|
THÁNH CA-TA-RI-NA THÀNH XI-Ê-NA, CON NGƯỜI CỦA NHỮNG HOÀN CẢNH ÉO LE. Lm. Anrê Đỗ Xuân Quế, OP Gấp cuốn sách kể chuyện cuộc đời thánh Ca-ta-ri-na lại[1], người đọc không khỏi cảm động và thán phục. Cảm động vì những trang diễn tả các nỗi đau đớn thánh nữ phải chịu trước khi lìa đời vì lòng mến yêu Hội thánh, và thán phục vì một người phụ nữ, tuy tuổi đời vẻn vẹn chỉ có 33 năm, thế mà đã làm được bao việc lẫy lừng có ảnh hưởng sâu xa đến cả một thời đại và còn lưu truyền cho hậu thế mãi đến ngày nay. Có thể nói thánh Ca-ta-ri-na là người của những hoàn cảnh éo le. Chính trong những hoàn cảnh này mà bà đã tỏ ra là người rất độc đáo, không bó tay đầu hàng, không nhắm mắt làm ngơ, nhưng trái lại, luôn phấn đấu chống lại nghịch cảnh, luôn hành động để thay đổi những gì cần thay đổi trong xã hội và cộng đồng Dân Chúa thời bấy giờ. Một phần lớn giá trị, ảnh hưởng cũng như uy tín của thánh nữ hệ tại những điểm đó. Quả thế, hoàn cảnh gia đình, tình trạng xã hội, những ngăn trở lớn lao trong ngoài Hội thánh hồi hậu bán thế kỷ XIV ở Ý và Pháp không thuận lợi cho bà trở thành một nhân vật phi thường như chúng ta thấy. Trong những hoàn cảnh như vậy, người ta dễ bị cám dỗ nhắm mắt làm ngơ cho yên chuyện để khỏi mang lụy vào thân, hay ngược lại, tỏ ra bực bội khó chịu hoặc thở vắn than dài. Trái lại, thánh Ca-ta-ri-na đã không lùi bước, không hững hờ, không sợ phiền lụy, không kêu than trách móc, nhưng luôn can đảm đương đầu. Động lực nào đã lôi cuốn thánh nữ lao mình vào con đường hành động mà vẫn giữ được cốt cách của một tâm hồn chiêm niệm, đồng thời không xa lạ với con người và xã hội cũng như những vấn đề do hoàn cảnh lịch sử xui khiến ? Sức mạnh và động lực nào đã nâng đỡ người phụ nữ thành Xi-ê-na trước những cơn gian nan thử thách kia ? Tất nhiên, đối với một con người ưu tú. được Thiên Chúa tuyển chọn như thánh Ca-ta-ri-na thì chắc hẳn động lực và sức mạnh nói đây phải là Chúa và ơn thiêng của Người. Ngoài ra là những cố gắng kiên trì, những phấn đấu liên lỷ của bản thân thánh nữ để đáp lại tiếng Chúa kêu mời và bước theo đường lối Người chỉ vẽ cho. 1. Hoàn cảnh éo le trong gia đình Thánh Ca-ta-ri-na rất đông anh chị em. Ông Bà Bê-nin-ca-sa, song thân thánh nữ được 25 người con cả trai lẫn gái. Thánh nữ là người thứ 23. Các anh chị em của thánh nữ không có gì đặc biệt. Nhiều người chết lúc còn nhỏ và chẳng được mấy ai biết đến tên. Trong số các anh chị em này, phải kẻ đến Bo-na-ven-tu-ra. Cô là chị hai, rất thân thiết và thuơng mến Ca-ta-ri-na. Chính cô đã dạy cho Ca-ta-ri-na biết cách ăn mặc, nhuộm tóc, tô môi và làm đẹp. Ngoài ra, không còn gì đáng nói cả. Đời sống hàng ngày trong gia đinh Bê-nin-ca-sa thế nào. không mấy ai đề cập. Tuy nhiên người ta có thể nghĩ rằng đó là một gia đình lương thiện, nề nếp, ngay thẳng, cần cù, biết hy sinh nhưng cũng thích tiện nghi và những sự êm ái dễ chịu. Như thế không có gì là đặc sắc khả dĩ tạo ra được một môi trường khiến cho cô bé Ca-ta-ri-na trở thành một nhân vật phi thường và một vị thánh lỗi lạc. Quả vậy, bà La-pa, mẹ của Ca-ta-ri-na là một người đàn bà thực tế. Bà muốn cho cô có một tấm chồng và ở đời làm ăn sinh sống như những thiếu nữ đồng trạc. Bà đâu có muốn cho cô dâng mình cho Chúa. Rồi người chị hai mới nói ở trên, cũng phụ họa với mẹ để khuyến khích cô đi vào con đường chồng con như mình. Cả nhà ai cũng khuyên Ca-ta-ri-na nên lập gia đình, nhưng cô vẫn một mực từ chối, lại còn đi tới chỗ quyết liệt là tự tay cầm kéo cắt phăng mái tóc xinh đẹp của mình đi nữa. Nào ngờ cử chỉ quyết liệt này đã làm cho bà mẹ của cô nổi cơn tam bành và mắng cô một trận nên thân với những lời lẽ thật gay gắt : “Con ranh con, mày tưởng cắt tóc đi là cưỡng được mệnh lệnh của chúng tao ư ? Dù muốn hay không, tóc mày cũng sẽ mọc lại và trái tim mày có vỡ ra từng mảnh, tao cũng sẽ bắt mày phải lấy chồng như thường.” Càng bị ngăm đe bao nhiêu, cô lại càng tỏ ra cứng rắn bấy nhiêu. Càng bị sỉ nhục, cô lại càng tăng thêm lòng tin và bám víu vào Chúa. Từ nay cô phải hầu hạ mọi người trong nhà, nhưng cô vẫn tươi tỉnh. Không còn được ở riêng một phòng nữa, cô lẻn vào phòng một người anh đi vắng cả ngày và có lần bị ông bố bắt gặp cô đang quì cầu nguyện trong một góc phòng. Cô nói với cha mẹ và mọi người trong nhà: “Con làm đầy tớ cũng được miễn là để cho con một chút thời giờ. Đuổi con ra khỏi nhà thì con đi và Chúa sẽ lo liệu cho con; chỉ xin cho con bánh và nước với lại cho con sống theo kiểu của con thôi.” Cuối cùng, phần thắng ngả về phía cô. Ca-ta-ri-na không bị ép phải lấy chồng nữa và được sống theo ý nguyện. Bây giờ cô lại có phòng riêng để suy nghĩ, cầu nguyện và sống kết hợp với Chúa. Nhưng bà La-pa nhiều lúc vẫn còn cảm thấy buồn vì đã không thuyết phục được con gái. Bà lấy làm tiếc vì đã để hụt mất một chàng rể. Theo bà, người phụ nữ sinh ra ở đời là để có chồng con, còn ngoài ra là viển vông. Tôn giáo cần thật, nhưng một khi đã đi lễ, đi nhà thờ, đọc kinh sáng tối, làm dấu thánh giá khi bị cám dỗ hay gặp hiểm nguy, thế là đủ rồi. Còn hãm mình phạt xác chỉ tổ hại cho sức khoẻ. Vì thế, bà không khỏi lo ngại, khi thấy con gái vì hãm mình mà ra tiều tụy khiến bà phải la lên : “Con ơi ! Con ơi ! Mẹ thấy con như chết rồi vậy. Con muốn chết hay sao mà lại làm thế ? Ai đã cướp mất con gái của tôi ? Ai đã mang đến cho nó tai họa này ?” Dù vậy, Ca-ta-ri-na vẫn cứ cầu nguyện và hãm mình phạt xác. Tình trạng sức khỏe của cô rất đáng lo ngại. Bà La-pa tính đem cô đi điều trị tại suối Vi-nhon gần Xi-ê-na với ước mong rằng sau khi khỏe lại, cô sẽ thôi không hành hạ tấm thân nữa mà sẽ sống bình thường như mọi thiếu nữ khác. Tại trung tâm điều trị này, đời sống có vẻ phóng khoáng. Người ta từ bốn phương đổ tới, đua nhau ăn chơi chưng diện. Nhưng thay vì bị lôi cuốn vào cái nhịp sống vui tươi nhí nhảnh này, Ca-ta-ri-na càng sống ẩn dật và tăng thêm các việc hãm mình. Bà La-pa thất bại trong việc làm cho con đổi ý. Sau thời kỳ này, Ca-ta-ri-na xin vào Dòng Ba Đa Minh. Cô được lãnh áo dòng và tiếp tục được tu ở nhà cha mẹ, dù bà La-pa nói về cô không mấy hay lắm để người ta đừng nhận cô. 2. Hoàn cảnh éo le ngoài xã hội Xã hội Ý thời bấy giờ là một xã hội phong kiến. Mỗi thành phố giống như một quốc gia nhỏ, thành này chống lại thành kia để bảo vệ quyền lợi và tranh giành ảnh hưởng. Ngoài ra, trong mỗi thành lại có nhiều phe nhóm kình chống nhau. Vì quyền lợi quốc gia và dòng họ, các vua chúa liên minh với nhau để chống lại Hội thánh và Đức Giáo hoàng. Xã hội phân hóa, lòng người hoang mang. Trong một hoàn cảnh xã hội như thế, chị dòng ba Đa Minh Ca-ta-ri-na cảm thấy có nhiệm vụ phải cứu vớt xã hội. Do khả năng chiêm niệm ở mức độ cao, chị luôn luôn kết hiệp với Chúa và được ơn xuất thần. Người chung quanh được chứng kiến những cơn xuất thần ấy và nghe những lời lẽ khôn ngoan sâu sắc của chị nên lũ lượt tuốn đến nhà chị. Chẳng bao lâu nhà chị trở thành nơi lui tới của đủ mọi hạng người, từ thần học gia, nhà giảng thuyết trứ danh, giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ cho đến các bậc công hầu khanh tướng và những người thuộc đủ mọi giai cấp trong xã hội cần đến lời bàn và ý kiến của chị. Người ta nói về tài ba đức độ của chị. Tiếng nhân đức thánh thiện đồn đi rất xa. Biết bao người đã chịu ảnh hưởng của chị. Người ta kêu chị là “mẹ hiền” (dolce mamma). Bỗng nhiên chị trở thành người mẹ rất được mến yêu trong gia đình thiêng liêng gồm những người con tinh thần đã được chị cảm hóa. Từ đây, Ca-ta-ri-na xuất hiện như một nhân vật phi thường về lòng bác ái và mức độ thánh thiện. Chị không từ nan quản khó để đưa người tội lỗi trở về với Chúa hay chỉ lối cho người đang phản nghịch làm hòa cùng Hội thánh. Nhưng không phải chỉ có toàn những người hoan hô và ngưỡng mộ. Bên cạnh những người con tinh thần, những bạn bè chí thiết, lại có những địch thù, những người dèm pha ghen ghét, từ người chịu ơn như cô Sét-ca bị phong cùi được Ca-ta-ri-na săn sóc, như tu sĩ Đa Minh kia đã một lần đuổi chị ra khỏi nhà thờ, và một tu sĩ Đa Minh khác lấy kim châm vào người chị, lúc chị xuất thần cho đến linh mục Lát-gia-ri-nô, tu sĩ dòng Phan-xi-cô, một nhà giảng thuyết nổi tiếng thời bấy giờ cũng như bao người khác nữa dèm pha, chế nhạo. Những người này đều tỏ vẻ hoài nghi về tiếng tăm, nhân đức của chị dòng ba Ca-ta-ri-na, nhằm phá tan huyền thoại về người phụ nữ thành Xi-ê-na. Nhưng cuối cùng, Ca-ta-ri-na đã lấy đức bác ái và lòng khiêm nhường nhịn nhục mà lướt thắng tất cả, lại còn cảm hóa được những người có ác ý muốn hãm hại chị. 3. Hoàn cảnh éo le trong Hội thánh Nếu hoàn cảnh xã hội bên ngoài đầy những bạo hành, đam mê, phóng túng thì hoàn cảnh bên trong Hội thánh cũng chẳng lấy gì làm tốt đẹp hơn. Một số các vị chức sắc trong Hội thánh, nhiều giám mục, linh mục, tu sĩ sống không khác gì người ta, cũng ham tiền, cũng chạy theo thú vui danh vọng và bỏ bê công việc bổn phận. Thêm vào đó là tình trạng phân hóa trầm trọng của các tín hữu, người thì theo Giáo hoàng này, người thì theo Giáo hoàng kia, vì bấy giờ Hội thánh có 2 giáo hoàng một lúc và quân của hai bên đánh nhau để chiếm quyền chính. Ngay trước khi xảy ra tình trạng đó thì ĐGH Ghê-go-ri-ô XI đã không ở Rô-ma mà lại ở A-vi-nhông (Pháp). Chị Ca-ta-ri-na đã phải sang tận nơi xin Đức Giáo hoàng rời A-vi-nhông về Rô-ma. Chị đã bị nhiều vị hồng y thích ở lại A-vi-nhông chống đối. Gia đình ĐGH Ghê-go-ri-ô XI cũng phản đối dự định đưa Tòa thánh về lại Rô-ma. Đã có lúc cơ sự tưởng chừng như không thành vì Đức đương kim Giáo hoàng là người Pháp, tính hay lưỡng lự, lại quá nặng lòng với quê hương xứ sở. Nhưng vì chị Ca-ta-ri-na là người của Chúa, được Chúa dùng để đem lại sự hợp nhất cho Hội thánh nên cuối cùng Đức Giáo hoàng cũng phải vượt qua mọi trở ngại để đưa Hội thánh về lại Rô-ma. Trong công cuộc này, chị đã phải đổ ra biết bao nhiêu mồ hôi nước mắt và đã phải can trường lắm mới đương đầu nổi với những khó khăn tưởng là vô phương đối phó, để làm cho Đức Giáo hoàng chịu trở về Rô-ma, như các lời lẽ sau đây chứng tỏ: “Đức Thánh Cha không thể và không được từ bỏ ý định trở về Rô-ma, vì làm như thế, Đức Thánh Cha sẽ khiến cho người ta bàn tán xôn xao và gây ra một cuộc nổi loạn cả ở bên trong lẫn bên ngoài Hội thánh. Người ta sẽ cho Đức Thánh Cha là nói dối, đang khi Đức Thánh Cha phải là người đại diện cho chân lý. Đức Thánh Cha đã loan báo và ấn định ngày về Rô-ma, nay nếu Đức Thánh Cha không đi nữa sẽ bất tiện lắm và người ta cũng rất hoang mang xao xuyến.” Về Rô-ma được ít lâu, Đức Giáo Hoàng Ghê-go-ri-ô XI qua đời. Đức U-ba-nô VI lên thay thế. Đức Giáo hoàng này là một người thật lòng muốn cải tổ Hội thánh, rất đòi hỏi, lại nóng tính hay nói thẳng, khiến nhiều vị hồng y không hài lòng. Một số hồng y không đồng ý với đường lối cai quản Hội thánh của ngài nên ra mặt phản đối và lui về A-nha-ni (Agnani) để tìm cách bắt Đức Giáo hoàng phải nhượng bộ. Các hồng y Co-xi-ni, O-xi-ni, Bót-xa-ni từ trước đến giờ vẫn trung lập, nay bỏ Đức Giáo hoàng, về Vi-cô-va-rô rồi từ đó về Pa-lét-ti-na. Sau đấy bắt đầu có những cuộc bàn luận, dàn xếp giữa các vị hồng y người Ý và ngoại quốc để đi tới một sự thoả thuận. Cuối cùng chẳng đi tới đâu. Các hồng y ở A-nha-ni gửi thư yêu cầu Đức Giáo hoàng U-ba-nô VI từ chức và công bố một bức thông điệp tố cáo, đồng thời đòi bầu lại giáo hoàng. Để tăng thêm số người ủng hộ mình. Đức Giáo hoàng U-ba-nô VI đật luôn một lúc 29 hồng y mới. Hai hôm sau, các hồng y ly khai cũng triệu tập một mật tuyển viện và bầu Ro-be đơ Giơ-ne-vơ (Robert de Genève) lên làm giáo hoàng. Thế là một lúc Hội thánh có 2 giáo hoàng kình chống nhau vào năm 1378. Sống trong một hoàn cảnh như vậy, không một tín hữu chân chính nào lại không cảm thấy đau buồn, phương chi là chị Ca-ta-ri-na, người hết lòng mến yêu Hội thánh và đã tình nguyện dâng hiến mạng sống mình cho Hội thánh được hiệp nhất. Ngoài lời cầu nguyện và hy sinh hãm mình, chị đã không từ chối một hoạt động nào có thể đem lại hiệp nhất cho Hội thánh. Vào thời kỳ này, chị tới Rô-ma khuyên Đức Giáo hoàng U-ba-nô VI nên dùng một số người đạo đức thánh thiện làm cộng sự viên và chấn chỉnh lại đời sống trong Hội thánh. Chị lại còn viết rất nhiều thư gửi cho các hồng y và nhân vật thế lực có thể góp phần vào việc giải quyết những mối bất hòa trong Hội thánh. Tất nhiên chị cổ động cho mọi người theo lệnh ĐGH U-ba-nô VI, vì đây mới là giáo hoàng chính thức, tuy vị giáo hoàng này là một con người lưỡng lự, thiếu đắn đo như chị cho thấy qua một đoạn thư sau đây : “Hứa mà không giữ như Đức Thánh Cha vẫn thường làm là dấu nhẹ dạ và ích kỷ. Con khẩn khoản nài xin ĐứcThánh Cha chỉ hứa những điều Đức Thánh Cha có thể giữ được, đừng để vì không giữ lời hứa mà sinh ra thiệt hại làm mất danh giá của Đức Thánh Cha và gây ra lộn xộn. Xin Đức Thánh Cha bỏ lối ăn nói cứng cỏi làm cho người ta tức giận và thù ghét Đức Thánh Cha. Xin Đức Thánh Cha nhớ cho rằng “nhu thắng cương, nhược thắng cường” và đó là cách rất hữu hiệu để thu phục nhân tâm. Có khi Đức Thánh Cha tưởng rằng đối xử nghiêm khắc với người Rô-ma là được việc. Kính thưa Đức Thánh Cha, chắc chắn là không, mà trái lại càng làm cho họ buồn chán và giận ghét khiến họ nổi loạn mỗi khi có dịp, và kết quả là Đức Thánh Cha và Hội thánh bị thiệt.” Đọc những dòng này, không khỏi có người cho chị Ca-ta-ri-na là táo bạo và hỗn xược, nhất là ở vào hoàn cảnh thế kỷ XIV. Những nghĩ cho cùng, đó là những lời can đảm và sáng suốt. Nếu những ý kiến này đã được nghe theo và thi hành thì Đức Giáo hoàng và Hội thánh đã tránh được nhiều điều đáng tiếc. Chị Ca-ta-ri-na thấy trước là Đức Giáo hoàng sẽ không đếm xỉa gì đến các lời lẽ của chị và Hội thánh đang sắp sửa gặp những ngày bất hạnh. Viễn tượng đen tối và hãi hùng đó xâu xé và hành hạ chị, khiến chị thu hết tàn lực viết một bức thư nữa gửi Đức Giáo hoàng U-ba-nô VI, mong rằng may ra nhờ lòng chân thành của mình mà Hội thánh thoát được cơn thảm họa chăng? Sau những cố gắng vượt bực này, chị thấy trong người rất khó chịu và một cảnh tượng hãi hùng hiện ra trước mắt. Chị thấy quanh mình toàn là quỉ. Chúng hò la inh ỏi khiến chị phải điên đầu. Cuối cùng chị bất tỉnh. Một hồi lâu chị mới tỉnh lại. Liên tiếp trong 48 tiếng đồng hồ sau đó, chị vừa được nếm cảm những sự êm ái ngọt ngào, lại vừa phải chứng kiến những cảnh rợn rùng ghê sợ. Từ đây, trên gương mặt chị đã thấy hiện ra những nét tàn phá của thần chết. Bản kinh “Lạy Thiên Chúa hằng hữu, lạy Thày nhân hậu” có lẽ đã được chị viết ra vào thời kỳ này. Các ý tưởng cầu xin trong bản kinh đó cũng tương tựa như những ý tưởng chị viết cho cha giải tội Ray-mông đờ Ca-pu (Raymond de Capoue) ngày 15.2.1380 mà nội dung là xin cho Hội thánh được chấn chỉnh lại và toàn thắng mưu ma chước quỉ, cho con cái Hội thánh sau cuộc chiến đấu được sáng suốt và tiến bộ trên con đường hoàn thiện, cho các tín hữu trung thành với Hội thánh và đoàn kết với nhau. Cả một cuộc đời hiến thân cho Chúa và Hội thánh của chị Ca-ta-ri-na đến đây là hết. Chị đã thành công hay thất bại ? Thành công, nếu hiểu là ý nguyện hy sinh phục vụ Hội thánh đã chinh phục được một số tâm hồn cho Chúa, đã để lại cho đời hai cuốn sách nổi tiếng : Cuốn sách và Đối thoại, đã kiến tạo được một gia đình thiêng liêng khá rộng lớn và đã làm cho Đức Giáo hoàng Ghê-go-ri-ô XI bỏ A-vi-nhông về Rô-ma. Còn thất bại, nếu hiểu là các hoạt động về cuối đời của chị đã không tránh cho Hội thánh khỏi cái họa 2 giáo hoàng một lúc và cái họa này đã kéo dài trong 40 năm. Nếu chị đã thành công khi đưa Tòa thánh từ A-vi-nhông về Rô-ma thì chị đã thất bại, khi không ngăn cản được phe phản giáo hoàng lập ra một Tòa thánh khác và Tòa thánh ở Rô-ma lại phải trở về đóng đô ở A-vi-nhông. Và đây chính là nỗi khổ tâm ghê gớm của chị. Nhưng thành bại chưa hẳn đã là cái thước đo đích thực giá trị đời sống của một người, vì điều ấy còn tùy thuộc ở nhiều yếu tố vượt quá khả năng và thiện chí cá nhân. Ngày nay chị Ca-ta-ri-na đã thành thánh và đang ở trên trời. Hàng năm đến ngày kính nhớ chị, nhìn vào tấm gương can đảm anh hùng chị đã nêu cao cho hậu thế, chúng ta càng thêm vui mừng và tin tưởng. Niềm tin tưởng của chúng ta là hoàn cảnh éo le không dập tắt được thiện chí và niềm vui của chúng ta là đã có một người sống trong những hoàn cảnh éo le như chị Ca-ta-ri-na mà cũng đã hết lòng phục vụ Hội thánh một cách đắc lực và giúp ích được cho nhiều người. Nguyện xin thánh Ca-ta-ri-na chuyển đạt lòng mến yêu và tinh thần hăng say phục vụ Hội thánh của bà cho tất cả những tâm hồn thiện chí muốn noi gương bắt chước bà.
|