Số 17, Ngày 28-8-2004

 

MỤC LỤC

 

Thư Tòa Soạn

Phương Pháp Gặp Gỡ Lời Chúa - Cầu Nguyện - Hoàng Quý

Về Cái “Tôi” của Mỗi Người  - Huyền Vi

Đạo Đức và Hạnh Phúc Gia Đình - Nguyễn Chính Kết

Hãy Dọn Những Bữa Ăn Tinh Thần - Trần Mỹ Duyệt

Rác và thùng rác - Nguyễn Bửu Đồng

Trận Bão Charley - Bửu Sao

Xây Lâu Đài Trên Cát - Maranatha dịch

Tâm Tình Bạn Đọc

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

Quý độc giả thân mến,

Một lần nữa, Maranatha xin được đồng hành cùng Quý vị trên con đường thiêng liêng, chia sẻ với nhau những tâm tình học và sống lời Chúa theo gương người Thầy và Anh Cả Giêsu. Trong số báo 17 tuần này, Maranatha xin được tiếp tục giới thiệu về một số phương pháp để gặp gỡ Lời Chúa và suy niệm. Ngoài đề tài thường xuyên nói về đạo đức và hạnh phúc gia đình, Maranatha cũng giới thiệu những nét linh đạo giáo dân trong đời sống rất thường, khi suy nghĩ về “cái tôi” đáng ghét, hay những tản mạn về những suy tư qua vật dụng rất bình thường trong cuộc sống. Trong những tuần qua, không ai là không biết đến cơn bão lớn Charley đã tàn phá tiểu bang Florida của Hoa Kỳ, nơi có khá nhiều người Việt định cư. Những chia sẻ của một người Việt trực diện với cơn bão khi đi ngang qua khu tác giả sinh sống, cũng là đề tài suy niệm về niềm tin và thân phận con người, tâm tình của người với người trong những hoàn cảnh khốn khó ra sao. Ngoài những món ăn vật chất, Maranatha cũng mời quý độc giả nhớ đến các bữa ăn tinh thần để khoản đãi mọi người chung quanh trong cuộc sống hàng ngày của mình.

Ngày 28 tháng 8 trong tuần lễ này, Giáo hội mừng kính thánh Augustinô, một vị thánh thời danh của những năm 396 đến 430, nhưng ảnh hưởng triết học và thần học của Ngài vẫn còn kéo dài cho đến tận hôm nay. Một điều lý thú là thánh Augustinô không phải là “thánh bẩm sinh,” sinh ra đã là thánh! Ngài đã sống một cuộc sống trai trẻ rất hoang đàng. Tuy nhiên, với ân sủng và cố gắng đáp lại lời kêu gọi của Chúa, thánh nhân đã từ bỏ mọi sự để theo Ngài, thành một thần học gia lỗi lạc và hướng dẫn cho biết bao người theo Chúa. Điều lý thú hơn nữa là thánh Augustinô có một người mẹ tuyệt vời, Thánh Monica.

Monica chính là một nữ giáo dân đã sống trọn vẹn ơn gọi làm con Thiên Chúa trong vai trò làm Mẹ đúng nghĩa. Bà lập gia đình, có chồng và con để yêu thương và chăm sóc. Nhưng tình thương và sự chăm sóc này không chỉ giới hạn về mặt vật chất hay lo lắng tình cảm bình thường. Người mẹ Monica đã thật tuyệt vời trong vai trò làm mẹ, lo lắng đến cả đời sống thiêng liêng, tâm linh của người con. Cuối cùng, người con hoang đàng đã trở về, và từ một chàng thanh niên ăn chơi, Augustinô đã thành linh mục rồi giám mục, góp phần xây dựng Giáo hội trong những công trình suy tư thần học, triết học của mình.

Tất cả chúng ta có lẽ đã có ít nhất một lần trong đời cảm nghiệm được nỗi đau xé lòng của Monica khi nhìn thấy con của mình là Augustinô đắm mình trong truỵ lạc. Khi chúng ta chứng kiến một người anh, người chị em hoặc bạn bè, người thân phải chiến đấu với lòng tin trong cuộc sống hoặc với những tật xấu, lầm đường lạc lối…Chúng ta làm được gì ngoài niềm tin cậy phó thác và cầu nguyện sau khi cảm thấy mình bất lực, lo lắng và đớn đau. Chính lúc đó chúng ta cảm nghiệm hơn bao giờ một chút rất nhỏ của tình yêu, lòng thương xót và sự tôn trọng tự do của Thiên Chúa dành cho chúng ta.

Có biết bao người mẹ Monica đang sống trên quê hương Việt nam và ở khắp nơi trên thế giới đang hy sinh và âm thầm như thế? Những người mẹ này cũng như biết bao giáo dân khác, đã và đang âm thầm sống cuộc sống chứng nhân. Mà có lẽ những chứng nhân này không được Giáo Hội phong thánh vì là Mẹ của vị Thánh lớn trong Giáo Hội như thánh nữ Monica, nhưng là những người con của Giáo Hội lữ hành đang âm thầm sống sứ mệnh và ơn gọi nên thánh giữa dòng đời và được ghi tên trong lòng Thiên Chúa. Maranatha xin hiệp lòng với những bà mẹ và những chứng nhân này để tạ ơn Thiên Chúa và cùng tiếp tục thân thưa với Chúa rằng, “Maranatha, lạy Chúa, xin mau ngự đến!”

Xin Chúa tiếp tục hướng dẫn chúng ta trên con đường yêu thương của Ngài, dù ngay trong những lúc chúng ta tưởng cuộc đời đen tối và không còn lối thoát cho mình hay người thân yêu. Xin Ngài dẫn đưa chúng ta từng bước, từng bước một trong cuộc sống bình an bước theo thầy Giêsu Chí Thánh.

MARANATHA.

Về mục lục >

 

 CẦU NGUYỆN

PHƯƠNG PHÁP GẶP GỠ LỜI CHÚA

Hoàng Quý

Lời Giới Thiệu

Kính thưa quý độc giả,

Cách đây hơn một tháng chúng tôi đã giới thiệu với quý độc giả các phương thức cầu nguyện với Kinh Thánh, đặc biệt với phương pháp cầu nguyện của Lectio Divina. Và từ đây, chúng tôi muốn cùng với quý độc giả đi vào chia sẻ những kiến thức, những cảm nghiệm khi gặp gỡ Lời Chúa, nhờ đó mỗi người hướng tới cầu nguyện, tới đàm thoại với Chúa, tới kết hiệp với Chúa và tới biến đổi cuộc sống mình.

Trước khi đi vào gặp gỡ Lời Chúa qua từng bài Kinh Thánh, chúng tôi muốn giới thiệu với quý độc giả một phương pháp khá kiến hiệu đã giúp nhiều người và nhiều nhóm, cũng như nhiều đoàn thể gặp gỡ Lời Chúa tốt đẹp.

Chúng tôi đã nghiên cứu các phương pháp gặp gỡ Lời Chúa này từ các nhà viết suy niệm Lời Chúa như Soubigou, André Roche, Richard Gutzwiller, Prêtres du Prado…, cũng như từ những cảm nghiệm của các Phong trào Công Giáo Tiến Hành như Thanh Sinh Công, Thanh Lao Công, và nhóm Sống Lời Chúa. Chúng tôi đã xuất bản các phương pháp gặp gỡ Lời Chúa này trong các tác phẩm «Gặp Gỡ Lời Chúa» (1969), «Gặp gỡ Đức Kitô» (1969), «Cảm nghiệm sống Lời Chúa» (1992) và đã được nhiều nơi, nhiều nhóm ứng dụng.

Lần này chúng tôi muốn giới thiệu phương pháp này trên mạng lưới cùng với những học hỏi và những cảm nghiệm mới tại hải ngoại. Chúng tôi muốn chia sẻ với quý độc giả những gì mình đã thu thập được, để từ đó hướng chúng ta đi vào cầu nguyện tư riêng cũng như trong nhóm hoặc đoàn thể. Điều quan trọng chúng tôi cần phải xác định ở đây, chúng ta chỉ là những dụng cụ Chúa sử dụng, còn chính Thánh Thần Chúa mới là tác nhân thực sự giúp chúng ta gặp gỡ Lời Tin Mừng và tiến sâu vào cầu nguyện.

Sau bài giới thiệu phương pháp gặp gỡ Lời Chúa này áp dụng cho từng cá nhân hay từng nhóm, trong các tuần kế tiếp chúng tôi sẽ giới thiệu một số bài chia sẻ Tin Mừng có nhân vật để chúng ta làm quen với phương pháp và từ đó hướng đến «cầu nguyện với Kinh Thánh». Sau đây chúng tôi chuyển tới quý độc giả những gì chúng tôi đã trình bầy về phương pháp này trong các cuốn sách kể trên.

Phương pháp Gặp Gỡ Lời Chúa

Lời Chúa là một kho tàng bí ẩn, sâu thẳm vô tận, do đó bạn cần phải tìm ra đường lối, cần hiểu biết cách thức khám phá kho tàng ấy để thâu nhận những phong phú giầu sang của Ngài, để gặp được Mạch Nước Hằng Sống sẽ tưới mát và nuôi dưỡng bạn, trong cuộc hành trình vạn dặm trần gian này.

Phương pháp tự nó chỉ là một phương tiện, một cách thức giúp bạn đi vào tiếp xúc và khám phá kho tàng Lời Chúa. Khi đã gặp được kho tàng Lời Ngài rồi, phương pháp không còn nghĩa lý gì, cũng tương tự như con đò đưa khách qua sông rồi, con đò đã làm hết trách nhiệm của nó. Nhưng nếu không có con đò, không dễ gì người lữ khách qua được bến bờ bên kia hứa hẹn những chân trời mới mênh mông trù phú.

Sau đây chúng tôi giới thiệu với bạn 4 cách thức, 4 phương pháp tiếp xúc với Lời Chúa, tùy theo nội dung bài Tin Mừng: 1) Phương pháp suy niệm; 2) Phương pháp kiểm điểm đời sống;  3) Phương pháp chứng từ; 4) Phương pháp chia sẻ.

Để làm quen với các phương pháp gặp gỡ Lời Chúa này, chúng tôi bắt đầu trình bầy phương pháp suy niệm được kể là phương pháp đầu tiên và nền tảng cho các phương pháp khác.

Phương pháp suy niệm

Lời Chúa ẩn náu như một kho báu. Đọc Lời Ngài qua loa, hời hợt hay thiếu phương pháp, bạn sẽ không khám phá được gì nhiều nơi Lời Ngài. Đến với Lời Ngài, bạn cần phải có những cách thức luyện tập quen thuộc của một thể tháo gia. Thực thế, phương pháp suy niệm cũng đưa ra 4 động tác căn bẳn, giúp bạn thực tập suy niệm Lời Chúa một cách nhuần nhuyễn, tinh thông, xoay quanh 4 câu hỏi. Theo bề ngoài,4 câu hỏi xem ra bình dị, nhưng mỗi câu hỏi lại thực sự hữu hiệu hướng dẫn bạn đi vào chiều sâu bài Tin Mừng và cuộc sống bạn. Càng thực tập nhiều, bạn càng nhận thấy hiệu năng cụ thể của phương pháp. Phương pháp suy niệm này đặc biệt áp dụng cho các bài Tin Mừng có các nhân vật tác động và đối thoại với nhau. Dần dần bạn sẽ cảm nhận được ý nghĩa và tác động của mỗi câu hỏi và của toàn thể phương pháp.

1- Câu hỏi thứ nhất đề cập đến bối cảnh lịch sử bài Tin Mừng: «Bài Tin Mừng xẩy ra vào không gian, thời gian nào?» Bạn cần xác định vị trí không gian và thời gian của bài Tin Mừng xảy ra và bạn phác họa lại như một bức tranh sống động trong Tin Mừng. Bức phông của mỗi màn kịch giúp khán giả dễ đi vào được nội dung sâu sắc của vở kịch. Cũng vậy, nhìn ra được bối cảnh bài Tin Mừng, bất chợt bạn sẽ gặp được những ý tưởng thâm sâu, sung mãn đến với bạn.

2- Câu hỏi thứ hai đi vào khám phá các nhân vật: «Bài Tin Mừng có mấy nhân vật? Phân tách tâm lý các nhân vật ấy». Phương pháp suy niệm đi từ những phân tách từng thái độ, từng cử chỉ, từng hành động, từng câu nói, từng phản ứng…, để tiến vào chiều sâu của mỗi nhân vật và của bài Tin Mừng. Bạn cần phân tách từng nhân vật một, hết nhân vật này rồi qua nhân vật khác. Thí dụ trong bài Tin Mừng người thiếu phụ Samari (Ga 4), bạn hãy phân tách người thiếu phụ, rồi tới Chúa, tới các môn đệ, tới dân chúng.

Nhờ cách thức phân tách tâm lý đó, các ý tưởng, các nhận thức, các tình cảm sẽ nảy sinh trong bạn một cách tuần tự, dồi dào và thâm thuý mà bạn không ngờ.

3- Câu hỏi thứ ba dẫn bạn đối diện với Tin Mừng để bạn có một thái độ lựa chọn: «Câu nói nào, hành động nào, nhân vật nào vừa rồi đánh động bạn nhất, làm bạn tâm đắc nhất?» (Chúng tôi còn giản dị gọi câu hỏi này là câu tâm đắc. )

Gặp gỡ Lời Chúa không phải chỉ là một lần tìm kiếm kiến thức hoặc tò mò hiểu biết Kinh Thánh, nhưng thực ra, kiến thức đó phải giúp bạn tiến xa hơn nữa là làm rung động trái tim bạn, đẩy đưa bạn tới một lựa chọn, một quyết định nào đó trước Lời Hằng Sống. Hành động dứt khoát, quyết liệt của người đàn bà tội lỗi, dám bẻ bình ngọc quý giá nhất của đời mình để xức dầu thơm cho Chúa, nói với bạn điều gì? Phải chăng hành động quảng đại với Chúa đó không chứng tỏ một tâm hồn biết hối cải và dâng hiến tình yêu lên Chúa? Hành động đó không làm bừng tỉnh tâm thức bạn, một người tự nhận theo Chúa đã lâu, nhưng còn hình thức, hẹp hòi, tính toán và chưa dám «xả láng» với Chúa như nàng. Bây giờ bạn phải có thái độ, có quyết tâm gì với Chúa trước hành động của người đàn bà đàng điếm này?

4- Câu hỏi thứ tư dẫn bạn đi vào cuộc đời của bạn thực sự để đối chiếu cuộc sống với bài Tin Mừng: «Đối chiếu với cuộc sống, bạn đã sống bài Tin Mừng này thế nào?» Tiếp xúc với Lời Chúa, không chỉ là một lần trau dồi, học hỏi kiến thức Tin Mừng, nhưng hơn thế, phải để ánh sáng Tin Mừng chiếu dọi vào cuộc sống bạn, sưởi nóng tâm hồn giá băng lạnh lẽo của bạn. Nói cách khác, bạn phải trải cuộc sống của bạn ra dưới ánh sáng Tin Mừng để xem bạn có sống phù hợp với Lời Ngài hôm nay không? Bài Tin Mừng hôm nay Chúa nói với chính bạn chứ không phải nói với ai khác, hoặc nói một cách vu vơ trống không. Do đó, bạn phải kiểm chứng lại mình, suy xét lại mình và đối chiếu chính mình xem cuộc sống bạn có sống phù hợp với Tin Mừng của Ngài không?

Mỗi người trong nhóm phải chia sẻ cho nhau không phải chỉ những kiến thức Tin Mừng của mình, nhưng hơn thế, phải chia sẻ cả những cảm thức của mình, những sức sống của mình và cả những khiếm khuyết, những trì trệ của mình nữa. Bạn nói lên những thành công của bạn, những tiến bộ của bạn, không phải để khoe khoang, tự mãn, nhưng để cảm tạ ân huệ Chúa đã giúp bạn thành đạt. Ngược lại, bạn thú nhận những ươn hèn, những thất bại, những đình đốn của bạn không phải để làm nản chí đồng đội, nhưng hơn thế, như một lần hối cải, một lần trở lại như thánh Phêrô, để kiên vững anh em trong niềm tin, một lần xin anh chị em giúp đỡ và cầu nguyện cho bạn vượt thắng mình.

Thành công của buổi chia sẻ không phải chỉ ở chỗ mỗi người phát biểu sâu sắc phần nhận thức của mình, nhưng hơn thế, ở chỗ mỗi người chân tình, cởi mở tấm lòng, tâm tư thầm kín của mình để hun đúc, để sưởi nóng tình yêu Chúa và Thần Khí của Ngài tác động giữa anh em. Như vậy phương pháp suy niệm gồm hai phần: câu hỏi 1 và 2 giúp bạn tăng cường phần kiến thức Tin Mừng và câu hỏi 3 và 4 giúp bạn đi vào sống nếp sống Tin Mừng. Phối hợp cả hai phần lý thuyết và thực hành này, chính là bạn đã đi đúng đường lối của Tin Mừng: tìm hiểu và sống Lời Ngài.

Chú ý quan trọng:

Các phương pháp tìm gặp Lời Chúa ở đây mang tính chất đi vào cuộc sống, do đó tránh mọi truyện tranh cãi, bàn luận hoặc thắc mắc, sẽ làm tan loãng bầu không khí suy tư, cầu nguyện của buổi nhóm. Nếu có gì thắc mắc hoặc sai lầm, bạn sẽ nêu lên sau buổi họp và nhóm trưởng sẽ tìm cách trả lời vào một dịp khác.

Các phương pháp tìm gặp Lời Chúa của nhóm có một điểm khác biệt then chốt với các cách thức chia sẻ Lời Chúa trước đây. Phương pháp trước đây là phương pháp nhìn từ trên xuống, nghĩa là phương pháp dùng Lời Chúa, lặp lại Lời Ngài để dậy dỗ, khuyên nhủ, truyền lệnh cho người khác sống Lời Ngài. Phương pháp này được mệnh danh là phương pháp «Chúng ta», nghĩa là ai cũng có thể dùng chữ «chúng ta» để rao giảng Lời Chúa cho người khác nghe. Ngược lại, phương pháp chia sẻ mới được gọi là phương pháp «Tôi», nghĩa là phương pháp chia sẻ những gì mình có hoặc chưa có cho người nghe một cách trung thực, thành tâm, giản dị, không hình thức, không che đậy, không giả hình. Nói cách khác, phương pháp «tôi» chia sẻ với anh em trong nhóm những gì mình hiểu biết, mình cảm nghiệm, mình sống hay chưa sống khi đối diện với Lời Chúa hôm nay. Như vậy, tuyệt đối khi chia sẻ trong nhóm, bạn đừng xử dụng tiếng «chúng ta», nhưng chỉ vận dụng tiếng «tôi» một cách đơn thành.

***

Kính thưa quý độc giả,

Chúng tôi vừa trình bầy phương pháp giúp chúng ta đi vào gặp gỡ Lời Chúa trong nhóm cũng như riêng tư, để từ đây chúng ta dễ dàng đi vào cầu nguyện với Chúa. Bây giờ công việc còn lại của mỗi chúng ta là «Khi cầu nguyện, anh hãy vào phòng, đóng cửa lại và cầu nguyện cùng Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, Ngài sẽ ban thưởng cho anh» (Mt 6,6). Phải, để tạo sự tĩnh mịch kín đáo trước mặt Chúa, chúng ta cần phải đóng cửa lại trước các suy nghĩ, các cảm xúc, các ưu tư để chỉ còn biết một mình Chúa đang hiện diện với chúng ta. Đi vào nơi kín đáo như thế, chúng ta sẽ nhìn ra Ngài đang ở ngay giữa mọi hoàn cảnh sống của chúng ta từng ngày. Và cứ thế chúng ta tập được thói quen trao đổi với Ngài mọi chuyện trong cuộc đời chúng ta. Cầu nguyện được như thế, tất cả mọi sự việc trong cuộc sống chúng ta sẽ mang dấu vết Ngài hiện diện thần thánh nơi chúng ta.

Hẹn gặp quý độc giả tuần tới trong bài chia sẻ Tin Mừng để chúng ta cùng đi vào cầu nguyện với Chúa Giêsu của ngày hôm qua cũng là Chúa Giêsu của ngày hôm nay và mãi mãi trong cuộc đời chúng ta.

Về mục lục >


SỐNG ĐẠO

MỘT CHÂN LÝ ĐẦY NGHỊCH LÝ

VỀ «CÁI TÔI» CỦA MỖI NGƯỜI

Huyền Vi

1.    «Cái tôi» hay ngôi vị của mỗi người là hồng ân cao quý nhất mà Thiên Chúa ban cho con người

Thiên Chúa của chúng ta là một Thiên Chúa có ngôi vị hay bản vị (persona), nghĩa là một Thiên Chúa có «cái tôi». Con người được Ngài dựng nên theo hình ảnh của Ngài, nên mỗi người cũng có một «cái tôi». Vì thế, «cái tôi» là một giá trị căn bản và thâm sâu nhất của một con người. Không có bản vị hay «cái tôi» thì chúng ta chỉ hiện hữu giống như đất đá, cỏ cây, là những thứ không có bản vị. Do đó, chúng ta phải tạ ơn Thiên Chúa vì đã ban cho chúng ta một hồng ân rất cao quý là có «cái tôi» như Ngài đã có. Phải nói rằng không có hồng ân nào cao quý cho bằng hồng ân ấy.

2.    Thái độ về «cái tôi» quyết định sự thánh thiện hay tội lỗi

Tuy nhiên, «cái tôi» vô cùng cao quý ấy lại gây ra những vấn đề vô cùng rắc rối. Cũng «cái tôi» ấy có thể làm con người trở thành thánh thiện mà cũng có thể trở thành tội lỗi.

Thánh thiện là khi «cái tôi» của ta biết tự xóa mình đi trước «cái tôi» của Thiên Chúa và của tha nhân. Chính Thiên Chúa, nguồn mạnh mọi sự thánh thiện, luôn luôn tự xóa mình. Chúng ta có thể thấy điều này qua hành động tự xóa mình của Ngôi Hai trước Hai Ngôi kia: «Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời đến nỗi bằng lòng chịu chết trên cây thập tự» (Pl 2,6-8).

Tội lỗi là khi ta đặt «cái tôi» của ta lên trên «cái tôi» của Thiên Chúa và của tha nhân. Tội lỗi của thiên thần Lucifer và ông bà nguyên tổ loài người nằm ở chỗ đã đặt «cái tôi» của mình lên trên «cái tôi» của Thiên Chúa.

Vì thế, «cái tôi» là một con dao hai lưỡi. Chính thái độ của «cái tôi» của ta đối với «cái tôi» của Thiên Chúa và «cái tôi» của mỗi tha nhân khiến ta trở nên thánh thiện hay tội lỗi.

3. Nghịch lý của «cái tôi»

Theo niềm tin Kitô hữu, Thiên Chúa đã dựng nên linh hồn con người – yếu tố chủ yếu làm nên «cái tôi» của ta – mang tính bất tử hay vĩnh cửu. Vì thế, dù «cái tôi» ấy có tự xóa mình đến thế nào thì nó cũng vẫn tồn tại. Điều rất nghịch lý nhưng cũng rất hữu lý là «cái tôi» càng tự xóa mình hay tự làm nhỏ mình đi bao nhiêu, thì nó càng trở nên vĩ đại, nổi bật và có giá trị hơn trước mặt Thiên Chúa và tha nhân bấy nhiêu. Trái lại, «cái tôi» càng muốn phình to và nổi bật lên để lấn át những «cái tôi» khác thì nó càng trở nên nhỏ bé, lu mờ và kém giá trị trước mặt Thiên Chúa và tha nhân. Đúng như lời Đức Giêsu nói trong Tin Mừng: «Phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên» (Lc 14,11).

Để ứng dụng cái nghịch lý trên vào đời sống xã hội, Đức Giêsu khuyên chúng ta: trong rất nhiều tình huống của cuộc đời, chẳng hạn trong bất kỳ bữa tiệc nào mà ta được mời tham dự, khi tới trước, ta nên chọn một chỗ tương đối hèn kém mà ngồi (x. Lc 14,8-11). Chọn chỗ hèn kém không phải để sau đó mình mong chờ người ta đưa mình lên một chổ ngồi cao hơn. Nếu còn ý hướng mong chờ đó thì việc chọn chỗ hèn kém ấy chỉ là giả hình, giả khiêm nhượng, không phải là xóa mình thật sự. Hãy chọn chỗ hèn kém như một thái độ tự xóa mình thật sự – nghĩa là vì không muốn ai để ý đến mình, hay không muốn được trọng vọng, đề cao – thì mới thật sự là khiêm nhường. Khiêm nhường thật sự như thế mới có giá trị cao cả trước mặt Thiên Chúa, và thường được mọi người trong xã hội mến phục, kính nể,

Một thí dụ khác của việc xóa mình mà Đức Giêsu đưa ra là: khi làm ơn cho ai, nếu ta còn mong được nhớ ơn hay trả ơn thì ta chỉ muốn làm ơn cho những ai mà ta hy vọng họ sẽ trả được ơn ta (x. Lc 14,12-14). Như thế là ta vẫn còn đặt nặng «cái tôi» của mình. Người thánh thiện hay trọn hảo, khi làm ơn cho ai, không mong được họ đáp trả, nên sẵn sàng làm ơn cho cả những người không thể trả ơn được. Chẳng những thế, họ còn ưu tiên làm ơn cho những đối tượng này. Làm được việc gì, dù to tát đến đâu, người thánh thiện hay trọn hảo cũng không cậy công, không tự hào rằng mình đã làm được như thế. Đức Giêsu dạy: «Khi đã làm tất cả những gì theo lệnh phải làm, thì hãy nói: chúng tôi là những đầy tớ vô dụng, chúng tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi» (Lc 17,10). Có như thế mới thật sự là xả kỷ, quên mình. Nhưng chính khi quên mình thật sự như thế, ta mới thật sự gặp lại chính mình: «Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân» (Kinh Hòa Bình của thánh Phanxicô Khó Khăn). Người biết xóa mình hay quên mình thì thường xuyên sống trong bình an và hạnh phúc ngay ở đời này. Và phần thưởng trên trời mà Thiên Chúa dành cho những người biết sống «xóa mình» như thế – là vinh quang và hạnh phúc – thật vô cùng lớn lao.

4.    Quan trọng hóa «cái tôi» là một trở ngại rất lớn cho việc sống kết hiệp với Thiên Chúa và hòa hợp với tha nhân

Trong đời sống Kitô hữu, điều quan trọng nhất phải thực hiện là mến Chúa và yêu người, hay nói cách khác là sống kết hiệp với Thiên Chúa và hòa hợp với tha nhân. Trong việc kết hiệp với Thiên Chúa, dụ ngôn sau đây trong Ấn Độ giáo có một ý nghĩa sâu sắc:

«Xưa có một linh hồn tu nhiều kiếp đến gõ cửa Thiên Đàng. Thượng Đế hỏi:

– Ai đó?

– Con, linh hồn trả lời.

– Con là ai? Thượng Đế hỏi lại.

– Con là con, linh hồn đáp.

– Ở đây không đủ chỗ cho Ta và con cùng ở, con hãy đi nơi khác! Thượng Đế nói.

Linh hồn ấy trở lại trần gian tu luyện thêm 1000 năm nữa, sau đó lên trời gõ cửa lại. Thượng Đế hỏi:

– Ai đó?

– Con, linh hồn trả lời.

– Con là ai? Thượng Đế hỏi lại.

– Con là Ngài, linh hồn đáp.

Khi ấy, Thượng Đế mở cửa Thiên Đàng cho linh hồn ấy vào».

Dụ ngôn trên muốn nói rằng muốn kết hiệp với Thiên Chúa, con người phải xóa mình đi, nghĩa là phải biết coi nhẹ «cái tôi» của mình, coi nó như không là gì cả. Lúc ấy, «cái tôi» của ta như bị mất cái vỏ bên ngoài chỉ còn cái lõi bên trong là chính Thiên Chúa, nên rất dễ kết hợp với Ngài. Vì Thiên Chúa chính là nền tảng, là cốt tủy cho sự hiện hữu và tồn tại của «cái tôi» mỗi người, đúng như thánh Âu Tinh nói: «Thiên Chúa còn thân mật với tôi hơn chính nội tâm tôi» (Deus intimior intimo meo). Chỉ khi kết hiệp với Thiên Chúa trong tình trạng tự xóa như thế, sự kết hiệp mới trọn vẹn và đem lại hạnh phúc tuyệt vời.

Còn đối với tha nhân, ta chỉ có thể yêu thương và hòa hợp với tha nhân khi ta tự xóa mình. Vì đối với ta, «cái tôi (của ta) là cái đáng yêu» nhất, nhưng đối với tha nhân, «cái tôi (của ta) là cái đáng ghét» nhất. Vì thế, tự đề cao mình, tự làm cho mình nổi bật lên, tự quan trọng hóa mình… trước tha nhân chỉ làm cho «cái tôi» của mình thêm đáng ghét, khiến ta và tha nhân tự nhiên xa cách nhau. Khi tự xóa mình trước tha nhân, coi tha nhân là quan trọng, làm cho tha nhân được nổi bật lên, thì đối với tha nhân, «cái tôi» của ta sẽ trở nên đáng yêu, khiến ta và họ trở nên gần gũi, dễ hòa hợp với nhau. Nhờ đó việc sống chung, làm việc chung trở nên vui thú và hạnh phúc.

***

Tóm lại, trên đời, trong đời sống tâm linh cũng như trong đời sống chung với tha nhân, có một chân lý rất nghịch lý. Đó là càng tự đưa mình lên thì càng bị hạ xuống; và càng tự hạ mình xuống thì càng được đưa lên. Càng tự coi mình là nhỏ bé thì tâm hồn ta càng được bình an, càng dễ hạnh phúc, và ta càng trở nên vĩ đại trước Thiên Chúa và tha nhân; còn càng tự coi mình là vĩ đại thì ta dễ rơi vào bất an, đau khổ, và càng trở nên nhỏ bé trước Thiên Chúa và tha nhân.

Thiết tưởng người Kitô hữu nên theo gương Đức Giêsu sống triệt để cái chân lý đầy nghịch lý này để cuộc sống của mình luôn hạnh phúc và có giá trị cao cả trước mặt Thiên Chúa.

Về mục lục >

 

HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

 ĐẠO ĐỨC VÀ HẠNH PHÚC GIA ĐÌNH

Nguyễn Chính Kết

Căn bản của đạo đức Kitô Giáo

Đạo đức Kitô giáo được xây dựng trên nền tảng yêu thương mà Đức Kitô là gương mẫu. Nói cách khác, tình yêu là cốt tủy của đạo đức Kitô giáo. Toàn bộ lề luật Kitô giáo đều chỉ xoay quanh một chữ yêu với hai chiều kích: yêu Chúa và yêu người (x. Mt 22, 37-40). Thánh Augustinô đã tóm tắt nền đạo đức ấy qua câu: «Cứ yêu đi rồi muốn làm gì thì làm». Thật vậy, khi yêu Chúa và thương nhân thực sự, ta sẽ hành động theo như tình yêu đòi hỏi. Thế là mọi suy nghĩ, lời nói, việc làm của ta tự động phù hợp với đạo đức và lề luật Kitô giáo. Khi yêu thương chân thực với đủ hai chiều kích trên, thì sống trong lề luật ta vẫn thấy thoải mái tự do giống như con cá sống trong môi trường nước vậy. Đạo đức và lề luật lúc đó hoàn toàn phù hợp với cách biểu lộ tình yêu của ta.

Căn bản của hạnh phúc gia đình

Hạnh phúc của một gia đình cũng được xây dựng trên nền tảng yêu thương. Một gia đình hạnh phúc chắc chắn phải là một gia đình yêu thương nhau, được biểu lộ qua những hy sinh nho nhỏ cho nhau hằng ngày. Trái lại, gia đình nào không có hạnh phúc, hay xảy ra bất hòa, thường là những gia đình thiếu sự yêu thương nhau. Vì không yêu thương nhau cho đủ, nên họ không thể hy sinh cho nhau, không thể chịu đựng lẫn nhau, nhất là những tật xấu của nhau.

Đương nhiên hạnh phúc gia đình còn phụ thuộc vào nhiều điều kiện khác nữa (như sức khoẻ, tiền bạc, nhà cửa, sự hiểu biết… ) thiếu những điều kiện này người ta khó mà hạnh phúc được. Tuy nhiên, thiếu những điều kiện, thì dù khó nhưng vẫn có thể hạnh phúc. Còn nếu thiếu tình yêu, thì dù có đầy đủ những điều kiện khác,  gia đình cũng không thể hạnh phúc. Chúng ta vẫn thấy, trong thực tế, rất nhiều gia đình giầu có, học thức, sức khoẻ đầy đủ… nhưng vợ chồng vẫn thường bực bội nhau khiến con cái trong nhà cũng hay bất hòa, và gia đình lúc nào cũng đau khổ. Trái lại cũng có nhiều gia đình đơn sơ nghèo nàn, thiếu thốn đủ thứ, nhưng vì yêu thương nhau và sẵn sàng hy sinh cho nhau, nên vẫn có hạnh phúc.

Đạo đức và hạnh phúc gia đình

Đạo đức Kitô giáo và hạnh phúc gia đình đều có chung nhau một nền tảng là tình yêu thương. Do đó có thể nói: một gia đình hạnh phúc ắt phải là một gia đình có đạo đức. Và ngược lại: gia đình nào có đạo đức thường là gia đình hạnh phúc. Giữa đạo đức và hạnh phúc gia đình có một tương quan mật thiết.

Nền tảng của đạo đức là sự yêu thương với hai chiều kích: yêu Chúa, yêu người. Còn nền tảng hạnh phúc gia đình có vẻ chỉ là yêu thương những người trong gia đình thôi. Thực ra không phải thế. Yêu Chúa và yêu người cũng như yêu tất cả mọi người trong nhà mình, tất cả đều chỉ là những khía cạnh khác nhau của cùng một tình yêu duy nhất. Người nào nói mình yêu Chúa mà không yêu người thì đó là kẻ nói dối (X. 1 Ga 4, 20). Còn người nói mình yêu người mà không yêu Chúa thì đó là người chưa cảm nghiệm được rằng mọi tình yêu chân thực đều bắt nguồn từ Thiên Chúa, và tất cả những gì tốt đẹp hấp dẫn khiến cho mình yêu được người đó đều là những phẩm tính xuất phát từ Thiên Chúa.

Vì thế, tình yêu đối với tha nhân, trong đó có vợ chồng, con cái ta, chỉ có nền tảng và tồn tại lâu dài khi ta yêu mến Thiên Chúa. Tương tự như thế, một người yêu thương mọi người một cách chân tình, thì chắc chắn càng có thể yêu vợ, chồng, con cái mình thắm thiết hơn nữa. Và ai yêu thương mọi người trong gia đình một cách chân tình, thì cũng có thể yêu thương tất cả mọi người. Ai nói mình chỉ yêu được những người trong gia đình mình chứ không thể yêu ai ngoài gia đình được, thì tình yêu của người đó đối với gia đình chưa có nền tảng thực sự… Tóm lại, giữa đạo đức và hạnh phúc gia đình có một tương quan rất mật thiết và rõ rệt.

Vậy, muốn gia đình được hạnh phúc lâu bền, không gì bảo đảm bằng cách cũng cố và canh tân lại lòng đạo đức trong gia đình, mà cốt tủy của nó là mến Chúa và yêu người. Nói cách khác, ta có thể củng cố tình yêu trong gia đình bằng cách củng cố lòng mến Chúa và tình yêu thương đối với đồng loại.

Tình yêu phải được thể hiện bằng việc làm

Tình yêu trong gia đình, cũng như tình yêu làm nền tảng cho đạo đức Kitô giáo phải được thể hiện bằng những việc làm cụ thể. Vì có thể có những việc làm tốt đẹp không xuất phát từ lòng yêu thương chân thật (x. 1 Cr13, 3). Nhưng không thể có tình yêu thương chân thực nào mà lại không đi kèm với việc làm, không được thể hiện bằng những hy sinh. Tình yêu nào không có việc làm để chứng minh đều là những tình yêu giả hiệu, tương tự như lập trường của Thánh Giacôbê: «Đức tin không có việc làm là đức tin chết» (Gc 2, 17).

Thật vậy, làm sao có thể gọi là yêu thương được khi ta thấy vợ hay chồng ta bận làm không kịp một công việc gì mà ta vẫn thản nhiên nằm mơ mộng hay «ngồi chơi xơi nước»? Tình yêu phải được biểu lộ bằng sự chấp nhận hy sinh, dấn thân, trao ban, cũng như chấp nhận đau khổ, mất mát, thiệt thòi để người mình yêu được hạnh phúc, tốt đẹp hơn. Nếu «nhờ việc làm mà đức tin trở nên hoàn hảo» (Gc 2, 22), thì cũng vậy, tình yêu chỉ trở nên trọn vẹn khi được thể hiện bằng việc làm.

Nếu tất cả mọi người trong gia đình đều yêu thương nhau, biết nghĩ đến nhu cầu của nhau, và biết hy sinh cho nhau như những người trong câu chuyện sau đây, thì gia đình đương nhiên hạnh phúc.

Một gia đình gồm hai vợ chồng và một đứa con, nhà tuy nghèo nhưng rất hạnh phúc vì biết lo lắng săn sóc nhau. Một hôm người mẹ được người ta biếu cho quả cam, bà bèn nghĩ đến đứa con trai vốn rất thích cam mà lâu ngày chưa được ăn, bà liền đem cho nó. Nhận được quả cam thằng bé thích lắm. Đang định ăn thì nó chợt nhớ đến ba nó đang mồ hôi nhễ nhại ngoài đồng. Nó bèn chạy ra đồng tặng trái cam cho ba nó. Ba nó cũng muốn ăn cho đã khát, nhưng lại nhớ tới người vợ của mình suốt ngày bận bịu ở nhà, ông bèn nghĩ tới niềm vui hớn hở của bà mỗi lần ông tặng cho bà món quà nhỏ. Thế là quả cam xuất phát từ tay người mẹ lại trở về tay người mẹ. Cái cảnh một nhà âu yếm nhau như vậy thật là hạnh phúc và đáng quý biết bao!

Mỗi gia đình Kitô hữu đáng lý ra phải là một gia đình yêu thương săn sóc nhau như vậy. Chính hạnh phúc gia đình của người Kitô hữu là một dấu chứng cụ thể nhất, hùng hồn nhất, chứng tỏ đạo của Chúa Kitô là tôn giáo chân thực nhất, có tính cứu độ nhất.

Gia đình bạn đã hạnh phúc chưa? Nếu chưa, bạn hãy xét lại lòng đạo đức của bạn. Rất có thể (chứ không nhất thiết) lòng đạo đức ấy chưa phải là đạo đức chân thật.

Về mục lục >

Hãy Dọn Những Bữa Ăn Tinh Thần
Để Khoản Đãi Mọi Người

Trần Mỹ Duyệt

«Khi các ngươi dọn bữa trưa hay bữa tối, thì đừng mời bạn bè, anh em, bà con, hoặc bạn bè giầu có. Không, khi các ngươi đãi tiệc hãy mời những người ăn xin, tàn tật, què và mù lòa» (Lc 14,13-14). Nghe hơi lạ. Và nếu hành động như vậy thì càng lạ hơn. Làm gì có chuyện mở tiệc để mời những kẻ ăn xin, tàn tật, què quặt, mù lòa. Nhưng đó là «Phúc Âm của Chúa». «Tạ ơn Chúa».

Thật vậy, có bao giờ bạn mở tiệc chưa? Hay có bao giờ bạn được mời tham dự một buổi tiệc nào chưa? Chắc chắn là có rồi. Vậy, trong những bữa tiệc ấy, bạn nghe và thấy gì? Đại khái: «Chúng tôi rất lấy làm sung sướng, hân hạnh và hãnh diện được tiếp đón quí khách, và bạn hữu trong bữa tiệc này. Sự hiện diện của quí vị tăng thêm phần long trọng cho bữa tiệc hôm nay». Tham dự những bữa tiệc ấy bạn cũng cảm thấy mình thật sự quan trọng. Và bạn cũng phải rất đắn đo, suy tính khi mời những thực khách tham dự những buổi tiệc do bạn khoản đãi.

Tóm lại, Chúa Giêsu đã biết rất rõ tâm lý và động lực thúc đẩy của người tổ chức cũng như khách được mời dự tiệc. Vì thế, Chúa đã muốn dùng hình ảnh bữa tiệc để hướng con người về một hình thức tổ chức và bữa tiệc tâm linh. Bữa tiệc của tình thương và bác ái huynh đệ, bữa tiệc tinh thần: «Khi các ngươi đãi tiệc hãy mời những người ăn xin, tàn tật, què và mù lòa. Các ngươi sẽ sung sướng vì họ không mời lại được các ngươi, vì các ngươi sẽ được trả lại trong ngày sống lại của người công chính» (Lc 14,13-14).

Bữa tiệc tinh thần, hiểu theo lời Chúa đây là một bữa tiệc tâm linh. Và đó cũng là lý do Ngài bảo chúng ta đừng quan tâm đến những bữa ăn trưa, ăn tối, những giao tế xã hội có tính cách khoa trương, nhưng hãy quan tâm đến những bữa ăn, những bữa tiệc có tính cách tinh thần. Vì trên thực tế, nếu chúng ta không có khả năng mời anh chị em, bạn hữu, và những người giầu có tới tham dự thường xuyên những bữa ăn của mình, thì chúng ta vẫn có đủ khả năng để dọn những bữa ăn trưa, ăn tối, những bữa tiệc cho những thực khách tâm linh của mình. Đôi khi những người ấy không phải là ai xa lạ, mà lại là chính chồng, vợ, con, cháu, anh, chị, em, và người hàng xóm của mình. Họ thường ngày đã không được chúng ta đối đãi tử tế, ngược lại, họ còn là nạn nhân của những cá tính, tâm lý thay đổi bất thường của mình, khiến họ thật sự đói khát những bữa ăn tinh thần.

Trong những sinh hoạt hằng ngày, qua lời ăn, tiếng nói, cách cư xử và suy nghĩ, có bao giờ chúng ta hòa nhã, nhẫn nại, hiểu biết, và thông cảm với nhau và với mọi người, hay ngược lại, chỉ dùng những ngôn từ gây hiềm khích, chia rẽ, hoài nghi và ghen tỵ. Ngày nay, nhiều người vẫn còn bị chết đói, chết khát, chết nóng, hay chết lạnh, nhưng con số vẫn không nhiều bằng những người chết vì bị đói khát hoặc thiếu thốn về tâm linh. Những người chết vì thiếu tình thương, thiếu tình nghĩa phu thê, thiếu sự trung tín, thiếu lòng thành thật, hoặc thiếu tha thứ. Những triệu chứng tâm bệnh như trầm cảm, căng thẳng, mất ăn, mất ngủ, chán nản, buồn bực, ảo ảnh, ảo giác, hoang tưởng, và có ý định tự tử đã cho thấy cơn đói khát và sự nghèo nàn tâm linh của con người thời đại rất trầm trọng.

Tại sao người ta ly dị? Tại sao người ta phá thai? Tại sao người ta chọn lối sống đồng tính và hôn nhân đồng tính? Tại sao người ta ôm bom tự sát? Tại sao người ta gây chiến và khủng bố? Tại sao người ta tự tử? Tại sao người ta phải dùng ruợu, ma túy, thuốc an thần? Tại sao và tại sao?! Và câu trả lời được tìm thấy trong các nhà thương tâm thần, trong các bệnh viện và văn phòng tâm lý. Trước đây 20 năm có khoảng 20% người Hoa Kỳ mang những hội chứng tâm lý, cần phải được giúp đỡ. Con số ấy ngày nay lên đến 40%. Nguyên nhân chính cũng là vì con người ngày nay đã đánh mất niềm tin: Tin vào Thiên Chúa. Tin tưởng lẫn nhau. Và tin vào chính mình. Nói theo Chân Phước Têrêsa Calcutta, thì con người ngày nay đang trải qua một cơn đói khát trầm trọng về tình thương và tâm linh.

Từ đó mới thấy được những bữa tiệc tinh thần mà Chúa Giêsu đã nói đến là cần thiết. Nếu chúng ta không có khả năng mời nhiều bạn bè, thân thuộc, hoặc người nghèo dự những bữa tiệc do mình khoản đãi, chúng ta hãy dọn cho họ những bữa ăn tâm linh bằng cách trao cho họ những nụ cười thay vì gương mặt nhăn nhó, khó chịu. Hãy trao cho họ ánh mắt thương yêu thay vì nhìn họ với cái nhìn xoi mói. Hãy trao cho họ lời yên ủi thay vì chỉ trích hoặc phê bình. Hãy biếu họ 5, 10, hay 20 đồng khi họ gặp túng thiếu thay vì giảng dậy họ cách thức làm giầu. Và trên hết, hãy trao cho họ lòng chân thành, kính trọng của ta đối với nhân phẩm, giá trị con người của họ bằng cách nhìn ra Chúa Giêsu trong họ. Đó là những bữa tiệc theo tinh thần Tin Mừng, những bữa tiệc của tình bác ái, huynh đệ của Phúc Âm.

Chúa Giêsu đã có lần nói: «Người nghèo khó luôn có sẵn» (Mt 26,11). Những thực khách đui, mù, què, và ăn xin tâm linh luôn có sẵn và đang chờ ta mời họ vào dùng bữa trưa hay bữa tối với ta. Tiếp đón họ, tức là ta tiếp đón chính Chúa Giêsu.

 

Về mục lục >

 

 TẢN MẠN

RÁC VÀ THÙNG RÁC

Nguyễn Bửu Đồng

Sanh, lão, bệnh, tử và... rác gắn liền với thân phận con người. Còn sống là còn tạo ra rác rưởi, ai tránh khỏi qui luật này? Từ vua quan đến thứ dân, từ bậc thánh nhân đến người phàm phu tục tử ai cũng tạo ra rác, không nhiều thì ít. Kiếp người sống càng lâu càng tạo ra nhiều rác và dường như người càng cao sang, càng được xã hội trọng vọng lại càng tạo ra nhiều rác rưởi hơn ai hết. Trong ngày thu rác, cứ đi một vòng quan sát, người ta sẽ thấy những khu xóm lao động nghèo có ít thùng rác hơn, ít đồ phế thải hơn các khu xóm sang giàu. Các nhà nghiên cứu về sự liên hệ giữa rác và tác phong tiêu thụ đã nghiệm ra rằng cứ nhìn rác rưởi phế thải của một khu xóm, người ta có thể đoán biết cách sống, lối nghĩ và thành phần xã hội của cư dân nơi đó. Rác được xem là biểu hiện của sự sống. Tôi tạo ra rác vậy thì tôi có, tôi hiện hữu, tôi còn sống đây. Càng tạo ra nhiều rác càng chứng tỏ tôi đang sống mạnh, sống vững chắc, sống dư thừa, sống sang giàu. Người thiếu ăn, thiếu mặc thì đâu có dư của để tống khứ ra ngoài. Nhưng rác không phải là sự sống. Rác là đồ phế thải. Rác là sự chết, không ai muốn giữ nó trong nhà, chỉ muốn vứt nó đi cho rảnh nợ.

Đời sống càng văn minh, càng tiến bộ thì càng có nhiều rác, càng có nhiều núi rác. Trong thập niên 50 thế kỷ vừa qua, một nhà kinh tế học Mỹ đã buột miệng nói rằng: «Rác của một thành phố Hoa Kỳ có thể nuôi sống cư dân một thành phố Âu Châu, và rác của một thành phố Âu Châu có thể nuôi sống cư dân một thành phố Á Châu». Hẳn nhiên không ai «ăn rác» mà sống. Thủ đô Sàigòn trước năm 1975 cũng không có nhiều rác rưởi như thành phố Hồ Chí Minh bây giờ. Những đống rác khổng lồ, to tướng không cần nhìn kỹ cũng thấy. Trong nhà ngoài ngõ, đâu đâu cũng có rác.

Trong các loại vua ở trần thế, người ta phải kể đến những ông «vua rác», những người không phải sống bằng nghề thu rác theo nghĩa thông thường, nhưng làm giàu nhờ biết khai thác «rác rưởi» của thế nhân.

Rác và thùng rác liên hệ như bóng với hình. Đâu có rác là ở đó có thùng rác. Không ai muốn giữ rác trong nhà, vừa mất vệ sinh, có thể gây bệnh, vừa khó ngửi. Do đó thùng rác mới cần. Thùng rác có công dụng chứa rác, có nấp đậy kín để mùi hôi không thoát ra ngoài và để ruồi nhặng không thể cắm dùi sanh sôi nẩy nở . Công dụng của thùng rác sẽ mất đi rất nhiều nếu không có nấp đậy che kín lại.

Trong các loại thùng dùng để đựng, thùng rác có vị thế quan trọng một cách nghịch lý. Các loại thùng khác chứa đựng đồ vật bên trong có giá trị gấp trăm gấp ngàn lần thùng đựng nó. Không ai muốn giữ lại thùng này sau khi đã lấy vật bên trong ra vì nhiệm vụ của nó chỉ là để bảo vệ đồ vật quí bên trong được toàn vẹn trong lúc di chuyển, xê dịch. Khi mua máy truyền hình chẳng hạn, người ta lựa chọn máy có thùng còn nguyên vẹn, chưa ai mở, không móp méo mặc dù người ta mua vì cái máy truyền hình ở bên trong, không phải vì thùng đựng bên ngoài. Khi mang máy về nhà, người ta cẩn thận mở thùng lấy máy ra, chưng bày ở ngay phòng khách để gia đình và bạn bè cùng chiêm ngưỡng, thưởng thức. Nhưng từ giờ phút này, thùng đựng máy không còn quan trọng nữa. Nó trở thành một chướng ngại vật làm chật cửa chật nhà, cần vứt đi. Nó đã trở thành rác. Thùng đựng rác thì khác, nó được quí trọng hơn. Người ta mua thùng rác vì công dụng của nó, không phải vì giá trị của vật mà nó sẽ chứa đựng. Người ta chỉ muốn tống khứ rác rưởi ở bên trong nhưng giữ thùng rác lại để dùng tiếp. Không ai muốn vứt thùng rác cùng với rác bao giờ. Nếu thùng rác dơ quá, hôi quá nó sẽ được rửa sạch để làm tròn nhiệm vụ chứa rác. Đã là thùng rác thì không có quyền lựa chọn, sử dụng cách nào tùy thuộc nơi chủ nhân. Thùng rác chấp nhận tất cả mọi thứ rác, không phân biệt rác của người giàu hay rác của người nghèo, của kẻ quyền thế hay của thứ dân, rác sạch hay rác dơ, rác khô hay rác ướt.

Thùng rác có giá trị gấp trăm ngàn lần rác, vật mà nó chứa đựng. Dù vậy, không ai mang thùng rác để trong phòng khách hay nơi phòng ngủ của mình. Nếu được giữ trong nhà thì nó thường ở một hóc hẻo nào đó mà người ngoài khó thấy. Vị trí của thùng rác thường là ở sau hè hay trước ngõ (chỉ trong ngày thu rác). Trong các điều xấu ở cõi đời này thì thùng rác là cái xấu cần thiết cho đời sống. Thử tưởng tượng nếu các thùng rác trong nhà biến mất đi trong một tuần thì sinh hoạt gia đình sẽ ra sao? Nhưng khi thùng rác quá hôi thối, không thể tẩy rửa sạch được, hay móp méo, bể, nắp đậy không còn kín... khiến ruồi nhặng có thể dùng làm nơi ẩn náu thì thùng rác không còn làm đúng chức năng chứa rác. Chính nó đã trở thành một thứ rác và sẽ bị vứt đi như các loại rác rưởi khác mà nó đã từng chứa đựng trước đây.

Nếu những sinh hoạt của cuộc sống hằng ngày như ăn uống, mặc, ở... tạo nên nhiều rác rưởi và cần đến thùng rác để chứa đựng trước khi vứt đi thì đời sống tâm hồn cũng có những rác rưởi riêng của nó. Tội lỗi hay rác rưởi của tâm hồn thường khi biểu hiện qua hành động nhưng cũng có khi ở trạng thái vô hình, chưa bộc lộ vì còn trong giai đoạn thai nghén (tư tưởng), chờ cơ hội thuận lợi để phát lộ. Tội lỗi làm dơ bẩn tâm hồn cũng như rác rưởi làm dơ bẩn môi sinh. Cả hai đều làm dơ bẩn cuộc đời. Lấy gì để chứa đựng những rác rưởi của tâm hồn? Có loại thùng rác nào dám nhận, dám chứa? Làm sao quăng vứt chúng đi?

Trước khi tìm được thùng rác để xả hơi, trút cạn tội lỗi, rác rến, người phạm lỗi đã biến thân xác mình, tâm hồn mình thành một thứ thùng đựng rác. Hành động che dấu hay biện minh lỗi lầm cũng giống như hành động lấy nắp đậy kín thùng rác lại vì sợ mùi hôi thối tỏa ra. Sự tiếp cận lâu ngày giữa rác và thùng rác có thể làm nẩy nở tình đồng chí keo sơn gắn bó đến độ không còn vách bờ phân cách đâu là rác, đâu là thùng rác. Ta là thùng rác mà rác cũng là ta. Ta với rác đã hòa đồng biến thành một. Đến mức này thì quả thật bệnh khó tìm ra thuốc chữa.

«Có nhiều hình ảnh nói về thiên chức linh mục. Nhưng nếu gọi Chúa là Đấng gánh tội trần gian thì hình ảnh thùng rác cũng là một hình ảnh có thể diễn tả thiên chức linh mục của Chúa. Tội lỗi là rác rưởi. Là linh mục, nơi tòa giải tội, con nhận biết bao nhiêu thứ rác.

«Lạy Chúa, nhà ai cũng cần thùng rác, thế hệ nào cũng vậy, nhưng không có ai đặt thùng rác ở chỗ trang trọng. Người ta giấu kín nó. Nó phải lặng lẽ chiếm một vị trí khiêm tốn trong căn phòng. Cái ẩn dật của nó không làm nó mất giá trị. Trái lại nó càng dễ giấu kín bao nhiêu thì nó lại càng là thùng rác có giá trị bấy nhiêu. Nếu ngày nào dựa vào sự cần thiết của mình để đòi hỏi một chỗ đứng quan trọng thì nó trở thành một thứ rác làm dơ căn phòng. Nó phải biết vị trí của mình». (Nguyễn Tầm Thường, Con Biết Con Cần Chúa, 1998, tr. 169-170)

Giá trị của thùng rác là để chứa rác nhưng không để mình biến thành rác để rồi bị phế thải như một thứ rác. Muốn vậy thùng rác cần được chăm sóc, gìn giữ, nâng niu để mãi mãi được lành lặn. Thùng rác cũng cần được thanh tẩy thường xuyên, cách này hay cách khác, để dù phải tiếp xúc với rác hằng ngày, hằng giờ vẫn không tanh hôi mùi rác rưởi. Khó. Khó thật. Khó lắm. Khó vì, mặc dù giữ chức thánh, các linh mục của Chúa vẫn mang một xác phàm của thế nhân, nghĩa là một con người tầm thường như bao kẻ khác, một con người tầm thường, yếu đuối, chỉ biết cậy trông vào lòng yêu thương của Chúa mà đáp lại ơn kêu gọi. Khó đến nỗi con người tầm thường Nguyễn Trọng-Tước phải luôn luôn cảnh thức, kêu cầu, thì thầm ngày đêm với Chúa: Chúa ơi, con biết con cần Chúa, cần sự chăm sóc, giữ gìn của Chúa để con luôn mãi là thùng rác nguyên lành không hư thối. Xin Chúa vỗ về, ủi an để con luôn luôn là một linh-mục-đời-đời mãi mãi đồng hành với Ngài. Chúa ơi, Chúa biết con cần Chúa mà!

«Những hình ảnh đẹp về một chân trời, những lời ca viết về một chuyện tình sử, những lời thơ dệt một mơ ước, con không thấy hình ảnh nào đẹp như thùng rác. Đẹp, vì ở nơi nó, tầm thường mà dũng cảm. An ủi làm sao khi người đổ rác cúi xuống nói với thùng rác: «Ta không chọn những con đường đẹp. Ta sẽ làm đẹp tất cả nơi nào ta đi tới». Chúa cũng muốn con đừng tìm kiếm để đi trên những quãng đời có cỏ hoa, nhưng làm nở hoa bất cứ nơi nào con đi tới. (Sách đã dẫn, trang. 174)

Không chọn đến nơi nào đã nở hoa, nhưng làm nở hoa nơi nào mình đến. Phải chăng đó là lý tưởng của những môn đệ đã chọn con đường theo Đức Kitô?

Về mục lục >

                               

TRẬN BÃO CHARLEY

 

LTS: Trận bão lớn mang tên Charley vừa qua đổ vào Florida đã tàn phá khủng khiếp tiểu bang này. Tổn thất nhân mạng gồm 25 người chết và thiệt hại về kinh tế lên đến 15 tỉ đô-la! Tác giả Bửu Sao là người đã trải qua những giây phút kinh hoàng trực diện với cơn bão và đối diện với sức mạnh thiên nhiên. Bài viết tường thuật và chia sẻ những suy tư của tác giả với các con của ông hiện đang sống tại Anh và sử dụng tiếng Pháp trong thư. Maranatha xin được dịch ra Việt ngữ và chia sẻ cùng quý độc giả.

 

 HURRICANE CHARLEY

               Bửu Sao

A nos chers Anglais:

Nous avons bien reçu vos deux emails juste ce matin 19 août aussitôt le courant rétabli. Cela nous fait bien chaud au coeur de recevoir des réconforts venus de nos enfants après une pareille aventure, merci. Vous m'en avez aussi demandé le rapport, le voici en bref: 

Le lundi 10 août, la météo avait  tracé l'itinéraire de l'hurricane Charley, de Key West, l'extrême sud de la Floride, longeant la côte Ouest vers Tampa pour aller se perdre en Caroline du Nord. On était tranquile. Mais pas pour longtemps, car la toupie ravageuse a subitement changé de direction. Le jeudi 12, on nous prévint qu'elle se dirigerait droit sur nous le lendemain, le bien nommé vendredi 13, puis continuer ses ravages jusqu'à Daytona Beach, au nord-est!  Nous avions tout juste le temps de nous acheter deux touques de 20 litres d'eau minérale supplémentaire; en fait de nourriture, en prévision des invités des vacances, nous en avons en stock pour trois semaines dans le frigo. Le matin du vendredi, je commençai à calfeutrer les trois fenêtres du salon avec des panneaux de contre-plaqués, je fis le tour de la maison, rentrant les outils, rassemblant les pots de fleurs, démontant les équipements électroniques les mettant sous les meubles du salon. Le soir, vers 8 h 30 le vent commença à souffler très fort. Nous étions alors devant l'écran, observant presque en direct la  progression du monstre de proche en proche. Quand la télé annonça la vitesse du vent de 120 miles à l'heure à Kissemee, situé à 20 miles de chez nous, nous commençâmes à réciter notre Rosaire. Vers 9 heures des raffales de vent commencèrent à se manifester, suivies des bruits de craquements de branches d'arbres. Puis subitement tout s'estompe. En tâtonnant dans le noir complet nous allâmes nous réfugier dans le walking-closet, le coin le plus sûr de la maison. Des branches commencèrent à chuter sur les toits, puis des bruits d'arbres fauchés un peu partout. On se prépare au pire. La bourrasque a duré le temps d'un chapelet.

Ai-je la Foi ou pas? C'est le moment de se le demander, le moment des épreuves ultimes où chacun sent la main de Dieu posée sur lui. Pour les croyants, ce n'est point la mort qu'on redoute, c'est plutôt l'angoisse devant un destin personnel en train de s'accomplir. La tempête apaisée, nous adressâmes des prières de remerciements et nous nous mimes au lit, toujours dans le noir complet, sous une chaleur étouffante.

On dormait à peine. Vers 5 heures au matin, je suis allé compter les dégâts: ce n'était pas la fin du monde, juste quelques branches suspendues encore sur nos toits, beaucoup jonchant le jardin. Pas de dégâts donc, sauf deux arbres qui se penchent dangereusement l'un du côté chambre à coucher, l'autre du côté bibliothèque. Le  problème était de sauver les victuailles de la pourriture. Des gens se précipitent vers les Stations-services pour le plein d'essence et des sacs de glaçons. Bien pourvu je suis rentré en sifflant l'air de la Marquise: "Pourtant qu'il faut, il faut que l'on vous dise: tout va très bien, tout va très bien!"

Du vendredi 13 au jeudi 19: on a vécu l'expérience d'un passé lointain: pas de lumière, pas d'eau chaude, pas de téléphone. La radio réveille-matin nous livre les premières nouvelles: au dernier recensement: 25 morts, une centaine de blessés, près d'un million de sinistrés en Centre-Floride. Quelque part, un four à barbe-cue s'est envolé d'un Patio pour atterrir dans la piscine du voisin; plus loin, un vieux couple regardant la télé avec leur fils dans un mobil-home, le vieux couple est projeté dans les airs et retombés morts près de leur maison décarcassée, leur fils admis à l'hopital dans un état grave: ils n'ont pas suivi la consigne de quitter les lieux. Beaucoup d'exemples d'entre-aides parmi la population. Dans le train train du journalier, on se dit à peine Hi! Aujourd'hui  la détresse a opéré le miracle de la fraternité humaine. Des gens, sans distinctions de races, s'invitent les uns chez les autres, se partagent la nourriture, proposent même leur salle de bains. On voit des fils de rallonge trasférer le courant d'une maison à l'autre. Nous disposons pour notre part  d'une cuisine à gaz dans le Patio pour y préparer nos repas. La jeune soeur de Ngoc Lan a sa pharmacie privée de courant, mais sa maison est presque indemne, sauf un trou dans les toits. Nous y allions déposer nos provisions en attendant le retour du courant.

         Le bilan des dégâts s'élève à 15 milliards! Pour un pays hyper-industrialisé, c'est deux fois le plan Marshall servi à domicile: du travail pour des milliers de personnes, des commandes pour toutes les industries. De gros camions transportent des matériaux de construction, des derricks et des voitures échelles affluent de toutes parts. Le malheur des uns font le bonheur de tous. Tel est le sort des pays riches. En attendant que tout s'arrange, des repas, de l'eau, des couvertures sont distribués aux carrefours. Des dortoirs sont aménagés dans des établissements scolaires. L'irrémédiable c'est évidemment la perte des vies humaines. In Memoriam. 

Le lundi 16, la poste m'apporta un gros paquet de livres venus de Paris dont une Histoire de Paul de Tarse. L'apôtre est venu à point nommé. Chaque matin, vers 6 heures, je m'installe dans le Patio, sur ma rocking-chair anglaise, le livre posé sur mes genoux: je guette la lumière du jour. Vers 6h30, aux premiers rayons du soleil, chaque page de lecture  l'une après l'autre s'éveille et m'illumine l'esprit. Je n'aurai jamais l'occasion de sentir pareil effet en poussant le bouton électrique. Il en est de même du chaud et du froid. La douche froide chaque matin revigorise les muscles et nous exerce à l'endurance, la douche chaude, elle, nous met d'emblée dans un confort alourdissant. Dans la journée, l'absence d'images télévisuelles est une libération. Et l'on commence à se demander: Que nous apporte le progrès technologique? Deux modes de vie nous forcent à y réfléchir: “Paul de Tarse du premier siècle et Jean Paul II du troisième millénaire: deux belles tornades  dont le sillage de par le monde établit le lien de fraternité entre les hommes.”

 

TRẬN BÃO CHARLEY

 Maranatha dịch

Các con yêu dấu đang tại Anh Quốc:

Ba Mẹ vừa nhận được hai điện thư của các con sáng hôm nay, ngày 19 tháng 8 sau khi có điện trở  lại. Thật là ấm lòng khi nhận được lời ủi an của con cái mình sau một biến cố như vậy, cám ơn các con. Các con hỏi tin tức, thì  đây là vài hàng vắn tắt.

Ngày 10 tháng 8, đài khí tượng loan báo hành trình của cơn bão Charley, khởi hành từ Key West, tận cùng của Florida, đi dọc theo bờ biển phía  tây hướng về Tampa rối biến dần vào tiểu bang North Carolina. Ba Mẹ cảm thấy yên tâm. Nhưng chẳng được bao lâu, bởi vì cơn xoáy tàn phá bỗng đổi hướng. Ngày thứ năm 12, đài báo rằng bão sẽ đi thẳng đến vùng này hôm sau, nghĩa là ngày 13, rồi tiếp tục con đường tàn phá cho đến Daytona Beach, miền đông  bắc. Ba Mẹ chỉ còn đủ thì giờ để đi mua thêm hai bình 20 lít nước khoáng; về phần thức ăn, vì dự trù đón tiếp những bằng hữu mình mời đến nghỉ hè, nên Ba Mẹ còn một khối lượng dùng ba tuần lễ. Sáng thứ sáu, Ba bắt đầu gia cố ba cửa sổ phòng khách bằng những tấm panô ván ép, đi một vòng  quanh nhà, dọn dẹp các dụng cụ, sắp xếp các chậu hoa, tháo gỡ các thiết bị điện tử mà đặt phía dưới các đồ đạc trong phòng khách. Tối đến, vào khoảng 8g30, gió bắt đầu thổi mạnh. Lúc ấy Ba Mẹ đang ngồi trước màn hình, gần như nhìn trực tiếp bàn tay hung thần đang dần dần tiến đến. Khi truyền hình loan báo tốc độ gió là 120 miles/giờ (200 km/giờ) ở Kissemee, cách nhà của mình 20 miles (34km), Ba  Mẹ bắt đầu lần hạt. Vào khoảng 9 giờ các cơn gió dữ dội bắt đầu nổi lên, kèm theo tiếng răng rắc của những cành cây gãy. Rồi thình lình mọi sự chìm trong bóng tối. Mò mẫm trong bóng đen như mực Ba Mẹ đã trốn vào phòng áo quần là nơi an toàn nhất trong nhà. Các nhánh cây bắt đầu rơi lên mái, rồi tiếng cây đổ đó đây vang vọng. Ba Mẹ đang chờ đợi điều tệ hại nhất. Cơn cuồng phong đã kéo dài bằng thời gian đọc một tràng chuỗi Mân Côi.

     Không biết lúc ấy Ba có đức tin hay không nữa? Đấy là giây phút  tự hỏi xem mình còn đức tin không, thời điểm thử thách cuối cùng khi mình thấy bàn tay Thiên Chúa chạm đến mình. Đối với tín hữu chúng ta, điều mình sợ không phải là cái chết, mà là sự hãi hùng trước một vận mệnh cá nhân đang trở thành hiện thực. Khi cơn bão qua rồi, Ba Mẹ đã dâng  lên lời kinh cảm tạ và vào giường ngủ, vẫn trong bóng tối dày đặc, và nóng đến ngộp thở.

Ba Mẹ chỉ ngủ chập chờn. Vào khoảng 5 giờ sáng hôm sau, Ba đã đi ra ngoài xem những hư hại: không đến nổi tận thế, chỉ có vài nhánh cây còn vướng trên mái, phần nhiều là rơi xuống vườn. Thế là không  hư hại gì, ngoại trừ hai cây nghiêng đi một cách nguy hiểm, một cây về phía phòng ngủ, một cây về phía thư viện. Vấn đề là phải giữ thức ăn cho khỏi hư. Người ta đổ xô đến các trạm xăng để đổ xăng cho đầy bình và mua các bịch nước đá. Sau khi có  đầy đủ những thứ cần thiết, Ba trở ra vừa lái xe về vừa huýt sáo bài la Marquise: “ Dù sao cũng xin nói cho bà biết: mọi sự đều rất ổn, mọi sự đều rất ổn!”

Từ thứ sáu 13 đến thứ năm 19: Ba Mẹ sống cái kinh nghiệm của thời dĩ vãng xa xưa: không đèn điện, không nước nóng, không điện thoại. Đài truyền thanh buổi sáng báo tin đầu ngày: theo số liệu cuối cùng thì  có 25 người chết, hằng trăm người bị thương, gần một triệu người lâm nạn ở miền trung Florida. Có nơi, một lò nước thịt bay từ thềm nhà này sang hồ tắm của nhà bên cạnh; nơi khác, một đôi vợ chồng già đang xem truyền hình với con mình trong căn nhà di động bỗng bay tung lên trời rồi rơi xuống mà chết cạnh căn nhà đã thành đống gỗ vụn, con của họ được đưa đến bệnh viện trong tình trạng thập tử nhất sinh: họ đã không nghe lời chỉ đẫn là phải rời khỏi nơi ấy. Dân cư biểu lộ nhiều tấm gương tương trợ. Trong cuộc sống hằng ngày, họ chỉ thoáng chào nhau “Hi”! Hôm nay, cái tai họa đã thực hiện một phép lạ về tình huynh đệ giữa người và người. Rất nhiều người, không  phân biệt sắc tộc, mời láng giềng về nhà mình, chia sẻ lương thực, thậm chí đề nghị sự dụng phòng  tắm của mình. Ta thấy những đường dây kéo  điện từ nhà này sang nhà khác. Ba Mẹ đặt bếp ga nơi thềm để nấu ăn. Nhà thuốc tây của em dì Ngọc Lan mất điện, nhưng tư gia thì gần như không hư hại gì, ngoại trừ một lỗ hổng trên mái. Ba Mẹ đem lương thực gửi ở đấy cho đến ngày có điện trở  lại.

Tổng số các thiệt hại lên đến con số 15 tỉ (đô la)! Đối với một nước siêu công nghiệp, số tiền ấy cao gấp đôi kế hoạch Marshall để phục vụ  tại  nhà: có công ăn việc làm cho hàng ngàn người, đơn đặt hàng cho mọi thứ công nghệ. Những xe vận tải lớn đem vật tư xây dựng, những chiếc xe kéo và xe thang tuôn đến từ khắp nơi. Nỗi bất hạnh của  người này trở  thành hạnh phúc của người kia. Số phần của các nước giàu là như thế  đấy. Trong khi chờ đợi cho mọi việc ổn thỏa, thì các bữa ăn,  nước uống, chăn mền được phân phối ở các ngã tư. Các lớp học biến thành phòng ngủ. Điều không thể sửa  chữa được dĩ nhiên là những mạng sống đã mất  đi. Xin mặc niệm.

Ngày thứ hai 16, bưu điện đem đến cho Ba một gói sách lớn gửi  từ Paris, trong đó có cuốn thánh Phaolô thành Tarse. Vị tông đồ đến với cha thật đúng lúc. Mỗi sáng, lối 6 giờ, cha ra ngồi nơi thềm, trên ghế xích đu, đặt sách trên đầu  gối: Ba chờ đợi ánh sáng ban ngày. Lối 6g30, những tia nắng đầu tiên lộ diện, từng trang sách thức giấc và soi sáng tâm trí Ba. Hẳn Ba không bao giờ  có được cơ hội cảm nhận một tác động như vậy nếu chỉ việc bật công tắc điện. Đối với cái nóng cái lạnh thì cũng vậy. Tắm nước lạnh buổi sáng để phục phồi sinh lực cho cơ bắp hơn và tập cho mình sức dẻo dai, còn tắm nước nóng thì cho ta sự dễ chịu uể oải. Suốt cả ngày, cái thiếu vắng hình ảnh truyền hình bỗng trở  thành một sự giải phóng. Và Ba đã tự hỏi: “Tiến bộ khoa học kỹ thuật đem đến cho chúng ta được gì? Hai nếp sống buộc mình phải suy nghĩ: “Phaolô thành Tarse ở thế kỷ thứ nhất và Gioan Phaolô II ở thiên niên kỷ  thứ ba: hai cơn cuồng phong từng đi  khắp thế gian mà thiết lập mối dây huynh đệ giữa con người với nhau.”

 

 

Về mục lục >

 

XÂY LÂU ĐÀI TRÊN CÁT

(Making Sandcastles)

Maranatha sưu tầm và dịch.

 

Nắng trưa oi ả. Gió biển mặn chát. Sóng vỗ rì rào.

Một cậu bé quì gối xúc cát bắng chiếc bay nhỏ rồi đổ vào xô xanh. Câu lật xô lại trên công trình rồi rút xô lên, thế là cậu kiến trúc sư trẻ thơ kia vui mừng hớn hở: cái tháp của lâu đài cậu đã hình thành.

Suốt buổi chiều hôm ấy cần cù làm việc. Múc cát chung quanh để làm hào, tô thêm bốn mặt để làm tường, lấy nút chai làm lính gác, dùng que kem làm cầu. Lâu đài cát sẽ được hoàn tất.

Đô thị to lớn. Đường phố  nhộn nhịp. Xe cộ ồn ào.

Một người ngồi nơi văn phòng. Ông xếp giấy tờ hàng đống và ra chỉ thị cho khắp nơi. Ông kẹp điện thoại đế nói vì đôi tay đang lướt nhanh trên bàn phím vi tính. Các con số trôi nhanh và hợp đồng được ký kết. Ông sung sướng vì lợi nhuận tăng cao. Suốt đời ông, ông cần cù làm việc. Thiết lập  kế hoạch, dự kiến tương lai. Thu nhập hàng năm sẽ là lính canh. Số tiền lãi sẽ là cầu vượt. Một đế quốc sẽ được hoàn thành.

Hai con người xây hai lâu đài. Họ giống nhau nhiều điểm. Họ biến những hạt cát thành công trình vĩ đại. Họ không nhìn thấy gì cả và điều lăn xả làm việc. Họ hăng hái và quyết tâm. Và đối với cả hai người, thủy triều sẽ dâng lên để rồi mọi thứ đều tan tành.

Và đến lúc này thì những nét tương đồng chấm dứt. Vì cậu bé thấy được sự kết thúc còn người lớn kia thì không. Hãy nhìn xem thái độ cậu bé khi hoàng hôn xuất hiện.

Khi sóng biển tràn đến gần, cậu bé khôn ngoan kia nhảy mừng vỗ tay. Cậu không hề buồn rầu. Không  sợ hãi. Chẳng tiếc thương. Cậu biết  rằng chuyện ấy thế nào cũng xảy ra. Cậu không hề ngạc nhiên. Khi làn sóng đập  vào lâu đài và kiệt tác của cậu vỡ tan tành vào biển cả, cậu chỉ mỉm cười. Cậu mỉm cười, nhặt lấy dụng cụ, nắm tay cha mà về nhà.

Thế nhưng người lớn kia lại không khôn ngoan như thế. Khi làn sóng của tháng năm đổ vào lâu đài  thì ông hoảng sợ khiếp đảm. Ông cuống cuồng chạy quanh tòa nhà cát để bảo vệ nó. Ông ngăn sóng để khỏi đập vào các bức tường mà ông đã xây. Nước mặn tràn lên và ông lao đao thách thức thủy triều: “Lâu đài này là của tôi!”

Đại dương không buồn trả lời. Mọi người đều biết ai là chủ của cát bụi.

Tôi không biết gì nhiều về lâu đài trên cát. Nhưng trẻ em biết rõ. Hãy nhìn xem các em và rút lấy bài học. Hãy tiếp tục dựng xây, nhưng xây dựng với trái tim em bé. Khi mặt trời lặn và thủy triêu dâng lên, hãy vỗ tay vui mừng. Hãy chào tiến trình cuộc đời rồi trở về nhà mình.

Về mục lục >

 

 TÂM TÌNH BẠN ĐỌC

 

LTS: Để hồi âm chung cho một số độc giả hỏi về font chữ, Maranatha hiện đang sử dụng font Times New Roman (Unicode) để viết và nhận bài. Nếu quý vị sử dụng Windows trước 98SE, xin install font Unicode này vào máy. Viết bài cho Maranatha xin quý vị cũng sử dụng font này.

Đối với những độc giả nhận báo lần đầu tiên hoặc độc giả nào còn thiếu một vài số báo cũ, xin quý vị vui lòng vào hai trang websites http://maranatha-vn.net hoặc http://tiengnoigiaodan.net để download những số báo mình cần. Hiện nay, các số báo từ 1 đến 14 đã được lưu trên hai websites trên. Nếu vì lý do trục trặc kỹ thuật, xin liên lạc về địa chỉ: maranatha@saintly.com.

Xin kính gửi đến một vài tâm tình của độc giả đã gửi về trong tuần qua để hiệp thông và cầu nguyện cho nhau. Chân thành cám ơn sự đón nhận và những khích lệ của Quý độc giả đã dành cho Maranatha.

Nguyện xin Chúa chúc lành cho Quý Vị.

 

THƯ BẠN ĐỌC

 

v     Xin chân thành cám ơn. Với trang WEB của MARANATHA tôi có thể đọc được tất cả. Hy vọng từ từ tôi có thể đọc đươc tất cả và chắc chắn sẽ học hỏi thêm được rất nhiều. Xin Chúa chúc lành cho sự cố gắng và công việc phục vụ của Quý Vị. Vũ Phát.

v     Cám ơn rất nhiều đã đều đặn gởi báo cho tôi mỗi tuần với những bài viết, suy tư và thông tin rất bổ ích. Tôi trân trọng những nỗ lực của qưý báo trong việc rao giảng Tin Mừng Hiệp thông luôn trong Tình yêu Chúa. Lucia Ngoc Tuyen.

v     Thế là tôi đã nhận được báo anh chị gửi về rất đều đặn, xin chân thành cám ơn, vì với nội dung thật phong phú về nhiều mặt tôi đã có thể chia sẻ lại cho các em sinh viên dự tu trong Dòng. Tôi chỉ biết tạ ơn Chúa và xin Ngài ban muôn phúc lành Thần Khí trên quý anh chị để những hạt mầm Tin Mừng anh chị đang gieo vãi sẽ đơm bông kết trái để nhiều người được biết Chúa và yêu mến Ngài hơn. Xin anh chị cũng gửi bài về những địa chỉ của chị em và các cộng đoàn trong Dòng để nhiều người được đón nhận hoa quả Thần Khí mà Chúa đã gợi hứng nơi quý anh quý chị. Xin chân thành cám ơn và xin hiệp thông trong lời cầu nguyện. Kính mến, Therese Tho, f.m.m.

v     Cám ơn quý vị đã gửi tuần báo cho tôi nhưng tôi không đọc được. Phong chữ quý vị dùng tôi không tìm thấy trong Microsoft Word. Xin quý vị chỉ cho tôi biết quí vị đang dùng phong chữ gì để tôi có thể chuyển bài báo của bạn sang tiếng Việt. Xin cám ơn. Nguyen Tu Chuong.

v     Con đã  nhận được Bài Viết MARANATHA. Xin chân thành tri ân Qúy Vị và ban Biên Tập. Maria Cecilia

v     Tôi tên là Hồng Vân ở Montreal Canada. Xin quý vị gởi cho tôi báo của MARANATHA để biết về Lời Chúa hơn. Xin thành thật cám ơn. Nguyện xin Chúa gìn giữ và ban thật nhiều ơn cho qúy vị. Hồng Vân.

v     Salut,

J'ai déjà reçu votre message que je suis très content. Je vous remercie beaucoup. Je veux que votre lettre aura m'arriver la prochaine foi. Que nouvelle à vous? Je vous souhaite bonne santé et tout bien à vous.

Union dans la prière. Luc.

v     Xin chào quí báo! Chúng con là những anh em cựu chủng sinh Gioan Đà nẵng ngụ tại Đaklak, nay trong quá trình hoạt động chúng con có sáng tác một tập thơ để cho thiếu nhi đọc hàng tuần vào lễ dành riêng cho các em xin được đăng lên báo để cùng chia sẻ, có được không ạ? Rất mong ý kiến của quý báo. Bên cạnh đó chúng con cũng xin đăng thư kêu gọi của anh em cựu chủng sinh về việc làm kỷ yếu 40 năm thành lập chủng viện, kính mong quí báo đăng giùm được không ạ. Rất mong phúc đáp của quí báo. Phan thanh Hải. Lớp Các Thánh Tử đạo VN, Cựu chủng sinh Gioan Đà Nẵng.

Về mục lục > 

     

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn