Số 18, Ngày 04-9-2004

 

MỤC LỤC

 

Thư Tòa Soạn

Vai trò Chúa Thánh Linh Trong Cầu Nguyện - Hoàng Quý

Gieo Trong Thương Đau - Lm Vũ Xuân Hạnh

Hình Ảnh Mẹ Têrêxa Đối Với Tôi - Trần Duy Nhiên

Mẹ Têrêxa, Con Người của Niềm Vui và Nụ Cười - Maranatha sưu tầm

Điều Kiện Để Theo Chúa Kitô - Lm Vũ Xuân Hạnh

Hai Thứ Tình Yêu - Giao Duyên

Tâm Tình Bạn Đọc

 

Trở về các số báo

        

Thư Tòa Soạn

Quý độc gi thân mến,

Là những người đặt niềm tin vào Chúa Giêsu và sự Phục Sinh của Ngài, chúng ta có lý do để luôn sống trong niềm vui và tin yêu. Thế nhưng, nhiều khi trong cuộc sống, chúng ta cứ thấy buồn nản và bất an, hoặc chưa tiến trên đường trọn lành bao nhiêu. Nhiều lần, chúng ta phải thưa lên, “Lạy Chúa, xin đừng trì hoãn đến cứu giúp chúng con.”

Maranatha số 18 đến với quý vị trong tâm tình cầu xin Chúa đến cứu giúp bằng cách chia sẻ một số suy , thực hành trong lời nguyện. Có phải vì chúng ta chưa biết cách cầu nguyện? Có phải vì chúng ta chưa biết khơi mở nguồn sức mạnh tuyệt đối vô song từ nơi Chúa Thánh Thần? Xin mời quý vị cùng chia sẻ với tác giả Hoàng Quý trong bài “Vai Trò Chúa Thánh Linh Trong Cầu Nguyện.” Linh mục Vũ Xuân Hạnh chia sẻ tâm tình của chính tác giả về đời sống và điều kiện của người theo Chúa nhân việc giáo phận có thêm mười tân linh mục được thụ phong. Và tác giả Nguyễn Chính Kết lưu ý tín hữu chúng ta, “Muốn theo Chúa, Phải Lượng Sức Mình.

Đặc biệt, ngày 5 tháng 9 Giáo Hội kính nhớ Chân Phước Têrêxa thành Calcutta, người đã suốt đời phục vụ “Những người nghèo nhất trong những người cùng khổ.” Khi Mẹ còn tại thế, mọi người đã nhìn ra chất “thánh” nơi Mẹ, trong Mẹ. Với những ai được diễm phúc gặp gỡ Mẹ đều nhận ra điều ấy, qua những lời nói, việc làm, tâm tình của Mẹ, ai cũng nhận ra Đức Kitô và tình yêu của Ngài đã ngập tràn trong trái tim và cuộc đời của Mẹ. Trong thế giới và xã hội của bạo lực, tiền bạc và những thú vui trần thế hôm nay, khi mà ý thức về tội lỗi hình như không còn trong đời sống, khi mà con người nhân danh quyền lực để chà đạp nhân phẩm cũng như quên đi những nỗi đau của người khác, thì một người phụ nữ dáng người nhỏ bé đã đến với chiếc áo trắng viền xanh, đôi xăng đan cũ kỹ và để lại dấu ấn tuyệt vời trong tâm hồn và cuộc đời của nhân loại. Mẹ đã đến với mọi người với nụ cười hiền lành tươi vui, ánh mắt dịu dàng thương cảm, và hơn hết với trái tim mở rộng chất chứa tình yêu bao la của Thiên Chúa Tình Yêu. Vâng, Mẹ đã là thiên thần đã đến trong trần gian để hàn gắn những vết thương do bệnh tật hoặc vì nhân danh quyền lực và văn minh mà thế giới này đã để lại những vết thuơng tâm hồn và thể xác. Mẹ đã đến để ôm ấp, băng bó những vết thương đó trong trái tim mình và gói lại trao cho Chúa Kitô là Thầy và là Chúa của Mẹ, bằng lời cầu nguyện mỗi sáng sớm với Thánh Thể trước khi ra đi phục vụ và gặp gỡ những con người ốm đau tật nguyền đó. Tác giả Trần Duy Nhiên có được những cảm nghiệm tuyệt vời đó về Mẹ qua kinh nghiệm gặp gỡ và xin được chia sẻ với Quý độc giả trong dịp tưởng nhớ Mẹ.

Là những người sống âm thầm với ơn gọi giáo dân hay là những linh mục đang được kêu gọi phục vụ cộng đồng dân Chúa với những khó khăn bận rộn của sứ mạng linh mục,  hẳn chúng ta đã có những lần gặp gỡ và cảm nghiệm một ai đó đã đến trong đời mình để lại dấu ấn của tình yêu Đức Kitô khi mình cần đến sự an ủi và cảm thông nhất; hoặc chính mình đã có lần hoặc nhiều lần phải cố gắng sống lời mời gọi để trở nên quà tặng cho cuộc đời và con người dù chính mình đang mệt mỏi và cô đơn, nghèo nàn trong mọi phương diện. Chính lúc ấy, và hơn bao giờ chúng ta cảm nghiệm được nỗi vui của sự mở ra để đón nhận ân sủng từ trên cao với lời khẩn nguyện, “Maranatha, lạy Chúa, xin ngự đến.”

Chúng ta cầu nguyện cho nhau, và xin cho nhau có được niềm vui của những người chứng của niềm vui và Tin Mừng trong thế giới hôm nay.

 

MARANATHA.

Về mục lục >

 CẦU NGUYỆN

VAI TRÒ CHÚA THÁNH LINH
TRONG CẦU NGUYỆN

Hoàng Quý

«Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi». (Ga 14,16)

Dòng sông Giôđanô

Vào một ngày mây trời thanh quang trên dòng sông Giôđanô, miền Giuđêa, một chàng thanh niên tuấn tú, tuổi chừng 30 đang đưa chân bước xuống dòng nước. Dòng sông Giôđanô vào thời điểm này hàng ngày vẫn đón tiếp hàng hàng lớp lớp khách hành hương từ khắp nơi trên đất nước Do Thái trở về đây cử hành nghi thức sám hối từ tay nhà ngôn sứ Gioan Tiền Hô. Ông được gọi là Tiền Hô vì ông đến trước để chuẩn bị con đường cho một Đấng sẽ đến sau ông và vượt ông trăm ngàn lần về mọi phương diện. Nhiệm vụ tiền hô của ông không gì khác hơn là kêu gọi mọi người hãy trở đây sám hối để được tẩy trừ mọi tội lỗi và sau đó quay đầu trở về với Thiên Chúa.

Cùng trà trộn trong đám đông khách hành hương, chàng thanh niên làng quê Nagiarét hôm nay đang lội xuống dòng sông và nhận phép rửa từ tay ông Gioan. Điểm đặc biệt hôm nay là khi đối diện với chàng thanh niên này, ông Gioan khựng lại và không dám làm phép rửa vì ông biết chàng thanh niên này không phải ai khác, nhưng chính là Đấng ông đến để dọn đường cho Ngài.

Trước lời yêu cầu của Ngài, ông Gioan tiếp tục cử hành nghi thức làm phép rửa cho Ngài. Thì lạ thật, ngay lập tức trong lúc «Người đang cầu nguyện, thì các tầng trời mở ra và Thánh Thần ngự xuống trên Người dưới hình dáng chim bồ câu. Lại có tiếng từ trời phán rằng: Con là Con của Cha; ngày hôm nay, Cha đã sinh ra Con» (Lc 3,21-22).

Là Ngôi Hai Thiên Chúa, nhưng để thi hành ý định của Chúa Cha, Đức Giêsu chấp nhận nhập thế mặc lấy thân phận làm người như chúng ta. Và trước khi bắt tay vào công cuộc loan báo Tin Mừng và cứu thế, Ngài chấp nhận thân phận phàm hèn của con người khi bước xuống dòng sông Giôđanô sám hối và cầu nguyện để nối lại đất với trời gặp nhau. Công cuộc nối lại đất trời này được thực hiện chính nhờ tác động của Chúa Thánh Linh, khi Ngài hiện xuống trên Đức Giêsu dưới hình dáng chim bồ câu. Giữa khung cảnh trang trọng các tầng trời mở ra đó, Chúa Cha công khai tuyên nhận Đức Giêsu là Con yêu dấu của Ngài. Dòng sông Giôđanô hôm nay chứng kiến quang cảnh hùng vĩ nhất của trời đất khi Ba Ngôi Thiên Chúa cùng xuất hiện. Như vậy phải chăng khi Đức Kitô mang thân phận con người, đi vào cầu nguyện, liền theo sau đó là sự xuất hiện của Chúa Thánh Linh và Chúa Cha? Nếu quả thực vậy, phải chăng cầu nguyện chính là động lực nối kết được đất trời gặp gỡ nhau? Và như vậy phải chăng khi chúng ta đi vào cầu nguyện, chính là chúng ta lôi kéo được Chúa Thánh Linh đến và khi Ngài tới, Ba Ngôi Thiên Chúa cùng đến ở giữa chúng ta?

Chúa Thánh Linh là một thần lực

Từ trước tới nay Giáo hội chúng ta vẫn giữ được một truyền thống thật tốt đẹp khi bắt đầu một buổi hội họp hoặc đọc kinh cầu nguyện, chúng ta thường đọc hoặc hát kính Chúa Thánh Thần. Phải chăng Giáo hội đã thể hiện lời Đức Kitô: «Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn» (Ga 16,13) - «Nhưng Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em» (Ga 14,26)? Phải chăng như vậy Chúa Thánh Linh đóng một vai trò quan trọng trong công cuộc cứu độ con người? Nếu Chúa Cha là Đấng tạo dựng và thiết lập chương trình cứu độ và Chúa Giêsu đến thực hiện ơn cứu chuộc, thì chính Chúa Thánh Linh lại là Đấng thể hiện ơn cứu độ nơi con người và nơi trần thế.

Tiến sĩ Jack Hayford so sánh thần lực của cầu nguyện với chiếc đầu máy xe hơi: «Chiếc đầu máy xe có sức mạnh đó, nhưng sức mạnh đó không được thể hiện nếu như không có chiếc chìa khóa bật lên để đánh lửa... Nói cách khác, tôi không có năng lực đi ra ngoài với tốc độ 60 dặm một giờ, nhưng tôi có thể tiến hành việc di chuyển với tốc lực này. Chính Đức Giêsu đã nói, 'Tôi sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời' (Mt 16,19). Chìa khóa ở đây có nghĩa là uy thế, là đặc ân, là khả năng tiến hành... Chiếc chìa khóa không tạo sức mạnh cho chiếc đầu máy, nhưng tạo cơ hội cho chiếc đầu máy phát xuất sức mạnh».

Thần lực Thiên Chúa luôn luôn sẵn sàng bên cạnh chúng ta, nhưng nếu chúng ta không biết xử dụng chiếc chìa khóa cầu nguyện, chúng ta không thể lôi kéo thần lực của Ngài đi vào cuộc sống chúng ta được. Đấng ban phát thần lực cho chúng ta là ai nếu không phải là Chúa Thánh Linh? Hẳn chúng ta không thể quên được khung cảnh ngày Truyền Tin khi thiên thần hiện đến với cô thiếu nữ Maria đang quỳ cầu nguyện? Sứ thần nói với cô, «Thánh Thần sẽ ngự xuống trên cô, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên cô» (Lc 1,35). Phải chính lúc cô xử dụng chiếc chìa khóa cầu nguyện là lúc thần lực Chúa Thánh Linh đến «rợp bóng» trên cô.

Như vậy giờ đây chúng ta có thể hiểu được rằng chúng ta đang có chiếc chìa khóa cầu nguyện trong tay và chiếc chìa khóa này có thể làm phát lửa thần lực của Thiên Chúa bất cứ lúc nào chúng ta nối kết với Chúa Thánh Linh. Nhờ đó, từ nay chúng ta có thể mở khóa và khai mở thần lực của Thiên Chúa đổ xuống trên cuộc sống chúng ta như chúng ta chưa từng thấy trong cuộc đời chúng ta trước đây.

Như vậy Chúa Thánh Linh là quà tặng quý giá nhất mà Thiên Chúa ban cho con người và nhân loại. Và như vậy khi chúng ta đi vào cầu nguyện và chúng ta mời Chúa Thánh Linh đến hướng dẫn và bảo trợ, các tầng trời mở rộng trong tâm hồn chúng ta, trong cuộc sống chúng ta. Nếu quả thực như thế, tại sao từ trước tới nay các tầng trời chưa rộng mở nơi chúng ta? Phải chăng chúng ta chưa noi gương Đức Giêsu khi cầu nguyện, khi Ngài đã bước xuống dòng sông tỏ thái độ sám hối, dầu Ngài chẳng dính bén một tội lỗi nào? Thêm vào đó, phải chăng chúng ta chỉ mời Chúa Thánh Linh đến một cách hình thức, một cách chiếu lệ theo tập tục, trong lúc vai trò của Ngài thật quan trọng trong cuộc sống chúng ta, trong hoạt động của chúng ta? Chúng ta mời Ngài đến vỏn vẹn năm ba phút rồi sau đó chúng ta cất Ngài đi một chỗ cho yên thân và tự mình xoay sở mọi công chuyện như không cần đến Ngài nữa. Chúa Thánh Linh, vị Thiên Chúa của thần lực, Ngài không chấp nhận đóng vai trò bù nhìn trong cuộc sống và trong hoạt động của chúng ta. Ngài muốn chúng ta mời Ngài đến như một người bạn thân tình. Ngài không đi tìm của lễ nơi chúng ta, nhưng Ngài muốn đến nối kết mối giây thân tình với chúng ta như một người bạn. Và khi chúng ta mời Ngài hiện diện trong mọi suy nghĩ, mọi cảm tình, mọi hành động của chúng ta, lúc đó Ngài sẽ thể hiện thần lực của Ngài nơi chúng ta.

Tiến sĩ Jack Hayford kết luận về Chúa Thánh Linh, «Chúa Thánh Linh là Đấng, nhờ sự hiện diện của Ngài chảy tràn ngập cuộc sống chúng ta, Ngài sẽ sản sinh thần lực của Ngài nơi chúng ta. Khi chúng ta cầu nguyện chính là chúng ta đang khai mở một đại lộ cho thần lực của Ngài tuôn chảy. Chúa Thánh Linh đem thần lực của Thiên Chúa xâm nhập cuộc sống chúng ta và giúp chúng ta sống thần lực của Ngài. Chúng ta trở nên giống chiếc cột thu lôi khi chúng ta chuyển vận thần lực này trong cầu nguyện».

Cầu nguyện với Kinh Thánh thế nào?

Sau khi đã trình bầy vai trò quan trọng của Chúa Thánh Linh trong việc cầu nguyện, giờ đây chúngta đi vào cầu nguyện nhờ sự hướng dẫn và trợ lực của Kinh Thánh.

Trong bài lần trước, chúng tôi đã giới thiệu phương pháp giúp chúng ta đi vào gặp gỡ Lời Chúa thế nào cho hiệu quả. Và lần này, chúng ta đi vào cầu nguyện cụ thể với bài Tin Mừng tường thuật lại việc Đức Giêsu nhận phép rửa trên dòng sông Giôđanô.

Bấy giờ, Đức Giê-su từ miền Ga-li-lê đến sông Gio-đan, gặp ông Gio-an để xin ông làm phép rửa cho mình. Nhưng ông một mực can Người và nói: «Chính tôi mới cần được Ngài làm phép rửa, thế mà Ngài lại đến với tôi!» Nhưng Đức Giê-su trả lời: «Bây giờ cứ thế đã. Vì chúng ta nên làm như vậy để giữ trọn đức công chính». Bấy giờ ông Gio-an mới chiều theo ý Người.

Khi Đức Giê-su chịu phép rửa xong, vừa ở dưới nước lên, thì các tầng trời mở ra. Người thấy Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên Người. Và có tiếng từ trời phán: «Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người» (Mt 3,13-17).

Để khởi động bước vào cầu nguyện với bài Tin Mừng vừa rồi, chúng tôi mời quý độc giả thực hiện các 'thao tác' sau đây giúp chúng ta đi vào cầu nguyện một cách hiệu lực hơn.

1/ Mời Chúa Thánh Linh đến cầu nguyện

Chúng ta có thể giơ hai bàn tay lên cao mời Chúa Thánh Linh đến với tâm hồn chúng ta, rồi từ từ chúng ta đưa hai bàn tay áp vào ngực để xin Ngài ngự trị tâm hồn, và sau đó hai bàn tay xuôi xuống hai chân để xin Ngài xua đuổi mọi tà khí, mọi lo toan, mọi bệnh hoạn ra khỏi con người chúng ta. Và cứ thế chúng ta lặp lại các động tác vừa rồi chừng ba hoặc bốn lần, cho tới khi chúng ta cảm nghiệm được Chúa Thánh Linh đã hiện diện tràn đầy trong chúng ta.

2/ Mời Chúa Cha và Chúa Giêsu đến

Chúng ta cũng lặp lại các tác động vừa rồi để mời Chúa Cha và sau đó mời Chúa Giêsu đến hiện diện trong tâm hồn chúng ta. Với những tâm hồn yêu mến Đức Mẹ, chúng ta cũng mời Đức Mẹ đến hiện diện. Và từ đây chúng ta sẽ cảm nghiệm được cả «Gia Đình Chúa» đang hiện diện sống động trong tâm hồn chúng ta.

3/ Ca ngợi Chúa

Sau khi chúng ta mời gia đình Chúa hiện diện trong buổi cầu nguyện, việc kế tiếp là chúng ta ngỏ lời chúc tụng và cảm tạ lên Thiên Chúa Ba Ngôi bằng cách chúng ta hát một bản thánh ca hoặc đọc một lời kinh. Với những ai đã nhận được ơn tiếng lạ, chúng ta hãy cầu nguyện bằng tiếng lạ. Chúng ta cũng có thể mở nhạc thánh ca và hát theo đó để chúc tụng và cảm tạ Chúa.

4/ Tâm tình với Chúa

Đây là những giây phút Thiên Chúa yêu thích nhất. Ngài đến với chúng ta để mong gặp gỡ, nối kết thân tình với chúng ta. Những tâm tình đầu tiên Ngài mong đợi nơi chúng ta chính là những tâm tình chúng ta tập trung vào Ngài, chứ không phải vào chúng ta. Những tâm tình đó là những lời chúc mừng Ngài, biết ơn Ngài, yêu mến Ngài và tín thác nơi Ngài. Chúng ta hạn chế tối đa những lời thở than, ưu phiền, vì các Ngài biết hoàn cảnh của chúng ta hơn cả chính chúng ta. Hãy quy phục nơi Ngài tất cả và tín thác nơi các Ngài. Điều đó sẽ làm hài lòng Ngài rất nhiều.

5/ Cầu nguyện với Kinh Thánh

Sau khi chúng ta đã trao đổi tâm tình với Ngài, đây là giờ phút Ngài muốn nói chuyện với chúng ta. Ngài nói với chúng ta qua Lời Hằng Sống của Ngài trong Kinh Thánh. Vậy chúng ta hãy mở Kinh Thánh và đọc bài bài Sách Thánh chúng ta muốn.

Hôm nay chúng ta cầu nguyện theo bài Tin Mừng «Chúa Giêsu nhận phép rửa». Chúng ta sẽ đi theo phương pháp suy niệm đã được giới thiệu trong bài lần trước với bốn bước khai triển.

a- Phác hoạ bối cảnh bài Tin Mừng.

Chúng ta hãy phác họa khung cảnh Đức Giêsu bước xuống dòng sông Giôđanô như chúng tôi đã phác họa ở đầu bài này. Khi phác họa ra như thế, chúng ta có cảm tưởng mình cũng đang được hiện diện trong biến cố trọng đại này của Chúa Kitô. Từ đó nhiều tâm tình và ý tưởng sẽ đến với chúng ta.

b- Quan sát và phân tách các nhân vật.

Từ đây chúng ta sẽ nhìn ra hình ảnh một Đức Kitô khi khởi đầu công cuộc truyền đạo và cứu thế, Ngài tỏ ra là một con người khiêm tốn, chấp nhận thân phận hèn hạ, tội lỗi của con người. Hơn thế nữa, Ngài muốn chứng tỏ cầu nguyện chính là nơi phát xuất thần lực của Ngài. Đang khi Ngài cầu nguyện thì Thánh Thần hiện xuống và Chúa Cha ca ngợi Ngài. Cầu nguyện chính là môi trường gặp gỡ giữa trời cao và đất thấp. Cầu nguyện lôi kéo được Ba Ngôi Thiên Chúa đến hiện diện và hoạt động nơi con người. Từ những tâm tình này, chúng ta dâng lời ngợi khen, cảm tạ Chúa.

c- Câu tâm đắc.

Câu nào trong bài Tin Mừng này gây cho chúng ta chú ý nhất, đánh động chúng ta nhất hay chúng ta yêu thích nhất? Thí dụ như câu: «... vừa ở dưới nước lên thì các tầng trời mở ra. Người thấy Thần Khí Chúa đáp xuống»... Cả là một biến đổi vĩ đại hôm nay tại dòng sông Giôđanô. Một dòng sông chảy lững lờ khiêm tốn ấy, giờ đây có Đức Kitô đến cử hành sám hối và cầu nguyện, lập tức một trời mới đất mới mở ra đón nhận Ngài một cách trang trọng, bằng việc hiện diện của Chúa Thánh Linh và Chúa Cha.

d- Đối chiếu với cuộc sống.

Từ trước tới nay chúng ta có hiểu được tầm mức quan trọng của việc sám hối và cầu nguyện không? Sở dĩ chúng ta vẫn thường cầu nguyện, nhưng lời cầu nguyện của chúng ta ít đem lại hiệu quả, tại sao thế? Phải chăng vì chúng ta không mời Chúa Thánh Linh đến giúp chúng ta cầu nguyện và cầu nguyện với chúng ta? Với những tâm tình này, chúng ta dâng lên Chúa những lời nhận lỗi và tạ lỗi. Hơn thế nữa, chúng ta còn cam kết với Ngài là từ nay mỗi khi cầu nguyện, chúng ta sẽ mời Chúa Thánh Linh đến cầu nguyện với chúng ta.

Sau khi chúng ta đã cầu nguyện với bài Tin Mừng qua bốn giai đoạn như vừa rồi, chúng ta hãy dâng lên Chúa lời cầu nguyện kết thúc trong tâm tình cảm tạ, biết ơn, hối lỗi và cam kết sống Lời Hằng Sống của Ngài. Với phương thức cầu nguyện theo Kinh Thánh như vừa rồi, chúng tôi hy vọng Lời Chúa sẽ thực sự biến đổi chúng ta và khi ấy «các tầng trời sẽ mở ra» trong cuộc sống và hoạt động của chúng ta.

Về mục lục >

 

 SỨ MẠNG LINH MỤC

GIEO TRONG THƯƠNG ĐAU

Lm. Vũ Xuân Hạnh

Dù đã là linh mục, không hiểu sao, mỗi lần được báo tin có người sắp lãnh nhận tác vụ linh mục, hoặc mỗi lần đồng tế trong thánh lễ phong chức, đều gây trong tôi một xúc cảm lạ thường. Một kỷ niệm được sống lại chăng? Sự đồng cảm cùng những người chung lý tưởng? Hay nỗi vui vì được chia vui cùng bản thân những tân chức và gia đình của họ? Hoặc là cảm nhận vườn hoa Giáo Hội vẫn đơm và nở hoa? Cũng có thể do suy nghĩ rằng: Thánh lễ phong chức là cách tuyệt diệu Thiên Chúa dùng để nhắc chính tôi: Tôi đã từng là linh mục, đang là linh mục, sẽ còn là linh mục, nhờ đó tôi sẽ nhớ trách nhiệm linh mục của mình? Và có phải lễ phong chức là cách giúp tôi xác tín hơn chức linh mục là quà tặng của tình trời, để biết trao tặng tình người bắt đầu từ chính con người tôi?

Có lẽ do tất cả những điều ấy mà tôi nghe cảm xúc trong lòng trào dâng.

Ngày 22.7.2004 vừa qua, giáo phận nhà lại có thêm mười tân linh mục. Cùng cộng đoàn giáo phận hân hoan mừng các tân chức, một lần nữa tôi lại lắng đọng hồn mình. Những cảm xúc lần này chỉ là một góc nhìn từ một phương diện nên có thể khiếm khuyết. Góc nhìn ấy đượm một chút muộn phiền, một chút bi quan. Dẫu bi quan hay muộn phiền, nhưng đó là sự thật.

Rong ruổi trong cuộc đời như anh chị em mình, người linh mục rất cần những lúc dừng chân nhìn vào sự thật bị coi là bi quan ấy để phản tỉnh, để tra xét lòng mình, để khám phá lại thiên chức Chúa trao và tự biết mình đã sống làm sao, đã trung thành đến mức độ nào… Nếu cần hiệu chỉnh cho phù hợp.

Xin được bắt đầu những suy nghĩ còn chưa vui bằng một hình tượng rất vui và đẹp: Một cánh chim tự do trong bầu trời rộng mở.

Như cánh chim tung mình trong bầu trời lộng gió, giã từ quê hương, giã từ gia đình kính yêu, người linh mục tung mình bằng những bước dài trong cánh đồng truyền giáo. Quả là hình ảnh rất đẹp: Cánh chim chao liệng giữa bầu trời: thơ mộng và đáng yêu.

Thế nhưng cũng khác lắm! Khác một cánh chim tung bay tự do lắm! Khác đến mức không thể so sánh nổi với hình tượng một cánh chim tung bay.

Nhưng vì sao giống rồi lại khác, đấy không là mâu thuẫn lắm sao?

I. Khó khăn ngoại tại

Nghe hai tiếng linh mục, tự nhiên sao thấy nhẹ nhàng, thanh thoát. Hình tượng linh mục lại càng thơ mộng. Thơ mộng vì không mang nỗi âu lo của cuộc mưu sinh đời thường. Thơ mộng vì hình như linh mục có nhiều tự do hơn: cần là cứ đi, không cần là ở nhà, có lẽ không vướng bận một điều gì. Thơ mộng trong tưởng tượng của nhiều người cho đến mức, người ta không cần dè dặt, nhưng có thể buông những lời này bất cứ lúc nào: «Nếu con tôi mà chọn đi tu làm linh mục, tốn bao nhiêu, tôi bất kể»… Còn vô vàn những câu nói đại loại như thế, cứ y như rằng, muốn làm linh mục phải có tiền, và có tiền cho nên linh mục sống thật an nhàn. Nói như thế, hóa ra linh mục không phải là ơn gọi?

Nhưng chất chứa trong vóc dáng thơ mộng ấy là cả một ơn gọi lớn lao, không phải bất cứ ai muốn đều có thể đạt được. Nói như ai đó từng nói: «n trong cái thơ mộng ấy lại chất chứa gánh nặng của trách nhiệm: Trách nhiệm làm Kitô hữu với anh em và làm linh mục cho anh em, có mưa dầm nắng gắt, có mồ hôi nhễ nhại và cũng có cô đơn buốt giá».

Trách nhiệm của linh mục cũng đầy khó khăn. Bởi không chỉ giới thiệu hạt giống Tin Mừng nhưng phải gieo hạt giống Tin Mừng vào lòng anh chị em. Trách nhiệm càng khó khăn hơn nữa khi phải gìn giữ và nuôi nấng để hạt giống lớn lên và sinh kết quả.

Đàng khác, làm linh mục giữa thời hiện đại, thời mà con người mang nặng thèm khát sở hữu. Bằng mọi giá, dẫu là chà đạp lên cuộc sống, chà đạp lên nhân phẩm của người khác, dẫu là thủ đoạn, là loại trừ đồng loại, miễn sở hữu thật nhiều.

Làm linh mục giữa một thế giới ảnh hưởng của kinh tế thị trường đang thấm vào từng ngỏ ngách của đời sống, biến con người thành cái máy sản xuất, vật chất trở thành ông chủ. Nghĩa là bằng mọi giá, phải nâng cao giá trị sản phẩm, nhằm tiêu thụ dễ dàng, dẫu sức lực của người lao động bỏ ra bất kể là ở mức độ nào. Hóa ra con người phải phục vụ chính sản phẩm mình làm ra, thay vì chúng phải phục vụ mình.

Từ chỗ đề cao vật chất, xem nhẹ giá trị con người, nhân loại cũng lún sâu vào một thứ tâm lý tệ hại: loại bỏ tất cả những gì là thánh thiêng, những gì là giá trị tinh thần, những gì mang chiều sâu nội tâm và khoác vào một thứ chủ nghĩa hưởng thụ, một thứ chủ nghĩa đầy vật chất.

Làm linh mục hôm nay là làm linh mục giữa một thế giới bị bao vây bởi quan niệm lệch lạc về tự do. Nghĩ rằng tự do là thoát khỏi sự ràng buộc của mọi lề luật, dẫu đó là lề luật làm nên giá trị con người, vì thế người ta vong thân. Vì cho rằng để có tự do là phải loại trừ Thiên Chúa ra khỏi cuộc mình, người ta bị chới với, bị chao đảo, cuộc đời chỉ là một thứ rỗng tuếch, cuộc sống mất hết ý nghĩa. Càng chìm sâu trong quan niệm tự do buông thả lệch lạc, người ta càng tự chôn mình trong vũng lầy của thế giới tội lỗi. Nhưng tính tự nhiên của con người có bao giờ ở yên. Vì thế càng mất bình an, con người càng vùng vẫy. Nếu vùng vẫy mà không có một định hướng đúng đắn, không vươn lên được, người ta càng lún sâu trong đám bùn đen ấy. Quan niệm tự do như thế, biến con người thành một thứ nô lệ đáng kinh sợ: nô lệ cho chính quan niệm và lối sống tự do lệch lạc phóng túng của mình. Cái bi đát nằm ở chỗ, nô lệ mà không nhận ra mình nô lệ, lại còn ảo tưởng tôi đang tự do!

Làm linh mục giữa thời buổi mà óc thực nghiệm trở thành một bóng ma tác oai, tác oái, nó gieo vào lòng con người thứ tư tưởng, có khi chỉ là mơ tưởng về một thế giới không có Thiên Chúa. Người ta đề cao khoa học và sự phát triển của khoa học như chúa của mình. Thay thế Thiên Chúa bằng chứng cứ khoa học. Cái đau đớn là khoa học vẫn cứ bó tay trong rất nhiều lãnh vực, không chỉ thuộc về siêu nhiên, không chỉ là tâm thức đức tin, mà bó tay ngay trên chính lãnh vực thực nghiệm của mình.

Loại trừ những gì thuộc về tinh thần, loại trừ các giá trị thiêng liêng, loại trừ mọi giá trị đạo đức đã tích tụ và làm nên giá trị của sự sống con người qua nhiều thế hệ. Người ta quên mất, hay cố tình quên khoa học có nguồn gốc từ đâu, do ai, nếu không phải Thiên Chúa đã xếp đặt mọi trật tự để con người, nhờ đó nhận ra các định luật khoa học? Người ta quên rằng, khi loại trừ Thiên Chúa, loại trừ mọi giá trị thánh thiêng, con đường phát triển của khoa học, lẽ ra nhắm phục vụ con người, sẽ dễ dàng rơi vào tính bập bênh, lệch lạc. Xa hơn nữa: tự nó quay lại giết hại chính con người, giết hại nhân phẩm con người, điều mà chính lúc này, hơn ai hết, những người Công giáo chân chính nhận ra và có kinh nghiệm. Bởi thế mà Giáo Hội luôn luôn đòi phải trả lại chỗ đứng đúng đắn của con người trong khi phát triển khoa học.

Vô vàn những nếp sống, chủ trương, tư tưởng, chủ nghĩa duy thế tục như thế làm cho người linh mục như mỏi mòn trong công tác truyền giáo của mình. Giữa thời buổi mà người ta nhân danh tính hiện đại, không còn nhìn nhận mọi chân lý truyền thống như thế, người linh mục phải gieo hạt giống Tin Mừng, phải cao rao tinh thần Tám Mối Phúc, cao rao tình yêu, lòng tha thứ, nhân hậu, bao dung…, thì đúng là làm linh mục hôm nay cũng đồng nghĩa với lội ngược dòng.

Những khó khăn ấy cũng là điều mà mấy mươi năm trước, Công Đồng Vatican II nói nhiều trong hiến chế Mục vụ. Chẳng hạn: «Chưa bao giờ nhân loại dồi dào của cải, khả năng và quyền lực kinh tế như ngày nay, vậy mà tới nay, một phần rất lớn nhân loại trên thế giới đang quằn quại vì đói ăn và thiếu thốn, rồi không biết bao nhiêu người đang chịu cảnh mù chữ. Chưa bao giờ con người ý thức mãnh liệt được sự tự do như ngày nay, đang khi đó lại thấy sống dậy những hình thức nô lệ mới mẽ về mặt xã hội cũng như tâm lý. Trong lúc đang mãnh liệt cảm thấy sự duy nhất cũng như sự kiện tất cả lệ thuộc nhau trong sự liên đới cần thiết, thì thế giới lại bị lôi kéo kịch liệt theo những chiều hướng tương phản do những lực lượng chống đối nhau; thực vậy, vẫn còn kéo dài mãi tới ngày nay những bất đồng trầm trọng về chính trị, xã hội, kinh tế, chủng tộc và ý thức hệ, và một cuộc chiến diệt vong vẫn còn đe dọa» (MV số 4).

Mẹ Giáo Hội vẫn phải đương đầu với nhiều khó khăn. Linh mục, nếu biết thao thức và tha thiết sống niềm thao thức ấy cùng Mẹ của mình, chắc chắn không đi ngoài con đường người Mẹ ấy đã và vẫn đi.

II. Khó khăn nơi chính bản thân

Ngoài những khó khăn ngoại tại như thế, về lâu, về dài, tâm lý tự nhiên dễ làm linh mục chán nản. Thêm vào đó, do bổn phận, đòi linh mục phải mực thước, phải nêu gương, phải khôn khéo… làm cho bổn phận và thánh chức mà ngày xưa khi còn mới mẻ, người linh mục dễ dàng, có khi còn hăm hỡ đón nhận, nay trở thành gánh nặng.

Chiều dài thời gian làm cho một linh mục coi xứ phải nói Lời Chúa, đến một lúc, cái hay, cái mới ban đầu dần khô cạn, anh chị em tín hữu trở nên nhàm chán. Hai bên cứ phải chịu đựng lẫn nhau, đến với nhau, cùng dâng thánh lễ mà không mấy vui tươi phấn khởi.

Cũng là người như anh chị em mình, linh mục cũng có những ưu tư, khắc khoải, vui buồn của riêng mình. Có những điều có thể bộc lộ với hết mọi người, nhưng cũng có những điều không thể nói cho bất cứ ai. Nếu là niềm vui thì không sao, nhưng gặp phải nỗi buồn mà không ai hiểu, không ai thông cảm, nỗi buồn ấy càng quay quắt, càng quặn thắt như muốn đốt cháy tiêu tan tâm hồn, người linh mục dễ rơi vào nỗi cô đơn buốt giá.

Bên cạnh đó, còn biết bao nhiêu hoàn cảnh khác tác động như: bị chống đối, tuổi tác, đau bệnh, sức cùng, lực kiệt… làm linh mục dễ ngã lòng, muốn buông xuôi. Từ đó công tác truyền giảng dễ dẫn đến bế tắc.

Nói cho tường tận, tất cả trở thành vô cảm, lòng người trở nên khô khan. Bản thân linh mục không còn chí khí. Cuối cùng chỉ còn hai tiếng: đầu hàng. Nghĩ như thế là tự chôn vùi cuộc đời linh mục của mình vì thiếu hy vọng. Để xảy ra như thế thì thật là bi đát…

(Còn tiếp 1 kỳ)

Về mục lục >

 MẸ TÊRÊXA CALCUTTA

HÌNH ẢNH MẸ TÊRÊXA ĐỐI VỚI TÔI

Trần Duy Nhiên

"Một suy nghĩ hướng đến tha nhân. Cách thức mà chúng ta thinh lặng, lắng nghe, tha thứ, nói năng và hành động. Đấy là những giọt dầu chân chính giúp cho ngọn đèn chúng ta cháy mãi suốt cuộc đời mình.” Mẹ Têrêxa.

Ngày 5 tháng 9 năm 1997, một vĩ nhân đã ra đi... Vâng, Mẹ Têrêxa thành Calcutta đúng là vĩ nhân của thế kỷ XX nếu ta nhớ lại rằng Mẹ đã nhận được Giải Nobel Hoà Bình năm 1979, và ngày qua đời Mẹ được một vinh dự mà chưa một vĩ nhân nào có được: ba nước trên thế giới chịu quốc tang, đó là Ấn Độ, Anbani và Hoa Kỳ.

      Mẹ có dịp qua Việt nam hai lần, năm 1994 và năm 1995, và hai lần đó, tôi được may mắn tiếp kiến mỗi lần gần một giờ. Lạ lùng thay, hình ảnh Mẹ để lại trong tôi không có gì là của một vĩ nhân cả, mà của một người khiêm nhường đến độ quên đi bản thân mình. Tôi không còn nhớ Mẹ đã nói gì với tôi, nhưng Mẹ để lại hai hình ảnh vẫn còn theo tôi cho đến ngày hôm nay.

Điểm đầu tiên gây ấn tượng là cảm thức về Thiên Chúa nơi Mẹ. Khi đến Việt nam, Mẹ tạm trú trên lầu 3, tại 38 Tú Xương. Người ta dành một phòng cho Mẹ và một phòng cho ba nữ tu theo Mẹ (trong số đó có vị Bề Trên tổng quyền hiện nay là Sr Nirmala Joshi). Thế nhưng Mẹ đã biến phòng của mình thành nhà nguyện với sự hiện diện của Mình Thánh Chúa, rồi cùng chia sẻ với ba chị em phòng còn lại. Mẹ đã hẹn anh chị Soi và tôi đến gặp Mẹ lúc 11 giờ trưa.

Đúng hẹn, chúng tôi lên lầu 3. Vì không có chỗ tiếp khách, Sr. Nirmala mời chúng tôi ngồi ở hành lang và Mẹ ra tiếp chúng tôi tại đấy. Sau nụ cười chào đáp, Mẹ chỉ ngay vào nhà nguyện và bảo: "Chúa kìa", với một thái độ tự nhiên giống như một bà mẹ bảo con mình chào ông ngoại khi đi đâu về. Mẹ vào quì trước Thánh Thể với chúng tôi một vài phút trước khi bắt đầu câu chuyện. Và cuối buổi nói chuyện, Mẹ cũng chỉ vào nhà nguyện bảo chúng tôi chào Chúa trước khi ra về. Thái độ mẹ đơn sơ như thể Chúa luôn có mặt bằng xương bằng thịt ở bên Mẹ. Cái cảm thức về Chúa nơi Mẹ rõ rệt đến độ tôi có cảm giác rằng nó hùng biện hơn bất cứ bài giảng nào của bất cứ ai nói về sự hiện hữu của Thiên Chúa và sự hiện diện của Chúa Giêsu trong Thánh Thể.

Điểm thứ hai gây ấn tượng là cách nói chuyện của Mẹ. Mẹ không nói chuyện với ba người, mà nói với từng người một. Mẹ cúi mình xuống và nhìn lên với cái nhìn thật trân trọng, cứ như là Mẹ muốn tiếp thu một bài học nào đó từ người đối thoại mà quên mất mình là ai. Nói chuyện với Mẹ mà trong đầu tôi cứ lờn vờn hình ảnh của Chúa Giêsu quì xuống rửa chân cho môn đệ mình. Qua thái độ lắng nghe và ánh mắt, Mẹ đã cho người đối thoại thấy rằng mình vô cùng giá trị... Có những cái nhìn đè bẹp người người đối thoại và làm cho họ trở nên nhỏ bé và đầy mặc cảm; có những cái nhìn làm cho người đối diện lớn lên và tự hào về giá trị của mình: Mẹ Têrêxa là người có cái nhìn thứ hai đó.

Mẹ Têrêxa thành Calcutta! Một danh xưng đem tự hào về cho Giáo Hội, cho các quốc gia của Mẹ, cho toàn thể nhân loại. Thế nhưng qua hai lần gặp gỡ, tôi không bị choáng ngộp vì một vĩ nhân, mà chỉ đọc được nơi Mẹ một Kitô hữu điển hình: một người "đã hóa mình ra không" trước mặt Thiên Chúa và trước mặt anh chị em nhân loại, dù cho người ấy có thấp hèn đến đâu.

Ngày 19 tháng 10 năm 2003, Mẹ được nâng lên hàng chân phước. Mẹ là người được phong chân phước nhanh nhất trong lịch sử giáo hội: vỏn vẹn 6 năm sau ngày qua đời. Tuy nhiên, Giáo Hội chỉ chính thức hóa một điều mà mọi người gặp Mẹ đã công nhận từ lâu: Mẹ quả là hình ảnh sống động của Chúa Kitô trên thế gian này.

Giờ này Mẹ đã về bên Chúa, tôi bỗng nghĩ đến 4690 nữ tu Thừa Sai Bác Ái đang tiếp tục sống đời sống ,"Kitô hữu mẫu mực" của Mẹ tại 710 nhà trong 132 nước trên thế giới. Bất giác tôi nhớ lại lời Mẹ dặn: "Con hãy cảm tạ Chúa cùng với Mẹ, vì Việt Nam là nước thứ 100 mà các Thừa Sai Bác Ái hoạt động và nhà tại Việt Nam là nhà thứ 500 của họ". Tôi không biết sau 2 năm hiện diện tại Việt Nam, các Nữ Tu Thừa Sai Bác Ái của Mẹ Têrêxa có được gia hạn giấy phép hoạt động hay không. Nếu không được thì kể cũng xót xa cho Giáo Hội tại Việt Nam đấy. Nhưng dù các con của Mẹ có hoạt động công khai hay âm thầm, thì Mẹ vẫn còn sống mãi trong họ để tiếp tục khẳng định cho mọi người mà họ gặp gỡ: Chúa đang sống cạnh bạn và Ngài tôn trọng bạn với trọn vẹn trái tim yêu thương của Ngài.

Để kết thúc những cảm nhận này, tôi ghi lại đây một chuyện nhỏ. Khi trao đổi danh thiếp với nhau, Mẹ cho biết rằng mình không bao giờ có danh thiếp.

Sr. Nirmala trình cho Mẹ 'danh thiếp' sau đây với những lời vàng ngọc của Mẹ. Mẹ cầm bút viết lời chúc phúc, rồi trao cho tôi như một kỷ vật:

(1) Ghi chú: Trên "danh thiếp" có hàng chữ viết tay God Bless you (Xin Chúa chúc lành cho con) và chữ ký của Mẹ. Tác giả cũng đã dịch những hàng chữ trên ra tiếng Việt như sau:

 

            Hoa quả của THINH LẶNG là Cầu Nguyện
               Hoa quả của CẦU NGUYỆN là Đức Tin
                  Hoa quả của ĐỨC TIN là Tình Yêu

               Hoa quả của TÌNH YÊU là Phục Vụ
            Hoa quả của PHỤC VỤ là Bình An
.

 

         Nguyện xin Chúa chúc lành cho con.

         Mẹ Têrêxa

Về mục lục >

 

MẸ TÊRÊXA,

CON NGƯỜI CỦA NIỀM VUI VÀ NỤ CƯỜI

Mother Teresa Maranatha sưu tầm

      

 

LTS: Mẹ Têrêsa khi còn sinh thời đã yêu thương, phục vụ, gặp gỡ và trao đổi với nhiều người. Những lời cầu nguyện và chia sẻ của Mẹ đã được in trong nhiều sách và tài liệu. Nhân dịp Giáo Hội mừng kính Mẹ được phong chân phước, Maranatha trân trọng gửi đến quý độc giả một vài tâm tình và lời nói quý báu của Mẹ:

*      Hòa bình bắt đầu bằng một nụ cười.

*      Đôi khi thật khó khăn để nở một nụ cười với những người sống bên cạnh chúng ta, nhất là những người thân thiết nhất trong gia đình, nhưng điều đó lại xảy ra dễ dàng hơn với những người xa lạ. Hãy nhắc nhở nhau và đừng bao giờ quên rằng: Tình Yêu bắt đầu từ gia đình!

*      Tất cả chúng ta đã được tạo dựng cho những điều tốt đẹp hơn là yêu thương và được yêu thương. Tình yêu là yêu mến- là yêu mến một con người vô điều kiện, không một chờ mong nào. Những công việc của tình yêu là những công việc của hòa bình và bác ái. Những công việc của tình yêu có nghĩa là tiến đến gần Thiên Chúa hơn, nhờ thế khi chúng ta càng giúp nhau, chúng ta càng thật sự yêu mến Thiên Chúa một cách tốt đẹp hơn bằng cách yêu thương nhau.

*      Thiên Chúa không đòi hỏi chúng ta thành công; Ngài chỉ muốn chúng ta cố gắng.

*      Niềm vui là cầu nguyện- Niềm vui là sức mạnh- Niềm vui là tổ ấm của tình yêu mà bạn có thể lôi cuốn được các linh hồn.

*      Hãy làm một điều đơn giản này thôi là nở nụ cười với bất cứ người nào chúng ta gặp gỡ, nhất là những khi thật là khó khăn để cười với họ. Hãy cười với từng người bạn gặp và dành thì giờ cho những người thân yêu trong gia đình của bạn. Thật không dễ dàng chút nào để yêu thương những con người sống kề cận với mình. Có lẽ dễ dàng để giúp cho một người đang đói khát một bát cơm, ly nước, hơn là chia sẻ và quan tâm đến nỗi đau khổ và cô đơn của chính những người thân yêu trong gia đình mình….

*      Con người thường là vô lý, phi lý và tự tôn. Hãy tha thứ cho họ dù thế nào đi nữa.

*      Nếu bạn tử tế, người ta có thể lên án bạn là ích kỷ, có những động cơ thầm kín. Hãy tử tế với họ dù thế nào đi nữa.

*      Những điếu tốt lành bạn thực hiện hôm nay, mọi người có thể quên đi ngày mai. Hãy làm điều tốt lành dù thế nào đi nữa.

*      Hãy trao tặng cho thế giới những điều tốt đẹp nhất mà bạn có, và có thể sẽ chẳng bao giờ đủ cả. Hãy trao tặng cho thế giới điều tốt đẹp nhất mà bạn đã nhận được.

*      Con người trong thời đại hôm nay dường như rất vội vã, lo lắng băn khoăn để thực hiện được điều nọ điều kia, và muốn để được giàu có hơn cách nào đó, vì thế trẻ em thường lại được rất có ít thì giờ với cha mẹ. Và chính họ cũng rất ít có thì giờ với nhau, và gia đình là nơi chốn đầu tiên đem lại sự đổ vỡ của hoà bình thế giới.

*      Tôi tin vào con người đối với con người. Mỗi một con người là chính Chúa Kitô đối với tôi, chính vì vậy, chỉ có một con người duy nhất trong thế giới này đang hiện diện với tôi lúc này, bây giờ!

*      Nếu bạn lên án con người, bạn chẳng còn thì giờ để yêu thương họ nữa.

*      Không phải là bạn trao tặng nhiều bao nhiêu nhưng bao nhiêu tình yêu bạn đã đặt vào trong cử chỉ của trao đi.

*      Hãy nở nụ cười với người khác, cười với vợ của bạn, cười với chồng của bạn, cười với con cái của bạn- không phân biệt bất cứ ai- và điều đó sẽ giúp bạn lớn lên trong một tình yêu lớn hơn dành cho người khác.Chúng ta không thể làm những điều vĩ đại. Chúng ta chỉ có thể thực hiện những điều bé nhỏ với một tình yêu lớn lao.

*      Sự tràn đầy của trái tim bạn được diễn tả trong ánh mắt chúng ta, trong cử chỉ và những đụng chạm của chúng ta, trong những gì chúng ta viết, những gì chúng ta nói, trong dáng vẻ chúng ta đi, cách thức chúng ta đón nhận, và những gì chúng ta cần. Đó chính là trái tim chúng ta biểu hiện trong nhiều cách thức khác nhau.

*      Thiên Chúa yêu mến những người cho đi trong niềm vui và hân hoan. Điều tuyệt vời nhất là chính khi người ấy trao tặng với một nụ cười.

*      Những người yêu thương nhau là những con người thật sự hạnh phúc nhất trong thế giới. Họ là những người có thể chỉ có rất ít của cải, hoặc có thể không có gì, nhưng họ là những con ngưòi hạnh phúc nhất. Tất cả mọi sự đều tùy thuộc vào chúng ta yêu thương nhau như thế nào.

*      Sự kiêu căng phá hủy mọi sự. Để trở nên giống Chúa Giêsu hơn là chìa khóa để trở nên hiền lành và khiêm nhượng trong lòng.

*      Nếu trong gia đình của bạn có một ai đó đang đau ốm hoặc cô đơn, hãy hiện diện với họ. Có thể chỉ cần nắm lấy bàn tay, có thể chỉ cần trao tặng một nụ cười, đó là điều tốt đẹp nhất, tuyêt vời nhất bạn có thể làm.

*      Đừng để một ai từ giã bạn mà không trở nên tốt lành và hạnh phúc hơn. Hãy trở nên sự hiện diện sống động của sự tốt lành của Thiên Chúa: sự tốt lành trên gương mặt của bạn, sự tử tế trong ánh mắt bạn, tử tế trong nụ cười của bạn.

Về mục lục >

SỐNG ĐẠO

ĐIỀU KIỆN ĐỂ THEO CHÚA KITÔ

Lm. Vũ Xuân Hạnh

Những năm gần đây, nhiều cá nhân hay nhóm người sống nhờ làm tiếp thị. Họ là những người rong ruổi khắp nơi để chỉ làm mỗi một việc là quảng cáo một sản phẩm nào đó. Nơi tôi đang ở, hầu như mỗi ngày đều có ít nhất một hay hai người đi tiếp thị. Họ quảng cáo đủ mọi hình thức, không trừ một sản phẩm nào, từ đôi đũa, chai dầu gội đầu, cái cốc uống nước đến cái bàn ủi, đầu máy may, máy giặt… Tất cả họ đều có chung một cung cách: Những gì họ tiếp thị đều tốt, rất tốt. Họ ca tụng hết lời, dường như trên đời, trong trời đất, không còn có thứ gì tốt bằng những gì họ đang quảng cáo. Họ chỉ biết ca ngợi, không hề chê bai. Ca ngợi từ sản phẩm mà họ tiếp thị đến người được họ tiếp thị. Ví dụ, bạn muốn mua một đôi dép, dù là kiểu nào, màu nào đi nữa, nếu thấy bạn xăm xoi, ngắm nghía, những anh chị em ấy đều cho rằng chúng phù hợp với bạn.

Dẫu sao tôi vẫn nghi ngờ lắm. Càng nghi ngờ hơn nữa, khi những anh chị em ấy rày đây mai đó, chẳng biết đâu mà tìm. Nhưng ngôn ngữ của quảng cáo là như thế: chỉ ca tụng, không bao giờ bài bác.

Bạn và tôi là những người theo Chúa. Ta cảm nhận rằng, bước theo Chúa sao mà khó quá, bởi ta sẽ phải từ bỏ, không chỉ là của cải vật  chất, mà còn từ bỏ cả những cái là căn cội của cuộc đời mình như cha mẹ, mạng sống. Không chỉ có thế, sự từ bỏ còn đi tới mức độ cao hơn, mạnh hơn: Chúa đòi ta từ bỏ để nhận thập giá: «Nếu ai đến với Ta mà không bỏ cha mẹ, vợ con, anh chị em và cả mạng sống mình, thì không thể làm môn đệ Ta. Còn ai không vác thập giá mình mà theo Ta, thì không thể làm môn đệ Ta. Đúng là một đòi hỏi quá dứt khoát và triệt để.

Vì thế, nếu Chúa Giêsu làm quảng cáo, chắc chắn Chúa thất bại. Vì không ai như Chúa, quảng cáo ơn gọi để mời gọi người ta theo mình, lại không đưa ra một tương lai sáng lạn nào, không tìm thấy bất cứ một vinh dự nào, hoặc ngay cả một sự hấp dẫn nào dù nhỏ nhoi nhất, cũng không có. Ngược lại chỉ là từ bỏ và nhận thập giá. Nghĩa là chỉ có nghèo đến trần trụi như Chúa đã không còn gì cho mình từ khi bắt đầu làm người, đến lúc bước lên thập giá.

Hơn nữa, theo Chúa, làm môn đệ Chúa để được gì mà phải thiệt thòi đến vậy? Theo điều kiện nặng nề như thế, thì theo để làm gì? Nhất là đối với thế giới hôm nay, con người chỉ muốn tìm cho mình một cuộc sống tự do, dễ dãi, ích kỷ, coi trọng vật chất, tôn thờ quyền lợi cá nhân…, thì với một điều kiện khắc nghiệt như thế, thật là điều không tưởng. Lời Chúa xem ra quá lạc lõng, xa lạ.

Thế nhưng không đúng! Tất cả những suy nghĩ bên trên đều ngược hẳn thực tế mà lịch sử Giáo Hội đã ghi nhận hàng ngàn năm qua, đến hôm nay và sẽ còn mãi về sau. Bởi đã 2000 năm, nhưng Lời Chúa Giêsu vẫn cứ mới nguyên, vẫn là Lời Sống cho biết bao nhiêu anh chị em chọn làm lẽ sống của mình. Những anh chị em ấy đã quả cảm bước theo Chúa Giêsu, từ bỏ mọi sự, nhận thập giá làm niềm vui của đời mình. Chính họ đã làm cho tinh thần và lời dạy của Chúa Giêsu chẳng những không mai một, không lạc lõng, mà còn sống, sống mạnh và lan rộng cả thế giới, qua mọi thế hệ.

Họ là ai? Hơn hai tỷ người theo Chúa Kitô trên khắp thế giới là một bằng chứng hùng hồn. Đặc biệt, trong số ấy, còn có vô số anh chị em hiến dâng đời mình sống ơn gọi tu trì. Những anh chị em ấy đã đáp lại lời mời gọi bỏ mình, vác thập giá, theo Chúa Giêsu. Hoặc biết bao nhiêu vị thánh, họ là những người có thể đã được Giáo Hội tôn phong, hay chưa tôn phong, mà cũng có thể sẽ không bao giờ tôn phong trên bàn thờ Giáo Hội. Tất cả những vị thánh ấy có chung một tấm lòng: Đã vì lời mời gọi từ bỏ mà suốt đời sống nghèo khó, chỉ có tình yêu là giàu có mà thôi. Và trong số những người ấy, biết bao nhiêu người đã nhìn lên Thánh giá Chúa Kitô mà không tiếc mạng sống mình, hiến dâng cho Thiên Chúa toàn thân đến giọt máu cuối cùng như của lễ toàn thiêu. Các thánh Tử đạo là những người đã sống và chết như thế.

Hóa ra, lời mời gọi từ bỏ và vác thập giá của Chúa Giêsu, với cái nhìn của loài người, tưởng chừng khắc nghiệt, sẽ trở nên vô vọng, lại có một sức mạnh thu hút lạ thường. Lời mời gọi ấy là lẽ sống vô song để những ai tin nhận và sống theo, đặt trọn niềm hy vọng của mình. Đó cũng là lời mời gọi làm nên căng tính của tất cả những ai theo Chúa Kitô. Nhờ đó, người ta nhận ra họ là môn đệ của Người. Vì theo Người chỉ có mỗi một con đường duy nhất là từ bỏ và chấp nhận thập giá đời mình như Người.

Vì hơn ai hết, những anh chị em dám dấn thân làm môn đệ của Chúa hiểu rằng, chính khi từ bỏ là lúc nhận lại chính mình. Chính lúc quên mình, đó là lúc nhận lại bản thân. Chính lúc chết cho thân phận tội lỗi, chết cho sự tha hóa có thể lôi kéo ta hướng chiều về sự dữ, là lúc ta vui sống muôn đời (ý nghĩa của thánh Phanxicô- kinh Hòa Bình). Bởi vậy, chính lúc chấp nhận thập giá, là chính lúc ta tiến vào vinh hiển của Đấng Phục Sinh.

Bạn thân mến, muốn dấn thân cho một điều gì, ta phải yêu điều ấy. Cũng vậy, để được tự do và tự nguyện chấp nhận sự từ bỏ và vác thập giá, đòi ta phải có lòng yêu mến. Vì với tình yêu, thập giá sẽ nhẹ hơn, dễ hơn. Một người mẹ thức trắng đêm để may xong chiếc áo cho con sớm mai đến trường, người mẹ ấy là mẹ hơn qua những hy sinh vất vả. Bởi đó bạn và tôi hãy yêu thánh giá Chúa Giêsu và yêu lối sống từ bỏ để nên giống Người.

Bản tính tự nhiên của con người, thích chọn lối sống dễ dãi. Nhất là cuộc sống văn minh hôm nay, lại càng đặt ta trước nhiều chọn lựa. Nếu không biết yêu thánh giá và chiều theo thói quen của bản thân, ta dễ chọn cái tầm thường hơn những điều cao cả; chọn khoái lạc phù du hơn hạnh phúc vững bền; chọn lợi ích cá nhân hơn lợi ích tập thể.

Bởi vậy, biết mình dễ chọn cái xấu, đồng thời cảm nhận sâu xa Lời mời gọi của Chúa Giêsu, yêu thánh giá Chúa, yêu lối sống từ bỏ, bạn và tôi hãy làm lại chọn lựa của mình để dễ dàng dấn thân cho sự từ bỏ và thập giá, qua từng việc nhỏ nhặt trong đời thường của mình như: bỏ nghiện thuốc lá, ma túy, rượu chè, trụy lạc… Hoặc ta dành ngày Chúa nhật để tôn thờ Chúa, học hỏi giáo lý, lo các việc bổn phận đạo đức. Cương quyết rời chiếc giường êm để đi dự lễ sáng; tắt tivi để đọc kinh tối gia đình; bỏ bớt những giờ tán gẫu trong quán cà phê để cầu nguyện nhiều hơn… tất cả những điều đó, đòi sự tập luyện lâu dài trong từng ngày sống của mình.

Hãy khắc ghi Lời Chúa dạy: «Ai không vác thập giá mình mà theo Ta, thì không thể làm môn đệ Ta.

Về mục lục >

HÔN NHÂN & GIA ĐÌNH

HAI THỨ TÌNH YÊU

Giao Duyên

Chuyện một người mẹ

Cách đây mười mấy năm, tôi có quen một chị sống bụi đời từ hồi còn nhỏ, lúc ấy chị đang làm nghề mua bán ve chai. Chị có một đứa con trai còn nhỏ, kết quả mối tình bụi đời của chị. Cha đứa trẻ đã «truất ngựa truy phong» bỏ rơi hai mẹ con chị, và đứa con của chị trở thành người chị yêu quý nhất trên đời. Chị cảm thấy khó có thể sống mà thiếu nó.

 Nhưng cuộc sống đầu đường xó chợ của chị không cho phép chị săn sóc và giáo dục con chu đáo được, vì chị phải lam lũ suốt ngày ngoài đường mới đủ sống. Vì thế, đứa con càng lớn lên càng tỏ ra tiêm nhiễm những thói xấu của những đứa trẻ bụi đời khác: xấc xược, gian xảo, thích gây lộn… Chị chẳng đủ tiền cho con đi học, vả lại, sống bất hợp pháp và không có hộ khẩu như chị thì khó mà cho con đi học.

Khi đứa trẻ lên năm, một cơ hội may mắn đến với hai mẹ con chị. Có một đôi vợ chồng giáo viên trẻ ở gần chỗ chị, lấy nhau đã năm sáu năm mà không có con, sắp được di trú sang Hoa Kỳ theo diện đoàn tụ gia đình. Họ thấy đứa con trai của chị kháu khỉnh dễ thương, đã ngỏ lời xin chị cho nó làm con nuôi của họ, và họ sẽ đem nó sang Mỹ. Họ hứa sẽ yêu thương và nuôi nấng giáo dục nó tử tế như con ruột, vì họ hiện không có con… Chị đã bàn hỏi việc này với nhiều người trong đó có tôi, ai cũng chứng tỏ cho chị thấy: nếu chị chấp nhận cho nó làm con nuôi hai vợ chồng giáo viên ấy và để nó sang Mỹ thì tương lai của nó sẽ tốt đẹp hơn rất nhiều. Còn nếu chị giữ nó lại chắc chắn cuộc đời nó sau này cũng sẽ hẩm hiu và đen tối như cuộc đời của chị.

Sau nhiều đêm suy nghĩ, chị quyết định giữ nó lại với chị vì chị «thương» nó quá, xa cách nó chị làm sao sống được? Chỉ xa nó có một ngày thì chị đã nhớ nó không chịu nổi rồi! Vì thế, chị đã chấp nhận thà rằng tương lai nó không ra gì còn hơn là «mất» nó khỏi tầm tay, phải sống thiếu nó.

Kết quả quyết định vị kỷ của chị là: đứa trẻ sau này đã trở thành một tên chuyên móc túi và trộm cắp, từng vào tù ra khám nhiều lần. Khi biết được sự lựa chọn ích kỷ của mẹ nó như vậy, nó đã oán thù mẹ nó. Thế là cuối cùng chị cũng vẫn bị mất con, mà mất một cách đáng tiếc hơn nữa.

Tình yêu vị tha và tình yêu vị kỷ

Bảo rằng người mẹ trong câu chuyện trên không thương con thì không đúng, vì tình cảm của chị đối với con chị thật là sâu đậm. Chính xác hơn có thể nói: Tình yêu của chị là tình yêu vị kỷ hay tình yêu chiếm hữu. Chị yêu con là vì chị, vì hạnh phúc của chị, vì nó thỏa mãn nhu cầu yêu thương của chị, làm chị bớt cô đơn. Chị coi nó như một vật sở hữu, hay như một phương tiện phục vụ cho hạnh phúc của chị. Khi có sự xung đột giữa hạnh phúc của chị với của con, thì chị sẵn sàng hy sinh hạnh phúc của con cho hạnh phúc của chị. Chị đã đặt nặng hạnh phúc và đau khổ của chị hơn hạnh phúc và đau khổ của con. Có thể nói chị yêu bản thân chị hơn yêu con.

Còn tình yêu vị tha hay tình yêu dâng hiến đặt hạnh phúc và đau khổ của người mình yêu lên trên hạnh phúc và đau khổ của bản thân mình, sẵn sàng chấp nhận đau khổ để người mình yêu được hạnh phúc. Tình yêu vị tha là tình yêu quên mình, sẵn sàng dâng hiến, ban tặng, thậm chí ngay cả bản thân mình, lấy hạnh phúc của người mình yêu làm hạnh phúc của mình. Vì thế, khi thấy người mình yêu được hạnh phúc nhờ những hy sinh, mất mát, thiệt thòi của mình, thì ta cảm thấy thỏa mãn hạnh phúc, vì những đau khổ mình chịu đã đem lại kết quả tốt đẹp cho người mình yêu.

Mẫu gương của tình yêu vị tha là Đức Kitô: «Ngài đã yêu đến tận cùng những kẻ thuộc về Ngài» (Ga 13,1); «Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của kẻ hiến mạng sống cho người mình yêu» (Ga 15,18); «Ta là mục tử nhân lành sẵn sàng thí mạng sống vì đàn chiên» (Ga 10,11.15b). Cũng vậy:

– Một người mẹ sinh nở khó khăn, sẵn sàng chết để con mình được sống khi bác sĩ chỉ có thể cứu được hoặc mẹ hoặc con, cũng là tình yêu vị tha.

– Một cặp vợ chồng có một đứa con trai duy nhất để nối dõi tông đường lại chấp nhận cho con đi tu theo tiếng Chúa gọi nó.

– Hay một gia đình nọ khi cha mẹ mất đi, người chị cả đã hy sinh cả tương lai và tình yêu của mình để lo lắng làm ăn nuôi cả một đàn em ăn học nên người.

Tất cả đều là những mẫu gương của tình yêu vị tha.

Tình yêu vị tha trong gia đình

Tình yêu trong gia đình (giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa anh chị em với nhau) phải là tình yêu vị tha thì hạnh phúc trong gia đình mới bền vững. Tình yêu vị kỷ cũng có thể đem lại hạnh phúc, nhưng là một hạnh phúc dễ gãy đổ, vì cuối cùng, một ngày nào đó, tình yêu vị kỷ sẽ bị khám phá ra là không phải tình yêu đích thực, mà chỉ là một thứ ích kỷ trá hình một cách tế nhị. Mà ích kỷ thì làm sao đem lại hạnh phúc lâu dài được?

Trong đời sống vợ chồng, tình yêu vị kỷ được biểu lộ khi ta cứ đòi vợ hay chồng mình phải hy sinh cho mình cách quá đáng, đang khi chính mình lại không muốn hy sinh bao nhiêu. Còn tình yêu vị tha được thể hiện qua những câu tự hỏi: Tôi đã hy sinh cho chồng hay vợ con tôi những gì? Tôi có thể hy sinh hơn nữa không? Tình yêu vị kỷ khiến người vợ không muốn chồng mình hy sinh cho một ai khác ngoài gia đình, không muốn người chồng tham gia phục vụ xã hội vì như thế làm chồng mình mất thì giờ phục vụ mình và con cái. Tình yêu vị tha khiến người vợ còn nghĩ tới biết bao người cần được giúp đỡ ngoài gia đình mình.

Giữa cha mẹ và con cái, tình yêu vị kỷ khiến cha mẹ không muốn con cái trưởng thành, vì khi trưởng thành chúng sẽ không còn lệ thuộc vào mình nữa, không còn coi lời nói của mình như những chân lý tuyệt đối phải theo nữa… Tình yêu vị tha khiến cha mẹ luôn luôn tạo điều kiện để con mình trưởng thành, cho dẫu chúng tỏ ra không cần mình như trước. Và họ sẵn sàng để chúng phát triển theo nhu cầu của chúng, chứ không áp đặt chúng theo thiên kiến của mình. Tình yêu vị tha khiến cha mẹ luôn luôn đặt nặng tương lai của con cái hơn tương lai của chính mình, và sẵn sàng hy sinh tất cả cho tương lai của chúng.

Trong bất kỳ tư tưởng, thái độ, cử chỉ, hành vi nào của ta đối với những người trong gia đình, hay với những người ta thương mến, ta cũng đều có thể biểu lộ tình yêu hoặc vị kỷ hoặc vị tha đối với họ. Chúng ta có hàng trăm ngàn cách biểu lộ tình yêu vị tha hoặc vị kỷ.

Khuynh hướng vị kỷ vốn nằm ngay trong bản tính của ta, nên ta phải phấn đấu rất nhiều với chính bản thân mình mới có thể trở nên vị tha được. Cũng vậy, trong địa hạt tình cảm, tình yêu vị kỷ không ai là không có, còn tình yêu vị tha chỉ có được sau khi phấn đấu với chính bản thân, nhất là sau khi thấm nhiễm và cảm nghiệm đuợc tình yêu của Đức Kitô đối với chính mình. Không phải yêu bằng tình yêu vị tha là chúng ta bị thiệt thòi. Trái lại, chỉ có những ai yêu một cách vị tha, biết dâng hiến trao tặng, mới là người hạnh phúc nhất, đồng thời tạo được hạnh phúc cho mọi người. Tình yêu vị tha cần thiết cho mọi người, đặc biệt trong mọi gia đình.

Về mục lục >

 

 TÂM TÌNH BẠN ĐỌC

LTS: Tuần qua, Maranatha có nhận được thư của quý độc giả: linh mục Vũ Xuân Hạnh, Dinh Trong Nguyen, Anh Thy, Phuoc Anh, Buu Sao, Nguyen Ba Le.

Chân thành cám ơn Quý vị đã đón nhận, gửi ý kiến, bài vở đóng góp, và những khích lệ của Quý độc giả đã dành cho Maranatha.

          Để hồi âm chung cho một số độc giả hỏi về font chữ, Maranatha hiện đang sử dụng font Times New Roman (Unicode) để viết và nhận bài. Nếu quý vị sử dụng Windows trước 98SE, xin install font Unicode này vào máy. Viết bài cho Maranatha xin quý vị cũng sử dụng font này.

Đối với những độc giả nhận báo lần đầu tiên hoặc độc giả nào còn thiếu một vài số báo cũ, xin quý vị vui lòng vào hai trang websites http://maranatha-vn.net hoặc http://tiengnoigiaodan.net để download những số báo mình cần. Hiện nay, các số báo từ 1 đến 17 đã được lưu trên hai websites trên. Nếu vì lý do trục trặc kỹ thuật, xin liên lạc về địa chỉ: maranatha@saintly.com.

Nguyện xin Chúa chúc lành cho Quý Vị.

Trân trọng,

MARANATHA

Về mục lục >

Text Box: Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net
Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com
Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về 
maranatha.vietnam@gmail.com.
Chân thành cám ơn