết liên quan đến cuộc
đời Đức Mẹ, mà chỉ cố gắng tìm hiểu vai trò của Mẹ trong công
trình cứu độ, sự thánh thiện của Mẹ và Thiên Chức làm Mẹ của
Người trong đời sống Kitô hữu.
Thánh Thần hướng dẫn Giáo Hội sống theo mẫu
gương của Đức Maria. Trong tường trình về cuộc giáng sinh của
Chúa Giêsu, thánh Luca ghi rằng
‘mẹ Ngài giữ lấy mọi sự và suy niệm trong lòng’
(Lc 2,19), nghĩa là Mẹ cố gắng ‘gom lại’ (symballousa) mọi
biến cố mà Mẹ đã trải qua một cách vô cùng độc đáo, để rồi soi
rọi bằng một cái nhìn sâu lắng.
Tương tự như thế, Dân Chúa cũng được Thánh
Thần thôi thúc nghiền ngẫm sâu sắc tất cả những gì đã được nói
về Đức Maria, để dần dần thấu hiểu về sứ mạng của Mẹ, một sứ
mạng gắn liền với Mầu Nhiệm Chúa Kitô.
Niềm tin của những kẻ bé mọn luôn được Chúa
Giêsu khen ngợi, vì họ luôn nhận ra những biểu hiện của lòng
từ ái của Chúa Cha (x. Mt 11, 25; Lc 10, 21). Và qua bao thế
hệ, những giáo dân thấp kém ấy đã tiếp tục công bố
những kỳ công trong chương trình cứu độ, mà những người thông
thái không biết được. Niềm tin dân gian ấy, mang nét đơn sơ
của Đức Mẹ, đã giúp cho mọi người nhật ra sự thánh thiện và
giá trị siêu việt của Người.
Mầu nhiệm Mẹ Maria mời gọi mọi Kitô hữu,
cùng hiệp thông với Giáo Hội, ‘suy
niệm trong lòng’ những mặc khải về Mẹ Chúa Kitô. Theo
tiến trình của lời kinh
‘Magnificat’, mỗi người chúng ta noi gương Đức Mẹ để
cảm nghiệm Tình Yêu Thiên Chúa đối với bản thân mình, và khám
phá, qua các điều kỳ diệu mà Ba Ngôi đã thực hiện
nơi ‘Đấng đầy ơn phúc’,
một dấu chỉ về tình trìu mến của Thiên Chúa đối với con người.
Với những suy nghĩ trên, Maranatha xin gửi
đến những nét sơ lược về Ngày lễ Mông Triệu kèm theo các mục
thường xuyên, trong ý thức rằng Đức Mẹ là người giáo dân duy
nhất trong lịch sử đã cầu xin bằng trọn linh hồn và xác
mình: “Maranatha, lạy Chúa xin
hãy đến”, vì thế cho nên lời cầu xin đó đã trở
thành hiện thực: Và Ngôi Lời đã
mặc lấy xác phàm và cư ngụ giữa chúng ta.
(Ga 1,14).
Ngày lễ Mông Triệu cũng là lễ bổn mạng của
gần một nửa số nữ Kitô hữu mang tên thánh Maria, xin chúc cho
mọi độc giả Maria được ngày càng trở nên giống Mẹ.
MARANATHA
Về mục lục >

HỌC ĐẠO
THIÊN CHÚA CŨNG ĐAU KHỔ
(tiếp
theo Maranatha_14)
Huyền Vi
Lời nói thứ tư của Đức
Giêsu trên thập giá: cảm tưởng bị Thiên Chúa bỏ rơi
Lời thứ tư là «Êli,
Êli, lama xabatani, nghĩa là: Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa
của con, sao Ngài bỏ rơi con?» (Mt 27,46), nói lên
sự cô đơn cùng cực mà Ngài cảm thấy từ cơn hấp hối ở vườn
Giệtsê tới lúc này, và nhất là lúc này. Vì Ngài gánh lấy toàn
bộ tội lỗi của trần gian, nên Thiên Chúa Công Bình đã trút
toàn bộ cơn thịnh nộ của mình lên đầu Ngài. Ngài đã bị trừng
phạt thay cho toàn nhân loại để nhân loại được ơn tha thứ và
làm hòa được với vị Thiên Chúa luôn luôn đòi hỏi sự công bằng.
Thiên Chúa đã bỏ rơi Ngài cho nư cơn giận hầu có thể ôm lấy
nhân loại vào lòng, một nhân loại tuy hư hỏng nhưng đã được
Thiên Chúa thông cảm nhờ Đức Giêsu đã chia sẻ thân phận yếu
hèn của con người, đã tự mình kinh nghiệm thân phận ấy. Khi
mặc lấy và sống trong thân phận con người, Ngài đã thấy rằng
con người thật đáng thương hơn đáng trách, cho dù tội lỗi con
người có to tát đến đâu. Ơn cứu độ bắt nguồn từ sự thông cảm
này.
Chính Thiên Chúa đã đau khổ vì nhân loại.
Những đau khổ ấy đã thể hiện cụ thể trong lịch sử nhân loại
qua những đau khổ tột cùng và đa dạng của Đức Giêsu. Chính đau
khổ đã làm cho Thiên Chúa trở nên gắn bó và gần gũi con người
hơn, và làm con người trở nên thân thiết với Thiên Chúa hơn.
Chính nhờ Đức Kitô bị bỏ rơi mà con người trở nên con cái yêu
dấu của Thiên Chúa. Ngài bị bỏ rơi để chúng ta khỏi bị bỏ rơi.
Lời nói thứ năm: «Tôi
khát»
Lời thứ năm của Đức Giêsu trên thập giá là:
«Tôi khát» (Ga 19,28).
Nghe lời ấy, «người ta lấy miếng
bọt biển có thấm đầy giấm, buộc vào một nhành hương thảo, rồi
đưa lên miệng Người» (Ga 19,29). Giấm ở đây một
loại đồ uống rẻ tiền, có chất men, mà các binh sĩ Rôma uống để
giải khát trong thời gian thi hành lệnh hành quyết tội nhân.
Chắc chắn lúc ấy Ngài hết sức khát nước vì máu và mồ hôi ra
nhiều mà không được uống nước để bù lại số nước bị mất trong
người. Khi cơn khát lên đến cùng cực, với bản tính yếu đuối
của con người, Ngài đã phải thốt lên câu
«Tôi khát!» Nhưng khi
người ta đưa đồ uống đến cho Ngài, theo Tin Mừng Gioan thì
Ngài chỉ «nhắp» chứ
không uống. Phản ứng của những người bình thường trong trường
hợp khát đến mức như thế là uống được nhiều ngần nào có thể
cho đã cơn khát. Đức Giêsu không phản ứng như thế. Ngài tỏ ra
hoàn toàn tự chủ trước cơn khát cháy cổ đang dày vò Ngài. Rất
có thể Ngài muốn tiếp tục chịu đựng cơn khát và không muốn
giảm bớt đau khổ bằng việc uống cho đã khát.
«Chén đắng» mà Thiên
Chúa Cha trao cho Ngài, Ngài muốn uống cạn đến giọt cuối cùng.
Ngài không muốn giảm bớt bất cứ một đau khổ nào mà Thiên Chúa
muốn Ngài chịu để biểu lộ tình yêu vô cùng của Thiên Chúa đối
với nhân loại.
Câu nói «Tôi
khát» còn có một ý nghĩa khác. Phản ứng của Ngài –
chỉ «nhắp» một chút xíu – cho thấy Ngài nói
«tôi khát» không phải
để được người ta cho uống hầu làm giảm cơn khát thể lý. «Khát»
ở đây mang ý nghĩa tâm lý nhiều hơn. Ngài khát gì vậy? Ta
thấy, vì yêu thương nhân loại, đặc biệt Dân của Ngài, mà Ngài
xuống trần gian tại đất nước Do Thái. Nhưng từ ngày Ngài sinh
ra đến giây phút cuối cùng này, tình yêu vô bờ bến của Ngài
chỉ được đáp trả bằng hờ hững, hận thù. Lúc nào Ngài cũng bị
con người – mà Ngài yêu thương đến tận cùng – hất hủi, tẩy
chay… Một người yêu thương như thế mà không được đáp lại thì
khao khát gì? Có ai yêu thương mà không muốn được người mình
yêu yêu lại mình. Đó chính là tâm sự đau thương của Ngài mà
Ngài có nhu cầu bộc lộ ra vào lúc sắp từ giã cõi đời. Vì Ngài
yêu thương con người vô hạn, nên Ngài cũng khao khát tình yêu
của con người đối với Ngài vô hạn. Nhưng con người đã không
thõa mãn cho Ngài nỗi khao khát đó. Yêu mà không được yêu lại
thì còn gì khổ bằng? Đó cũng chính là nỗi khổ đau của Thiên
Chúa, khổ đau vì nỗi khao khát không được thõa mãn.
Lời nói thứ sáu: phó thác
linh hồn trong tay Thiên Chúa
Lời thứ sáu là: «Lạy
Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha» (Lc
23,46). Đức Giêsu chính là Ngôi Lời. Theo Thánh Gioan thì
«từ nguyên thủy đã có Ngôi Lời,
và Ngôi Lời ở cùng Thiên Chúa» (Ga 1,1). Và Ngôi
Lời đã xuống trần gian nhập thể trong lịch sử con người để cứu
độ họ, bằng cách chia sẻ thân phận yếu đuối và đau khổ của họ.
Ngài đã đau khổ tột cùng, và đã hoàn tất sứ mạng cứu độ con
người bằng cuộc khổ nạn Thập Giá. Bây giờ Ngài lại trở về cùng
Thiên Chúa. Sứ mạng cực kỳ gian khổ của Ngài đã hoàn tất, Ngài
không còn đau khổ nữa. «Con phó
thác linh hồn con trong tay Cha» là một thở phào
nhẹ nhõm của một người đã làm xong nhiệm vụ và tới lúc trở về
với người đã sai mình với tâm hồn hân hoan.
Thái độ phó thác trong tay Thiên Chúa là một
thái độ thường hằng của Đức Giêsu. Không một lúc nào trong
cuộc đời của Ngài mà Ngài không phó thác bản thân cũng như tất
cả mọi sự của mình và của cả nhân loại cho Thiên Chúa. Ngài
chỉ biết làm theo thánh ý Thiên Chúa Cha, và phó mặc tất cả
những gì còn lại trong tay Cha. Ngài không lo gì cho bản thân
Ngài, mà chỉ biết lo cho Chúa Cha và nhân loại. Bản thân Ngài,
hạnh phúc và đau khổ hay thành công và thất bại của Ngài, Ngài
đều hoàn toàn để Cha Ngài định đoạt. Cả cuộc đời, Ngài đã sống
trọn vẹn câu: «Hãy lo tìm kiếm
Nước Thiên Chúa và sự công chính của Ngài trước đã, còn mọi sự
khác Ngài sẽ ban cho sau» (Mt 6,33).
Câu «Con phó
thác linh hồn con trong tay Cha» trên thập giá là
câu nói tóm gọn lại thái độ phó thác mà Ngài đã thực hiện suốt
cuộc đời Ngài.
Lời nói thứ bảy: «mọi
sự đã hoàn tất»
Lời thứ bẩy, lời cuối cùng Đức Giêsu nói
trên Thập Giá là: «Mọi sự đã hoàn
tất» (Ga 19,30). Nói xong Ngài trút hơi thở cuối
cùng. Trước khi lìa cõi đời, Đức Kitô cảm thấy Ngài đã làm
xong tất cả những gì mình phải làm, tức công việc cứu độ nhân
loại. Có thể nói đây là một câu nói thỏa mãn của một người vừa
qua một tai nạn lớn, hay của một người vừa hoàn thành một
nhiệm vụ hết sức khó khăn. Đức Kitô đã uống cạn
«chén đắng» mà Chúa
Cha trao cho một cách dũng cảm, hoàn hảo, không một chỗ nào
đáng chê trách. Mọi công việc, mọi gian nan rồi cũng phải qua,
không thể kéo dài mãi, nhưng nếu được hoàn thành một cách tốt
đẹp do những cố gắng hết sức của mình, thì ta sẽ cảm thấy thỏa
mãn, hài lòng. Mọi sự đều qua đi, nhưng kết quả của chúng thì
tồn tại lâu dài.
Phần thưởng lớn nhất của Đức Kitô khi còn
tại thế chính là lúc Ngài thốt ra được câu này. Có thể nói
rằng Ngài đã chết trong tâm trạng rất thỏa mãn, hoàn toàn hạnh
phúc, không có gì phải hối tiếc cả. Không có cái chết nào đẹp
bằng cái chết của Ngài. Ngài đã sống rất đẹp và chết cũng rất
đẹp. Cả đời Ngài là một tuyệt tác của Chúa Cha. Có thế mới bù
lại được cái «sản phẩm bị hư hỏng»
của Ngài là con người. Nhờ đó, kể từ nay, quan hệ giữa
Thiên Chúa và nhân loại đã trở thành tốt đẹp: Đức Kitô đã bắc
một nhịp cầu vững chắc nối con người lại với Thiên Chúa. Do
đó, Ngài là «Đấng Trung Gian duy
nhất giữa Thiên Chúa và con người» (1Tm 2,5).
Bây giờ, Ngài đã hoàn tất những đau khổ cần
thiết để biểu lộ tình thương của Thiên Chúa đối với con người.
Những đau khổ này do chính con người gây ra cho Ngài, cho dù
mục đích của Ngài là đem hạnh phúc đến cho họ. Nhưng Ngài đã
đến không như cách họ mong chờ Ngài. Người ta mong Ngài đến để
giải phóng họ khỏi những đau khổ do ngoại bang áp bức, để đem
lại ấm no hạnh phúc cho họ, thì Ngài lại đem tình yêu thương
tới. Họ mong Ngài là một nhà chính trị hay quân sự thì Ngài
lại là một vị đạo sư. Họ mong Ngài tới để xóa bỏ đau khổ, thì
Ngài lại đến để cùng chịu đau khổ với họ và biến đau khổ thành
phương tiện để mưu hạnh phúc… Tư tưởng của Thiên Chúa quả khác
hẳn với tư tưởng con người, cái khôn của Thiên Chúa khác hẳn
với cái khôn con người. Chính vì thế, con người không thể hiểu
được cách hành động của Thiên Chúa, nên mới sinh ra chuyện con
người giết Thiên Chúa, và Thiên Chúa chịu đau khổ vì con
người. Đối với Thiên Chúa, con người là một tác phẩm, nhưng là
tác phẩm gây đau khổ cho chính Ngài. (Còn tiếp1 kỳ)
Về mục lục >

CẦU NGUYỆN
THA THỨ, SUY
NIỆM KINH THÁNH
& CHỜ ĐỢI NGHE TIẾNG CHÚA
Linda Schubert
Quang Thạch & Hoàng Quý chuyển ngữ
7. THA THỨ
«Và khi đứng
cầu nguyện, nếu các con còn bất bình với ai điều gì, các con
hãy tha thứ cho họ, ngõ hầu Cha các con trên trời cũng tha thứ
tội lỗi cho các con» (Mc 11:25).
Khi Chúa Giêsu ở giữa trung tâm điểm đời
sống chúng ta, chúng ta có thể xin Ngài giải hòa với chính
chúng ta và với tha nhân. Chúa Thánh Linh không để chúng ta xa
lìa Ngài trong các mối giây liên hệ tan vỡ, và Ngài cũng chẳng
trông mong chúng ta tha thứ bằng sức riêng của chúng ta. Ngài
sẽ hoạt động nơi chúng ta nếu chúng ta mời Ngài giúp đỡ.
Bạn hãy quyết định làm hòa với người khác
trong cuộc đời bạn. Bạn hãy giải quyết cho họ cũng như cho
chính bạn được tự do. Đời sống quá ngắn ngủi và quý giá để
lãng phí vào công việc trói buộc mình vào những vòng giây xích
giận hờn, oán ghét. Hôm nay, bạn hãy giải tỏa đi. Bạn sẽ không
hối tiếc đâu. Lòng tha thứ bắt đầu bằng việc quyết tâm, và
tình cảm sẽ theo sau đó.
Lời nguyện sau đây bao trùm một số các lãnh
vực nền tảng trong đời sống, nhằm giúp tâm trí bạn biết cởi
bỏ, biết chôn đi những tức tối, cay đắng, giận hờn bằng việc
tha thứ. (Khi bạn đọc chậm rãi và nghiền ngẫm lời kinh này,
bạn hãy ngừng lại từng đoạn và xin Chúa Thánh Linh giúp bạn
nhớ lại từng người, từng trường hợp bạn muốn tha thứ. Bạn hãy
vẽ lại hình ảnh lý tưởng của người bạn muốn họ hoàn thiện, qua
công việc tạo dựng và cứu độ của Chúa. Bạn hãy nài xin máu
Chúa Giêsu tẩy rửa họ và nguyện xin Chúa chữa lành họ nhân
danh Chúa Giêsu Kitô. Amen = Mong được như vậy). (5 phút)
LỜI NGUYỆN THA THỨ
«Trong Ngài,
chúng ta được cứu độ nhờ máu Ngài, tức là ơn tha thứ tội lỗi,
chiếu theo lượng hồng ân dư dật của Thiên Chúa, để Ngài ban
xuống tràn đầy nơi chúng ta ơn khôn ngoan và hiểu biết»
(Ep 1:7-8).
Lạy Cha Chí Ái, con xin tự nguyện tha thứ
cho từng người trong cuộc sống con, bao gồm cả chính con, vì
Cha đã tha thứ cho con. Lạy Cha, con xin cảm tạ Cha vì hồng ân
này.
Con xin tha thứ cho
chính mình con, vì
những tội lỗi của con, những lỡ lầm của con và những sa ngã
của con, nhất là ___ ___ ___. Con xin tha thứ cho chính con,
vì con người bất toàn của con, con chấp nhận chính mình và con
quyết định không tự oán trách mình cũng như coi mình là kẻ thù
xấu xa của chính con nữa. Con xin cởi bỏ những gì làm vướng
víu, gây bận tâm cho con và con xin làm hoà với chính con hôm
nay, nhờ thần lực Chúa Thánh Linh.
Con xin tha thứ cho
mẹ con, vì tất cả những gì mẹ con làm đau
lòng con và thiếu yêu thương con, một cách vô tình hoặc hữu ý,
nhất là ___ ___ ___. Hôm nay con xin tha thứ cho mẹ con, vì
mọi lạm dụng làm tổn thương con. Hôm nay con xin tha thứ cho
mẹ con, vì mẹ con đã không cung ứng cho con ơn phúc thâm sâu,
trọn vẹn, thư thái của một người mẹ. Con xin cởi bỏ những trói
buộc này cho mẹ con và làm hòa với mẹ con ngay hôm nay.
Con xin tha thứ cho
cha con, vì tất cả
những gì cha con làm đau lòng con và thiếu yêu thương con, một
cách vô tình hoặc hữu ý, nhất là ___ ___ ___. Hôm nay
con xin tha thứ cho những lần cha con lạm dụng, những hành
động cứng cỏi hoặc thô bạo, những thiếu trách nhiệm. Hôm nay
con xin tha thứ cho cha con, vì cha con đã không cung cấp cho
con ơn phúc tràn đầy và thư thái của bậc làm cha. Con xin cởi
bỏ những trói buộc này cho cha con và làm hòa với cha con ngay
hôm nay.
Con xin tha thứ cho
người bạn trăm năm
của con, vì tất cả những gì làm đau lòng con và
thiếu yêu thương con trong suốt thời gian chúng con chung sống
với nhau, nhất là ___ ___ ___. Hôm nay con xin tha thứ cho tất
cả những vết thương lòng của chúng con. Con xin cởi bỏ những
trói buộc này cho người bạn trăm năm của con và làm hòa giữa
chúng con ngay hôm nay.
Con xin tha thứ cho các
con cái
của con vì tất cả những tổn thương đã gây cho
con, nhất là ___ ___ ___. Con xin cởi bỏ tất cả những trói
buộc này và làm hòa với con cái của con ngay hôm nay. Lạy Cha,
xin Cha chúc phúc lành cho các con cái của con.
Con xin tha thứ cho các
anh chị em
con, vì tất cả những lạm dụng con, nhất là ___
___ ___. Con xin tha thứ cho
tổ tiên con, vì
những hành động tội lỗi đã ảnh hưởng đến cuộc sống con hôm nay
và gây cho con khó khăn sống trong tự do làm con cái Cha. Con
xin cởi bỏ những trói buộc này và làm hòa với các ngài ngay
hôm nay, nhân danh Chúa Giêsu Kitô.
Con xin tha thứ cho
bạn hữu
của con, vì tất cả những hành động tiêu cực và
thiếu yêu thương, nhất là ___ ___ ___. Con xin tha thứ cho các
bạn hữu con, vì tất cả những lần bạn hữu con đã lợi dụng con
hoặc dẫn dắt con đi sai lạc. Con xin cởi bỏ những trói buôc
này và làm hòa với các bạn hữu của con ngay hôm nay, nhờ thần
lực Chúa Thánh Linh.
Con xin tha thứ cho các
chủ nhân
của con, vì những xử đối tiêu cực và thiếu yêu
thương trong quá khứ cũng như hiện tại, nhất là ___ ___ ___.
Con xin cởi bỏ tất cả những trói buộc này và cầu phúc lành cho
họ ngay hôm nay, nhân danh Chúa Giêsu Kitô.
Con xin tha thứ cho các
thầy cô
của con, vì những hành động tiêu cực và lợi
dụng con, nhất là ___ ___ ___. Con xin tha thứ cho các
luật sư, bác sĩ, y tá
và những người
chuyên nghiệp, nhất là ___ ___ ___. Con xin tha
thứ cho hàng giáo phẩm
và tất cả những ai nắm giữ vai trò trong Giáo
Hội, nhất là ___ ___ ___. Con xin cởi bỏ cho tất cả, nhân danh
Chúa Giêsu Kitô.
Con xin tha thứ cho từng phần tử trong
xã hội
đã gây tổn thương cho con dưới mọi hình thức;
những ai gây khốn khổ cho con bằng hành động tội phạm hoặc
những ai gây tổn hại cho gia đình con. Con xin tha thứ cho
những ai đã đưa các luật lệ chống lại các giá trị Kitô giáo.
Con xin tha thứ cho các nguồn gốc gây ra bất công, khổ đau và
những quấy nhiễu đời sống con.
Lạy Cha trên trời, giờ đây con xin ơn biết
tha thứ cho một người đã gây
khổ đau cho con nhất
trong đời. Giờ đây con xin chọn tha thứ cho một người
khó tha thứ nhất, dầu cho lúc này con còn cảm thấy tức giận và
đau đớn. Con cũng xin làm hòa với một người trong gia đình,
một người bạn và một gương mặt nắm giữ quyền uy làm con đau
khổ nhất.
Lạy Cha, còn ai con cần phải tha thứ nữa
không? (Hãy yên lặng và lắng nghe). Lạy Cha Chí Ái, xin
cảm tạ Cha đã giải thoát cho con được tự do.
Giờ đây con chúc phúc cho tất cả những ai đã
làm con đau khổ. Lạy Cha, xin Cha hãy ban cho họ một ơn đặc
biệt ngay hôm nay. Lạy Cha, con xin cảm tạ Cha. Con ngợi khen
Cha. Amen.
(Lc 17,4; Ep 4,31-32; Cl 3,13; Mt 6,14; Mt
5,44; Lc 6,35; Gl 5,14; 1Tx 3,12; 1Pr 4,8; 1Ga 4,12; Mt 26,28;
2Tm 2,24; Tt 3,2; Gs 3,17; 1Pr 1,22).
(Lạy Cha...)
8. SUY NIỆM KINH
THÁNH
Một buổi sáng kia, tôi chợt đọc thấy câu
Kinh Thánh trong sách Giêrêmia 40:4,
«Hôm nay Ta đang cởi xiềng xích nơi tay ngươi».
Đột nhiên tôi nhận ra Chúa đang nói với tôi và Ngài đang cởi
bỏ khó khăn cho tôi, khi tôi từng cầu nguyện xin Ngài giúp tôi
hoàn thành tập sách này. Hiển nhiên tôi đã tận dụng câu Kinh
Thánh này và rõ ràng Chúa sử dụng lời này nói với tôi. Từ ngày
ấy, tôi cảm nghiệm được ơn thoải mái viết sách.
Kinh Thánh là một trong những đại lộ trọng
yếu nhất giao thương với Thiên Chúa, gắn liền với ơn Chúa
Thánh Linh gợi hứng. Khi chúng ta ngồi vào dự bàn tiệc Kinh
Thánh, chúng ta đi vào hiểu biết về Chúa. Chúng ta được tăng
cường đức tin, đức cậy và đức mến khi dành ra thời giờ đọc Lời
Chúa. Việc dành thời giờ đọc Kinh Thánh dưới sự hướng dẫn của
Chúa Thánh Linh, sẽ mở ra các đường giây thông thương tâm
linh. Thời gian cầu nguyện có thể là một chuyến phiêu du, nhất
là khi chúng ta tập được thói quen đối thoại tự nhiên và dễ
dàng với Chúa. Tôi tin tưởng nếu chúng ta thực hành tâm sự với
Chúa trong ngày, «Giờ Phép Lạ»
này sẽ mang lại kết quả cho bạn.
Khi bạn bắt đầu đọc đoạn này, bạn hãy đơn
thành thưa với Chúa, «Lạy Chúa,
hôm nay xin Chúa hãy nói với con qua Lời Chúa».
Bạn hãy mở Sách Thánh, rảo mắt qua và dừng lại câu nào hoặc
lời nào làm bạn chú tâm. Thí dụ, chữ «hy vọng» đập vào
mắt bạn, bạn hãy ngừng lại và tìm ra ý nghĩa ở đó. Hãy xin
Chúa chỉ cho biết tại sao lời đó khiến bạn quan tâm. Có lẽ
dòng chữ «lòng chính trực»
cũng bất thần gây cảm hứng cho bạn. Bạn hãy nói với Chúa,
«Chúa Thánh Linh ơi, Chúa muốn
dậy bảo con điều gì qua lời này?» Bạn hãy ghi các
suy niệm vào cuốn tập và sau này cứ tiếp tục suy niệm thêm.
Đây là thành tích biểu rất quan trọng ghi lại hành trình tâm
linh của bạn. (5 phút)
(Tv 119,15; Rm 15,4; 2Tm 3,16; Rm 10,8; Cl
3,16; Tv 19,8; Tv 119,130; Tv 119,140; G 23,12; Tv 119,103; Dt
4,12; Tv 119,9; Gr 23,29; Rm 1,16; Ga 20,31; Ep 6,17; Ep 5,26)
(Lạy Cha...)
9. CHỜ ĐỢI NGHE
TIẾNG CHÚA
Đây là giây phút đặc biệt nhất trong «Giờ
Phép Lạ». Chúa nói với chúng ta,
«Chiên Ta biết nghe tiếng Ta» (Ga 10:27).
Là những người Kitô hữu chân thành muốn tiến
bộ trong mối giây sống thân tình với Chúa, chúng ta phải tìm
kiếm một nơi yên tĩnh, xa khuất những nơi ồn ào, và chỉ còn
biết lắng nghe tiếng Chúa. Tốt hơn nên nhắm mắt lại. Ngài muốn
nói với chúng ta hơn là chúng ta muốn lắng nghe. Ngài là Thiên
Chúa của tình yêu và tình yêu lại thích tâm sự. Bạn hãy lấy
sẵn giấy viết và mong mỏi Ngài nói. Những bước tiến vừa rồi đã
chuẩn bị cho phút giây tuyệt diệu này. Bạn hãy lắng dịu trí
khôn, mở cửa lòng ra, lương tâm thanh thản và bạn tập trung
vào Chúa. Phần đông chúng ta cần đến lời nói khích lệ từ nơi
Chúa. Bạn hãy nói như Samuel, «Lạy
Chúa xin hãy nói, đầy tớ Chúa đang lắng nghe đây»
(1 Sam 3:10). Khi một lời nói hay một tư tưởng đến trong tâm
trí, bạn hãy viết xuống cuốn sổ. Thông thường Chúa ban cho bạn
một lời an ủi yêu thương, hy vọng và chữa lành. Bạn sẽ lớn lên
với khả năng nghe được tiếng Chúa nói qua các công việc thường
nhật, khi bạn biết dành thời giờ vàng ngọc vào cầu nguyện và
đọc Lời Chúa. Sau cùng, sự thật là tình yêu không đòi hỏi phải
dùng lời nói. Chúa có thể yêu thương bạn trong thinh lặng đấy
(5 phút). (Xin đọc lại bài viết về Lectio Divina).
(Dt 30,20; Lc 10,39; Rev 3,20; Tv 95,7; Is
30,21; Kb 2,2; Ga 16,13; Cv 10,19; Pr 3,4; Tv 25,9; Tv 73,24;
Mt 13,23)
(Lạy Cha...)
Về mục lục >

SỐNG ĐẠO
TIẾNG
GỌI PHỔ QUÁT ĐẾN VỚI THẦN BÍ
Tu sĩ Maria - Gioan de la
Rédemption, o.c.d.
Thaùi Vaên Hieán dòch
Lần nữa, Giáo huấn
của công đồng Vatican II lại đặc biệt đưa ra ánh sáng tầm quan
trọng của đời sống các giáo dân trong sứ mệnh thánh hoá thế
giới và tin mừng hoá.
Việc ngẫm suy về
tính phổ quát của sự thánh thiện Kitô giáo cũng đưa ra ánh
sáng tính chất huyền bí thiết yếu của sự thánh thiện ấy, nghĩa
là mối liên kết của sự thánh thiện ấy với mầu nhiệm về
sự Thánh thiện của Thiên Chúa.
Đảm trách toàn bộ sứ vụ cứu độ được Chúa
Kitô ký thác cho Hội Thánh là công việc không chỉ thuộc về
những thừa tác viên có chức. Tất cả các tín hữu, đã chịu phép
Rửa trong một Thần Khí duy nhất của Chúa Giêsu, đều nhận lãnh
một phần sứ vụ ấy và được kêu gọi thực hiện trong đó chức năng
của bậc sống mình giữa lòng cộng đoàn Hội Thánh.
Qua những trang viết sau đây, chúng tôi muốn
suy ngẫm một vài đoạn trong hiến chế tín lý Lumen gentium
có liên quan đến sứ vụ ấy, bằng cách thử nhấn mạnh những
điểm giúp cho chiều kích thần bí của đời sống Kitô hữu được
cắm rễ cách thần học trong công trình cứu độ. Từ ngữ “thần bí”
ở đây được dùng theo một nghĩa rộng với hai lý do : một là để
tránh nguy cơ dẫn đến hạn chế ý nghĩa của nó bằng cách chỉ
nhằm xác định những khía cạnh phi thường trong cuộc sống của
một số Kitô hữu
1 ; hai là
mang lại khả năng tiếp xúc với nội dung khó hiểu của từ ngữ ấy
bằng cách dựa trên một vài điểm thần học của CĐ Vatican II, và
áp dụng những điểm ấy một cách đặc thù cho các giáo dân
2 .
Giáo dân, thật vậy, được tháp nhập trong
Chúa Kitô và là những chi thể của dân Thiên Chúa, nhân danh
phép Rửa của mình, họ dự phần vào sứ vụ thiên sai của Chúa
Kitô với ba chức năng : tư tế, ngôn sứ và vương giả. Chính là
trong những tư cách ấy mà họ tiếp tục trên trần thế công trình
cứu độ của vị Thượng Tế duy nhất :
“Họ được gọi bởi
Thiên Chúa, để dưới sự hướng dẫn của tinh thần Tin mừng, như
men từ trong bột, họ thánh hóa thế giới bằng việc thi hành
những nhiệm vụ của mình; và như thế, với lòng tin cậy mến sáng
ngời, và nhất là với bằng chứng đời sống, họ tỏ lộ Chúa Kitô
cho kẻ khác” (Lumen gentium [LG] 31)
Lời chứng ấy của đời sống, được chuyển biến
tự bên trong bởi những nhân đức hướng thần, xác định tính chất
người môn đệ của Chúa Kitô nhận lãnh từ Thiên Chúa sự thánh
hoá của mình, chuyển thông nó cho những người chung quanh, và
trong tâm tình tạ ơn, cống hiến tất cả những hồng ân mà mình
đã được nhận lãnh.
Thần bí và sự thánh thiện
Trong khi chú giải tiêu đề của chương 5 Hiến
chế Lumen gentium
3 , chúng tôi
muốn chỉ ra rằng sự thánh thiện của Hội Thánh và các chi thể
là thuộc phương diện thần bí : cơ bản đó là một sự kết hiệp
với Chúa Kitô, Đấng Thánh duy nhất và thánh hóa nhiệm thể của
Ngài bằng tình yêu hôn ước mà Ngài mang lại cho Hội Thánh. Sự
kết hiệp ấy vẫn là một kết hiệp ẩn giấu chỉ đối với cái
nhìn tự nhiên và trí thông minh đang bước đi trong bóng tối
đức tin. Nó là việc thực hiện mầu nhiệm của sự thánh thiện
Kitô giáo :
“Đức Kitô yêu
thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh; như vậy Ngài thánh
hóa và thanh tẩy Hội Thánh bằng nước và lời hằng sống, để
trước mắt Ngài, có một Hội Thánh xinh đẹp lộng lẫy, không tì
ố, không vết nhăn hoặc bất cứ một khuyết điểm nào, nhưng thánh
thiện và tinh tuyền” (Eph. 5,25-27)
Do đó, tất cả chi thể của Hội Thánh, không
trừ một ai, đến lượt mình cũng được kêu gọi để cho chính mình
được thánh hoá bởi Chúa Kitô và được mời gọi, bằng toàn bộ
cuộc sống của mình, đáp trả lại công trình cứu độ. Đời
sống thánh thiện của Kitô hữu là một hoa quả của Thần Khí và
qua đó nó biểu hiện sự thánh thiện của Thiên Chúa là nguồn
mạch kín ẩn của nó.
Như vậy, có một mối dây liên kết sâu xa và
nội tại giữa sự thánh thiện của Hội Thánh trong tổng thể của
mình và sự thánh thiện của các chi thể. Mối liên kết ấy là của
đức ái hoàn hảo kết nối và kiến thiết toàn thân trong sự hoàn
hảo (xem Êph. 4, 1-6; Col. 3, 12-15)
“[Sự thánh thiện
ấy] được diễn tả dưới nhiều hình thức nơi tất cả những ai đang
cố đạt tới Đức Ái trọn hảo trong bậc sống của mình trong khi
xây dựng kẻ khác. Đặc biệt hơn, sự thánh thiện ấy tỏ lộ trong
việc thực hành các lời khuyên, quen gọi là lời khuyên của Tin
mừng” (LG. 39)
Sự sống thần bí không là gì khác ngoài sự
sống trong Đức Kitô, sự sống được làm cho năng động bởi hoạt
động của Thần Khí thánh thiện, và được định hướng đến với sự
hoàn hảo vốn là sự hoàn hảo của tình yêu Chúa Cha dành cho mỗi
người con của Ngài. Cuộc sống mới được lãnh nhận qua lần tắm
gội trong sự tái sinh gọi là phép Rửa, quả thật là môt dự phần
đích thực vào bản tính thần linh, một biến đổi theo cách con
người hành động để mà hành động trước sự hiện diện và dưới sự
thúc đẩy của những tác động của Ba Ngôi Thiên Chúa.
Sự vĩ đại ấy của mầu nhiệm sự sống Kitô giáo
không phải là để dành riêng cho một vài chi thể ưu việt, do
những đức hạnh hoặc chức năng của họ trong thân thể Hội Thánh.
Nó cách riêng thuộc về ơn gọi của hết thảy mọi người được tạo
dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, và làm thành phần nội tại trong
giáo huấn của Chúa Kitô, đặc biệt là trong bài giảng trên núi
mà qua đó vang lên lời kêu gọi dứt khoát làm cho sản sinh lại
trong chúng ta thực tại sự hoàn hảo của Thiên Chúa.
“Vậy anh em, anh
em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn
thiện” (Mt. 5,48).
Lệnh truyền ấy có giá trị phổ quát. Tất cả
mọi người đều được kêu gọi đặt niềm tin của mình một cách hiệu
quả trong Đức Giêsu để từ đó thực hiện con người mới được làm
nghĩa tử của mình :
“Tất cả các Kitô
hữu, bất cứ theo bậc sống hay địa vị nào, đều được kêu gọi
tiến đến sự viên mãn của đời sống Kitô giáo và đến sự trọn
lành của Đức Ái” (LG. 40)
Lời kêu gọi của Chúa Kitô hãy sống những đòi
hỏi của sự công chính Nước trời, làm việc bố thí, cầu nguyện
và ăn chay một cách kín đáo, đặt tất cả niềm tin tưởng vào sự
quan phòng đầy tình phụ tử của Thiên Chúa, và sau hết là thực
hiện ý định của Cha, lời kêu gọi ấy chỉ giúp cho cụ thể hóa,
trong cuộc sống hằng ngày, thực tại của các mối phúc được dùng
dạo đầu cho toàn bộ bài giảng. Tâm hồn thánh thiện thì
hạnh phúc một cách thần bí, bởi vì nó được sở hữu sự sung mãn
của Nước Trời bằng việc thực hành đức nghèo khó, sự hiền hòa,
đức công chính, lòng thương xót, đức trinh khiết, sự bình an.
Vọng theo âm vang của lời giáo huấn về các
mối phúc, thánh Gioan Thánh Giá đã hát mừng những điều kỳ diệu
của việc được sở hữu tất cả mọi sự bằng tâm hồn được thánh hoá
và được biến đổi bởi sự sung mãn của đức ái.
“Các tầng trời là của con và trái đất cũng
là của con, các dân tộc là của con; những người công chính là
của con và những người tội lỗi cũng là của con; các thiên thần
là của con, và Mẹ Thiên Chúa cũng như mọi sự cũng là của con.
Và chính Thiên Chúa là của con và cho con, vì Đức Kitô là của
con và tất cả đều là của con, Vậy thì còn kêu xin và tìm kiếm
gì nữa đây, hỡi hồn ta? Của mi là tất cả và tất cả là của mi.
Đừng tự đánh giá mình là nhỏ nhoi. Đừng chỉ dừng lại nơi những
vụn bánh rơi xuống từ bàn ăn của Cha mi. Hãy bước ra và hãy
tôn vinh mi trong vinh quang của mi. Hãy ẩn mình trong đó và
hãy ở trong niềm vui sướng và mi sẽ nhận được những gì mà con
tim mi cầu xin.”
Hoa quả của sự sung mãn ấy không chỉ là
“thiêng liêng”, mà còn góp phần vào việc biến đổi xã hội loài
người và những điều kiện sinh sống cụ thể của toàn thể nhân
loại. Được múc kín từ nguồn mạch thần linh của chúng, và được
duy trì cho sống động bằng cuộc gặp gỡ không ngừng được canh
tân với Thiên Chúa, những sự hoàn hảo như lòng thương cảm,
nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa hoặc nhẫn nại (xem Col.
3,12) làm cho Kitô hữu trở nên đồng hình đồng dạng với hình
ảnh Chúa Kitô và bảo đảm sự toả sáng cũng như sự phong nhiêu
của hồng ân trong thế gian.
Kết hiệp với mầu nhiệm Chúa Kitô.
Sự sung mãn của tính chất hoàn hảo Kitô
giáo, vốn được triển nở cách tự nhiên trong đời sống thần bí,
dẫn dắt tất cả Kitô hữu bước đi theo Chúa Kitô. Di chứng
Kitô (sequela Christi) ấy là một lối dẫn vào con
đường của sự nghèo khó mà Chúa Kitô đã muốn cam chịu trong
cuộc đời tại thế của Ngài. Nó dẫn đến Thập Giá, trước hết
không phải thập giá của chúng ta, mà là thập giá Chúa Giêsu đã
chấp nhận gánh lấy trên chính đôi vai Ngài hòng giúp chúng ta
bước vào vinh quang. Sự thông hiệp của Hội Thánh và các chi
thể như thế vào những thống khổ của Chúa Kitô, mầu nhiệm khó
hiểu thấu, là tác phẩm lớn nhất của đức ái mang tính chất:
“không tình yêu nào lớn bằng tình yêu của kẻ hiến mạng sống
mình cho bạn hữu” (Ga.15,13). Nó làm cho chúng ta dự
phần vào tình yêu cứu độ của Đức Giêsu, và chính trong ý nghĩa
đó mà thánh Gioan Thánh Giá có thể nói rằng chỉ cần một hành
vi duy nhất của tình yêu tinh tuyền cũng đã là quí giá cho Hội
Thánh hơn tất cả mọi công trình gộp lại. Bởi chưng chính tình
yêu cứu độ thế gian, chứ không phải những hành vi của con
người, cho dù giá trị đến mấy đi nữa.
Tình yêu ấy được dàn trải trong tâm hồn
chúng ta và giúp chúng ta yêu thương hết thảy mọi người bằng
cách hoàn toàn múc kín lấy nó trong cung lòng Ba Ngôi Thiên
Chúa, nơi mà chúng ta cùng được nên một bởi lòng tin và, cũng
ở đó, chúng ta hy vọng nhìn thấy qui tụ tất cả những kẻ mà Cha
đã chọn từ đời đời. Bởi thế, toàn bộ sự sống Kitô giáo chính
là sự triển nở của cuộc sống hướng thần:
“Cho nên mỗi
người, tùy theo ân sủng và nhiệm vụ mình. phải nhất quyết tiến
bước bằng con đường đức tin sống động, đức tin khơi động đức
cậy và hoạt động nhờ đức ái.” (LG. 41)
Nguyên lý của cuộc sống thần bí, như vậy,
không là gì khác ngoài chính đức ái của Thiên Chúa được cống
hiến một cách nhưng không cho toàn thể nhân loại và trong đó
tất cả chúng ta đều được kêu gọi ở lại bằng sự kết hiệp của
chúng ta với Chúa Kitô :
“Hễ ai tuyên xưng
Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, thì Thiên Chúa ở lại trong người
ấy và người ấy ở lại trong Thiên Chúa. Còn chúng ta, chúng ta
đã biết tình yêu của Thiên Chúa nơi chúng ta, và đã tin vào
tình yêu đó. Thiên Chúa là tình yêu: ai ở lại trong tình yêu
thì ở lại trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở lại trong người
ấy. Căn cứ vào điều này mà tình yêu đã nên hoàn hảo với chúng
ta, đó là chúng ta được mạnh dạn trong ngày phán xét, vì Đức
Giêsu thế nào thì chúng ta cũng như vậy ở thế gian này.”
(Ga. 4,15-17)
Đức ái ấy chỉ có thể triển nở trong điều
kiện được nuôi dưỡng bằng lời của Thiên Chúa và bằng đời sống
bí tích. Cường độ triển nở ấy của đức ái trong chúng ta vừa
tùy thuộc vào điều gì đó là nguồn mạch lại vừa tuỳ thuộc vào
sự phong nhiêu của chính nó một cách huyền bí. Một đằng, nó
chỉ gặp thấy nguồn cội của mình trong cử hành phụng vụ mà
Thánh Thể là đỉnh cao nhất. Nhưng đằng khác, nó chỉ có thể
sống được trong và bởi những hoa quả mà nó mang trong kinh
nguyện của từng cá nhân, trong sự quên mình vì Tin mừng và
trong việc phục vụ tích cực tha nhân. Chỉ có một đức ái duy
nhất được kín múc từ nguồn mạch của nó và đồng thời được dàn
trải ra chung quanh. Chính vì thế mà tình yêu đối với Thiên
Chúa và với tha nhân chỉ hợp thành một giới răn duy nhất, và
cũng do đó, tình yêu ấy được nhận ra là sự thực thi lề
luật cách hoàn hảo.
Trong khi làm cho đức ái ấy trở thành tích
cực trong cuộc sống, thì tất thảy những ai đã chịu phép Rửa
đều tiếp tục công trình cưu độ bằng cách tự định vị mình trong
sự nối dài mầu nhiệm Nhập thể. Sứ vụ của Chúa Kitô, linh mục,
ngôn sứ và vương giả, bấy giờ cũng được triển nở trong toàn bộ
tính hiệu quả của nó bởi lễ dâng của nhân loại và của tất cả
mọi sinh hoạt con người (chức năng tư tế), bởi
lời chứng rõ ràng về đức cậy Kitô giáo và việc tuyên xưng đức
tin công khai (chức năng ngôn sứ), bởi việc phục vụ
khiêm tốn và nhẫn nại với hết thảy mọi người (chức năng
vương giả)
4 .
Đời sống thần bí của các giáo dân, được kết
hiệp hoàn toàn với sứ vụ cứu độ của Chúa Kitô, như vậy, không
bị giới hạn chỉ trong đời sống cầu nguyện. Nếu đời sống cầu
nguyện, hết sức hiển nhiên, làm thành bộ phận của chức tư tế
thiêng liêng, thì bản thân nó, bằng cách này hay cách khác và
dưới nhiều hình thức khác nhau, phải được diễn dịch ra bên
ngoài bằng lời chứng của cuộc sống và bằng sự phong nhiêu của
công việc tông đồ.
Chính lúc bấy giờ mà đời sống thần bí mới
trở nên, cách phong phú nhất, một hiểu biết đích thực bằng cảm
nghiệm về mầu nhiệm của Thiên Chúa. “Khoa học” về các Thánh
được thành lập chủ yếu bởi mối tương quan sống động với mầu
nhiệm đang được triển nở trong con người, và để lại một ấn
tích của hồng ân
5 như được
khắc sâu vào nội tâm. Phần của mỗi người trong cuộc sống của
mình là đi theo vết chân của Thiên Chúa và, như vậy, thực hiện
chuyến xuất hành của chính mình hướng về miền đất hứa của sự
kết hiệp tình yêu.
Về mục lục >

CHA
TÔI Ở TRÊN TRỜI
Trần Mỹ Duyệt
Có bao giờ bạn đã đếm được trên đầu mình có
bao nhiêu sợi tóc? Hoặc trên đầu người yêu, người thân, hay
con cháu mình có bao nhiêu tóc? Có lẽ trên đời này chưa ai làm
được chuyện ấy. Nhưng nếu có ai đó đã hoặc sẽ làm được, thì
một điều chắc chắn là người đó cũng không thể biết được khi
nào sợi tóc nào đang đen hóa trắng, hoặc sợi nào rụng xuống vì
lý do gì? Vậy mà Đấng Tự Hữu, Đấng Tạo Hóa đã làm điều đó cho
con người: «Tóc trên đầu các
ngươi đã được đếm hết» (Mt 10,30). Có nghĩa là cuộc
đời con người từ khi được hoài thai trong lòng thân mẫu cho
đến lúc trở về với cát bụi, nó hoàn toàn nằm trong bàn tay
quan phòng và thương yêu của Thiên Chúa. Qua Chúa Giêsu, Thiên
Chúa đã mặc khải cho nhân loại biết lý do hành động của Ngài,
đó là vì Ngài là Cha của chúng ta.
Tin hay không tin, con người cũng không thể
chối bỏ được sự thật rõ ràng này. Và tin hay không tin, con
người cũng không thể sống được ngoài sự săn sóc thương yêu của
Thiên Chúa. Tâm lý tự nhiên cho biết rằng những lúc con người
nhận ra sự có mặt của Ngài dễ dàng nhất, thường là những lúc
họ gặp gian nan, đau khổ. Đối với những ai đã từng sống trong
cảnh tù ngục sau 1975 tại Việt Nam. Hoặc đối với những ai đã
từng hốt hoảng, sợ hãi trên những con thuyền nhỏ bé, mong manh
trên đại dương trong những ngày tháng tìm đường vượt biên. Hay
những ai đang phải chiến đấu với thần chết trên giường bệnh,
thì sự có mặt của Thượng Đế là điều như nắm được trong tầm
tay. Những lúc như thế, khi mà khả năng con người không còn
làm được gì, thì hình ảnh của một Thượng Đế toàn năng, Thiên
Chúa đầy quyền uy lại bừng sáng trong tâm trí con người.
Nhưng Thiên Chúa không chỉ là một Thượng Đế
với đầy uy quyền và sẵn sàng xử dụng quyền năng ấy để đè bẹp
con người, hoặc cứu vớt con người. Trong các tôn giáo, thần
linh luôn luôn được biểu tượng bằng những hình ảnh siêu phàm,
cách biệt với con người, hoặc thẳng tay với những yếu đuối hay
lầm lỡ của con người. Tóm lại, không có sự cảm thông, và cũng
không có sự gần gũi thân mật giữa thần linh và con người.
Thiên Chúa, Thượng Đế, Đấng Tạo Hóa của
người Kitô Giáo, ngược lại, là một người Cha rất mực nhân từ,
rất mực thương yêu và luôn luôn có mặt trong cuộc đời của con
người và từng người. Trời cao, biển rộng, sông dài, núi đồi
trùng điệp. Hoa cỏ đồng nội. Cây cối, thảo mộc. Chim trời, cá
biển, muông thú rừng hoang. Tài nguyên trên mặt đất, dưới lòng
đất. Tài nguyên trong biển và dưới lòng biển. Trài nguyên trên
các tầng trời. Gió mát, hơi ấm và không khí trong lành. Tất cả
đều được dựng nên để phục vụ con người và cho con người. Tất
cả đều được tạo dựng từ bàn tay nhân lành của Thiên Chúa.
Nhưng sự kỳ diệu nhất và cũng lạ lùng nhất là sự sống. Khi
Thiên Chúa ban cho con người sự sống, là Ngài chia sẻ sự hiện
hữu của Ngài với con người. Khi Ngài ban cho con người được
cộng tác với Ngài trong việc tạo dựng sự sống, là Ngài đã cho
con người dự phần vào quyền sáng tạo toàn năng của Ngài.
Tiếp theo sự sống là trí khôn, lòng muốn,
tài năng, và vẻ đẹp của thân xác con người; nhất là tình yêu.
Ôi! Tình yêu lạ lùng của con người. Nếu Thiên Chúa không mặc
khải cho biết Ngài là Tình Yêu: «Thiên Chúa là tình yêu»
(1Ga 4,8), thì con người sẽ không biết phải nói gì về cái
thiêng liêng, cao cả và tuyệt vời của tình yêu. Con người trải
qua muôn thế hệ phải cảm ơn Thánh Gioan về định nghĩa này, vì
chỉ có Ông mới là người đã khám phá và thấu triệt được thế nào
là một Thiên Chúa đầy yêu thương khi khẳng định Ngài là «Tình
Yêu».
Và hôm nay, Tình Yêu ấy được hiện thực và
sống động giữa những cảm nhận của con người khi Chúa Giêsu dậy
các môn đệ Ngài - và cũng dậy chúng ta - kinh Lậy Cha, một
kinh nguyện tóm lược tình yêu hành động của Thiên Chúa. Đó là
mặc khải về một Thiên Chúa không xa vời, không vô cảm, và
không lạnh lùng. Ngài gần kề với nỗi lo âu và những thao thức
của con người. Ngài hiểu được những dằn vặt, những thao thức
của con người và từng người: «Xin
Cha cho chúng con hằng ngày dùng đủ, và tha nợ chúng con như
chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con. Xin đừng để chúng con
sa chước cám dỗ»
(Lc 11, 3-4). Qua những nhu cầu thường ngày như cơm áo, và qua
những khó khăn trăn trở của kiếp người mà tình yêu Thiên Chúa
được tỏ hiện.
Con người nghĩ gì và cảm gì khi thấy Thiên
Chúa của mình cầm những chiếc bánh và những mẩu cá đưa cho
mình ăn. Nếu không phải là Ngài, thì ai dám nghĩ và hình dung
ra một Thiên Chúa tự nguyện qùi xuống rửa chân cho các môn đệ.
Một Thiên Chúa đồng hành và đồng bàn với những người bị coi là
tội lỗi. Nhất là một Thiên Chúa chia sẻ đến tận cùng cái nghèo
mạt rệp và cuộc sống lầm than của con người trong suốt 30 năm
dưới mái nhà Nagiarét. Tình yêu! Tình yêu hy hiến. Tình yêu đã
khiến Ngài luôn luôn có mặt trong các nhà chầu trên khắp thế
giới. Trong các bí tích, và trong Thánh Thể để làm của nuôi
linh hồn con người. Và cũng chính tình yêu đã cho phép con
người được gọi Ngài là Cha: «Lạy
Cha chúng con ở trên trời» (Mt 6,9). Điều này hẳn
làm cho các thiên thần phải sửng sốt, các quỉ thần phải ghen
tương và bực tức. Tội lỗi đã lọt vào thế gian cũng vì sự căm
thù và ghen tương ấy. Satan đã không muốn có sự thân mật này
khi nhìn thấy Thiên Chúa chiều chiều tản bộ với con người
trong vườn Diệu Quang.
«Cha chúng
con ở trên trời».
Đây là một mặc khải đem lại niềm vui, hạnh phúc và bình an cho
con người. Qua đó con người biết rằng từ trên cao thẳm, Cha
mình luôn luôn để mắt nhìn xem, hướng dẫn, và quan phòng mọi
ngả đường mình đi. Và nếu như con người gặp phải những thử
thách, những lỗi lầm trên đường đi, thì Ngài đã có đó để an
ủi, chữa lành và tha thứ. Tuy nhiên, nếu con người đã có Thiên
Chúa ở cùng mà vẫn lo lắng, băn khoăn, sợ hãi thì đó là vì con
người đã không thật lòng tin nhận và tín thác nơi Ngài. Con
người đã không mở rộng lòng mình để đón nhận tình thương yêu
quan phòng của Ngài. Và bằng cách này hay cách khác, con người
không muốn làm con của Ngài, không muốn nhìn nhận Ngài là Cha.
Mỗi sáng khi nhìn ánh bình minh lên cao.
Chiều về khi nhìn ánh tà dương khuất dần sao chân trời. Hay
khi màn đêm buông xuống, ngước mắt nhìn lên trời với muôn vì
tinh tú lấp lánh, ai mà không cảm thấy lòng mình chùng xuống
khi nghĩ rằng từ nơi cao thẳm ấy, một người Cha rất mực thương
yêu đang mỉm cười nhìn mình, và để lòng thổn thức với Ngài:
«Cha ơi! Cha ở trên trời».
Về mục lục >

MỪNG LỄ ĐỨC MẸ LÊN TRỜI
LỄ MÔNG TRIỆU,
MỘT TRUYỀN THỐNG
TRỞ THÀNH TÍN ĐIỀU
MARANATHA sưu tầm
“Chúng
tôi khẳng định, chúng tôi tuyên bố và chúng tôi minh
định như một tín điều được Thiên Chúa mặc khải rằng Mẹ Vô
Nhiễm của Thiên Chúa, Đức Maria trọn đời đồng trinh, sau
khi hoàn tất cuộc sống thế trần, đã được nâng vào đời sống
thiên thượng cả xác lẫn hồn.”
Đấy là những lời mà Đức Piô XII đã dùng để công bố tín điều
Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, ngày 1 tháng 11 năm 1950, qua tông
hiến Munificentissimus Deus.
Đây là một
biến cố bắt nguồn từ truyền thống xa xưa của Giáo Hội, và chín
muồi qua một thế kỷ suy tư của nền Thánh Mẫu Học. Tuy nhiên,
ta không biết gì về giây phút cuối đời của Đức Mẹ ở trần gian.
Chỉ có một văn bản ngụy thư thế kỷ thứ V, tên là “Đức Mẹ đi
vào giấc ngủ” (Mary’s Dormition), kể lại những giây phút cuối
cùng của Mẹ. Khi các tông đồ vây quanh để cầu nguyện thì Chúa
Kitô đến đưa Mẹ về Thiên Đàng. Như vậy, từ thời sơ khởi,
Kitô hữu đã linh cảm rằng Mẹ Thiên Chúa, Đấng Vô Nhiễm, không
thể nào phải chịu sự hư nát của cái chết. Đây là một
trực giác đã được các Giáo phụ đào sâu, đặc biệt là thánh Jean
Damascène. Vào thế kỷ thứ 6, lễ Đức Mẹ Đi Vào Giấc Ngủ đã được
cử hành ở các Giáo Hội phương đông, vào khoảng giữa tháng
giêng. Sau này, hoàng đế Maurice (582-602) xác định dứt khoát
là ngày 15 tháng 8.
Như vậy, lễ này
bắt nguồn từ truyền thống Giáo Hội Đông Phương, rồi chuyển
sang Rôma nhờ Đức Giáo Hoàng Theodore (642-649), người gốc
Constantinople. Lễ ấy dần dần được loan truyền ở phương Tây:
năm 813, Công Đồng Mayence truyền cho toàn Châu Âu (lúc bấy
giờ gọi là Đế Quốc FRANC) cử hành lễ này với tên gọi là Lễ
Mông Triệu (Assumption = Thiên Chúa triệu hồi Đức Mẹ về trời),
mặc dù lễ Mông Triệu và lễ Đức Mẹ Ngủ (Dormition) không khác
nhau gì lắm. Dù sao đi nữa, Giáo hội chưa thấy cần phải
đưa niềm tin này lên thành tín điều.
Sau khi đức Piô
IX công bố tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm (1854) thì phong trào sùng
kính Đức Mẹ được nâng lên mạnh mẽ và các thư thỉnh cầu tuôn về
Rôma để xin chính thức xác định tín điều về Đức Bà Mông Triệu
hay Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời. Từ năm 1854 đến 1945, tám triệu
tín hữu viết thư về Rôma để xin xét việc này! Cần phải
thêm vào số này các thư thỉnh cầu của 1332 giám mục (80%
các tòa giám mục) cùng 83.000 linh mục và tu sĩ nam nữ. Trước
những lời thỉnh cầu tha thiết ấy, đức Piô XII công bố Thông
Điệp Deiparae Virginis để yêu cầu toàn thể các giám mục trên
thế giới nói lên ý kiến của mình. Hầu như toàn thể các giám
mục đều một lòng một ý: 90% các giám mục nêu ý kiến thuận.
Phần lớn trong số 10% còn lại e dè không biết là đã phải
lúc để công bố thành tín điều chưa. Chỉ có sáu giám mục nghi
ngờ về tính chất ‘mặc khải’ của việc Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời.
Khi Đức Thánh Cha
Piô XII công bố tín điều này thì toàn thể các giáo hội
trên thế giới đón mừng bằng những lễ hội trọng thể. Cho đến
nay, đây là lần duy nhất mà Đức Giáo Hoàng thực thi quyền bất
khả ngộ của mình, theo định nghĩa của Vatican I. Ngày lễ
Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời được khắp Âu Châu tôn vinh đến độ trở
thành một ngày nghỉ thường niên của các quốc gia, và hiện nay
vẫn còn như thế. Buồn thay, rất nhiều người dân Âu Châu hàng
năm vui vẻ đón ngày 15 tháng 8 như một ngày nghỉ xả hơi toàn
quốc, mà không biết và cũng không thắc mắc vì sao mình
lại được nghỉ vào ngày ấy.
Về mục lục >

Niềm Vui Chia Sẻ:
Maria Vội Vã Lên
Đường
Đ.Ô. Giuse Phạm
Xuân Thắng.
Mến tặng mọi thành
viên trong Toà Soạn Maranatha nhân ngày lễ mừng kính Mẹ Lên
Trời.
Chưa bao giờ tôi cảm nghiệm tâm tình và cung
cách sống đời của người Việt chúng ta lại gần gũi và giống như
cuộc sống của Đức Trinh Nữ Maria. Khi có gì vui chúng ta luôn
biết chia sẻ. Những ai có chuyện đau buồn ta luôn đến ủi an
nâng đỡ. Câu nói “chia vui-sẻ buồn” trên môi miệng của người
Việt nam chúng ta hôm nay được thể hiện rõ nét nhân ngày mừng
kính Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời. Được tin bà chị họ Elizabeth có
thai được sáu tháng, Mẹ Maria vui mừng vội vã lên đường đến
thăm. Trong lúc vội vã chắc Mẹ cũng không thể nào ngờ sự mình
đến thăm lại niềm vui tột đỉnh cho gia đình người chị họ. Sự
vui mừng đã bật thành tiếng kêu êm dịu khi Maria vừa vào nhà
bà Elizabeth: “Bởi đâu tôi được Mẹ
Thiên Chúa đến viếng thăm? Vừa nghe lời chào, thì hài nhi
trong lòng tôi liền nhảy mừng.” Hai người thiếu nữ gặp
nhau; nhung không phải chỉ là sự gặp gỡ của hai người mẹ,
nhưng còn là sự gặp gỡ thánh thiêng của hai người con. Con
Thiên Chúa và con của con người. Thiên Chúa gặp gỡ nhân loại.
Còn sự gì sung sướng hơn sau bao ngày đợi trông nay đã thành
hiện thực. Dấu hiệu của hy vọng đã đưa đến cho chúng ta tin
mừng giải thoát. Đức Mẹ đã bộc lộ nỗi vui mừng qua lời kinh
Magnificat. Mẹ nói lên nỗi vui mừng vì Thiên Chúa đã đoái
thương đến những người nghèo đói và nâng dậy những người phận
nhỏ. Lời kinh của Mẹ đã khơi dậy niềm vui và sự hy vọng cho
kiếp người đau khổ, nghèo đói...Trong thời đại chúng ta không
ít những người đang sống thiếu niềm hy vọng; tai hại đến độ
tuyệt vọng. Thống kê con số những người này từ từ gia tăng. Dữ
kiện đó khiến chúng ta lưu tâm đến con người và cuộc sống hiện
tại của mỗi người. Hàng ngày chúng ta đối diện và đương đầu
với những áng mây mù cuộc sống! Chìa khoá mở lối cho ánh sáng,
niềm vui chính là sự hy vọng chúng ta lãnh nhận qua lời kinh
của Mẹ Maria trong ngày Mẹ thăm viếng người chị họ của Mẹ.
Trong bài Tin Mừng của ngày lễ Mẹ Lên Trời, chúng ta chứng
kiến niềm vui và hy vọng được bộc lộ từ nơi cung lòng của Mẹ
Maria và bà Elizabeth. Sự nhảy mừng của thai nhi trong lòng bà
Elizabeth dẫn đưa chúng ta tới niềm vui, sự hy vọng và lòng
phấn khởi đang tiềm ẩn nơi cuộc sống tâm hồn mọi người. Điều
quan trọng là làm sao chúng ta khơi dậy những tia sáng tiềm ẩn
này nơi cung lòng mỗi người. Qua sự gặp gỡ của Mẹ Maria và bà
Elizabeth, hai bà đã biết khơi dậy niềm hy vọng trong cuộc
đời. Sức mạnh và hiệu lực của sự hy vọng đã giúp hai bà thắng
vượt được những gian truân, những khổ ải liên tiếp xảy đến
trong cuộc đời. Còn gì tủi nhục, đau khổ cho bằng trong lúc
cưu mang con mà bị nghi ngờ chẳng sao giải thích. Ngay cả
Giuse, người bạn đời của Maria cũng nghi ngờ, thắc mắc để rồi
dự tính âm thầm, tế nhị ban đêm tìm cách ra đi...Còn sự bẽ
bàng nào cho bằng càng hướng tới ngày khai hoa nở nhụy lại
không tìm được một chỗ nương thân, lang thang trong trời đông
tuyết lạnh, cuối cùng phải mượn chốn chuồng bò để hạ sanh con
Đức Chúa Trời. Niềm vui và danh dự làm Mẹ Con Đức Chúa Trời
đâu chưa thấy, chỉ thấy đau khổ miên man! Sau khi sinh con,
tưởng sóng đã yên, gió đã lặng nào ngờ đang đêm lại phải
lên đường chạy trốn vì Hêrôđê đang tìm giết con mình. Xuyên
suốt cuộc đời Mẹ đã trải qua biết bao nhiêu gian truân, bươn
chải qua những sóng gió của cuộc đời; Mẹ vẫn không ngừng nuôi
hy vọng. Chính nơi nguồn Hy Vọng đã giúp Mẹ đủ can đảm, nghị
lực thắng vượt những gian nan, khốn khó và đủ sức mạnh chống
chọi với phong ba, bão táp cuộc đời. Nhưng niềm đau, nỗi khổ
ít ai để ý đế nơi cuộc đời của Mẹ Maria, lý do bởi nơi những
gương lành của Mẹ toả sáng chói chan che lấp đi những mây mù
nơi cuộc đời Mẹ. Qua cuộc thăm viếng của Mẹ đến với bà
Elizabeth, nhắc nhở những người Việt Tộc chúng ta hãy trở về
với triết lý, những châm ngôn cuộc sống mà cha ông chúng ta đã
đề xướng: “Chia vui sẻ buồn.” Cả cuộc đời của Mẹ Maria đã thể
hiện lối sống đó. Xin Mẹ cho chúng con cũng biết sống như Mẹ.
Đem Chúa đến cho mọi người, đem niềm vui đến cho đời và gieo
rắc tình đến những ai sầu khổ, đói nghèo cùng chiếu toả niềm
cậy trông, hy vọng đến những ai đang gặp những chán nản, thất
vọng. Và Mẹ ơi, một ngày nào đó xin Mẹ cũng đưa chúng con về
Trời với Mẹ.
Về mục lục >

MẸ MARIA XỨNG ĐÁNG
ĐƯỢC ĐƯA HỒN XÁC VỀ TRỜI
Nguyễn Chính Kết
1. Đức Maria đã
được Thiên Chúa thưởng hạnh phúc vĩnh cửu cả hồn lẫn xác
Đức Maria là Mẹ của Đức Giêsu, Đấng Cứu Thế,
cũng là người đồng lao cộng khổ nhiều nhất với Đức Giêsu trong
công cuộc cứu thế. Ngoài ra, Mẹ còn là người duy nhất trên
trần gian được ơn vô nhiễm nguyên tội, cũng là người luôn luôn
tuân theo thánh ý Chúa Cha trên trời cách gương mẫu nhất. Vì
thế, theo niềm tin của Giáo Hội, Thiên Chúa đã ân thưởng Đức
Maria một cách đặc biệt và duy nhất: được hưởng hạnh phúc vĩnh
cửu với cả hồn lẫn xác, được đưa về Thiên Đàng trọn vẹn cả con
người trần thế. Tất cả những vị thánh khác trên thiên đàng chỉ
có hồn mà không có xác, vì xác bị mục nát như bao thứ vật chất
khác. Các ngài chỉ được như Đức Maria vào ngày tận thế khi xác
của tất cả mọi người đều được sống lại.
2. Bởi đâu Đức
Maria được diễm phúc như thế?
Kho tàng ca dao tục ngữ Việt Nam có những
câu như: «Công Cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước
trong nguồn chảy ra», «Công cha to như núi, công mẹ
chẳng khác non». Xét về mặt nhân bản, công lao của Đức
Maria đối với Đức Giêsu thật hết sức lớn lao. Để sinh ra Đức
Giêsu, Đức Mẹ đã hy sinh ý riêng của mình là muốn sống đời
đồng trinh để phụng sự Thiên Chúa. Khi đồng ý mang thai Đức
Giêsu, Mẹ đã sẵn sàng chịu biết bao tai tiếng, hiểu lầm, kể cả
của Giuse nếu có. Một sự chấp nhận rất to lớn! Lúc chuẩn bị
sinh Đức Giêsu, Mẹ đã chịu biết bao khổ cực: đến ngày sinh rồi
mà lại phải rời nhà, rời nơi sinh sống, di tản từ bắc vào nam
khoảng 150 km, băng qua vùng miền Trung Do Thái đầy đồi núi.
Khi sinh Đức Giêsu, Mẹ phải chấp nhận tủi nhục: sinh con của
mình tại chuồng súc vật, thiếu thốn trăm bề. Mẹ vừa tủi cho
mình, vừa tủi cho con.
Cuộc đời của Mẹ – từ khi có Đức Giêsu – đã
phải gặp biết bao đau khổ, lo lắng, sợ hãi, mất ăn mất ngủ:
– được Simêon tiên báo con mình sẽ bị người
đời chống đối, còn chính mình sẽ rất đau khổ như bị
«một lưỡi gươm đâm thâu tâm hồn»
(Lc 2,34-35).
– bị lạc mất con suốt ba ngày, lòng đầy lo
âu và phiền muộn.
– thấy con mình bị giáo quyền hiểu lầm,
chống đối và mưu toan hãm hại, đúng như lời ông Simêon nói
xưa.
– thấy con bị bắt, bị án tử hình, bị giết
cách oan ức, nhục nhã, thảm thiết. Nhất là lúc đứng dưới chân
thánh giá, lúc ôm xác con khi hạ xác xuống, lúc an táng và mấy
ngày sau đó.
Cuộc đời của Mẹ đầy tủi nhục đau thương, tất
cả chỉ vì vâng theo thánh ý Thiên Chúa. Chính vì thế, Mẹ rất
đáng được thưởng, vì công càng lớn bao nhiêu, càng đáng được
thưởng bấy nhiêu. Nhất là khi Thiên Chúa của chúng ta là một
Thiên Chúa rất công bằng.
3. Đức Maria rất
xứng đáng được hưởng ơn hồn xác lên trời
Lẽ thường của đạo làm người là: «Công đức
sinh thành, làm con phải hiếu», «Trai thời trung hiếu
làm đầu». Phật cũng dạy: «Hiếu là hạnh đứng đầu muôn
hạnh». Nhất là chính Thiên Chúa cũng ra điều răn cho con
người: «Thứ bốn, thảo kính cha mẹ». Do đó, Đức Giêsu –
vốn là gương mẫu của nhân loại – tất phải là người hoàn hảo
nhất trong đức hiếu thảo với cha mẹ.
Vậy Ngài phải làm gì cho thật xứng đáng là
con hiếu thảo đối với một người mẹ hết sức thánh thiện đã chịu
cực khổ vì mình dường ấy? Nhất là xét về mặt thể chất, trong
trường hợp đặc biệt của Đức Giêsu, thịt máu của mình cũng hoàn
toàn là do thịt máu của mẹ mình làm ra?
Nếu Đức Giêsu đã hoàn toàn hồn xác ở trên
trời, lẽ nào Ngài lại để cho xác thịt Mẹ mình bị hư nát? Nhất
là khi Mẹ không bị tội lỗi thống trị, kể cả từ khi còn được
cưu mang trong lòng mẹ? Nếu sự chết và sự hư nát của thân xác
chỉ là do tội lỗi, thì làm sao Mẹ Maria lại phải chịu cảnh
thân xác hư nát khi chính Mẹ không hề nhiễm tội lỗi? Nếu Mẹ là
trường hợp duy nhất ở trần gian hoàn toàn thoát khỏi tội lỗi,
thì Mẹ cũng xứng đáng được ân thưởng một cách duy nhất trên
thiên đàng, là được vào đó cả hồn lẫn xác như Đức Giêsu, con
mình.
4. Bài học khiêm
nhường của Đức Maria
Bài Tin Mừng hôm nay cũng cho thấy một phong
cách của Đức Maria: rất khiêm nhượng. Mẹ luôn luôn nhìn nhận
mình chỉ là một tôi tớ hèn mọn của Thiên Chúa, một nữ tỳ của
Ngài. Đức Giêsu đã tự hủy mình ra không, còn Đức Maria coi
mình không là gì cả trước mặt Thiên Chúa, nhưng coi Thiên Chúa
là tất cả. Nếu Đức Giêsu vì tự hủy đến độ chết trên thập giá
nên Thiên Chúa đã tôn vinh Ngài đến tột cùng, thì một cách
tương tự, vì Mẹ Maria đã khiêm nhường đến tột cùng nên Thiên
Chúa cũng làm cho Mẹ được tôn vinh đến cùng tột. Đó là cách
hành động của Thiên Chúa:
«Từ đời nọ tới
đời kia, Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người. Chúa giơ
tay biểu dương sức mạnh, dẹp tan phường lòng trí kiêu căng.
Chúa hạ bệ những ai quyền thế. Người nâng cao mọi kẻ khiêm
nhường. Kẻ đói nghèo, Chúa ban của đầy dư, người giàu có, lại
đuổi về tay trắng».
Như vậy, khiêm nhường, tự hủy để kính sợ
Thiên Chúa và yêu thương tha nhân, đó chính là cách để chúng
ta trở nên đẹp lòng Thiên Chúa và đạt được vinh quang và hạnh
phúc bất diệt. Đó cũng chính là cách Đức Maria đã dùng và nhờ
đó đã được Thiên Chúa tôn vinh cho cả hồn xác lên trời.
Về mục lục >

THƠ
Mẹ
Về Trời
Lệ
Hằng
Hôm nay Lễ Mẹ về Trời
Chúng con kính
nhớ hợp lời cầu kinh.
Cúi xin Mẹ
đoái thương tình
Chúng con khấn
Mẹ van xin hết lời.
Năm xưa Mẹ
sống trong đời
“Xin Vâng” hai
tiếng cao vời bên Con.
Trên đồi tử
nạn u buồn
Trong hồn quằn
quại đau thương ngần nào!
Xác thân mệt
mỏi làm sao
Mẹ không xé
nổi cơn đau thành lời.
Âm thầm lặng
lẽ mà thôi
Xót xa thế mấy
vẫn thời bình an.
Dù cho bão tố
tâm can
Mẹ lòng có
Chúa bình an vô cùng.
Tuy nhiên Mẹ
vẫn uy hùng
Như vầng trăng
sáng chập chùng trên cao.
Giơ tay đón
nhận con vào
“Này là con
Mẹ,” ngọt ngào Chúa trao.
Trái tim Mẹ
sáng như sao
Dưới chân thập
giá hôm nao diệu kỳ.
Yê-su từ giã
ra đi
“Đây là con
Mẹ, đây là Mẹ con”.
Yê-su chính
thật Anh con
Mọi người quấn
quít trong hồn xôn xao.
Trong vòng tay
Mẹ ôm vào
Bao la bát
ngát dạt dào mến yêu.
Niềm tin lòng
mến sớm chiều
Của người tín
hữu yêu nhiều Mẹ ta.
Như dòng suối
mát tuôn ra
Hết lòng trông
cậy thiết tha Mẹ mình.
Mẹ luôn che
chở hết tình
Mẹ lòng thắm
thiết đẹp xinh ngàn đời.
Sau cùng Mẹ
được về Trời
Mừng vui vĩnh
phúc tuyệt vời bên Con.
Về mục lục >

TÂM TÌNH BẠN ĐỌC
LTS:
Chân thành cám ơn Anh Chị Hùng Mai (Australia), chị Madalena
Phạm Thị Thúy, Sơ Kim Liên (TX), Lm. GB Tam Khanh, Mai Bac
Hung, Nguyen Van Thi đã giới thiệu tuần báo
Maranatha đến với các
thân hữu.
Maranatha
cũng đã nhận thư của quý độc giả: VanPQuyen, Bửu Sao,
Nguyen Xuan Cao, NlitPaul, Pham Hoang, Vu Phat, Le Anna Suong,
Nguyen Ngoc Trac, Tran Dung. Vì khổ báo có giới hạn nên các
vấn đề quý vị nêu trong thư về font chữ, sự xuất hiện của
website hoặc các câu hỏi liên quan đến Kinh Thánh trong bài
Giờ Phép Lạ do tác giả Hoàng Quý chuyển ngữ sẽ được giải đáp
thư riêng đến quý vị. Mong quý độc giả thông cảm.
Để hồi âm chung cho một số độc giả hỏi về
font chữ, Maranatha
hiện đang sử dụng font Times New
Roman (Unicode) để viết
và nhận bài. Nếu quý vị sử dụng Windows trước 98SE, xin
install font Unicode này vào máy. Viết bài cho
Maranatha xin quý vị cũng
sử dụng font này.
Đối với những độc giả nhận báo lần đầu tiên
hoặc độc giả nào còn thiếu một vài số báo cũ, xin quý vị vui
lòng vào hai trang websites
http://maranatha-vn.net hoặc
http://tiengnoigiaodan.net để download những số báo
mình cần. Hiện nay, các số báo từ 1 đến 14 đã được lưu
trên hai websites trên. Nếu vì lý do trục trặc kỹ
thuật, xin liên lạc về địa chỉ:
maranatha@saintly.com.
Xin kính gửi đến một vài tâm tình của độc
giả đã gửi về trong tuần qua để hiệp thông và cầu nguyện cho
nhau. Chân thành cám ơn sự đón nhận và những khích lệ của Quý
độc giả đã dành cho Maranatha.
Nguyện xin Chúa chúc lành cho Quý Vị.
Trân trọng,
MARANATHA

THƯ BẠN ĐỌC
v
Xin cảm ơn Vị trách nhiệm phát hành MARANATHA
ngàn lần! Tôi là độc giả rất trung thành và rất quí mến
MARANATHA. Nói quí mến Maranatha tức là quí mến mọi người đang
vất vả để lo cho nó được sống và sống mạnh. Con thuyền ra khơi
thì không thể không gặp gió! Nhưng nếu có CHÚA nằm trong
thuyền thì lo gì??? Xin Chúa ban nhiều ơn lành cho những ai
đang lo cho Giáo Hội Chúa. Chúc MARANATHA sống muôn năm cho
nhiều ngưòi được nhờ. J.TRAC.
v
Làm ơn xin gửi
Maranatha cho tôi đọc với. ...Chân thành cảm tạ Tòa Soạn rất
nhiều! Kính mến, Huyen Nguyen
v
Kính Tuần Báo MARANATHA.
1-Trước tiên
tôi xin chân thành cám ơn Tuần Báo Maranatha đã gởi báo đều
đặng đến tôi hằng tuần.
2-Xin quí Báo cho
phép tôi trích Bài CẦU NGUYỆN được chuyển ngữ bởi Quang Thạch
và Hoàng Quí để tự in thành một quyển sách nhỏ (khi bài này
kết thúc trên báo Maranatha) để phổ biến (biếu) cho nhiểu
người trong Cộng đoàn và trong Phong trào Cursillo, LM Thánh
Tâm và nhiều người khác nữa.vì tôi nhận thấy Bài này sẽ thiết
thực giúp ích cho mọi người trong sự cầu nguyện. Xin thành
kính cám ơn quí Báo và xin Thiên Chúa luôn phù trợ quí Báo
ngày càng vững bước đem Tin Mừng Chúa đến cho mọi
người. Litpaul.
v
Tôi đã nhận được báo Maranatha ngay từ số đầu và
tôi cũng đã ghi danh cho rất nhiều bạn bè. Riêng việc in Bài
cầu nguyện thì tôi chỉ dùng Computer ở nhà để thực hiện rất
đơn sơ mà thôi, chứ không có in ấn như ở nhà in. Quan niệm của
tôi là làm sao cho bài này đến với nhiều người mà họ không có
phương tiện đón nhận báo trực tiếp như tôi. Nguyen.
v
Tôi là Lm.Đinh Ngọc Lễ, Chánh xứ Hà Nội, kiên
Hạt Trưởng Xóm Mới Sài gòn xin nhận MARANATHA. Chân
thành cám ơn. Thân mến, ĐINH NGỌC LỄ.
v
Tôi thấy những người đã có sáng kiến biên soạn
và phát hành điện báo Maranatha là rất thành tâm thiện chí.
Thiện chí đó đã làm cho tôi liên tưởng đến thánh nữ Catarina
thành Siena và viết bài này để tặng toà soạn, vì mối liên hệ
xa gần giữa đôi bên, và cầu mong cho Nhóm Chủ biên luôn hăng
say phục vụ lợi ích của Hội Thánh và các linh hồn như thánh nữ
Catarina. Nguyện xin Chúa đến, Maranatha. L.M. An-re Do xuan
Que.
v
Qua sự giới thiệu của người chị em, chúng tôi
cũng mong muốn được đón nhận hồng ân như mọi người đó là
được quí anh chị gửi báo đến. Là một nữ tu sống thánh hiến
giữa dòng đời, lại sống ở giáo xứ Bùi Thái, chúng tôi xa những
phương tiện thuận lợi của thành phố. Vì vậy, những gì chúng
tôi cần, chúng tôi đều phải phấn đấu ghê lắm mới đạt được. Nay
nhờ có tuần báo mà chúng tôi bớt nhà quê đi, trí tuệ cũng phần
nào mở ra . Thật đúng là TÌNH CHO KHÔNG BIẾU KHÔNG. Xin Chúa
chúc lành cho quí anh chị thật nhiều. Được biết chị em của
chúng tôi đang sống tại Mỹ đã thoát được cảnh nghèo vì nhờ có
tuần báo Maranatha. Xin tri ân quí anh chị thật nhiều. Hoa
Tran.
v
Tôi là một độc
giả tại Texas muốn được học hỏi thêm để sống Đạo tốt, nên mong
nhận được Maranatha thường xuyên để tìm hiểu. Chân thành cám
ơn quí Báo. Dinh Thanh Nguyen.
v
Ngợi khen
Chúa. Tôi đã nhận được thư hồi âm. Xin hết lòng cám ơn. Tôi đã
đọc các bài trong MARANATHA và thấy rất phong phú. Xin cứ tiếp
tục duy trì tờ báo để phục vụ các linh mục và giáo dân trong
những vấn đề về đạo để có thể cập nhập những cái mới nhất. Hy
vọng tờ báo sẽ là nhịp cầu thông cảm giữa linh mục và giáo dân
để có thể cộng tác tốt hơn. Nhưng xin góp ý là không nên đăng
những bài có tính cách tranh luận và bút chiến trong tờ báo
kẻo những người thiếu hiểu biết nhất là giáo dân chưa trưởng
thành có thể vì đó mà gây chia rẽ giữa giáo dân và linh mục.
Về việc góp bài thì tôi mới về đây chưa ổn định, nên chưa đóng
góp ngay được. Hy vọng tương lai sẽ gửi bài cho báo. Xin kính
chào trong Chúa Kitô. In Xto. Lm Xuan Thinh.
Về mục lục >
Trong khi thu hẹp kinh nghiệm về thần bí vào trong những
cuộc xuất thần, rốt cuộc người ta giơ đầu hứng lấy sự chỉ
trích của chủ thuyết duy lý vốn không còn nhìn thấy một kinh
nghiệm như thế chỉ là một trực giác hoàn toàn phi lý : “Bạn
hiểu thế nào về “thần bí” ?” - điều đó giả thiết và đòi hỏi
phải bỏ quên lý trí (André Gide, trích “le Petit Robert”).
Giới hạn như thế để chỉ ra một cách rõ ràng rằng người ta sẽ
chẳng gặp thấy ở đây một khảo luận tổng hợp về vấn đề
thần bí.
Tiêu đề đầy đủ là : “Tiếng gọi phổ quát đến với sự thánh
thiện trong Hội Thánh”. Tuy nhiên người ta lại thường nói về
“tiếng gọi đến với sự thánh thiện”, trong khi quên mất rằng
Hội Thánh không chỉ là nơi sự thánh thiện được thực
hiện, mà trước hêt chính Hội Thánh là thánh thiện, và
từ sự thánh thiện của Hội Thánh mà đến lượt chúng ta dự phần
vào.
Về vấn đề ba chức năng thiên sai của người giáo dân, có thể
đọc lại các chương tuyệt diệu từ 34 đến 36 của Hiến chế
Lumen gentium.
Các bậc thầy về đời sống thiêng liêng đã tìm cách để nêu rõ
đặc tính của những định luật tâm lý về sự tăng trưởng thiêng
liêng. Trong bối cảnh đó, từ ngữ “thần bí”, một cách
tổng quát, mang một ý nghĩa chuyên môn thích hợp cho việc
đưa nó ra sử dụng một cách xác đáng.