THIÊN CHÚA CŨNG ĐAU KHỔ

 (tiếp theo Maranatha_14)

Huyền Vi

Lời nói thứ tư của Đức Giêsu trên thập giá: cảm tưởng bị Thiên Chúa bỏ rơi

Lời thứ tư là «Êli, Êli, lama xabatani, nghĩa là: Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?» (Mt 27,46), nói lên sự cô đơn cùng cực mà Ngài cảm thấy từ cơn hấp hối ở vườn Giệtsê tới lúc này, và nhất là lúc này. Vì Ngài gánh lấy toàn bộ tội lỗi của trần gian, nên Thiên Chúa Công Bình đã trút toàn bộ cơn thịnh nộ của mình lên đầu Ngài. Ngài đã bị trừng phạt thay cho toàn nhân loại để nhân loại được ơn tha thứ và làm hòa được với vị Thiên Chúa luôn luôn đòi hỏi sự công bằng. Thiên Chúa đã bỏ rơi Ngài cho nư cơn giận hầu có thể ôm lấy nhân loại vào lòng, một nhân loại tuy hư hỏng nhưng đã được Thiên Chúa thông cảm nhờ Đức Giêsu đã chia sẻ thân phận yếu hèn của con người, đã tự mình kinh nghiệm thân phận ấy. Khi mặc lấy và sống trong thân phận con người, Ngài đã thấy rằng con người thật đáng thương hơn đáng trách, cho dù tội lỗi con người có to tát đến đâu. Ơn cứu độ bắt nguồn từ sự thông cảm này.

Chính Thiên Chúa đã đau khổ vì nhân loại. Những đau khổ ấy đã thể hiện cụ thể trong lịch sử nhân loại qua những đau khổ tột cùng và đa dạng của Đức Giêsu. Chính đau khổ đã làm cho Thiên Chúa trở nên gắn bó và gần gũi con người hơn, và làm con người trở nên thân thiết với Thiên Chúa hơn. Chính nhờ Đức Kitô bị bỏ rơi mà con người trở nên con cái yêu dấu của Thiên Chúa. Ngài bị bỏ rơi để chúng ta khỏi bị bỏ rơi.

Lời nói thứ năm: «Tôi khát»

Lời thứ năm của Đức Giêsu trên thập giá là: «Tôi khát» (Ga 19,28). Nghe lời ấy, «người ta lấy miếng bọt biển có thấm đầy giấm, buộc vào một nhành hương thảo, rồi đưa lên miệng Người» (Ga 19,29). Giấm ở đây một loại đồ uống rẻ tiền, có chất men, mà các binh sĩ Rôma uống để giải khát trong thời gian thi hành lệnh hành quyết tội nhân. Chắc chắn lúc ấy Ngài hết sức khát nước vì máu và mồ hôi ra nhiều mà không được uống nước để bù lại số nước bị mất trong người. Khi cơn khát lên đến cùng cực, với bản tính yếu đuối của con người, Ngài đã phải thốt lên câu «Tôi khát!» Nhưng khi người ta đưa đồ uống đến cho Ngài, theo Tin Mừng Gioan thì Ngài chỉ «nhắp» chứ không uống. Phản ứng của những người bình thường trong trường hợp khát đến mức như thế là uống được nhiều ngần nào có thể cho đã cơn khát. Đức Giêsu không phản ứng như thế. Ngài tỏ ra hoàn toàn tự chủ trước cơn khát cháy cổ đang dày vò Ngài. Rất có thể Ngài muốn tiếp tục chịu đựng cơn khát và không muốn giảm bớt đau khổ bằng việc uống cho đã khát. «Chén đắng» mà Thiên Chúa Cha trao cho Ngài, Ngài muốn uống cạn đến giọt cuối cùng. Ngài không muốn giảm bớt bất cứ một đau khổ nào mà Thiên Chúa muốn Ngài chịu để biểu lộ tình yêu vô cùng của Thiên Chúa đối với nhân loại.

Câu nói «Tôi khát» còn có một ý nghĩa khác. Phản ứng của Ngài – chỉ «nhắp» một chút xíu – cho thấy Ngài nói «tôi khát» không phải để được người ta cho uống hầu làm giảm cơn khát thể lý. «Khát» ở đây mang ý nghĩa tâm lý nhiều hơn. Ngài khát gì vậy? Ta thấy, vì yêu thương nhân loại, đặc biệt Dân của Ngài, mà Ngài xuống trần gian tại đất nước Do Thái. Nhưng từ ngày Ngài sinh ra đến giây phút cuối cùng này, tình yêu vô bờ bến của Ngài chỉ được đáp trả bằng hờ hững, hận thù. Lúc nào Ngài cũng bị con người – mà Ngài yêu thương đến tận cùng – hất hủi, tẩy chay… Một người yêu thương như thế mà không được đáp lại thì khao khát gì? Có ai yêu thương mà không muốn được người mình yêu yêu lại mình. Đó chính là tâm sự đau thương của Ngài mà Ngài có nhu cầu bộc lộ ra vào lúc sắp từ giã cõi đời. Vì Ngài yêu thương con người vô hạn, nên Ngài cũng khao khát tình yêu của con người đối với Ngài vô hạn. Nhưng con người đã không thõa mãn cho Ngài nỗi khao khát đó. Yêu mà không được yêu lại thì còn gì khổ bằng? Đó cũng chính là nỗi khổ đau của Thiên Chúa, khổ đau vì nỗi khao khát không được thõa mãn.

Lời nói thứ sáu: phó thác linh hồn trong tay Thiên Chúa

Lời thứ sáu là: «Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha» (Lc 23,46). Đức Giêsu chính là Ngôi Lời. Theo Thánh Gioan thì «từ nguyên thủy đã có Ngôi Lời, và Ngôi Lời ở cùng Thiên Chúa» (Ga 1,1). Và Ngôi Lời đã xuống trần gian nhập thể trong lịch sử con người để cứu độ họ, bằng cách chia sẻ thân phận yếu đuối và đau khổ của họ. Ngài đã đau khổ tột cùng, và đã hoàn tất sứ mạng cứu độ con người bằng cuộc khổ nạn Thập Giá. Bây giờ Ngài lại trở về cùng Thiên Chúa. Sứ mạng cực kỳ gian khổ của Ngài đã hoàn tất, Ngài không còn đau khổ nữa. «Con phó thác linh hồn con trong tay Cha» là một thở phào nhẹ nhõm của một người đã làm xong nhiệm vụ và tới lúc trở về với người đã sai mình với tâm hồn hân hoan.

Thái độ phó thác trong tay Thiên Chúa là một thái độ thường hằng của Đức Giêsu. Không một lúc nào trong cuộc đời của Ngài mà Ngài không phó thác bản thân cũng như tất cả mọi sự của mình và của cả nhân loại cho Thiên Chúa. Ngài chỉ biết làm theo thánh ý Thiên Chúa Cha, và phó mặc tất cả những gì còn lại trong tay Cha. Ngài không lo gì cho bản thân Ngài, mà chỉ biết lo cho Chúa Cha và nhân loại. Bản thân Ngài, hạnh phúc và đau khổ hay thành công và thất bại của Ngài, Ngài đều hoàn toàn để Cha Ngài định đoạt. Cả cuộc đời, Ngài đã sống trọn vẹn câu: «Hãy lo tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Ngài trước đã, còn mọi sự khác Ngài sẽ ban cho sau» (Mt 6,33).

Câu «Con phó thác linh hồn con trong tay Cha» trên thập giá là câu nói tóm gọn lại thái độ phó thác mà Ngài đã thực hiện suốt cuộc đời Ngài.

Lời nói thứ bảy: «mọi sự đã hoàn tất»

Lời thứ bẩy, lời cuối cùng Đức Giêsu nói trên Thập Giá là: «Mọi sự đã hoàn tất» (Ga 19,30). Nói xong Ngài trút hơi thở cuối cùng. Trước khi lìa cõi đời, Đức Kitô cảm thấy Ngài đã làm xong tất cả những gì mình phải làm, tức công việc cứu độ nhân loại. Có thể nói đây là một câu nói thỏa mãn của một người vừa qua một tai nạn lớn, hay của một người vừa hoàn thành một nhiệm vụ hết sức khó khăn. Đức Kitô đã uống cạn «chén đắng» mà Chúa Cha trao cho một cách dũng cảm, hoàn hảo, không một chỗ nào đáng chê trách. Mọi công việc, mọi gian nan rồi cũng phải qua, không thể kéo dài mãi, nhưng nếu được hoàn thành một cách tốt đẹp do những cố gắng hết sức của mình, thì ta sẽ cảm thấy thỏa mãn, hài lòng. Mọi sự đều qua đi, nhưng kết quả của chúng thì tồn tại lâu dài.

Phần thưởng lớn nhất của Đức Kitô khi còn tại thế chính là lúc Ngài thốt ra được câu này. Có thể nói rằng Ngài đã chết trong tâm trạng rất thỏa mãn, hoàn toàn hạnh phúc, không có gì phải hối tiếc cả. Không có cái chết nào đẹp bằng cái chết của Ngài. Ngài đã sống rất đẹp và chết cũng rất đẹp. Cả đời Ngài là một tuyệt tác của Chúa Cha. Có thế mới bù lại được cái «sản phẩm bị hư hỏng» của Ngài là con người. Nhờ đó, kể từ nay, quan hệ giữa Thiên Chúa và nhân loại đã trở thành tốt đẹp: Đức Kitô đã bắc một nhịp cầu vững chắc nối con người lại với Thiên Chúa. Do đó, Ngài là «Đấng Trung Gian duy nhất giữa Thiên Chúa và con người» (1Tm 2,5).

Bây giờ, Ngài đã hoàn tất những đau khổ cần thiết để biểu lộ tình thương của Thiên Chúa đối với con người. Những đau khổ này do chính con người gây ra cho Ngài, cho dù mục đích của Ngài là đem hạnh phúc đến cho họ. Nhưng Ngài đã đến không như cách họ mong chờ Ngài. Người ta mong Ngài đến để giải phóng họ khỏi những đau khổ do ngoại bang áp bức, để đem lại ấm no hạnh phúc cho họ, thì Ngài lại đem tình yêu thương tới. Họ mong Ngài là một nhà chính trị hay quân sự thì Ngài lại là một vị đạo sư. Họ mong Ngài tới để xóa bỏ đau khổ, thì Ngài lại đến để cùng chịu đau khổ với họ và biến đau khổ thành phương tiện để mưu hạnh phúc… Tư tưởng của Thiên Chúa quả khác hẳn với tư tưởng con người, cái khôn của Thiên Chúa khác hẳn với cái khôn con người. Chính vì thế, con người không thể hiểu được cách hành động của Thiên Chúa, nên mới sinh ra chuyện con người giết Thiên Chúa, và Thiên Chúa chịu đau khổ vì con người. Đối với Thiên Chúa, con người là một tác phẩm, nhưng là tác phẩm gây đau khổ cho chính Ngài. (Còn tiếp1 kỳ)

 

Trở về Muc Lục