SỨ MẠNG LINH MỤC

GIEO TRONG THƯƠNG ĐAU

Lm. Vũ Xuân Hạnh

Dù đã là linh mục, không hiểu sao, mỗi lần được báo tin có người sắp lãnh nhận tác vụ linh mục, hoặc mỗi lần đồng tế trong thánh lễ phong chức, đều gây trong tôi một xúc cảm lạ thường. Một kỷ niệm được sống lại chăng? Sự đồng cảm cùng những người chung lý tưởng? Hay nỗi vui vì được chia vui cùng bản thân những tân chức và gia đình của họ? Hoặc là cảm nhận vườn hoa Giáo Hội vẫn đơm và nở hoa? Cũng có thể do suy nghĩ rằng: Thánh lễ phong chức là cách tuyệt diệu Thiên Chúa dùng để nhắc chính tôi: Tôi đã từng là linh mục, đang là linh mục, sẽ còn là linh mục, nhờ đó tôi sẽ nhớ trách nhiệm linh mục của mình? Và có phải lễ phong chức là cách giúp tôi xác tín hơn chức linh mục là quà tặng của tình trời, để biết trao tặng tình người bắt đầu từ chính con người tôi?

Có lẽ do tất cả những điều ấy mà tôi nghe cảm xúc trong lòng trào dâng.

Ngày 22.7.2004 vừa qua, giáo phận nhà lại có thêm mười tân linh mục. Cùng cộng đoàn giáo phận hân hoan mừng các tân chức, một lần nữa tôi lại lắng đọng hồn mình. Những cảm xúc lần này chỉ là một góc nhìn từ một phương diện nên có thể khiếm khuyết. Góc nhìn ấy đượm một chút muộn phiền, một chút bi quan. Dẫu bi quan hay muộn phiền, nhưng đó là sự thật.

Rong ruổi trong cuộc đời như anh chị em mình, người linh mục rất cần những lúc dừng chân nhìn vào sự thật bị coi là bi quan ấy để phản tỉnh, để tra xét lòng mình, để khám phá lại thiên chức Chúa trao và tự biết mình đã sống làm sao, đã trung thành đến mức độ nào… Nếu cần hiệu chỉnh cho phù hợp.

Xin được bắt đầu những suy nghĩ còn chưa vui bằng một hình tượng rất vui và đẹp: Một cánh chim tự do trong bầu trời rộng mở.

Như cánh chim tung mình trong bầu trời lộng gió, giã từ quê hương, giã từ gia đình kính yêu, người linh mục tung mình bằng những bước dài trong cánh đồng truyền giáo. Quả là hình ảnh rất đẹp: Cánh chim chao liệng giữa bầu trời: thơ mộng và đáng yêu.

Thế nhưng cũng khác lắm! Khác một cánh chim tung bay tự do lắm! Khác đến mức không thể so sánh nổi với hình tượng một cánh chim tung bay.

Nhưng vì sao giống rồi lại khác, đấy không là mâu thuẫn lắm sao?

I. Khó khăn ngoại tại

Nghe hai tiếng linh mục, tự nhiên sao thấy nhẹ nhàng, thanh thoát. Hình tượng linh mục lại càng thơ mộng. Thơ mộng vì không mang nỗi âu lo của cuộc mưu sinh đời thường. Thơ mộng vì hình như linh mục có nhiều tự do hơn: cần là cứ đi, không cần là ở nhà, có lẽ không vướng bận một điều gì. Thơ mộng trong tưởng tượng của nhiều người cho đến mức, người ta không cần dè dặt, nhưng có thể buông những lời này bất cứ lúc nào: «Nếu con tôi mà chọn đi tu làm linh mục, tốn bao nhiêu, tôi bất kể»… Còn vô vàn những câu nói đại loại như thế, cứ y như rằng, muốn làm linh mục phải có tiền, và có tiền cho nên linh mục sống thật an nhàn. Nói như thế, hóa ra linh mục không phải là ơn gọi?

Nhưng chất chứa trong vóc dáng thơ mộng ấy là cả một ơn gọi lớn lao, không phải bất cứ ai muốn đều có thể đạt được. Nói như ai đó từng nói: «n trong cái thơ mộng ấy lại chất chứa gánh nặng của trách nhiệm: Trách nhiệm làm Kitô hữu với anh em và làm linh mục cho anh em, có mưa dầm nắng gắt, có mồ hôi nhễ nhại và cũng có cô đơn buốt giá».

Trách nhiệm của linh mục cũng đầy khó khăn. Bởi không chỉ giới thiệu hạt giống Tin Mừng nhưng phải gieo hạt giống Tin Mừng vào lòng anh chị em. Trách nhiệm càng khó khăn hơn nữa khi phải gìn giữ và nuôi nấng để hạt giống lớn lên và sinh kết quả.

Đàng khác, làm linh mục giữa thời hiện đại, thời mà con người mang nặng thèm khát sở hữu. Bằng mọi giá, dẫu là chà đạp lên cuộc sống, chà đạp lên nhân phẩm của người khác, dẫu là thủ đoạn, là loại trừ đồng loại, miễn sở hữu thật nhiều.

Làm linh mục giữa một thế giới ảnh hưởng của kinh tế thị trường đang thấm vào từng ngỏ ngách của đời sống, biến con người thành cái máy sản xuất, vật chất trở thành ông chủ. Nghĩa là bằng mọi giá, phải nâng cao giá trị sản phẩm, nhằm tiêu thụ dễ dàng, dẫu sức lực của người lao động bỏ ra bất kể là ở mức độ nào. Hóa ra con người phải phục vụ chính sản phẩm mình làm ra, thay vì chúng phải phục vụ mình.

Từ chỗ đề cao vật chất, xem nhẹ giá trị con người, nhân loại cũng lún sâu vào một thứ tâm lý tệ hại: loại bỏ tất cả những gì là thánh thiêng, những gì là giá trị tinh thần, những gì mang chiều sâu nội tâm và khoác vào một thứ chủ nghĩa hưởng thụ, một thứ chủ nghĩa đầy vật chất.

Làm linh mục hôm nay là làm linh mục giữa một thế giới bị bao vây bởi quan niệm lệch lạc về tự do. Nghĩ rằng tự do là thoát khỏi sự ràng buộc của mọi lề luật, dẫu đó là lề luật làm nên giá trị con người, vì thế người ta vong thân. Vì cho rằng để có tự do là phải loại trừ Thiên Chúa ra khỏi cuộc mình, người ta bị chới với, bị chao đảo, cuộc đời chỉ là một thứ rỗng tuếch, cuộc sống mất hết ý nghĩa. Càng chìm sâu trong quan niệm tự do buông thả lệch lạc, người ta càng tự chôn mình trong vũng lầy của thế giới tội lỗi. Nhưng tính tự nhiên của con người có bao giờ ở yên. Vì thế càng mất bình an, con người càng vùng vẫy. Nếu vùng vẫy mà không có một định hướng đúng đắn, không vươn lên được, người ta càng lún sâu trong đám bùn đen ấy. Quan niệm tự do như thế, biến con người thành một thứ nô lệ đáng kinh sợ: nô lệ cho chính quan niệm và lối sống tự do lệch lạc phóng túng của mình. Cái bi đát nằm ở chỗ, nô lệ mà không nhận ra mình nô lệ, lại còn ảo tưởng tôi đang tự do!

Làm linh mục giữa thời buổi mà óc thực nghiệm trở thành một bóng ma tác oai, tác oái, nó gieo vào lòng con người thứ tư tưởng, có khi chỉ là mơ tưởng về một thế giới không có Thiên Chúa. Người ta đề cao khoa học và sự phát triển của khoa học như chúa của mình. Thay thế Thiên Chúa bằng chứng cứ khoa học. Cái đau đớn là khoa học vẫn cứ bó tay trong rất nhiều lãnh vực, không chỉ thuộc về siêu nhiên, không chỉ là tâm thức đức tin, mà bó tay ngay trên chính lãnh vực thực nghiệm của mình.

Loại trừ những gì thuộc về tinh thần, loại trừ các giá trị thiêng liêng, loại trừ mọi giá trị đạo đức đã tích tụ và làm nên giá trị của sự sống con người qua nhiều thế hệ. Người ta quên mất, hay cố tình quên khoa học có nguồn gốc từ đâu, do ai, nếu không phải Thiên Chúa đã xếp đặt mọi trật tự để con người, nhờ đó nhận ra các định luật khoa học? Người ta quên rằng, khi loại trừ Thiên Chúa, loại trừ mọi giá trị thánh thiêng, con đường phát triển của khoa học, lẽ ra nhắm phục vụ con người, sẽ dễ dàng rơi vào tính bập bênh, lệch lạc. Xa hơn nữa: tự nó quay lại giết hại chính con người, giết hại nhân phẩm con người, điều mà chính lúc này, hơn ai hết, những người Công giáo chân chính nhận ra và có kinh nghiệm. Bởi thế mà Giáo Hội luôn luôn đòi phải trả lại chỗ đứng đúng đắn của con người trong khi phát triển khoa học.

Vô vàn những nếp sống, chủ trương, tư tưởng, chủ nghĩa duy thế tục như thế làm cho người linh mục như mỏi mòn trong công tác truyền giáo của mình. Giữa thời buổi mà người ta nhân danh tính hiện đại, không còn nhìn nhận mọi chân lý truyền thống như thế, người linh mục phải gieo hạt giống Tin Mừng, phải cao rao tinh thần Tám Mối Phúc, cao rao tình yêu, lòng tha thứ, nhân hậu, bao dung…, thì đúng là làm linh mục hôm nay cũng đồng nghĩa với lội ngược dòng.

Những khó khăn ấy cũng là điều mà mấy mươi năm trước, Công Đồng Vatican II nói nhiều trong hiến chế Mục vụ. Chẳng hạn: «Chưa bao giờ nhân loại dồi dào của cải, khả năng và quyền lực kinh tế như ngày nay, vậy mà tới nay, một phần rất lớn nhân loại trên thế giới đang quằn quại vì đói ăn và thiếu thốn, rồi không biết bao nhiêu người đang chịu cảnh mù chữ. Chưa bao giờ con người ý thức mãnh liệt được sự tự do như ngày nay, đang khi đó lại thấy sống dậy những hình thức nô lệ mới mẽ về mặt xã hội cũng như tâm lý. Trong lúc đang mãnh liệt cảm thấy sự duy nhất cũng như sự kiện tất cả lệ thuộc nhau trong sự liên đới cần thiết, thì thế giới lại bị lôi kéo kịch liệt theo những chiều hướng tương phản do những lực lượng chống đối nhau; thực vậy, vẫn còn kéo dài mãi tới ngày nay những bất đồng trầm trọng về chính trị, xã hội, kinh tế, chủng tộc và ý thức hệ, và một cuộc chiến diệt vong vẫn còn đe dọa» (MV số 4).

Mẹ Giáo Hội vẫn phải đương đầu với nhiều khó khăn. Linh mục, nếu biết thao thức và tha thiết sống niềm thao thức ấy cùng Mẹ của mình, chắc chắn không đi ngoài con đường người Mẹ ấy đã và vẫn đi.

II. Khó khăn nơi chính bản thân

Ngoài những khó khăn ngoại tại như thế, về lâu, về dài, tâm lý tự nhiên dễ làm linh mục chán nản. Thêm vào đó, do bổn phận, đòi linh mục phải mực thước, phải nêu gương, phải khôn khéo… làm cho bổn phận và thánh chức mà ngày xưa khi còn mới mẻ, người linh mục dễ dàng, có khi còn hăm hỡ đón nhận, nay trở thành gánh nặng.

Chiều dài thời gian làm cho một linh mục coi xứ phải nói Lời Chúa, đến một lúc, cái hay, cái mới ban đầu dần khô cạn, anh chị em tín hữu trở nên nhàm chán. Hai bên cứ phải chịu đựng lẫn nhau, đến với nhau, cùng dâng thánh lễ mà không mấy vui tươi phấn khởi.

Cũng là người như anh chị em mình, linh mục cũng có những ưu tư, khắc khoải, vui buồn của riêng mình. Có những điều có thể bộc lộ với hết mọi người, nhưng cũng có những điều không thể nói cho bất cứ ai. Nếu là niềm vui thì không sao, nhưng gặp phải nỗi buồn mà không ai hiểu, không ai thông cảm, nỗi buồn ấy càng quay quắt, càng quặn thắt như muốn đốt cháy tiêu tan tâm hồn, người linh mục dễ rơi vào nỗi cô đơn buốt giá.

Bên cạnh đó, còn biết bao nhiêu hoàn cảnh khác tác động như: bị chống đối, tuổi tác, đau bệnh, sức cùng, lực kiệt… làm linh mục dễ ngã lòng, muốn buông xuôi. Từ đó công tác truyền giảng dễ dẫn đến bế tắc.

Nói cho tường tận, tất cả trở thành vô cảm, lòng người trở nên khô khan. Bản thân linh mục không còn chí khí. Cuối cùng chỉ còn hai tiếng: đầu hàng. Nghĩ như thế là tự chôn vùi cuộc đời linh mục của mình vì thiếu hy vọng. Để xảy ra như thế thì thật là bi đát…

(Còn tiếp 1 kỳ)

 

Trở về Muc Lục