TRÊN ĐƯỜNG NGÀI DẪN TÔI ĐI…

Khổng Lãng Nhân

Trên con đường lãng du, tôi nhớ lại hai thánh lễ mà mình tham dự ngày Chúa Nhật

Thánh lễ tại Los Angeles được cử hành trong một nguyện đường thật nhỏ nằm trên một ngọn đồi mà tôi không nhớ tên. Nhưng điều tôi không thể quên được là khung cảnh bên trong thánh đường ấy. Khi nhìn lên bàn thờ, giáo dân có thể thấy được tượng Đức Mẹ màu trắng ở ngọn đồi sau lưng xuyên qua một tấm kính, đàng sau thập giá Chúa Kitô trên cung thánh. Hình ảnh Đức Mẹ ở đó như sự hiện diện của Mẹ trong cuộc hy lễ Chúa Kitô cứ như nhắc nhở cho tín hữu biết rằng Mẹ từng là người đầu tiên tham dự thánh lễ trên Núi Sọ; và từ đấy, Mẹ luôn luôn hiện diện với con cái Mẹ từ thế hệ này đến thế hệ kia, cùng hiệp thông trong lễ tế muôn đời này. Phải chăng vì đó mà bầu không khí hôm Chúa Nhật ấy khiến tôi sốt sắng lạ thường. Lòng sốt sắng theo tiến trình thánh lễ cứ dâng cao cho đến khi tôi chịu lễ. Khi người giáo dân cho rước lễ đưa Mình Thánh Chúa lên cao, mỉm cười thật tươi và nói: “The Body of Christ”, tôi đáp lại “Amen” mà nước mắt lưng tròng. Lần đầu tiên tôi thấy một người trao Mình Thánh Chúa với nụ cười. Tôi nhớ lại suốt đời mình hình như chưa bao giờ có ai trao Chúa Kitô cho tôi với một nụ cười cả. Tôi thấy thương Chúa quá. Về phần tôi, khi đem Chúa đến cho một ai, dường như lúc nào mặt tôi cũng nghiêm trang đến độ đau buồn, nếu không phải là cau có. Từ ngày còn là một chú bé giúp lễ, tôi đã đối đáp một cách máy móc: Introibo at altare Dei – Ad Deum qui laetificat iuventutem meam. Tôi sẽ bước lên bàn thờ Chúa – Đến với Chúa là Đấng làm hoan lạc tuổi xuân tôi. Niềm hoan lạc đó đã biến đi đâu rồi nhỉ? Trong thế giới hôm nay, có bao nhiêu giáo dân như tôi? Và có bao nhiều giáo dân như người đã cho tôi rước lễ nhỉ? Chẳng lẽ Tình Yêu mang nét mặt sầu thảm sao?

Thánh lễ ở Orlando, tôi tham dự trong một nguyện đường khá lớn. Điều tôi ngỡ ngàng vui thích là khi sắp cử hành thánh lễ, vị chủ tế kêu gọi cộng đồng chào hỏi nhau. Mọi người bắt tay, nhìn mặt nhau, chào làm quen và nhận ra nhau là anh chị em cùng một Cha, trước khi hiệp thông với nhau trong Thánh lễ. Cử chỉ đơn sơ ấy cũng làm tôi nghĩ ngợi. Trong mọi bữa tiệc, ai ai cũng chào hỏi làm quen trước khi nâng ly cầm đũa. Thậm chí trên một chuyến xe đò, người ta cũng gợi chuyện làm quen, chia sẻ cho nhau một viên kẹo, một múi cam. Thế mà trong bữa tiệc thánh sao anh chị em mình lại xa lạ với nhau đến thế? Bao lâu rồi, tôi đi dự lễ như một người khép kín, chỉ biết bản thân mình với Chúa. Đến khi hiệp lễ, tôi rước Chúa cho riêng mình rồi rút về, đóng cửa lòng lại để chỉ có tôi với Người. Trước đó, tôi có chúc bình an theo lời kêu gọi của chủ tế, nhưng lời chúc chưa kịp ra khỏi môi thì tôi đã vội vã quay về với Chúa để khỏi lo ra. Chúa mà tôi rước vào lòng mình có đem Bình An cho ai khác không? Chẳng lẽ Tình Yêu mang bộ mặt ích kỷ sao?

Nhắc lại hai thánh lễ, không hiểu vì sao tôi lại nhớ đến mấy câu thơ mà một anh bạn đã đọc cho tôi trong những ngày ở Paris, mà tôi tạm dịch như sau:

 Em bảo rằng em yêu hoa, và em hái những hoa nào đẹp,

 Em bảo rằng em yêu chim, và em bắt chim nhốt vào lồng,

 Em bảo rằng em yêu cá, và em ăn cá cách ngấu nghiến,

 Vì thế khi em bảo rằng em yêu tôi… Tôi sợ hãi!

 Lạy Chúa: Con sợ.

 Con không sợ tội lỗi, vì Chúa đã chết cho kẻ có tội là con đây.

 Con không sợ thế gian, vì Chúa đã thắng thế gian.

    Con chỉ sợ bản thân mình, sợ rằng con loan truyền một tình yêu buồn thảm, đau thương và ích kỷ, thay vì làm chứng cho niềm vui và bình an.

 Lạy Chúa, con không xin Chúa một đức tin có thể chuyển núi dời non,

 Nếu cần như thế, con sẽ nhờ đến thỏi mìn hay chíếc xe ủi đất

 Con chỉ xin Chúa một đức tin để có thể lay chuyển bản thân mình mà thôi.

 

Trở về Muc Lục