Số 16, Ngày 21-8-2004

 

MỤC LỤC


Thư Tòa Soạn

Chúa Giêsu Kitô, Con Người Thương Xót A. Decourtray - Nguyễn Đ. Trúc

Thiên Chúa Cũng Đau Khổ - Huyền Vi

Cầu Cho Người Khác – Xin Ơn – Tạ Ơn - Quang Thạch + Hoàng Quý

Thánh Nữ Catarina- Lm. Anrê Đỗ Xuân Quế, OP

Nắm Vững và Giữ Trọn Điều Cốt Yếu của Kitô Giáo - Nguyễn Chính Kết

Trên Đường Ngài Dẫn Tôi Đi  - Khổng Lãng Nhân

Khoảng Cách Giữa Hai Thế Hệ - Trần Duy Nhiên

Tâm Tình Bạn Đọc - Thư Bạn Đọc

 

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

Kính thưa Quý Vị độc giả.

Trong tuần vừa qua, sau khi hồi âm cho một độc giả, Maranatha nhận được một lá thư thật dài, khởi sự như sau: Rất cảm động khi nhận thư trả lời này. Cảm động vì nghĩ rằng những việc lặt vặt này chắc sẽ không được trả lời, không phải vì Maranatha không để ý đến người đọc, nhưng vì nhiều công việc quan trọng khác, đòi thời giờ để thực hiện. Tuy nhiên tôi đã được trả lời. Xin thành thực cám ơn…”

Những lời này cũng là lời mà Maranatha muốn mượn để gửi đến các độc giả đã từng viết thư về cho Maranatha, dù là gửi những bài viết tâm huyết, hay chỉ là những dòng chữ khích lệ ngắn ngủi. Maranatha trân trọng và cảm động khi nhận được những dòng thư của từng độc giả gửi cho, vì qua đó, Quý Vị bày tỏ sự ưu ái đón nhận công việc nhỏ bé của một nhóm giáo dân mà mình không biết là ai, nhưng đồng cảm với mình trong tinh thần vâng phục và tin yêu Thiên Chúa.

Quả thật, ngoài những bậc tu trì đã dâng hiến trọn đời mình để phục vụ Thiên Chúa và phần rỗi các linh hồn, còn không biết bao nhiêu là giáo dân trong mọi môi trường trên thế giới đang làm chứng cho niềm tin của mình, và nếu Giáo Hội còn phản ảnh gương mặt Chúa Kitô trên trần thế trong thời đại này, ấy là nhờ hằng hà sa số những người con của Giáo Hội âm thầm mục nát đi để cho hạt lúa Kitô đơm hoa kết trái.

Maranatha chỉ mong làm một nhịp cầu nối kết những người vô danh ấy, vô danh trước mặt nhân loại, nhưng hữu danh trong lòng của Cha trên trời. Và những người con vô danh ấy đang có mặt ở khắp nơi.

Xin nêu lên một vài điển hình. Trong tháng tám này, tại Việt Nam, có hai dòng mừng kỷ niệm trọng thể. Dòng thứ nhất là một dòng quốc tế: ngày 10 tháng 08, tỉnh dòng Đức Bà Truyền Giáo mừng 80 năm có mặt tại Việt Nam; dòng thứ hai là một dòng địa phương: ngày 21 tháng 8, dòng Con Đức Mẹ Đi Viếng thuộc giáo phận Huế mừng 80 năm thành lập. 80 năm qua, và nhất là 30 năm gần đây, các nữ tu của hai nhà dòng ấy đã âm thầm đối diện với bao nỗi truân chuyên để giữ nét tinh tuyền cho lời chứng của những người con Đức Mẹ. Có lẽ các chị không làm gì để tăm tiếng rền vang cả, nhưng điều các chị đã làm, ấy là âm thầm đem cuộc đời mình biến thành một lời rao giảng sống  động.

Xin chúc mừng các chị em dòng Đức Mẹ Truyền Giáo và dòng Con Đức Mẹ Đi Viếng.

Lễ kỷ niệm này khiến Maranatha nghĩ đến con đường cam go mà các chị đã đi qua trong vòng 80 năm, từ đó nhớ đến bao nhiêu tu sĩ các dòng khác, và cũng không thể quên được số giáo dân đông đảo trong bao nhiêu năm qua và hiện nay vẫn đang còn vất vả trên cánh đồng Tình Yêu.

Trong công trường của Thiên Chúa, ban biên tập Maranatha cũng nỗ lực đóng góp phần nhỏ bé và giới hạn của mình mà bước cùng nhịp với hàng ngũ biết bao người vô danh ấy, để chúng ta cảm tạ Cha Chí Ái và cám ơn nhau.

Maranatha xác tín rằng chính những chứng tích âm thầm của những người ấy là điều không thể thiếu được trong Giáo Hội ở mọi thời, và đó cũng là cách biểu lộ lòng chân thành của mọi Kitô hữu khi cùng nhau khấn nguyện: MARANATHA, lạy Chúa xin ngự đến!

 

MARANATHA

 

 

HỌC ĐẠO

CHÚA GIÊSU KITÔ, CON NGƯỜI THƯƠNG XÓT

 (Bài giảng của Cố Hồng Y Albert Decourtray,
Tổng Giám Mục Lyon,

thành viên Hàn Lâm Viện Pháp Quốc
- Gs. Nguyễn Đăng Trúc chuyển ngữ).

Không hề có ai tôn trọng người khác như Con Người ấy.

Đối với Người đó, kẻ khác luôn vượt lên trên và cao quí hơn điều mà các tiền kiến muốn gán cho họ, dẫu đó là định nghĩa của các kẻ làm văn hóa hay bậc thông hiểu Lề luật. Người ấy luôn thấy nơi ông hay bà mà Người gặp một chốn hy vọng, một lời hứa sống động, một kẻ có thể phi thường, một người được Chúa gọi để thực hiện một ngày mai tươi sáng, vượt lên trên và bất chấp những giới hạn, tội lỗi và đôi khi là những tội ác của họ.

Có lúc, Người còn nhìn vào thực trạng ấy để mặc khải một sự lạ lùng bí ẩn, để suy niệm và tạ ơn!

Người ấy không nói: Bà ấy lung tung, nhẹ dạ, ngu ngốc, bà ấy xếp nếp theo thói đạo hạnh và tôn giáo địa phương hạn hẹp, ấy cũng chỉ là một thứ đàn bà! Nhưng Ngài đến xin bà một ly nước và khởi đầu bắt chuyện với bà.

Người ấy không nói: Đây là một loại gái hư, một thứ đàn bà bán thân mất nết. Ngài nói: Người nữ ấy có nhiều may mắn để hưởng Nước Chúa hơn những kẻ sống bám tiền của hoặc huyênh hoang về nhân đức và hiểu biết của mình.

Người ấy không nói: Người đàn bà nầy chỉ là gái ngoại tình. Người nói: Ta không lên án con. Hãy đi đi và đừng phạm tội nữa.

Người ấy không nói: Người đàn bà tìm cách đụng đến áo mình chỉ là một thứ kinh loạn. Người lắng nghe bà, nói với bà và chữa lành bệnh cho bà.

Người ấy không nói: Bà già ấy bỏ tiền xu cắc vào hòm cúng để giúp sinh hoạt đền thờ là một người đàn bà mê tín. Nhưng Người nói bà ấy thật phi thường và ta cần noi theo gương vô-vị lợi của bà.

Người ấy không nói: Bọn trẻ nầy chỉ là những đứa nhãi con. Người nói: Các con hãy để chúng đến với Ta và cố sống giống như chúng.

Người ấy không nói: Người đàn ông nầy chỉ là một thứ công chức hư hỏng, nịnh bợ quyền thế và bóc lột kẻ nghèo để vinh thân phì gia. Người tự đến ngồi vào bàn với người đó và quả quyết rằng nhà ông ta đã nhận ơn cứu độ.

Người ấy không nói như những kẻ quanh mình: kẻ mù kia hẳn phải đền tội của mình hay mọi tội của tổ tiên mình. Người nói rằng người ta hoàn toàn lầm lạc về quan điểm đó, và làm cho mọi người, các Tông đồ, các ký lục và Pharisiêu ngạc nhiên, khi Người chỉ rõ rằng người ấy đang hưởng ơn cao quí của Thiên Chúa: Hành động của Chúa phải được thể hiện ra trong ông ta.

Người ấy không nói: Người sĩ quan nầy chỉ là một kẻ xâm lược. Người nói: Ta chưa hề thấy một đức tin nào như thế trong Israel.

Người ấy không nói: Người thức giả nầy chỉ là một loại trí thức. Người mở đường cho ông ta được tái sinh trong Thánh Thần.

Người ấy không nói: Kẻ nầy chỉ là thứ đạo tặc. Người ấy nói với ông ta: Hôm nay, Ta sẽ ở với con trên Thiên đàng.

Người ấy không nói: Tên Giuđa nầy luôn mãi chỉ là một tên phản bội. Người để cho ông ấy hôn mình và nói với ông: Hỡi bạn của ta.

Người ấy không nói: Tên khoác lác nầy chỉ là một kẻ bội nghĩa. Người ấy nói với ông: Phêrô, con thương Ta không?

Người ấy không nói: Những thầy cả thượng phẩm nầy chỉ là những kẻ phán xét bất công, vua nầy chỉ là phường múa rối, tên toàn quyền đó chỉ là đứa khiếp nhược, đoàn lũ người đang bêu rêu mình chỉ là một lũ đê tiện, các người lính đang hành hạ mình chỉ là quân bạo hành tra tấn. Người nói: Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm…

Người Giêsu đã không bao giờ nói: Không có gì tốt nơi người nầy, nơi người nọ, nơi chốn nầy, nơi môi trường kia…

Trong thời đại chúng ta, hẳn Người sẽ không bao giờ nói: Ấy chỉ là một kẻ cuồng tín, chỉ là một thứ chạy theo mốt tân thời, chỉ là một tên tà phái, phát-xít, vô thần, dị đoan…

Với Người ấy, những người khác, dẫu họ là ai, họ đã làm gì, thuộc thành phần nào, thành tích, danh tiếng họ thế nào, thì luôn luôn họ là những con người được Thiên Chúa yêu thương.

Không hề có người nào trả lời cho những người khác như Con Người ấy. Người ấy là Duy Nhất.

Người ấy là Con duy nhất của Đấng làm cho mặt trời chiếu sáng trên kẻ lành cũng như trên kẻ ác.

Lạy Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa. Xin thương xót chúng tôi, là những kẻ tội lỗi!

 (Tập san Định Hướng, số Mùa Đông 2004)

Về mục lục >

THIÊN CHÚA CŨNG ĐAU KHỔ

 (tiếp theo Maranatha_15)

Huyền Vi

Kết luận

Như thế có phải Thiên Chúa không biết gì đến những đau khổ của con người chăng? Có phải Ngài chỉ biết sung sướng một mình trên Thiên Đàng một cách ích kỷ, bỏ mặc con người đang đau khổ quằn quại trong cái địa ngục trần gian này không? Không, hoàn toàn không! Thiên Chúa cũng đau khổ, cũng biết khóc như con người và chỉ vì tình yêu đối với con người mới làm cho Ngài đau khổ như thế. Ngài không những đau khổ vì bị giằng co giữa hai khuynh hướng mâu thuẫn trong bản chất của Ngài là công bằng và yêu thương đối với con người, mà Ngài còn hiện thân thành một con người thật sự để được đau khổ tận cùng hầu chia sẻ và thông cảm với mọi đau khổ của con người. Ngài chưa thể xóa bỏ mọi đau khổ cho con người vì luật công bằng của Ngài đòi hỏi phải như thế. Con người đã phạm tội thì phải chịu hậu quả tất yếu của tội là đau khổ. Thiên Chúa chỉ có thể cứu con người bằng cách cùng đau khổ với họ, cùng chia sẻ thân phận đau khổ của kiếp người với họ. Nhờ đó, Ngài giúp họ biến những đau khổ của họ thành những giá trị mang tính vĩnh cửu, để họ góp phần vào việc xây dựng hạnh phúc vĩnh cửu của chính họ. Đó là điều an ủi rất lớn cho con người đang phải rên siết trong đau khổ ở trần gian, vì họ không đau khổ một mình, mà chính Thiên Chúa vô cùng cao cả và quyền năng cũng cùng đau khổ với họ và vì họ. Chính Đức Giêsu con yêu dấu của Thiên Chúa, hoàn toàn vô tội, cũng đến để chia sẻ đau khổ với họ.

Thật là một nhiệm mầu lạ lùng khôn tả! Thiên Chúa đã dùng đau khổ của chính mình để xoa dịu những đau khổ của con người. Ngài đã dùng thương tích của chính Ngài để chữa lành những vết thương của con người (lPr 2, 24b). Đó chính là sự cứu rỗi.

Đức Giêsu và Thập Giá đi đôi với nhau

Sự cứu rỗi của con người được cấu thành bởi hai yếu tố, Đức Giêsu và Thập Giá. Không có Đức Giêsu, Thập Giá trở thành cái gì khủng khiếp và vô ích. Có Đức Giêsu mà không có Thập Giá, Thiên Chúa chưa biểu hiện được tình yêu vô biên và sự thông cảm sâu xa của Ngài đối với nhân loại. Đức Giêsu không chỉ đến với con người để hiện điện bên cạnh họ mà thôi, nhưng cuộc đời Ngài đã gắn liền với Thập Giá. Đức Giêsu và Thập Giá đi đôi với nhau mới đem lại ơn cứu độ cho chúng ta.

Phần chúng ta, lúc nào chúng ta cũng có sẵn những thập giá trong cuộc đời, những thập giá đó sẽ trở thành vô ích nếu chúng ta không biết gắn Đức Giêsu lên trên đó để biến chúng thành những «thánh giá». Gắn Đức Giêsu vào những thập giá của chúng ta chính là hiệp thông những đau khổ của chúng ta với những đau khổ của Đức Giêsu, nghĩa là vui lòng chấp nhận đau khổ để cùng chia sẻ đau khổ với Ngài, sẵn sàng chịu đau khổ thiệt thòi cho tha nhân vì yêu thương họ. Có như thế đau khổ mới trở thành nguồn ơn cứu độ, đem lại hạnh phúc. Những ai thật sự có Đức Giêsu ở với mình, sẽ sẵn sàng lãnh nhận đau khổ, vừa để cứu giúp tha nhân, là cách thể hiện tình yêu và sự từ bỏ mình, vừa để cảm thông và chia sẻ với Đức Giêsu sứ mạng cứu chuộc và thánh hóa nhân loại của Ngài. Có sẵn lòng chịu đau khổ vì Ngài và vì tha nhân mới chứng tỏ được mình là người theo Ngài và có tình yêu, có Thiên Chúa ở nơi mình: «Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo»  (Mt 16, 24); «Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được»  (Lc 14, 27).

Chấp nhận khổ đau mới cứu được đau khổ

Khổ đau phải được cứu độ bằng khổ đau. Đó chính là phương pháp «dĩ độc trị độc» mà y học đôi khi áp dụng cho bệnh nhân. Trong đời sống con người, thông thường, muốn cứu giúp ai khỏi hoạn nạn, đau khổ, người cứu giúp phải chấp nhận một số thiệt thòi, mất mát, khó chịu hay đau khổ nào đó. Nếu con cái được sống hạnh phúc và đầy đủ, không bị rơi vào bất hạnh túng thiếu thì đó là do sự hy sinh, chấp nhận đau khổ của cha mẹ. Cũng thế, Thiên Chúa đã chịu đau khổ để con người hạnh phúc. Chấp nhận đau khổ như thế là dấu hiệu của tình yêu. Không chấp nhận đau khổ vì người khác thì chứng tỏ mình không có tình yêu. Tình yêu chỉ có thể được chứng tỏ rõ rệt nhất bằng hy sinh và đau khổ. Thiên Chúa đau khổ, đó là dấu chứng chắc chắn nhất chứng tỏ Ngài yêu thương nhân loại thực sự. Nếu Ngài không đau khổ, con người sẽ khó nhận ra được tình thương của Ngài. Có yêu thương mới có thể chịu khổ, chịu lụy vì người mình yêu. Và có chịu lụy, chịu khổ vì người mình yêu mới chứng tỏ được tình yêu.

Yêu thương và chấp nhận đau khổ vì yêu thương

Bài học quan trọng nhất mà Đức Giêsu dạy chúng ta là: «Hãy yêu thương nhau như chính Thầy yêu thương các con». Nếu Ngài yêu thương chúng ta bằng cách chịu đau khổ tột cùng vì ta, cho ta, thì muốn áp dụng bài học của Ngài, ta cũng phải sẵn sàng chịu đau khổ vì nhau, cho nhau. Ta không thể nào nói mình yêu thương anh em khi anh em đau khổ hoạn nạn mà ta lại không sẵn sàng chia sẻ đau khổ với họ bằng chính những hy sinh của ta (x. Gc 2, 15-16). Tất cả mọi nỗi đau khổ của Ngài cũng chỉ có mục đích cứu độ nhân loại bằng cách đem tình thương vào thế giới, nghĩa là làm cho mọi người yêu thương nhau. Do đó, nếu chúng ta yêu thương nhau, và thể hiện tình yêu thương đó bằng hy sinh cho nhau và sẵn sàng chịu đau khổ để làm cho nhau hạnh phúc, là chúng ta đã thực hiện ơn cứu độ cho chính chúng ta, và làm cho ơn cứu độ của Đức Giêsu Giêsu thành tựu nơi chúng ta. Có thể nói, nếu chúng ta không yêu thương nhau và không chấp nhận chịu khổ đau cho nhau, thì sự cứu độ của Đức Giêsu cùng với những đau khổ của Ngài sẽ trở thành vô ích cho chúng ta. Và Nước Thiên Chúa mà Ngài chủ trương thành lập không bao giờ thành tựu được.

Vậy, chúng ta hãy yêu thương và chấp nhận chịu đau khổ vì nhau như chính Thiên Chúa và Đức Giêsu đã yêu thương chúng ta và chịu đau khổ vì chúng ta.

Có thể nói cuộc đời của Đức Giêsu đầy dẫy những đau khổ do con người gây ra cho Ngài, chỉ vì Ngài đặt tình thương lên trên hết khiến con người không nhận ra Ngài và hiểu lầm Ngài. Con người không nhận ra Ngài, và tự làm cho mình đau khổ, mất hạnh phúc, chính vì con người không đặt nặng tình thương mà chỉ đặt nặêng hạnh phúc và quá dị ứng với đau khổ. Họ không chịu chấp nhận đau khổ mà chỉ mong thoát khỏi đau khổ bằng bất cứ cách nào, cho dù bằng cả tội ác là cách chỉ gây thêm đau khổ. Đang khi đau khổ không chỉ là hậu quả của tội lỗi mà còn là phương thuốc hữu hiệu để giải trừ tội lỗi và những hậu quả xấu của nó.

Đau khổ là do lòng ích kỷ: muốn hạnh phúc và sợ đau khổ chỉ cho mình

Con người ngu muội chỉ biết sợ hậu quả mà không biết tránh nguyên nhân: đau khổ là hậu quả tất yếu của tội lỗi thì con người vô cùng sợ hãi; còn tội lỗi là nguyên nhân tất yếu gây nên đau khổ thì con người không thèm tránh, mà lại ham thích và sẵn sàng lao mình vào. Vì thế, con người dù khao khát hạnh phúc vô cùng, nhưng hạnh phúc dường như càng ngày càng vuột xa khỏi tầm tay con người; và dù rất sợ đau khổ, con người vẫn dường như luôn luôn hấp dẫn đau khổ đến với mình. Con người bị rơi vào trong vòng lẩn quẩn sau đây:

– do quá ham hạnh phúc và quá sợ đau khổ, con người sẵn sàng phạm tội: vì khi phạm tội con người cảm thấy như tìm được hạnh phúc và tránh được đau khổ ngay trước mắt;

– nhưng tội lỗi con người phạm lại bít kín con đường dẫn tới hạnh phúc và mở ra con đường dẫn đến đau khổ.

– thế là con người bị mất hạnh phúc và chìm ngập trong đau khổ. Càng mất hạnh phúc, càng chìm ngập trong điều kiện thì lòng ham muốn hạnh phúc và sợ hãi đau khổ lại càng tăng lên.

– lòng ham hạnh phúc và quá sợ đau khổ khiến con người sẵn sàng phạm tội để mong đạt được hạnh phúc và tránh được đau khổ.

Cứ thế, con người tiếp tục vòng luẩn quẩn trên, hết vòng này đến vòng khác, khiến con người muôn đời trầm luân trong đau khổ.

Muốn chấm dứt vòng luẩn quẩn đó, con người phải nhận định sáng suốt về nguyên nhân của hạnh phúc và đau khổ. Hạnh phúc là kết quả tất yếu của sự thánh thiện và vị tha, còn đau khổ là hậu quả tất yếu của tội lỗi và lòng ích kỷ. Muốn hạnh phúc thì phải sống thánh thiện và vị tha. Khi thật sự sống thánh thiện và vị tha thì chẳng cần mưu cầu hạnh phúc, chẳng cần phải tránh né đau khổ, mà hạnh phúc vẫn cứ đến với mình, và tâm hồn thường xuyên cảm thấy bình an hạnh phúc. Muốn tránh đau khổ thì phải đoạn tuyệt với tội lỗi và tính ích kỷ. Nếu cứ sống tội lỗi và ích kỷ, thì dù có mưu cầu hạnh phúc và cố gắng tránh đau khổ đến đâu, đau khổ vẫn cứ tự nhiên đến với mình như một điều tất yếu, còn hạnh phúc thì càng ngày càng trở nên xa vời. Chính lòng ham muốn cho mình được hạnh phúc và nỗi sợ hãi mình bị đau khổ là thứ ham muốn và sợ hãi mang tính ích kỷ, thường dẫn con người đến tội lỗi, và kết quả là con người mất hạnh phúc và bị đau khổ. Do đó, con người cần phải diệt lòng ham muốn và nỗi sợ hãi đầy tính ích kỷ đó.

Còn lòng mong muốn cho người khác được hạnh phúc, và sợ người khác bị đau khổ làm cho tâm hồn con người nên thánh thiện, vị tha, chẳng những đem lại hạnh phúc cho tha nhân, mà còn luôn luôn là nguyên nhân dẫn đến hạnh phúc của chính mình. Đây chính là tình yêu, nó chính là yếu tố chủ yếu nhất làm cho con người trở nên giống Thiên Chúa, một Thiên Chúa mà bản chất là Tình Yêu (x. 1Ga 4, 8. 16). Chính thái độ yêu thương này mới có khả năng đem lại hạnh phúc đích thực và lâu bền cho con người. Nhưng con người không hiểu được điều này. Họ chỉ biết lo cho hạnh phúc và đau khổ của mình, chứ không hề quan tâm đến hạnh phúc và đau khổ của người khác.

Yêu thương và đau khổ vì yêu thương mới dẫn đến hạnh phúc

Như vậy, qua Đức Giêsu, Thiên Chúa đã làm gương cho chúng ta về việc chấp nhận đau khổ để được hạnh phúc. Đức Giêsu nói: «Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời»  (Ga 12, 24-25). Thiên Chúa đã vì tình yêu đối với con người mà chấp nhận đau khổ để con người được hạnh phúc. Và chính nhờ tình yêu cao độ đó, nhờ hoàn toàn chấp nhận đau khổ và triệt để tự xóa mình vì tình yêu, mà Thiên Chúa luôn luôn hạnh phúc, hạnh phúc vô cùng vô tận. Cũng vậy, con người chỉ có thể đạt được hạnh phúc khi con người biết yêu thương nhau, và sẵn sàng chấp nhận đau khổ vì tình yêu.  (Hết)

Về mục lục >

 

 CẦU NGUYỆN

CẦU CHO NGƯỜI KHÁC-XIN ƠN- TẠ ƠN

(tiếp theo Maranatha_15)

Linda Schubert
Quang Thạch & Hoàng Quý chuyển ngữ

10. Cầu cho người khác

«Trước hết tôi khuyên ai nấy dâng lời cầu xin, khẩn nguyện, nài van, tạ ơn cho tất cả mọi người…» (1 Tm 2, 1).

Một trong món quà quý giá nhất chúng ta có thể trao đến cho người khác chính là món quà cầu nguyện. Đây là giây phút chúng ta cầu nguyện cho người khác. Chúng ta hãy cầu nguyện cho các quốc gia, các nhà lãnh đạo, các vị chủ chiên và các người nắm giữ quyền hành. Cầu cho những người vô gia cư, các thai nhi bị giết, cho những người bệnh hoạn và những ai đang nằm hấp hối. Cầu nguyện cho những người mồ côi. Cầu nguyện cho các kẻ thù nghịch. Cầu nguyện cho gia đình, bạn bè và các người đồng nghiệp của bạn. Quan trọng nhất là bạn xin Chúa Thánh Linh giúp bạn nhớ đến những ai bạn muốn cầu xin. Chắc chắn Ngài muốn chuyện đó. Tên của họ có lẽ dần dần đến với trí óc bạn khi bạn sắp sẵn như thế, vì Chúa luôn luôn tìm kiếm những ai muốn cầu nguyện. Khi tên người nào đến với bạn, bạn chỉ còn việc dâng người đó lên cho Chúa. Hãy xin Chúa giúp đỡ họ, dẫn họ tới chỗ hoàn hảo hơn, tha thứ cho họ, đánh động họ bằng tình yêu thương của Ngài và ban thần lực cho họ.

Bạn hãy cầu nguyện với niềm tin đơn thành như em bé chạy đến cha mình, vì biết rằng Ngài thích ban cho bạn điều bạn mong muốn. Có lẽ bạn hỏi, «Chúa ơi, người này cần gì vậy?» Thông thường điều họ cầu mong sẽ đến với tâm tư bạn. Và khi đó bạn chỉ cần thân thưa với Chúa, «Lạy Thiên Chúa, Cha của con, xin Cha đáp ứng điều họ cầu mong đi». Bạn hãy cầu nguyện thật đơn sơ, phát xuất từ con tim. Bạn hãy cầu xin, «Cha ơi, con cầu xin điều cha mong muốn được thể hiện nơi cuộc sống của những người này». Ngài thôi thúc bạn cầu xin, do đó bạn có thể tin chắc rằng Ngài sẽ đáp ứng điều gì họ cần thiết! Bạn cũng hãy cầu nguyện cho nhiều người thực hiện «Giờ Phép Lạ», để những lời cầu nguyện của họ cũng được đáp ứng. «Lời cầu nguyện của người công chính thật mạnh mẽ và hữu hiệu» (Ga 5, 16).  (5 phút).

 (Is 65, 24; Tv 106, 23; Ep 1, 16; 1Sb21, 17; Tv 91, 15; Is 58, 9; Dn 9, 4-23; 1Kn 1, 27; Is 59, 16)

 (Lạy Cha… )

11. Xin ơn

«Ta hãy mạnh dạn tiến gần lại ngai hồng ân với niềm tín thác, để chúng ta có thể lãnh nhận được lòng xót thương và tìm thấy ơn trợ giúp chúng ta trong lúc cần thiết» (Dt 4, 16).

Đây là lúc bạn cầu xin Chúa đáp ứng các nhu cầu của bạn. Hãy tập thói quen hỏi Chúa mọi chuyện trong ngày: tìm chỗ đậu xe, lựa chọn món đồ muốn mua, xử đối với người nào đó… Làm như vậy, bạn cảm thấy dễ chịu, thoải mái đến với Chúa hơn khi cần phải nài xin Chúa những gì nghiêm trọng. Bạn có những nỗi lo sợ nào cần giãi bầy? Bạn có những vấn đề nào đang đè nặng? Bạn lo lắng về sức khỏe? Bạn gặp khó khăn với một ai đang gây phiền muộn cho bạn? Bạn cần dâng lên Chúa những mục tiêu dài hạn cho đời bạn? Bạn hãy kể ra cho Chúa đi. Thật hữu ích nếu bạn viết ra những lời xin ơn cho người khác và những lời cầu xin cho mình, cũng như những mục tiêu đang theo đuổi, nhờ đó, khi những lời cầu xin được đáp ứng, đức tin sẽ được kiên cường hơn. «Hãy xin, sẽ được; hãy tìm, sẽ thấy; hãy gõ, cửa sẽ mở cho. Vì bất cứ ai xin, sẽ nhận được; ai tìm, sẽ thấy; ai gõ, cửa sẽ mở ra». (Mt 7, 7-8).  (5 phút)

 (Mt 21, 22; Ga 15, 7; Lc 11, 9; Ga 14, 13; 1Ga 5, 14-15; Tv 34, 6; Tv 61, 2; Tv 130, 1; Tv 119, 169; Tv 119, 147; Tv 91, 15; Mc 9, 23; Tv 62, 8)

 (Lạy Cha… )

12. Tạ ơn

«Ta hãy tạ ơn và đó là thờ phượng Thiên Chúa…»  (Dt 12, 28).

Trong năm phút cuối của «Giờ Phép Lạ», bạn hãy hướng lên Chúa và thờ phượng Ngài bằng thái độ biết ơn của bạn. Bạn hãy sử dụng lời nguyện này như một đà phóng và bắt đầu cảm tạ Ngài một cách tự nhiên.

Lời nguyện tạ ơn

«… Xin cảm tạ Cha, Đấng đã ban cho anh em được dự phần vào cơ nghiệp các thánh trong vương quốc ánh sáng» (Cl 1, 12).

Lạy Cha chí ái trên trời, con xin cảm tạ Cha vì hồng ân kỳ diệu con được ở bên Cha trong «Giờ Phép Lạ» này. Xin cảm tạ Cha đã lôi kéo con đến cầu nguyện và ban cho con lòng đói khát Cha. Xin cảm tạ Cha vì niềm vui được thần phục Cha, được thống hối và tha thứ. Xin cảm tạ Cha đang ban Chúa Thánh Linh đến dậy dỗ, hướng dẫn và khuyên nhủ con. Xin cảm tạ Cha hôm nay đã đổ đầy Chúa Thánh Linh tươi mát và ban phát các ân sủng của Thần Khí. Xin cảm tạ Cha vì đã đem nhiều người đến cho con được phục vụ. Xin cảm tạ Cha vì hoa quả của Chúa Thánh Linh đang hoạt động trong con: yêu thương, vui tươi, an bình, nhẫn nại, nhân ái, dịu hiền và tự chủ. Xin cảm tạ Cha vì đang khuyến khích con biết cầu xin khi có nhu cầu, và giúp đỡ con thông hiểu những ước muốn trong lòng con. Xin cảm tạ Cha vì hồng ân thần diệu biết ca ngợi Cha.

Xin cảm tạ Cha đang dẹp đi những thói hư tật xấu và đang biến đổi con thâm sâu hơn. Xin cảm tạ Cha đã ban cho ơn ân phúc được lắng nghe Cha, tin tưởng nơi Cha và đến với Cha. Xin cảm tạ Cha vì tất cả những gì Cha đã trợ giúp con và can thiệp lo cho con. Xin cảm tạ Cha vì Cha đã sắp đặt chương trình của Cha cho đời con, đã thiết lập mục tiêu cao cả cho con và ban cho con biết đánh giá điều giá trị xứng đáng. Xin cảm tạ Cha vì Cha yêu thương con vô điều kiện và không bao giờ bỏ rơi hoặc lãng quên con, dù cho con có làm điều gì đi nữa. Xin cảm tạ Cha vẫn hiện diện trong mọi khoảnh khắc của đời con, lúc lên cũng như lúc xuống và dẵn dắt con trải qua mọi dòng đời, để con tiến tới chỗ trưởng thành và tin tưởng Cha thâm sâu hơn.

Xin cảm tạ Cha ban Lời Hằng Sống của Cha để tăng cường sức mạnh cho con. Xin cảm tạ Cha đã giúp con chỗi dậy khỏi nỗi tuyệt vọng và bước đi trong an vui. Xin cảm tạ Cha nâng con dậy lúc con vấp ngã. Xin cảm tạ Cha gìn giữ con trong niềm an bình tuyệt hảo khi tâm trí con an nghỉ trong Cha. Xin cảm tạ Cha xếp đặt mọi chuyện trôi chảy khi con đặt niềm tín thác nơi Cha. Xin cảm tạ Cha cho con được sống an bình và che chở con khỏi mọi cạm bẫy rình rập.

Xin cảm tạ Cha ban các thiên thần bảo vệ con, dắt dìu con trên mọi nẻo đường đời con đi. Xin cảm tạ Cha chúc phúc lành cho con lúc con đi và khi con về. Xin cảm tạ Cha hướng dẫn con và ban cho con ơn khôn ngoan. Xin cảm tạ Cha vì lòng từ nhân và xót thương của Cha hằng theo con trên vạn nẻo đường đời. Xin cảm tạ Cha vì hồng ân con biết dựa vào sự hiểu biết Cha hơn vào ỷ vào trí óc của con. Xin cảm tạ Cha giúp con hôm nay biết từ bỏ những ý nghĩ tiêu cực và chỉ còn suy nghĩ đến những gì đem lại chữa lành và bay bổng. Xin cảm tạ Cha ban cho con miệng lưỡi nói lên những lời chữa lành và đem đến sức sống. Xin cảm tạ Cha ban xuống tràn đầy tình yêu Cha để xé toang mọi lắng lo sợ hãi. Xin cảm tạ Cha chiến đấu chống lại mọi kẻ thù của con và đem họ về sống hoà bình với con. Xin cảm tạ Cha hôm nay ban cho con hồng ân chọn lựa sự sống. Xin cảm tạ Cha đang giúp đỡ con kiên định trái tim con nơi Cha.

Xin cảm tạ Cha ban cho con thần lực, tình yêu và trí óc lành mạnh. Xin cảm tạ Cha luôn luôn tạo điều kiện cho con chiến thắng trong Chúa Giêsu Kitô và biết biến các điều dữ thành điều lành. Trong Cha, con trở thành kẻ chiến thắng. Xin cảm tạ Cha ban cho con năng lực suy nghĩ những ý nghĩ của Cha và bước đi kiên vững trong đường lối của Cha. Xin cảm tạ Cha vẫn mở cửa thiên quốc và tuôn đổ phước lành xuống cho con. Xin cảm tạ Cha hằng cung ứng mọi nhu cầu của con để làm vinh Danh Cha. Xin cảm tạ Cha giải cứu con khỏi ốm đau thể xác, trí khôn và tinh thần, và đem lại thiện hảo cho con khi gặp phải những khó khăn xáo trộn. Xin cảm tạ Cha ban cho con trí óc khôn ngoan, và mạc khải cho con biết niềm hy vọng lớn lao Cha gọi con đi tới. Xin cảm tạ Cha vẫn đổ tràn ngập trái tim và trí khôn con bằng ánh sáng thiên cung. Xin cảm tạ Cha đang bầy tỏ quyền năng vô biên của Cha luôn sắp sẵn trong con. Xin cảm tạ Cha ban cho con hồng ân bước đi trong tha thứ, trung thành và yêu thương. Xin cảm tạ Cha ban cho con đức tin thêm tăng trưởng. Xin cảm tạ Cha mở rộng bàn tay con ra để ban phát cho những người túng quẫn, mở mắt con để nhìn ra các nhu cầu của các anh chị em con, mở tai con để nghe được tiếng than khóc, mở tim con để yêu thương những ai khổ đau và lạc mất, và mở vòng tay con để ôm ấp mọi người trong yêu thương. Và đặc biệt con xin cảm tạ Cha… … … ….

Xin cảm tạ Cha trước mọi phước lành trong đời sống: tổ tiên, gia đình, bạn hữu, thầy cô, các chuyên gia, hàng giáo sĩ và Giáo Hội. Xin cảm tạ Cha đã ban nhiều người đến giúp đỡ con trên đường đời. Lạy Cha, xin Cha chúc phúc lành cho họ. Xin cảm tạ Cha đã ban cho con đức tin, tự do, sức khỏe và việc làm. Xin cảm tạ Cha đã ban cho con mọi tiến bộ khoa học, nghệ thuật, y khoa, phương tiện di chuyển, các vệ tinh và mọi tiến bộ vật chất để nâng cao đời sống con. Xin cảm tạ Cha trước tặng phẩm kỳ diệu của đời con. Con xin ôm ấp như báu vật Cha ban cho con. Và xin cảm tạ Cha trước tặng phẩm vĩ đại nhất chính là Chúa Giêsu, Con Cha. «Đội ơn Thiên Chúa trước hồng ân khôn lường này» (2Cr 9, 15). Amen.

 (Tv 100, 4; 2Cr 3, 18; Lc 8, 39; Cv 13, 47; Đn 12, 3; Tv 126, 3; Ga 1, 16; 2Cr 9, 8; 2Pr 1, 2; 2Pr 3, 18; Phm 7; Tv 91, 11; Tv 90, 17; Tv 29, 11; Ds 23, 5; Tv 107, 22; 1Tx 5, 18)

 (Lạy Cha… )

«Chúa là Thiên Chúa thể hiện các phép lạ; Chúa biểu hiện quyền uy của Chúa giữa các dân tộc» (Tv 77, 11).

Amen!

Lạy Cha, xin chúc phúc lành cho con. Xin ánh sáng Cha hôm nay chiếu sáng nơi con.

Về mục lục >

 

 


THÁNH CA-TA-RI-NA THÀNH XI-Ê-NA,

CON NGƯỜI CỦA NHỮNG HOÀN CẢNH ÉO LE.

 

Lm. Anrê Đỗ Xuân Quế, OP

Gấp cuốn sách kể chuyện cuộc đời thánh Ca-ta-ri-na lại[1], người đọc không khỏi cảm động và thán phục. Cảm động vì những trang diễn tả các nỗi đau đớn thánh nữ phải chịu trước khi lìa đời vì lòng mến yêu Hội thánh, và thán phục vì một người phụ nữ, tuy tuổi đời vẻn vẹn chỉ có 33 năm, thế mà đã làm được bao việc lẫy lừng có ảnh hưởng sâu xa đến cả một thời đại và còn lưu truyền cho hậu thế mãi đến ngày nay. Có thể nói thánh Ca-ta-ri-na là người của những hoàn cảnh éo le. Chính trong những hoàn cảnh này mà bà đã tỏ ra là người rất độc đáo, không bó tay đầu hàng, không nhắm mắt làm ngơ, nhưng trái lại, luôn phấn đấu chống lại nghịch cảnh, luôn hành động để thay đổi những gì cần thay đổi trong xã hội và cộng đồng Dân Chúa thời bấy giờ. Một phần lớn giá trị, ảnh hưởng cũng như uy tín của thánh nữ hệ tại những điểm đó.

Quả thế, hoàn cảnh gia đình, tình trạng xã hội, những ngăn trở lớn lao trong ngoài  Hội thánh hồi hậu bán thế kỷ XIV ở Ý và Pháp không thuận lợi cho bà trở thành một nhân vật phi thường như chúng ta thấy. Trong những hoàn cảnh như vậy, người ta dễ bị cám dỗ nhắm mắt làm ngơ cho yên chuyện để khỏi mang lụy vào thân, hay ngược lại, tỏ ra bực bội khó chịu hoặc thở vắn than dài. Trái lại, thánh Ca-ta-ri-na đã không lùi bước, không hững hờ, không sợ phiền lụy, không kêu than trách móc, nhưng luôn can đảm đương đầu. Động lực nào đã lôi cuốn thánh nữ lao mình vào con đường hành động mà vẫn giữ được cốt cách của một tâm hồn chiêm niệm, đồng thời không xa lạ với con người và xã hội cũng như những vấn đề do hoàn cảnh lịch sử xui khiến ? Sức mạnh và động lực nào đã nâng đỡ người phụ nữ thành Xi-ê-na trước những cơn gian nan thử thách kia ? 

Tất nhiên, đối với một con người ưu tú. được Thiên Chúa tuyển chọn như thánh Ca-ta-ri-na thì chắc hẳn động lực và sức mạnh nói đây phải là Chúa và ơn thiêng của Người. Ngoài ra là những cố gắng kiên trì, những phấn đấu liên lỷ của bản thân thánh nữ để đáp lại tiếng Chúa kêu mời và bước theo đường lối Người chỉ vẽ cho.

1. Hoàn cảnh éo le trong gia đình  

Thánh Ca-ta-ri-na rất đông anh chị em. Ông Bà Bê-nin-ca-sa, song thân thánh nữ được 25 người con cả trai lẫn gái. Thánh nữ là người thứ 23. Các anh chị em của thánh nữ không có gì đặc  biệt. Nhiều người chết lúc còn nhỏ và chẳng được mấy ai biết đến tên. Trong số các anh chị em này, phải kẻ đến Bo-na-ven-tu-ra. Cô là chị hai, rất thân thiết và thuơng mến Ca-ta-ri-na. Chính cô đã dạy cho Ca-ta-ri-na biết cách ăn mặc, nhuộm tóc, tô môi và làm đẹp. Ngoài ra, không còn gì đáng nói cả. Đời sống hàng ngày trong gia đinh Bê-nin-ca-sa thế nào. không mấy ai đề cập.

Tuy nhiên người ta có thể nghĩ rằng đó là một gia đình lương thiện, nề nếp, ngay thẳng, cần cù, biết hy sinh nhưng cũng thích tiện nghi và những sự êm ái dễ chịu.

 Như thế không có gì là đặc sắc khả dĩ tạo ra được một môi trường khiến cho cô bé Ca-ta-ri-na trở thành một nhân vật phi thường và một vị thánh lỗi lạc.

Quả vậy, bà La-pa, mẹ của Ca-ta-ri-na là một người đàn bà thực tế. Bà muốn cho cô có một tấm chồng và ở đời làm ăn sinh sống như những thiếu nữ đồng trạc. Bà đâu có muốn cho cô dâng mình cho Chúa. Rồi người chị hai mới nói ở trên, cũng phụ họa với mẹ để khuyến khích cô đi vào con đường chồng con như mình. Cả nhà ai cũng khuyên Ca-ta-ri-na nên lập gia đình, nhưng cô vẫn một mực từ chối, lại còn đi tới chỗ quyết liệt là tự tay cầm kéo cắt phăng mái tóc xinh đẹp của mình đi nữa. Nào ngờ cử chỉ quyết liệt này đã làm cho bà mẹ của cô nổi cơn tam bành và mắng cô một trận nên thân với những lời lẽ thật gay gắt : “Con ranh con, mày tưởng cắt tóc đi là cưỡng được mệnh lệnh của chúng tao ư ? Dù muốn hay không, tóc mày cũng sẽ mọc lại và trái tim mày có vỡ ra từng mảnh, tao cũng sẽ bắt mày phải lấy chồng như thường.”

Càng bị ngăm đe bao nhiêu, cô lại càng tỏ ra cứng rắn bấy nhiêu. Càng bị sỉ nhục, cô lại càng tăng thêm lòng tin và bám víu vào Chúa. Từ nay cô phải hầu hạ mọi người trong nhà, nhưng  cô vẫn tươi tỉnh. Không còn được ở riêng một phòng nữa, cô lẻn vào phòng một người anh đi vắng cả ngày và có lần bị ông bố bắt gặp cô đang quì cầu nguyện trong một góc phòng. Cô nói với cha mẹ và mọi người trong nhà: “Con làm đầy tớ cũng được miễn là để cho con một chút thời giờ. Đuổi con ra khỏi nhà thì con đi và Chúa sẽ lo liệu cho con; chỉ xin cho con bánh và nước với lại cho con sống theo kiểu của con thôi.”

Cuối cùng, phần thắng ngả về phía cô. Ca-ta-ri-na không bị ép phải lấy chồng nữa và được sống theo ý nguyện. Bây giờ cô lại có phòng riêng để suy nghĩ, cầu nguyện và sống kết hợp với Chúa.

Nhưng bà La-pa nhiều lúc vẫn còn cảm thấy buồn vì đã không thuyết phục được con gái. Bà lấy làm tiếc vì đã để hụt mất một chàng rể. Theo bà, người phụ nữ sinh ra ở đời là để có chồng con, còn ngoài ra là viển vông. Tôn giáo cần thật, nhưng một khi đã đi lễ, đi nhà thờ, đọc kinh sáng tối, làm dấu thánh giá khi bị cám dỗ hay gặp hiểm nguy, thế là đủ rồi. Còn hãm mình phạt xác chỉ tổ hại cho sức khoẻ. Vì thế, bà không khỏi lo ngại, khi thấy con gái vì hãm mình mà ra tiều tụy khiến bà phải la lên : “Con ơi ! Con ơi !  Mẹ thấy con như chết rồi vậy. Con muốn chết hay sao mà lại làm thế ? Ai đã cướp mất con gái của tôi ? Ai đã mang đến cho nó tai họa này ?” Dù vậy, Ca-ta-ri-na vẫn cứ cầu nguyện và hãm mình phạt xác. Tình trạng sức khỏe của cô rất đáng lo ngại. Bà La-pa tính đem cô đi điều trị tại suối Vi-nhon gần Xi-ê-na với ước mong rằng sau khi khỏe lại, cô sẽ thôi không hành hạ tấm thân nữa mà sẽ sống bình thường như mọi thiếu nữ khác. Tại trung tâm điều trị này, đời sống có vẻ phóng khoáng. Người ta từ bốn phương đổ tới, đua nhau ăn chơi chưng diện. Nhưng thay vì bị lôi cuốn vào cái nhịp sống vui tươi nhí nhảnh này, Ca-ta-ri-na càng sống ẩn dật và tăng thêm các việc hãm mình. Bà La-pa thất bại trong việc làm cho con đổi ý. Sau thời kỳ này, Ca-ta-ri-na xin vào Dòng Ba Đa Minh. Cô được lãnh áo dòng và tiếp tục được tu ở nhà cha mẹ, dù bà La-pa nói về cô không mấy hay lắm để người ta đừng nhận cô. 

2. Hoàn cảnh éo le ngoài xã hội

Xã hội Ý thời bấy giờ là một xã hội phong kiến. Mỗi thành phố giống như một quốc gia nhỏ, thành này chống lại thành kia để bảo vệ quyền lợi và tranh giành ảnh hưởng. Ngoài ra, trong mỗi thành lại có nhiều phe nhóm kình chống nhau. Vì quyền lợi quốc gia và dòng họ, các vua chúa liên minh với nhau để chống lại Hội thánh và Đức Giáo hoàng. Xã hội phân hóa, lòng người hoang mang. Trong một hoàn cảnh xã hội như thế, chị dòng ba Đa Minh Ca-ta-ri-na cảm thấy có nhiệm vụ phải cứu vớt xã hội. Do khả năng chiêm niệm ở mức độ cao, chị luôn luôn kết hiệp với Chúa và được ơn xuất thần. Người chung quanh được chứng kiến những cơn xuất thần ấy và nghe những lời lẽ khôn ngoan sâu sắc của chị nên lũ lượt tuốn đến nhà chị. Chẳng bao lâu nhà chị trở thành nơi lui tới của đủ mọi hạng người, từ thần học gia, nhà giảng thuyết trứ danh, giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ cho đến các bậc công hầu khanh tướng và những người thuộc đủ mọi giai cấp trong xã hội cần đến lời bàn và ý kiến của chị. Người ta nói về tài ba đức độ của chị. Tiếng nhân đức thánh thiện đồn đi rất xa. Biết bao người đã chịu ảnh hưởng của chị. Người ta kêu chị là “mẹ hiền” (dolce mamma). Bỗng nhiên chị trở thành người mẹ rất được mến yêu trong gia đình thiêng liêng gồm những người con tinh thần đã được chị cảm hóa.

Từ đây, Ca-ta-ri-na xuất hiện như một nhân vật phi thường về lòng bác ái và mức độ thánh thiện. Chị không từ nan quản khó để đưa người tội lỗi trở về với Chúa hay chỉ lối cho người đang phản nghịch làm hòa cùng Hội thánh.

Nhưng không phải chỉ có toàn những người hoan hô và ngưỡng mộ. Bên cạnh những người con tinh thần, những bạn bè chí thiết, lại có những địch thù, những người dèm pha ghen ghét, từ người chịu ơn như cô Sét-ca bị phong cùi được Ca-ta-ri-na săn sóc, như tu sĩ Đa Minh kia đã một lần đuổi chị ra khỏi nhà thờ, và một tu sĩ Đa Minh khác lấy kim châm vào người chị, lúc chị xuất thần cho đến linh mục Lát-gia-ri-nô, tu sĩ dòng Phan-xi-cô, một nhà giảng thuyết nổi tiếng thời bấy giờ cũng như bao người khác nữa dèm pha, chế nhạo. Những người này đều tỏ vẻ hoài nghi về tiếng tăm, nhân đức của chị dòng ba Ca-ta-ri-na, nhằm phá tan huyền thoại về người phụ nữ thành Xi-ê-na.

Nhưng cuối cùng, Ca-ta-ri-na đã lấy đức bác ái và lòng khiêm nhường nhịn nhục mà lướt thắng tất cả, lại còn cảm hóa được những người có ác ý muốn hãm hại chị.

3. Hoàn cảnh éo le trong Hội thánh

Nếu hoàn cảnh xã hội bên ngoài đầy những bạo hành, đam mê, phóng túng thì hoàn cảnh bên trong Hội thánh cũng chẳng lấy gì làm tốt đẹp hơn.  Một số các vị chức sắc trong Hội thánh, nhiều giám mục, linh mục, tu sĩ sống không khác gì người ta, cũng ham tiền, cũng chạy theo thú vui danh vọng và bỏ bê công việc bổn phận. Thêm vào đó là tình trạng phân hóa trầm trọng của các tín hữu, người thì theo Giáo hoàng này, người thì theo Giáo hoàng kia, vì bấy giờ Hội thánh có 2 giáo hoàng một lúc và quân của hai bên đánh nhau để chiếm quyền chính. Ngay trước khi xảy ra tình trạng đó thì ĐGH Ghê-go-ri-ô XI đã không ở Rô-ma mà lại ở A-vi-nhông (Pháp). Chị Ca-ta-ri-na đã phải sang tận nơi xin Đức Giáo hoàng rời A-vi-nhông về Rô-ma. Chị đã bị nhiều vị hồng y thích ở lại A-vi-nhông chống đối. Gia đình ĐGH Ghê-go-ri-ô XI cũng phản đối dự định đưa Tòa thánh về lại Rô-ma. Đã có lúc cơ sự tưởng chừng như không thành vì Đức đương kim Giáo hoàng là người Pháp, tính hay lưỡng lự, lại quá nặng lòng với quê hương xứ sở. Nhưng vì chị Ca-ta-ri-na là người của Chúa, được Chúa dùng để đem lại sự hợp nhất cho Hội thánh nên cuối cùng Đức Giáo hoàng cũng phải vượt qua mọi trở ngại để đưa Hội thánh về lại Rô-ma. Trong công cuộc này, chị đã phải đổ ra biết bao nhiêu mồ hôi nước mắt và đã phải can trường lắm mới đương đầu nổi với những khó khăn tưởng là vô phương đối phó, để làm cho Đức Giáo hoàng chịu trở về Rô-ma, như các lời lẽ sau đây chứng tỏ: “Đức Thánh Cha không thể và không được từ bỏ ý định trở về Rô-ma, vì làm như thế, Đức Thánh Cha sẽ khiến cho người ta bàn tán xôn xao và gây ra một cuộc nổi loạn cả ở bên trong lẫn bên ngoài Hội thánh. Người ta sẽ cho Đức Thánh Cha là nói dối, đang khi Đức Thánh Cha phải là người đại diện cho chân lý. Đức Thánh Cha đã loan báo và ấn định ngày về Rô-ma, nay nếu Đức Thánh Cha không đi nữa sẽ bất tiện lắm và người ta cũng rất hoang mang xao xuyến.”

Về Rô-ma được ít lâu, Đức Giáo Hoàng Ghê-go-ri-ô XI qua đời. Đức U-ba-nô VI lên thay thế. Đức Giáo hoàng này là một người thật lòng muốn cải tổ Hội thánh, rất đòi hỏi, lại nóng tính hay nói thẳng, khiến nhiều vị hồng y không hài lòng. Một số hồng y không đồng ý với đường lối cai quản Hội thánh của ngài nên ra mặt phản đối và lui về A-nha-ni (Agnani) để tìm cách bắt Đức Giáo hoàng phải nhượng bộ. Các hồng y Co-xi-ni, O-xi-ni, Bót-xa-ni từ trước đến giờ vẫn trung lập, nay bỏ Đức Giáo hoàng, về Vi-cô-va-rô rồi từ đó về Pa-lét-ti-na. Sau đấy bắt đầu có những cuộc bàn luận, dàn xếp giữa các vị hồng y người Ý và ngoại quốc để đi tới một sự thoả thuận. Cuối cùng chẳng đi tới đâu. Các hồng y ở A-nha-ni gửi thư yêu cầu Đức Giáo hoàng U-ba-nô VI từ chức và công bố một bức thông điệp tố cáo, đồng thời đòi bầu lại giáo hoàng. Để tăng thêm số người ủng hộ mình. Đức Giáo hoàng U-ba-nô VI đật luôn một lúc 29 hồng y mới. Hai hôm sau, các hồng y ly khai cũng triệu tập một mật tuyển viện và bầu Ro-be đơ Giơ-ne-vơ (Robert de Genève) lên làm giáo hoàng. Thế là một lúc Hội thánh có 2 giáo hoàng kình chống nhau vào năm 1378.

Sống trong một hoàn cảnh như vậy, không một tín hữu chân chính nào lại không cảm thấy đau buồn, phương chi là chị Ca-ta-ri-na, người hết lòng mến yêu Hội thánh và đã tình nguyện dâng hiến mạng sống mình cho Hội thánh được hiệp nhất. Ngoài lời cầu nguyện và hy sinh hãm mình, chị đã không từ chối một hoạt động nào có thể đem lại hiệp nhất cho Hội thánh. Vào thời kỳ này, chị tới Rô-ma  khuyên Đức Giáo hoàng U-ba-nô VI nên dùng một số người đạo đức thánh thiện làm  cộng sự viên và chấn chỉnh lại đời sống trong Hội thánh. Chị lại còn viết rất nhiều thư gửi cho các hồng y và nhân vật  thế lực có thể góp phần vào việc giải quyết những mối bất hòa trong Hội thánh. Tất nhiên chị cổ động cho mọi người theo lệnh ĐGH U-ba-nô VI, vì đây mới là giáo hoàng chính thức, tuy vị giáo hoàng này là một con người lưỡng lự, thiếu đắn đo như chị cho thấy qua một đoạn thư sau đây :

“Hứa mà không giữ như Đức Thánh Cha vẫn thường làm là dấu nhẹ dạ và ích kỷ. Con khẩn khoản nài xin ĐứcThánh Cha chỉ hứa những điều Đức Thánh Cha có thể giữ được, đừng để vì không giữ lời hứa mà sinh ra thiệt hại làm mất danh giá của Đức Thánh Cha và gây ra lộn xộn. Xin Đức Thánh Cha bỏ lối ăn nói cứng cỏi làm cho người ta tức giận và thù ghét Đức Thánh Cha. Xin Đức Thánh Cha nhớ cho rằng “nhu thắng cương, nhược thắng cường” và đó là cách rất hữu hiệu để thu phục nhân tâm. Có khi Đức Thánh Cha tưởng rằng đối xử nghiêm khắc với người Rô-ma là được việc. Kính thưa Đức Thánh Cha, chắc chắn là không, mà trái lại càng làm cho họ buồn chán và giận ghét khiến họ nổi loạn mỗi khi có dịp, và kết quả là Đức Thánh Cha và Hội thánh bị thiệt.”

Đọc những dòng này, không khỏi có người cho chị Ca-ta-ri-na là táo bạo và hỗn xược, nhất là ở vào hoàn cảnh thế kỷ XIV. Những nghĩ cho cùng, đó là những lời can đảm và sáng suốt. Nếu những ý kiến này đã được nghe theo và thi hành thì Đức Giáo hoàng và Hội thánh đã tránh được nhiều điều đáng tiếc. Chị Ca-ta-ri-na thấy trước là Đức Giáo hoàng sẽ không đếm xỉa gì đến các lời lẽ của chị và Hội thánh đang sắp sửa gặp những ngày bất hạnh. Viễn tượng đen tối và hãi hùng đó xâu xé và hành hạ chị, khiến chị thu hết tàn lực viết một bức thư nữa gửi Đức Giáo hoàng U-ba-nô VI, mong rằng may ra nhờ lòng chân thành của mình mà Hội thánh thoát được cơn thảm họa chăng? Sau những cố gắng vượt bực này, chị thấy trong người rất khó chịu và một cảnh tượng hãi hùng hiện ra trước mắt. Chị thấy quanh mình toàn là quỉ. Chúng hò la inh ỏi khiến chị phải điên đầu. Cuối cùng chị bất tỉnh. Một hồi lâu chị mới tỉnh lại. Liên tiếp trong 48 tiếng đồng hồ sau đó, chị vừa  được nếm cảm những sự êm ái ngọt ngào, lại vừa phải chứng kiến những cảnh rợn rùng ghê sợ. Từ đây, trên gương mặt chị đã thấy hiện ra những nét tàn phá của thần chết. Bản kinh “Lạy Thiên Chúa hằng hữu, lạy Thày nhân hậu” có lẽ đã được chị viết ra vào thời kỳ này. Các ý tưởng cầu xin trong bản kinh đó cũng tương tựa như những ý tưởng chị viết cho cha giải tội Ray-mông đờ Ca-pu (Raymond de Capoue) ngày 15.2.1380 mà nội dung là xin cho Hội thánh được chấn chỉnh lại và toàn thắng mưu ma chước quỉ, cho con cái Hội thánh sau cuộc chiến đấu được sáng suốt và tiến bộ trên con đường hoàn thiện, cho các tín hữu trung thành với Hội thánh và đoàn kết với nhau.

Cả một cuộc đời hiến thân cho Chúa và Hội thánh của chị Ca-ta-ri-na đến đây là hết. Chị đã thành công hay thất bại ? Thành công, nếu hiểu là ý nguyện hy sinh phục vụ Hội thánh đã chinh phục được một số tâm hồn cho Chúa, đã để lại cho đời hai cuốn sách nổi tiếng : Cuốn sách và Đối thoại, đã kiến tạo được một gia đình thiêng liêng khá rộng lớn và đã làm cho Đức Giáo hoàng Ghê-go-ri-ô XI bỏ A-vi-nhông về Rô-ma. Còn thất bại, nếu hiểu là các hoạt động về cuối đời của chị đã không tránh cho Hội thánh khỏi cái họa 2 giáo hoàng một lúc và cái họa này đã kéo dài trong 40 năm. Nếu chị đã thành công khi đưa Tòa thánh từ A-vi-nhông về Rô-ma thì chị đã thất bại, khi không ngăn cản được phe phản giáo hoàng lập ra một Tòa thánh khác và Tòa thánh ở Rô-ma lại phải trở về đóng đô ở A-vi-nhông. Và đây chính là nỗi khổ tâm ghê gớm của chị.

Nhưng thành bại chưa hẳn đã là cái thước đo đích thực giá trị đời sống của một người, vì điều ấy còn tùy thuộc ở nhiều yếu tố vượt quá khả năng và thiện chí cá nhân.

Ngày nay chị Ca-ta-ri-na đã thành thánh và đang ở trên trời. Hàng năm đến ngày kính nhớ chị, nhìn vào tấm gương can đảm anh hùng chị đã nêu cao cho hậu thế, chúng ta càng thêm vui mừng và tin tưởng. Niềm tin tưởng của chúng ta là hoàn cảnh éo le không dập tắt được thiện chí và niềm vui của chúng ta là đã có một người sống trong những hoàn cảnh éo le như chị Ca-ta-ri-na mà cũng đã hết lòng phục vụ Hội thánh một cách đắc lực và giúp ích được cho nhiều người.

Nguyện xin thánh Ca-ta-ri-na chuyển đạt lòng mến yêu và tinh thần hăng say phục vụ Hội thánh của bà cho tất cả những tâm hồn thiện chí muốn noi gương bắt chước bà.

 

 

 

NẮM VỮNG và GIỮ TRỌN ĐIỀU CỐT YẾU của KITÔ GIÁO.

Nguyễn Chính Kết

1. Muốn thành công, phải đi đúng đường, làm đúng lối

Trong đời sống thường nhật, làm việc gì mà muốn thành công thì cần phải làm cho đúng phương pháp hay cách thức của nó. Để thực hiện những kế hoạch lớn, cần phải đi cho đúng hướng, nếu không đúng hướng, sẽ thất bại ê chề: «sai một ly, đi một dặm». Nhiều người khi làm việc gì thì chỉ biết cắm cúi làm, không cần biết làm thế nào cho đúng để có thể chắc chắn thành công và đạt hiệu quả cao nhất. Dường như họ quan niệm: «cần cù bù thông minh» ! Làm không đúng cách, đi không đúng hướng, chẳng những không đạt được mục đích, mà còn gây thiệt hại nữa. Vì thế, có danh nhân đưa ra công thức: «Nhiệt thành + ngu xuẩn = phá hoại».

Dù việc nhỏ hay việc lớn ở trần gian này, muốn thành công, đều cần phải làm cho đúng cách, đúng phương pháp. Việc nên thánh, việc đạt được hạnh phúc vĩnh cửu đời sau, theo quan niệm của người Kitô hữu, là việc quan trọng nhất trên đời. Rất nhiều Kitô hữu khi làm ăn hay tính toán chuyện gì, họ đều nghĩ xem phải làm thế nào để chắc chắn thành công và đạt được hiệu quả cao nhất. Nhưng đối với việc đạt được hạnh phúc vĩnh cửu thì họ lại chẳng hề quan tâm hay thắc mắc phải làm cách nào để chắc chắn đạt được mục đích ấy, và điều gì cần thiết nhất để đạt được mục đích ấy. Việc quan trọng như thế mà họ cứ thực hiện theo kiểu mò mẫm, làm theo những hiểu biết không chắc chắn, thiếu chính xác! Vì thế, sẽ có nhiều trường hợp người Kitô hữu trung thành giữ đạo cả một đời, những tưởng sẽ được Thiên Chúa thưởng công bội hậu, nhưng… có thật đây là Thánh Ý Thiên Chúa hay không?

2. Muốn vào Nước Trời, phải thi hành thánh ý Thiên Chúa

Trong Tin Mừng, có lần Đức Giêsu cho biết: «Có nhiều người tìm cách vào (Nước Trời) mà không được» vì họ đã sử dụng những phương cách không đúng, không hiệu quả. Ngài cho thấy cảnh thất bại của họ vào ngày phán xét: họ tưởng những việc họ đã làm ở trần gian để vào Nước Trời sẽ giúp họ vào được Nước ấy. Nhưng sự việc xảy ra thật phũ phàng! Những việc họ đã làm ở trần gian với mục đích vào được Nước Trời bấy giờ họ mới thấy là hoàn toàn vô ích. Tại sao vậy? Vì những việc phụ thuộc và không cần thiết thì họ đã làm một cách thật chăm chỉ, còn những việc chính yếu và cần thiết nhất phải làm mới vào được Nước Trời thì họ lại không thèm làm.

Đức Giêsu mô tả cảnh ấy cách rất rõ rệt trong Tin Mừng Matthêu: «Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng: «Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao?» Và bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ: Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác!»  (Mt 7, 22-23).

Theo đoạn Tin Mừng trên thì vào ngày phán xét, nhiều người từng được tiếng là tốt lành thánh thiện ở trần gian – vì đã làm được những việc đạo đức ít ai làm được, như nói tiên tri, trừ quỉ, làm phép lạ – họ tưởng rằng được nổi tiếng là đạo đức vì làm được những việc như thế thì chắc chắn họ phải đủ hoặc dư tiêu chuẩn để vào Nước Trời rồi. Nhưng không ngờ Chúa phán một câu khiến họ bật ngửa: «Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác!» Thì ra những việc đạo đức ấy tuy được người đời nể phục và ca tụng, nhưng hoàn toàn không cần thiết và cũng chẳng ích lợi gì cho việc vào Nước Trời của họ nếu không muốn nói là có hại. Có hại vì chúng làm họ lầm tưởng rằng mình thánh thiện thật sự rồi sinh tự hào, kiêu ngạo.

Vậy thì việc gì là cần thiết để vào được Nước Trời? Đức Giêsu nói rất rõ: «Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: «Lạy Chúa! lạy Chúa!» là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi»  (Mt 7, 21). Lời Chúa nói thật rõ ràng: điều cần thiết nhất và duy nhất để được vào Nước Trời là thi hành ý muốn của Thiên Chúa (cụm từ «chỉ… mà thôi» nói lên tính duy nhất cần thiết ấy). Thực hiện thánh ý Chúa, đó là điều phải làm trong thực tế, nghĩa là phải hành động thật sự chứ không chỉ nói hay tuyên xưng xuông. Câu Tin Mừng trên còn nhấn mạnh sự vô ích của những lời nói, lời tuyên xưng, hoặc những lời cầu nguyện rỗng tuếch không dẫn đến hành động.

Vậy điều quan trọng và cần thiết để vào Nước Trời là thực hiện thánh ý Thiên Chúa. Nhưng thánh ý Thiên Chúa là gì? Ngài muốn chúng ta làm gì?

3. Thiên Chúa muốn chúng ta làm gì?

Thiên Chúa là Tình Yêu, và Nước Trời là vương quốc của Tình Yêu, trong đó, Tình Yêu thống trị tất cả. Vì thế, chỉ những ai có tình yêu đích thực mới phù hợp với Nước Trời. Thiên Chúa là Tình Yêu, nên Ngài chủ yếu muốn chúng ta – vốn được dựng nên theo hình ảnh của Ngài – phản ảnh trung thực bản tính yêu thương của Ngài. Vì thế, khi Đức Giêsu đến, Ngài chỉ đưa ra một lề luật duy nhất là: «Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em»  (Ga 13, 34). Ngài không hề đưa ra một giới luật nào khác, vì Ngài muốn mọi Kitô hữu theo Ngài hiểu được tầm quan trọng duy nhất của việc yêu thương nhau mà tập trung mọi nỗ lực của mình vào đó.

Để nhấn mạnh tầm quan trọng duy nhất này, Ngài còn mô tả ngày phán xét cuối cùng: Thiên Chúa chỉ xét theo một tiêu chuẩn duy nhất: ta đã yêu thương tha nhân ra sao bằng hành động cụ thể: «Xưa Ta đói, các ngươi đã (không) cho ăn; Ta khát, các ngươi đã (không) cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã (không) tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã (không) cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã (không) thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi (không) đến hỏi han» ; vì «mỗi lần các ngươi (không) làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất đây, là các ngươi đã (không) làm cho chính Ta vậy»  (Mt 25, 31-46). Trong đoạn Tin Mừng này, ta tuyệt nhiên không thấy Ngài phán xét theo một tiêu chuẩn nào khác. Vậy, điều Thiên Chúa muốn chúng ta thực hiện để vào được Nước Trời chủ yếu là tình yêu đích thực, nghĩa là biết tích cực yêu thương tha nhân.

Điều rất lạ là Kitô hữu nào cũng biết cốt tủy Kitô giáo là công bằng và yêu thương, nhưng số Kitô hữu – kể cả những người giảng dạy về Kitô giáo – tập trung cố gắng để thực hành điều cốt tủy và cần thiết này dường như không nhiều. Nếu nhiều thì chắc chắn bộ mặt Kitô giáo đã khác hẳn hiện nay. Lời Chúa nói về điều cốt tủy và cần thiết ấy thật chắc chắn và rõ ràng, nhưng người Kitô hữu dường như tập trung cố gắng vào những gì khác chứ không phải vào điều cốt tủy ấy. Hiện nay, đa số Kitô hữu vẫn còn đi vào vết xe cũ đã đổ của người Do Thái, là quá coi trọng hình thức tôn giáo bên ngoài, những tập tục, nghi thức, chỉ biết lãnh nhận các bí tích một cách chiếu lệ thiếu hẳn chiều kích nội tâm, v. v… Đó là những điều mà các ngôn sứ bao đời và cả Đức Giêsu đã đả phá kịch liệt (x. Is 1, 11-17; Am 5, 21-24; Gr 6, 20; 14, 12; Mk 3, 4; 6, 6-8; Mt 5, 23-24; 9, 13; Mc 12, 33; v. v…). Hoặc họ tập trung nỗ lực vào việc giữ những luật này lệ nọ, đủ mọi thứ luật, nhưng luật quan trọng nhất phải tuân giữ là công bằng và yêu thương thì lại bỏ qua.

Chính vì thế, trong bài Tin Mừng hôm nay «có kẻ hỏi Người: Thưa Ngài, những người được cứu thoát thì ít, có phải không?» và Đức Giêsu đã khẳng định: «Kẻ được gọi thì nhiều, mà người được chọn thì ít»  (Mt 22, 14; 20, 16). Vậy chúng ta phải sống đạo thế nào cho đúng thánh ý Chúa, kẻo cả đời giữ đạo Chúa của chúng ta trở thành «xôi hỏng, bỏng không», hay thành «công dã tràng» thì thật đáng tiếc! Đừng để câu Kinh Thánh sau đây đúng với chính chúng ta: «Từ phương đông phương tây, nhiều người sẽ đến dự tiệc cùng các tổ phụ Ápraham, Ixaác và Giacóp trong Nước Trời. Nhưng con cái Nước Trời thì sẽ bị quăng ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng»  (Mt 8, 11-12).

Tóm lại, để sống đạo cho đúng và có hiệu quả, nghĩa là để việc sống đạo đem lại kết quả mong muốn là bình an vui tươi ngay ở đời này, và hạnh phúc vĩnh cửu ở đời sau, ta cần phải nắm cho vững cốt yếu của Kitô giáo là gì, và thực hiện cái cốt yếu ấy cho trọn suốt cả cuộc đời. Cốt yếu của Kitô giáo chính là tình yêu đích thực của ta đối với Thiên Chúa, được thể hiện ra thành tình yêu đối với tha nhân. Ai tưởng rằng mình yêu Thiên Chúa mà tình yêu ấy lại không thể hiện thành tình yêu tha nhân, thì kẻ ấy chỉ là người ảo tưởng (x. 1Ga 4, 20). Cốt yếu ấy – tức tình yêu chân thật – không nằm trên bình diện nghi thức bên ngoài mà nằm ngay trong lòng của ta. Tuy nhiên, nếu có tình yêu trong lòng, thì tình yêu ấy sẽ thể hiện ra bên ngoài bằng hành động, bằng nghi thức, một cách rất tự động và tự nhiên, không cần phải cố gắng. Như vậy, cái ở trong lòng mới là chính yếu, cái thể hiện ra ngoài chỉ có giá trị khi nó xuất phát từ bên trong. Tuy nhiên, người ta chỉ thấy được cái cốt tủy ở bên trong khi nó được thể hiện ra bên ngoài. Tương tự như không ai biết được có điện nếu không nhờ những thể hiện của dòng điện như đèn sáng, quạt quay, bếp nóng… Nói rằng mình có tình yêu ở bên trong mà tình yêu ấy không hề thể hiện ra bên ngoài bằng hành động thì rất có thể tình yêu ấy chỉ là tình yêu giả hiệu, không phải là tình yêu thật sự.

Xin Thiên Chúa ban cho tất cả chúng ta một tình yêu chân thật, không giả dối bề ngoài. Đó chính là điều cần thiết nhất trong việc giữ đạo hay sống đạo của ta.

Về mục lục >

 

TRÊN ĐƯỜNG NGÀI DẪN TÔI ĐI…

 

Khổng Lãng Nhân

Trên con đường lãng du, tôi nhớ lại hai thánh lễ mà mình tham dự ngày Chúa Nhật

Thánh lễ tại Los Angeles được cử hành trong một nguyện đường thật nhỏ nằm trên một ngọn đồi mà tôi không nhớ tên. Nhưng điều tôi không thể quên được là khung cảnh bên trong thánh đường ấy. Khi nhìn lên bàn thờ, giáo dân có thể thấy được tượng Đức Mẹ màu trắng ở ngọn đồi sau lưng xuyên qua một tấm kính, đàng sau thập giá Chúa Kitô trên cung thánh. Hình ảnh Đức Mẹ ở đó như sự hiện diện của Mẹ trong cuộc hy lễ Chúa Kitô cứ như nhắc nhở cho tín hữu biết rằng Mẹ từng là người đầu tiên tham dự thánh lễ trên Núi Sọ; và từ đấy, Mẹ luôn luôn hiện diện với con cái Mẹ từ thế hệ này đến thế hệ kia, cùng hiệp thông trong lễ tế muôn đời này. Phải chăng vì đó mà bầu không khí hôm Chúa Nhật ấy khiến tôi sốt sắng lạ thường. Lòng sốt sắng theo tiến trình thánh lễ cứ dâng cao cho đến khi tôi chịu lễ. Khi người giáo dân cho rước lễ đưa Mình Thánh Chúa lên cao, mỉm cười thật tươi và nói: “The Body of Christ”, tôi đáp lại “Amen” mà nước mắt lưng tròng. Lần đầu tiên tôi thấy một người trao Mình Thánh Chúa với nụ cười. Tôi nhớ lại suốt đời mình hình như chưa bao giờ có ai trao Chúa Kitô cho tôi với một nụ cười cả. Tôi thấy thương Chúa quá. Về phần tôi, khi đem Chúa đến cho một ai, dường như lúc nào mặt tôi cũng nghiêm trang đến độ đau buồn, nếu không phải là cau có. Từ ngày còn là một chú bé giúp lễ, tôi đã đối đáp một cách máy móc: Introibo at altare Dei – Ad Deum qui laetificat iuventutem meam. Tôi sẽ bước lên bàn thờ Chúa – Đến với Chúa là Đấng làm hoan lạc tuổi xuân tôi. Niềm hoan lạc đó đã biến đi đâu rồi nhỉ? Trong thế giới hôm nay, có bao nhiêu giáo dân như tôi? Và có bao nhiều giáo dân như người đã cho tôi rước lễ nhỉ? Chẳng lẽ Tình Yêu mang nét mặt sầu thảm sao?

Thánh lễ ở Orlando, tôi tham dự trong một nguyện đường khá lớn. Điều tôi ngỡ ngàng vui thích là khi sắp cử hành thánh lễ, vị chủ tế kêu gọi cộng đồng chào hỏi nhau. Mọi người bắt tay, nhìn mặt nhau, chào làm quen và nhận ra nhau là anh chị em cùng một Cha, trước khi hiệp thông với nhau trong Thánh lễ. Cử chỉ đơn sơ ấy cũng làm tôi nghĩ ngợi. Trong mọi bữa tiệc, ai ai cũng chào hỏi làm quen trước khi nâng ly cầm đũa. Thậm chí trên một chuyến xe đò, người ta cũng gợi chuyện làm quen, chia sẻ cho nhau một viên kẹo, một múi cam. Thế mà trong bữa tiệc thánh sao anh chị em mình lại xa lạ với nhau đến thế? Bao lâu rồi, tôi đi dự lễ như một người khép kín, chỉ biết bản thân mình với Chúa. Đến khi hiệp lễ, tôi rước Chúa cho riêng mình rồi rút về, đóng cửa lòng lại để chỉ có tôi với Người. Trước đó, tôi có chúc bình an theo lời kêu gọi của chủ tế, nhưng lời chúc chưa kịp ra khỏi môi thì tôi đã vội vã quay về với Chúa để khỏi lo ra. Chúa mà tôi rước vào lòng mình có đem Bình An cho ai khác không? Chẳng lẽ Tình Yêu mang bộ mặt ích kỷ sao?

Nhắc lại hai thánh lễ, không hiểu vì sao tôi lại nhớ đến mấy câu thơ mà một anh bạn đã đọc cho tôi trong những ngày ở Paris, mà tôi tạm dịch như sau:

 Em bảo rằng em yêu hoa, và em hái những hoa nào đẹp,

 Em bảo rằng em yêu chim, và em bắt chim nhốt vào lồng,

 Em bảo rằng em yêu cá, và em ăn cá cách ngấu nghiến,

 Vì thế khi em bảo rằng em yêu tôi… Tôi sợ hãi!

 Lạy Chúa: Con sợ.

 Con không sợ tội lỗi, vì Chúa đã chết cho kẻ có tội là con đây.

 Con không sợ thế gian, vì Chúa đã thắng thế gian.

    Con chỉ sợ bản thân mình, sợ rằng con loan truyền một tình yêu buồn thảm, đau thương và ích kỷ, thay vì làm chứng cho niềm vui và bình an.

 Lạy Chúa, con không xin Chúa một đức tin có thể chuyển núi dời non,

 Nếu cần như thế, con sẽ nhờ đến thỏi mìn hay chíếc xe ủi đất

 Con chỉ xin Chúa một đức tin để có thể lay chuyển bản thân mình mà thôi.

Về mục lục >

 

 

 HÔN NHÂN & GIA ĐÌNH 

KHOẢNG CÁCH GIỮA HAI THẾ HỆ

Trần Duy Nhiên

Em,

Thầy vừa nhận thơ của em. Thầy đọc lại nhiều lần, nhiều đến độ gần như thuộc lòng.

«Thưa Thầy, người mà con hằng thương yêu và kính trọng là mẹ con, nói với con rằng: “Không còn trách nhiệm nuôi con nữa, và coi như không có đứa con như con…”

Thưa Thầy, tại sao người lớn cứ mãi khăng khăng với ý kiến của mình, không chịu tìm hiểu thế giới của tụi con mà lại tự cho rằng đang sẵn sàng lắng nghe, lắng nghe rồi bác bỏ, rồi đưa ra lý do không xác đáng bắt phải tin là như thế. Rồi lại bảo con không biết thương mẹ.

Thưa Thầy, giữa cái đúng và mẹ, con phải theo bên nào, con phải chọn hướng đi về phía nào, liệu mẹ con sẽ lấn át được cái đúng hay cái đúng sẽ dần dần làm mẹ con hiểu con? Con không dám gọi những gì con quyết định là đúng đắn, nhưng con đường mẹ dẫn con đi là không đúng. Không phải là tất cả mọi việc, chỉ trong một việc thôi, nhưng con muốn chứng tỏ đâu là sự thật. Con không muốn làm đau lòng mẹ, vì con hiểu được tình thương của mẹ dành cho con như thế nào… mà hỡi ôi! …»

Hôm nọ, một em khác cũng đến với thầy lúc 9 giờ đêm. Em khóc và nói: «Từ sáng đến giờ ba em không nói chuyện với em. Sự việc bắt đầu bằng một chuyện không đâu. Hôm qua, khi hai cha con cùng xem một cuốn phim về tuổi trẻ, ba em đưa ra một nhận xét. Em nói: 'Con không quan tâm'. Thế là ba em bỏ đi vào phòng. Nửa giờ sau, ba em ra nói một giọng chua chát: 'Từ này về sau, mày sẽ không bao giờ nghe được một lời dạy dỗ nào của tao nữa!’»

Và bao nhiêu lần khác, bao nhiêu em khác nữa… Khoảng cách giữa hai thế hệ là một vấn đề muôn thuở nhưng vẫn là một thảm kịch cho bao nhiêu người, và bây giờ là một bi kịch cho em. Thầy phải nói gì với em, em nhỉ?

Trước tiên, thầy kể cho em câu chuyện mà Nietzsche đã viết trong cuốn 'Ainsi parlait Zarathoustra', với tựa đề: Les Trois Métamorphoses (Ba Lần Lột Xác), để nói lên hành trình nội tâm của một con người trong cuộc đời.

- Trên hành trình đó, con người thông qua ba giai đoạn:

Giai đoạn thứ nhất, họ là con lừa.

Con lừa là nhân vật đón nhận tất cả mọi gánh nặng mà gia đình, xã hội, truyền thống… đặt trên lưng mình, rồi cam chịu mà không bao giờ thắc mắc những gánh nặng đó là gì. «Ngươi phải sống thế này, ngươi phải làm thế nọ…, con lừa câm lặng vâng theo, lưng mang nặng mọi điều mà luân lý, giáo dục, hoặc tôn giáo đặt trên lưng mình».

Giai đoạn thứ hai: Con lừa đi vào sa mạc.

Sa mạc có nghĩa là sự cô đơn và không còn phải chịu sự kiểm soát của một ai. Ở sa mạc, con lừa biến thành «sư tử». «Sư tử» vất tất cả mọi giá trị mà người ta đặt trên lưng xuống và đẫm nát tất cả. Mọi thứ gánh nặng đều trở nên một cản trở đối với tự do. «Không ai có quyền bắt tôi phải làm một điều gì cả, chỉ có tôi mới có quyền quyết định cho bản thân mình mà thôi».

Giai đoạn thứ ba: sau khi phá sạch mọi giá trị, «sư tử» sẽ biến thành «bé thơ».

Bé thơ là chấp nhận và quên đi. «Bé thơ» không thắc mắc gì nhiều, không chống đối ai, nhưng cũng không bị ai ràng buộc bắt ép. «Bé thơ» là một con người đạt đến đỉnh cao của tự do.

Hiện giờ, em đang đối diện với những xung đột giữa những điều mình nghĩ và những điều 'người lớn' nghĩ. Em đang ở giai đoạn sư tử. Vấn đề xảy ra giữa mẹ và em không phải xuất phát từ mẹ em hoặc từ bản thân em. Vấn đề xảy ra là do em đã thành sư tử mà mẹ em vẫn xem em là «con lừa». Thế là thảm kịch!

Em phải chọn lựa hoặc sống tự do, nghĩa là sống theo điều mình nghĩ; hoặc sống trong tình thương, nghĩa là sống đúng theo ý của mẹ. Tự do và tình thương đều là hai nhu cầu không thể thiếu được của một con người. Cái khổ của em hiện tại là hình như em chỉ có thể chọn một trong hai mà thôi… Và thực tế là em đang bắt cá hai tay, nghĩa là vừa muốn được tự do, nhưng điều đó làm hỏng ít nhiều tình thương; đồng thời em cũng muốn sống trong tình thương, nhưng điều đó lại hạn chế ít nhiều tự do. Thành ra em chẳng thấy có được thứ nào trọn vẹn.

Không ai có thể giải quyết thay cho em xung đột này cả. Một con người muốn trưởng thành luôn phải thông qua giai đoạn này… Rồi đến một ngày em sẽ tìm ra sự hài hòa cho chính bản thân. Con người luôn chọn cho mình điều mà mình cần nhất. Em sẽ biết ở mức độ nào em sẽ giữ được cả tình thương lẫn tự do.

Thực ra, mẹ em cũng đang cần tình thương của em, và cũng cần cảm thấy mình tự do. Ðừng làm cho bà phải chọn lựa như em, nghĩa là chọn lựa hoặc chỉ có quyền tự do quyết định đối với con gái của mình (mà nó hậm hực nghe theo), hoặc chỉ có tình thương của nó (mà không còn được nó vâng lời).

Bà cũng đang đau xót như em, và có thể còn hơn em nữa. Bởi vì thường thường thì mẹ thương con nhiều hơn là con thương mẹ. Trong lãnh vực tình cảm, ai yêu thương nhiều hơn thì người ấy yếu hơn, và khi xung đột xảy ra, người ấy chịu một vết thương sâu hơn người kia.

Em không thể nào 'dạy' mẹ em có cái nhìn 'đúng' như em, bằng chứng là em không thể nào có cái nhìn 'đúng' như mẹ. Vấn đề là em phải học cách nhìn với cái nhìn của mẹ, từ đó em sẽ hiểu vì sao có sự ngăn cách, bấy giờ em sẽ cùng với mẹ đi đến một giải pháp hữu hiệu.

Hãy tỏ ra hợp lý: điều em mong là mẹ em phải thay đổi để có cái nhìn giống như em: vì em nghĩ là em nhìn đúng. Thế thì vì sao em không nghĩ rằng mẹ em cũng muốn em phải thay đổi để có cái nhìn giống như bà, vì bà nghĩ rằng bà đúng?

Em không đổi được chính mình, thì sao em lại đòi hỏi mẹ em thay đổi? Người duy nhất mà em có thể thay đổi là bản thân em, em không thể thay đổi mẹ em đâu! Khách quan mà nhìn, thì người lớn khó thay đổi và có ít lý do để thay đổi hơn người trẻ. Em suy nghĩ xem vấn đề xung đột là ở đâu, rồi em thay đổi cách nhìn… Nói thì dễ nhưng làm thì khó…

Nhưng hãy bắt đầu đi, rồi em thấy rằng mẹ em nhiều thiện chí và ít cố chấp hơn em tưởng, hay ít ra, bà không thiếu thiện chí và cũng không cố chấp hơn bản thân em đâu. Hãy bắt đầu đi, con đường còn dài, và em sẽ tìm ra được giải pháp cho chính mình để bảo toàn tự do bản thân đồng thời giữ trọn vẹn tình thương của những người mình tha thiết. Hành trình sẽ cam go đấy: nhưng đó là con đ