|
|
Số 19, Ngày 11-9-2004
Phương Pháp Gặp Gỡ Lời Chúa - Hoàng Quý Thái Độ Cần Có Đối Với Những Người Sai Lầm, Tội Lỗi - Nguyễn Chính Kết Gieo Trong Thương Đau - Lm. Vũ Xuân Hạnh Giáo Xứ Vùng Cao - Clara Th. Những Lời Khuyên Về Gia Đình Của Thánh Gioan Kim Khẩu - Giao Duyên Một Đôi Giầy Mới - Nguyễn Đông Khê Tâm Tình Bạn Đọc - Thư Bạn Đọc
Quý độc giả thân mến, Như đã có lần bày tỏ tâm tình của Maranatha khi nhận được thư của độc giả gửi về: trân trọng và cảm động, hy vọng và hạnh phúc…vì được nhận được một vài dòng khích lệ, chia sẻ của từng độc giả dành cho tuần báo. Thật vậy, từ những số báo đầu tiên, qua Mục Thư Bạn Đọc, Maranatha đã viết:…Để quí vị độc giả cùng hiệp thông với mọi thành phần Dân Chúa đang dấn thân trên khắp nẻo đường trần thế hầu dọn đường cho Chúa Đến, Maranatha xin trích lại đây một số câu trong số rất nhiều điện thư đã nhận được... Nhưng quí vị cứ đọc xem, rối hẳn quí vị sẽ cảm nhận như chúng tôi rằng, bất chợt, một hai chữ nào đó có thể mở ra trước mình mắt cả một khung trời... Vâng, Maranatha không chỉ là một tuần báo điện tử thuần túy gửi đến Quý Vị những bài vở hàng tuần, nhưng ước mong được là một nhịp cầu nối để quý độc giả nhận diện ra nhau và bắt gặp chính mình qua những tâm tình và bài viết của các tác giả, độc giả khắp nơi gửi về. Hẳn chúng ta đã không quên được chia sẻ của các linh mục, nhà dòng, tu hội hoặc giáo dân ở Canada, Thủ Đức, Xã Đoài (địa phận Vinh), Ninh Thuận (Nha Trang), ở Úc Châu, Long Xuyên, Cần Thơ, vương quốc Bỉ, Nam Định, Thụy Sĩ, Berkely, Chicago (Hoa Kỳ), Huế, Kontum, Gia Định, Hà Tĩnh…và nhiều nhiều nơi nữa…gửi về cho Maranatha. Trong tâm tình đó, tuần này Maranatha xin được hiệp thông với một anh em linh mục viết về cuộc sống mục vụ của mình “….bởi vì cuộc sống mục vụ của mình bên này hơi đặc biệt một tí. Vì giáo dân ở rải rác khắp nước, nên mỗi tháng mình phải đi hết nơi này sang nơi khác thăm và dâng lễ, giải tội cho giáo dân. Cuộc sống du mục cũng vui, nhiều cơ hội để học hỏi và để sống phó thác, nhưng cũng ít thời giờ để viết lách, vì mỗi lần đi như vậy thì thời giờ không là của mình nữa, mà là của giáo dân, giờ ăn, giờ lễ, giờ ngủ đều do giáo dân quyết định, nên giờ cho mình và cho việc riêng của mình thì hầu như không có. Xin anh chị em trong Maranatha cầu nguyện cho mình với, bởi vì không biết có thể cầm cự cho tới khi nào, vì đi nhiều cũng mệt lắm. Một lần nữa, xin Chúa Giêsu, vị chủ chăn nhân từ, ban cho anh chị em trong Maranatha thật nhiều tình yêu để nhờ đó có nhiều sáng kiến trong việc loan báo Tin Mừng. Cầu nguyện cho nhau.” Cuộc sống hy sinh, tâm tình quý báu và đáng trân trọng của linh mục vừa chia sẻ trên đây phải chăng cũng chính là tâm tình của nhiều linh mục khác… “không còn là của mình nữa, mà là của giáo dân…” trong đời sống hiến dâng để phục vụ dân Thiên Chúa mà mình đã được gọi để sống hy tế sống động hàng ngày đó. Và cũng như thế, biết bao anh chị em ở đâu đó cũng đang âm thầm sống đời tín hữu, mà cuộc sống của những con người này không còn là của mình nhưng là thuộc về Đức Kitô để trở nên muối mặn men nồng của Tình Yêu của Thiên Chúa trong cuộc đời với nhiều khó khăn và thử thách hôm nay. Tuy vậy, chúng ta biết rằng mình không cô đơn trên con đường lữ hành đức tin về nhà Cha, nhưng an vui vì chúng ta vẫn có Đức Kitô đồng hành và được nâng đỡ qua lời cầu nguyện và những chia sẻ tâm tình của những anh em chưa từng gặp gỡ nhưng đã rất gần gũi, thân thương. Đó chính là một trong những ước mong và chủ trương của Maranatha, để qua trang báo nhỏ bé, đơn sơ này, hàng tuần Maranatha được cùng quý độc giả khắp nơi chia sẻ tâm tình cho nhau, qua các bài viết về Cầu Nguyện, Sống Đạo, Mục Vụ, Hôn Nhân Gia Đình. Ở đây không còn phân biệt linh mục, tu sĩ hoặc giáo dân. Tất cả chúng ta, những tín hữu tin vào Đức Kitô, cùng nhau chia sẻ những khó khăn, trăn trở của cuộc sống hàng ngày, của ơn gọi riêng mình, nhưng vẫn biết rằng, ở nơi các quốc gia trên thế giới hoặc ngay chính trong lòng quê hương, vẫn có những tâm hồn, trái tim luôn hướng về nhau với lòng thương mến và hiệp thông, cùng nhau xây dựng Nước Trời mỗi nơi mình được gọi đến với lời khẩn nguyện: “Maranatha, Lạy Chúa, xin ngự đến!”
MARANATHA
CẦU NGUYỆN PHƯƠNG PHÁP GẶP GỠ LỜI CHÚA
Lời Giới Thiệu: Kính thưa quý độc giả, Cách đây hơn một tháng chúng tôi đã giới thiệu với quý độc giả các phương thức cầu nguyện với Kinh Thánh, đặc biệt với phương pháp cầu nguyện của Lectio Divina. Và từ đây, chúng tôi muốn cùng với quý độc giả đi vào chia sẻ những kiến thức, những cảm nghiệm khi gặp gỡ Lời Chúa, nhờ đó mỗi người hướng tới cầu nguyện, tới đàm thoại với Chúa, tới kết hiệp với Chúa và tới biến đổi cuộc sống mình. Trước khi đi vào gặp gỡ Lời Chúa qua từng bài Kinh Thánh, chúng tôi muốn giới thiệu với quý độc giả một phương pháp khá kiến hiệu đã giúp nhiều người và nhiều nhóm, cũng như nhiều đoàn thể gặp gỡ Lời Chúa tốt đẹp. Chúng tôi đã nghiên cứu các phương pháp gặp gỡ Lời Chúa này từ các nhà viết suy niệm Lời Chúa như Soubigou, André Roche, Richard Gutzwiller, Prêtres du Prado…, cũng như từ những cảm nghiệm của các Phong trào Công Giáo Tiến Hành như Thanh Sinh Công, Thanh Lao Công, và nhóm Sống Lời Chúa. Chúng tôi đã xuất bản các phương pháp gặp gỡ Lời Chúa này trong các tác phẩm «Gặp Gỡ Lời Chúa» (1969), «Gặp gỡ Đức Kitô» (1969), «Cảm nghiệm sống Lời Chúa» (1992) và đã được nhiều nơi, nhiều nhóm ứng dụng. Lần này chúng tôi muốn giới thiệu phương pháp này trên mạng lưới cùng với những học hỏi và những cảm nghiệm mới tại hải ngoại. Chúng tôi muốn chia sẻ với quý độc giả những gì mình đã thu thập được, để từ đó hướng chúng ta đi vào cầu nguyện tư riêng cũng như trong nhóm hoặc đoàn thể. Điều quan trọng chúng tôi cần phải xác định ở đây, chúng ta chỉ là những dụng cụ Chúa sử dụng, còn chính Thánh Thần Chúa mới là tác nhân thực sự giúp chúng ta gặp gỡ Lời Tin Mừng và tiến sâu vào cầu nguyện. Sau bài giới thiệu phương pháp gặp gỡ Lời Chúa này áp dụng cho từng cá nhân hay từng nhóm, trong các tuần kế tiếp chúng tôi sẽ giới thiệu một số bài chia sẻ Tin Mừng có nhân vật để chúng ta làm quen với phương pháp và từ đó hướng đến «cầu nguyện với Kinh Thánh». Sau đây chúng tôi chuyển tới quý độc giả những gì chúng tôi đã trình bầy về phương pháp này trong các cuốn sách kể trên. Phương Pháp Gặp Gỡ Lời Chúa. Lời Chúa là một kho tàng bí ẩn, sâu thẳm vô tận, do đó bạn cần phải tìm ra đường lối, cần hiểu biết cách thức khám phá kho tàng ấy để thâu nhận những phong phú giầu sang của Ngài, để gặp được Mạch Nước Hằng Sống sẽ tưới mát và nuôi dưỡng bạn, trong cuộc hành trình vạn dặm trần gian này. Phương pháp tự nó chỉ là một phương tiện, một cách thức giúp bạn đi vào tiếp xúc và khám phá kho tàng Lời Chúa. Khi đã gặp được kho tàng Lời Ngài rồi, phương pháp không còn nghĩa lý gì, cũng tương tự như con đò đưa khách qua sông rồi, con đò đã làm hết trách nhiệm của nó. Nhưng nếu không có con đò, không dễ gì người lữ khách qua được bến bờ bên kia hứa hẹn những chân trời mới mênh mông trù phú. Sau đây chúng tôi giới thiệu với bạn 4 cách thức, 4 phương pháp tiếp xúc với Lời Chúa, tùy theo nội dung bài Tin Mừng: 1) Phương pháp suy niệm; 2) Phương pháp kiểm điểm đời sống; 3) Phương pháp chứng từ; 4) Phương pháp chia sẻ. Để làm quen với các phương pháp gặp gỡ Lời Chúa này, chúng tôi bắt đầu trình bầy phương pháp suy niệm được kể là phương pháp đầu tiên và nền tảng cho các phương pháp khác. Phương Pháp Suy Niệm. Lời Chúa ẩn náu như một kho báu. Đọc Lời Ngài qua loa, hời hợt hay thiếu phương pháp, bạn sẽ không khám phá được gì nhiều nơi Lời Ngài. Đến với Lời Ngài, bạn cần phải có những cách thức luyện tập quen thuộc của một thể tháo gia. Thực thế, phương pháp suy niệm cũng đưa ra 4 động tác căn bẳn, giúp bạn thực tập suy niệm Lời Chúa một cách nhuần nhuyễn, tinh thông, xoay quanh 4 câu hỏi. Theo bề ngoài,4 câu hỏi xem ra bình dị, nhưng mỗi câu hỏi lại thực sự hữu hiệu hướng dẫn bạn đi vào chiều sâu bài Tin Mừng và cuộc sống bạn. Càng thực tập nhiều, bạn càng nhận thấy hiệu năng cụ thể của phương pháp. Phương pháp suy niệm này đặc biệt áp dụng cho các bài Tin Mừng có các nhân vật tác động và đối thoại với nhau. Dần dần bạn sẽ cảm nhận được ý nghĩa và tác động của mỗi câu hỏi và của toàn thể phương pháp. 1- Câu hỏi thứ nhất đề cập đến bối cảnh lịch sử bài Tin Mừng: «Bài Tin Mừng xẩy ra vào không gian, thời gian nào?» Bạn cần xác định vị trí không gian và thời gian của bài Tin Mừng xảy ra và bạn phác họa lại như một bức tranh sống động trong Tin Mừng. Bức phông của mỗi màn kịch giúp khán giả dễ đi vào được nội dung sâu sắc của vở kịch. Cũng vậy, nhìn ra được bối cảnh bài Tin Mừng, bất chợt bạn sẽ gặp được những ý tưởng thâm sâu, sung mãn đến với bạn. 2- Câu hỏi thứ hai đi vào khám phá các nhân vật: «Bài Tin Mừng có mấy nhân vật? Phân tách tâm lý các nhân vật ấy». Phương pháp suy niệm đi từ những phân tách từng thái độ, từng cử chỉ, từng hành động, từng câu nói, từng phản ứng…, để tiến vào chiều sâu của mỗi nhân vật và của bài Tin Mừng. Bạn cần phân tách từng nhân vật một, hết nhân vật này rồi qua nhân vật khác. Thí dụ trong bài Tin Mừng người thiếu phụ Samari (Ga 4), bạn hãy phân tách người thiếu phụ, rồi tới Chúa, tới các môn đệ, tới dân chúng. Nhờ cách thức phân tách tâm lý đó, các ý tưởng, các nhận thức, các tình cảm sẽ nảy sinh trong bạn một cách tuần tự, dồi dào và thâm thuý mà bạn không ngờ. 3- Câu hỏi thứ ba dẫn bạn đối diện với Tin Mừng để bạn có một thái độ lựa chọn: «Câu nói nào, hành động nào, nhân vật nào vừa rồi đánh động bạn nhất, làm bạn tâm đắc nhất?»(Chúng tôi còn giản dị gọi câu hỏi này là câu tâm đắc. ) Gặp gỡ Lời Chúa không phải chỉ là một lần tìm kiếm kiến thức hoặc tò mò hiểu biết Kinh Thánh, nhưng thực ra, kiến thức đó phải giúp bạn tiến xa hơn nữa là làm rung động trái tim bạn, đẩy đưa bạn tới một lựa chọn, một quyết định nào đó trước Lời Hằng Sống. Hành động dứt khoát, quyết liệt của người đàn bà tội lỗi, dám bẻ bình ngọc quý giá nhất của đời mình để xức dầu thơm cho Chúa, nói với bạn điều gì? Phải chăng hành động quảng đại với Chúa đó không chứng tỏ một tâm hồn biết hối cải và dâng hiến tình yêu lên Chúa? Hành động đó không làm bừng tỉnh tâm thức bạn, một người tự nhận theo Chúa đã lâu, nhưng còn hình thức, hẹp hòi, tính toán và chưa dám «xả láng» với Chúa như nàng. Bây giờ bạn phải có thái độ, có quyết tâm gì với Chúa trước hành động của người đàn bà đàng điếm này? 4- Câu hỏi thứ tư dẫn bạn đi vào cuộc đời của bạn thực sự để đối chiếu cuộc sống với bài Tin Mừng: «Đối chiếu với cuộc sống, bạn đã sống bài Tin Mừng này thế nào?» Tiếp xúc với Lời Chúa, không chỉ là một lần trau dồi, học hỏi kiến thức Tin Mừng, nhưng hơn thế, phải để ánh sáng Tin Mừng chiếu dọi vào cuộc sống bạn, sưởi nóng tâm hồn giá băng lạnh lẽo của bạn. Nói cách khác, bạn phải trải cuộc sống của bạn ra dưới ánh sáng Tin Mừng để xem bạn có sống phù hợp với Lời Ngài hôm nay không? Bài Tin Mừng hôm nay Chúa nói với chính bạn chứ không phải nói với ai khác, hoặc nói một cách vu vơ trống không. Do đó, bạn phải kiểm chứng lại mình, suy xét lại mình và đối chiếu chính mình xem cuộc sống bạn có sống phù hợp với Tin Mừng của Ngài không? Mỗi người trong nhóm phải chia sẻ cho nhau không phải chỉ những kiến thức Tin Mừng của mình, nhưng hơn thế, phải chia sẻ cả những cảm thức của mình, những sức sống của mình và cả những khiếm khuyết, những trì trệ của mình nữa. Bạn nói lên những thành công của bạn, những tiến bộ của bạn, không phải để khoe khoang, tự mãn, nhưng để cảm tạ ân huệ Chúa đã giúp bạn thành đạt. Ngược lại, bạn thú nhận những ươn hèn, những thất bại, những đình đốn của bạn không phải để làm nản chí đồng đội, nhưng hơn thế, như một lần hối cải, một lần trở lại như thánh Phêrô, để kiên vững anh em trong niềm tin, một lần xin anh chị em giúp đỡ và cầu nguyện cho bạn vượt thắng mình. Thành công của buổi chia sẻ không phải chỉ ở chỗ mỗi người phát biểu sâu sắc phần nhận thức của mình, nhưng hơn thế, ở chỗ mỗi người chân tình, cởi mở tấm lòng, tâm tư thầm kín của mình để hun đúc, để sưởi nóng tình yêu Chúa và Thần Khí của Ngài tác động giữa anh em. Như vậy phương pháp suy niệm gồm hai phần: câu hỏi 1 và 2 giúp bạn tăng cường phần kiến thức Tin Mừng và câu hỏi 3 và 4 giúp bạn đi vào sống nếp sống Tin Mừng. Phối hợp cả hai phần lý thuyết và thực hành này, chính là bạn đã đi đúng đường lối của Tin Mừng: tìm hiểu và sống Lời Ngài. Chú Ý Quan Trọng Các phương pháp tìm gặp Lời Chúa ở đây mang tính chất đi vào cuộc sống, do đó tránh mọi truyện tranh cãi, bàn luận hoặc thắc mắc, sẽ làm tan loãng bầu không khí suy tư, cầu nguyện của buổi nhóm. Nếu có gì thắc mắc hoặc sai lầm, bạn sẽ nêu lên sau buổi họp và nhóm trưởng sẽ tìm cách trả lời vào một dịp khác. Các phương pháp tìm gặp Lời Chúa của nhóm có một điểm khác biệt then chốt với các cách thức chia sẻ Lời Chúa trước đây. Phương pháp trước đây là phương pháp nhìn từ trên xuống, nghĩa là phương pháp dùng Lời Chúa, lặp lại Lời Ngài để dậy dỗ, khuyên nhủ, truyền lệnh cho người khác sống Lời Ngài. Phương pháp này được mệnh danh là phương pháp «Chúng ta», nghĩa là ai cũng có thể dùng chữ «chúng ta» để rao giảng Lời Chúa cho người khác nghe. Ngược lại, phương pháp chia sẻ mới được gọi là phương pháp «Tôi», nghĩa là phương pháp chia sẻ những gì mình có hoặc chưa có cho người nghe một cách trung thực, thành tâm, giản dị, không hình thức, không che đậy, không giả hình. Nói cách khác, phương pháp «tôi» chia sẻ với anh em trong nhóm những gì mình hiểu biết, mình cảm nghiệm, mình sống hay chưa sống khi đối diện với Lời Chúa hôm nay. Như vậy, tuyệt đối khi chia sẻ trong nhóm, bạn đừng xử dụng tiếng «chúng ta», nhưng chỉ vận dụng tiếng «tôi» một cách đơn thành. Kính thưa quý độc giả,
Chúng tôi vừa trình bầy phương pháp giúp chúng ta đi vào gặp
gỡ Lời Chúa trong nhóm cũng như riêng tư, để từ đây chúng ta
dễ dàng đi vào cầu nguyện với Chúa. Bây giờ công việc còn lại
của mỗi chúng ta là
«Khi cầu nguyện, anh hãy vào phòng, đóng cửa lại và cầu
nguyện cùng Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha
của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, Ngài sẽ ban thưởng
cho anh»
(Mt 6,6). Phải, để tạo sự tĩnh mịch kín đáo trước mặt Chúa,
chúng ta cần phải đóng cửa lại trước các suy nghĩ, các cảm
xúc, các ưu tư để chỉ còn biết một mình Chúa đang hiện diện
với chúng ta. Đi vào nơi kín đáo như thế, chúng ta sẽ nhìn ra
Ngài đang ở ngay giữa mọi hoàn cảnh sống của chúng ta từng
ngày. Và cứ thế chúng ta tập được thói quen trao đổi với Ngài
mọi chuyện trong cuộc đời chúng ta. Cầu nguyện được như thế,
tất cả mọi sự việc trong cuộc sống chúng ta sẽ mang dấu vết
Ngài hiện diện thần thánh nơi chúng ta.
SỐNG ĐẠO
THÁI ĐỘ CẦN CÓ Nguyễn Chính Kết 1. Sự thánh thiện cốt ở tình yêu hơn ở sự trong sạch hay nhân đức Đọc Tin Mừng, ta thấy: mặc dù Đức Giêsu là người hết sức thánh thiện, nhưng Ngài lại sống một cách rất hòa đồng với những người tội lỗi (Lc 15,2). Thái độ của Ngài đối với người tội lỗi khác hẳn với những người Pharisêu. Những người này luôn luôn tìm cách tránh xa những ai họ cho là tội lỗi, và họ rất khó chịu trước thái độ gần gũi người tội lỗi của Đức Giêsu. Thật ra họ cũng có lý của họ, vì Cựu ước đã đưa ra những luật lệ về sự «thanh sạch» rải rác ở nhiều nơi, đặc biệt ở sách Lêvi các đoạn từ 11 đến 16. Những luật này khuyên người Do Thái không ăn, không tiếp xúc, và tránh xa những vật bị coi là ô uế. Chẳng hạn người bị phong cùi (x. Lv 13,2-17), người mắc bệnh lậu (x. Lv 15,2-15), phụ nữ có tháng; những loài sống dưới nước mà không có vảy (x. Lv Đnl 14,9-10), hay những loài chim như đại bàng, diều hâu, ó biển, quạ, đà điểu, cú, bồ nông, ó, cò, diệc… (x. Đnl 14,11-18), và nhiều loài vật khác. Xác chết của những con vật ấy mà đụng vào ai hay bất kỳ vật gì, thì người ấy, vật ấy trở nên ô uế, cần phải tẩy uế. Những người tội lỗi cũng bị coi là ô uế và người tốt lành không nên đến gần họ (x. Ds 16,26). Người Pharisêu xa lánh những vật mà Cựu ước cho là ô uế một cách nhiệm nhặt và chi tiết hơn cả chính luật lệ đòi hỏi nữa. Họ nghĩ rằng càng giữ nhiệm nhặt những luật đó, thì họ càng trở nên thanh sạch, thánh thiện trước mặt Thiên Chúa và đạo đức trước mặt mọi người. Vì dân chúng cũng nghĩ như thế, nên khi họ giữ luật đó càng nhiệm nhặt bao nhiêu thì họ càng được mọi người ca tụng là đạo đức bấy nhiêu. Và càng được tiếng là thánh thiện thì họ càng phải tránh giao tiếp với những người tội lỗi để giữ được danh tiếng tốt đẹp ấy. Còn Đức Giêsu, Ngài không suy nghĩ và hành động như họ. Đang khi họ lấy việc giữ luật và việc cử hành những nghi thức tôn giáo bề ngoài làm chuẩn mực quan trọng cho sự thánh thiện, thì Đức Giêsu lại rất coi thường chuẩn mực ấy. Ngài coi tình yêu đối với mọi người và lòng khoan dung đối với người tội lỗi mới là chuẩn mực và là cốt yếu của sự thánh thiện. Vì cốt tủy của thánh thiện là nên giống như Thiên Chúa, nguồn mạch thánh thiện. Mà để giống Thiên Chúa thì điều cốt yếu nhất là phải giống Ngài về mặt bản chất, nghĩa là phải có tình yêu. Vì «Thiên Chúa là Tình Yêu» (1Ga 4,8.16) chứ không phải là bất kỳ điều gì khác. Ngài thì vô cùng quyền năng, Ngài thì vô cùng thanh sạch, v.v… nhưng Ngài không là quyền năng, không là thanh sạch, v.v… mà chỉ là tình yêu. Vì thế, nếu giống Ngài ở trong mọi phẩm chất khác, mà không giống Ngài ở tình yêu, thì không phải là thánh thiện. Người nào trong sạch như thiên thần, hay có đủ mọi nhân đức nhưng lại không có tình yêu, người ấy không phải là người thánh thiện, vì cốt tủy của người ấy không giống Thiên Chúa. Còn những người tuy ít nhân đức, tuy còn ít nhiều tội lỗi, nhưng lại có nhiều tình yêu, thì người ấy giống Thiên Chúa hơn. Thật vậy, trước mặt Thiên Chúa, một người thu thuế bị mang tiếng là tội lỗi nhưng có tình yêu và lòng khiêm nhượng vẫn có thể thánh thiện và công chính hơn một người Pharisêu hằng được mọi người nể phục vì sống trong sạch và giữ luật hết sức nhiệm nhặt nhưng lại thiếu tình yêu và lòng khiêm nhượng (x. dụ ngôn hai người lên đền thờ cầu nguyện: Lc 18,9-14). Do đó, là người theo Chúa, ta nên biết điều chủ yếu phải bắt chước Thiên Chúa là điều gì. Nếu không, việc theo Chúa của ta chỉ là «công dã tràng». 2. Tình yêu đòi hỏi cứu người tội lỗi chứ không phải xa lánh họ Quan niệm của Đức Giêsu như thế, nên Ngài không ngần ngại đến với những người tội lỗi, hòa mình với họ để có thể cảm hóa họ. Đối với Ngài, dù họ tội lỗi đến đâu, họ cũng là «con cháu tổ phụ Ápraham» cả (Lc 19,9; x.13,16), nên họ cần được cứu khỏi tình trạng tội lỗi ấy. Mà muốn cứu họ thì không thể cứ xa lánh họ như chủ trương của những người Pharisêu, mà phải đến gần họ, tiếp xúc với họ, sống chan hòa với họ, để họ cảm nghiệm được mình thương yêu họ. Họ có cảm được mình yêu thương họ thì họ mới chịu nghe và thực hành những điều hay lẽ phải mình giãi bày. Còn tỏ ra khinh bỉ và xa lánh họ thì chỉ khiến họ xa mình và đẩy họ vào con đường tội lỗi hơn. Đối với Ngài, điều quan trọng là cứu họ chứ không phải là giữ luật về sự «thanh sạch» của Môsê. Tình yêu chân thật đòi buộc phải nghĩ như thế! Giao du với những người tội lỗi này, Ngài đành phải chấp nhận Ngài bị mất uy tín – thứ uy tín giả tạo và phi lý – trước mặt những người Pharisêu và giới lãnh đạo tôn giáo, khiến họ trách móc Ngài. Ai sợ mình mất uy tín hơn là sợ người ta mất linh hồn thì tình yêu của người ấy đối với tha nhân quả là quá mỏng! Ngài đã dạy các môn đệ: «Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em, hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em» (Lc 6,27-38). Kẻ thù hay kẻ đang làm hại mình mà mình cũng phải yêu thương, huống gì những anh chị em mình đang lầm lỡ, yếu đuối, lạc đường và đang tiến về vực thẳm…! Chính Thiên Chúa và Đức Giêsu đã làm gương này cho chúng ta. Thánh Phaolô viết: «Hầu như không ai chết vì người công chính, hoạ hoằn lắm có người dám chết vì một người lương thiện. Thế mà Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta» (Rm 5,7-8). Nếu Thiên Chúa nại vào sự thánh thiện của Ngài mà xa tránh và khinh bỉ những người tội lỗi, thì số phận của loài người chúng ta hiện nay ra sao? Lúc ấy ai cũng đều là tội lỗi thì còn ai dám tự hào rằng mình thánh thiện? Tình yêu đã khiến Thiên Chúa bất chấp sự thánh thiện của mình để đến hòa mình với nhân loại tội lỗi. Thiên Chúa đã coi tình yêu quan trọng hơn sự thánh thiện của Ngài, và chính vì thế, mà Ngài mới đúng là thánh thiện. Vì sự thánh thiện hệ tại tình yêu hơn là hệ tại sự trong sạch hay tại có được vô vàn nhân đức! Vậy, ta thánh thiện được bao nhiêu mà lại tự hào về sự thánh thiện ấy để xa tránh anh chị em mình mà mình cho là tội lỗi? Hãy noi gương Đức Giêsu, Ngài không hề dị ứng với những người tội lỗi, mà chỉ dị ứng – thậm chí rất dị ứng – với những người mang danh đạo đức mà lại kiêu ngạo, tự mãn, ích kỷ, thiếu tình thương, thích bắt bẻ, khinh bỉ và kết án người khác (x. Mt 12,1-14; Ga 9,40-41; Mt 23; v.v…). 3. Giá trị của một người tội lỗi ăn năn trở lại Đức Giêsu hỏi những người Pharisêu: «Người nào trong các ông có một trăm con chiên mà bị mất một con, lại không để chín mươi chín con kia ngoài đồng hoang, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất?» Câu hỏi ấy của Đức Giêsu – với cụm từ «Người nào trong các ông… lại không…» – cho thấy việc bỏ lại 99 con chiên không bị lạc để đi kiếm con chiên lạc, là một cách hành xử thường tình của con người. Ngữ cảnh của đoạn văn này khiến ta phải hiểu là người chăn chiên đã phải lo cho 99 con còn lại ở một nơi an toàn có người khác canh giữ trước khi ra đi tìm con chiên lạc. Chứ Đức Giêsu không phải là người không biết tính toán: chỉ tìm có một con chiên lạc mà liều để mặc cho 99 con kia ra sao thì ra! Hiểu theo cách ấy xem ra không đạt lý! Tuy nhiên, điều đáng cho ta suy nghĩ và thắc mắc tìm hiểu là câu kết luận của Đức Giêsu: «Trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn». Tại sao lại có vẻ nghịch lý như vậy? Thường thì người tội lỗi nào thật sự ăn năn trở lại – nghĩa là quyết định dứt khoát không quay về con đường cũ tội lỗi nữa – thì cũng đều có một giá trị rất lớn trước mặt Thiên Chúa mà có thể những người thánh thiện khác ít có được, vì: – Họ đã có một quá khứ tội lỗi, nên họ không bao giờ dám tự hào về bản thân mình. Nhờ đó họ dễ khiêm nhường sâu xa hơn, mà khiêm nhường lại chính là nền tảng rất vững chắc của sự thánh thiện. – Họ đã kinh nghiệm được sự yếu đuối và mỏng dòn của con người, nên họ rất dễ thông cảm sâu xa với những người yếu đuối, tội lỗi khác. Sự thông cảm này khiến họ bao dung và yêu thương người tội lỗi hơn. Sự cảm thông và bao dung này lại là một giá trị lớn trước mặt Thiên Chúa. Và một khi họ đã trở nên thánh thiện, họ cũng dễ dàng cảm hóa được người tội lỗi hơn nhờ kinh nghiệm trở lại của họ. – Họ càng phạm tội nhiều thì khi được Thiên Chúa tha tội, họ càng cảm nghiệm được tình thương của Thiên Chúa nhiều hơn, và do đó họ yêu mến Thiên Chúa nhiều hơn: Ai được tha nhiều thì yêu mến nhiều. Còn ai được tha ít thì yêu mến ít (x. Lc 7,36-50). – Đối với trần gian, những người tội lỗi quay trở về thường có nhiều kinh nghiệm về cuộc đời, nhất là về mặt trái của nó. Do đó, họ thường có một sự khôn ngoan nào đó mà người chưa từng phạm tội không có được. Nếu họ thật sự quay trở về và yêu mến Thiên Chúa, Ngài có thể biến chính quá khứ tội lỗi của họ trở thành một giá trị đem lại lợi ích lớn lao cho chính họ và cho người khác (x. Rm 8,28), nhờ tình yêu họ có được đối với Thiên Chúa và sự cảm thông và yêu thương đối với đồng loại. Vậy chúng ta đừng tự hào về sự thánh thiện hay đạo đức của mình mà khi bỉ hay xa lánh người tội lỗi. Rất có thể khi họ quay trở về với Thiên Chúa, thì họ lại thánh thiện và có giá trị cao hơn chúng ta rất nhiều trước Thiên Chúa. Thánh Âu Tinh là một thí dụ điển hình cho trường hợp này.
SỨ MẠNG LINH MỤC (tiếp theo Maranatha_18) Lm. Vũ Xuân Hạnh III. CỨU CÁNH KHÔNG THỂ THIẾU Đừng quên, những lúc mà công tác rao giảng bế tắc cùng với những rào cản linh mục gặp phải, lại chính là lúc cần thiết đòi linh mục phải mở Thánh Kinh ra, đọc lại Lời Chúa, để nhận ra một sự thật rằng: nỗi bấp bênh của ta hiện nay, đâu phải của riêng ta. Chính Con Thiên Chúa làm người cũng không thoát khỏi, các tổ phụ, các tiên tri ngày xưa đã từng chung số phận. Các thánh tông đồ cũng từng nếm trải nỗi thương đau ô nhục. Chẳng hạn tổ phụ Abraham được Chúa kêu gọi: “Hãy bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi đến đất Ta sẽ chỉ cho.” (St 12, 1). Thế là Abraham ra đi. Đi trong mịt mù. Đi trong tăm tối. Đi mà chẳng biết mình đi đâu. Suốt đời ông mơ ước có một đứa con nối dõi tông đường, vậy mà cũng chẳng có. Đến khi ông cả trăm tuổi, vợ ông cũng cao niên chẳng kém gì, Thiên Chúa mới hứa ban cho ông một đứa con. Một lời hứa như thế thật khó chấp nhận làm sao. Thế nhưng Abraham vẫn tin. Đến khi đứa con trai duy nhất của ông, đứa con thừa tự, đứa con của lời hứa, đứa con ngọc, đứa con ngà đã lớn khôn, Thiên Chúa lại đòi ông đem đứa con đó đi sát tế cho Người. Có tội ác nào lớn cho bằng tội của một người cha giết con. Có còn lời dạy nào khủng khiếp cho bằng dạy một người cha giết chính đứa con là máu, là mủ, hơn nữa là cả cuộc sống của người cha già nua đã từng rút ruột mình sinh ra. Và còn đâu là một Thiên Chúa yêu thương, một Thiên Chúa gần gũi với con người, hay chỉ là một Thiên Chúa tàn nhẫn và say máu cho đến độ đòi một người cha phải thủ tiêu con của ông làm của lễ tế hiến cho mình. Đúng là một Thiên Chúa độc ác, không còn gì độc ác hơn. Càng suy nghĩ như thế về hình ảnh của Thiên Chúa bao nhiêu, ta càng thấy đức tin của Abraham lớn bấy nhiêu. Cứ bắt đầu bằng tình cảm con người, ta suy diễn, sẽ thấy, chắc tâm hồn ông chao đảo lắm, lương tâm ông giày vò lắm, cuộc sống của ông chắc mất bình an lắm. Có lẽ nước mắt đã tràn ngập, đã dàn dụa tâm hồn ông. Và có lẽ giọt nước mắt ấy rất âm thầm, vì ông không thể để lộ cho con mình biết được. Làm sao dám cho con biết khi chính ông sẽ giết chết con! Mà tiếng khóc càng âm thầm, tiếng nấc càng nghẹn ứ, nước mắt càng chảy ngược vào hồn nhiều bao nhiêu, thì nỗi đau càng dằn xé, càng tê tái, càng buốt giá bấy nhiêu. Nhất là mỗi khi ông nhìn đôi bàn tay của mình. Ngày nào đôi tay ấy bồng ẳm con, nâng niu con, bây giờ cũng chính đôi tay ấy sẽ thủ tiêu con. Là cha, là mẹ như bao người cha, người mẹ khác, Abraham se thắt lòng mình. Nhưng Abraham đã vượt qua tất cả. Đức tin của ông lớn hơn tất cả. Chính đức tin dạy cho ông biết: Thiên Chúa vẫn yêu thương ông vô cùng. Người vẫn nhìn thấy ông. Người biết rõ lòng ông. Người có cách của Người để trù liệu cho ông những điều tốt đẹp nhất. Vì tình yêu vô cùng mãnh liệt, vì tình yêu mến Thiên Chúa ngất trời cao, Abraham đã không mất bất cứ một điều gì, dù là nhỏ nhoi nhất. Còn hơn bất cứ một người nào trong nhân loại, qua muôn ngàn thế hệ, bằng miệng lưỡi của thiên thần, Thiên Chúa khen ngợi ông: “Đừng giơ tay hại đứa trẻ, đừng làm gì nó! Bây giờ Ta biết ngươi là kẻ kính sợ Thiên Chúa: đối với Ta, con của ngươi, con một của Ngươi, ngươi cũng chẳng tiếc! “Đây là sấm ngôn của Đức Chúa, Ta lấy chính danh Ta mà thề: Bởi vì ngươi đã làm điều đó, đã không tiếc con của ngươi, con một của ngươi, nên Ta sẽ thi ân giáng phúc cho ngươi, sẽ làm cho dòng dõi ngươi nên đông, nên nhiều như sao trên bầu trời, như cát ngoài bãi biển.” (St 22, 12. 16 -18). Cũng thế, chính ông Môisen, một nhà giải phóng lừng danh, được Chúa tin tưởng trao cho sứ mạng đưa dân của Người thoát cảnh lầm than nô lệ cho Aicập, cũng đã từng quặn thắt tâm hồn, đã từng than trách với Chúa và muốn chết đi: “Sao Ngài lại làm khổ tôi tớ Ngài? Tại sao con không đẹp lòng Ngài, khiến Ngài đặt gánh nặng tất cả dân này lên vai con? Có phải con đã cưu mang dân này đâu, có phải con sinh ra nó đâu? Một mình con không thể gánh cả dân này được nữa, vì nó nặng quá sức con. Nếu Ngài xử với con như vậy, thì thà giết con đi còn hơn.” (Ds 11, 12 tt). Đến như tiên tri Êlia, trong nỗi khổ của một kẻ chạy trốn vì hoàng hậu Giêgiaben đang tìm giết, dẫu là người rất can đảm cũng đã phải thốt lên: “Lạy Đức Chúa, đủ rồi! Bây giờ xin Chúa lấy mạng sống con đi, vì con chẳng hơn gì cha ông của con” (1V 19, 4). Tiên tri Giêrêmia cũng chung số phận: Vì phải sống và loan báo Lời Chúa, nhà tiên tri bị người đời ghét bỏ, bị những kẻ xấu chống đối dữ dội, và thù hận đến mức có những lúc ông đau khổ một cách tuyện vọng, chỉ còn biết trách móc cái ngày ông sinh ra và than van cho số phận bạc kiếp của mình: “Thật đáng nguyền rủa ngày tôi được sinh ra. Ngày mẹ tôi sinh ra tôi không đáng được chúc lành. Tại sao tôi lại không chết ngay trong lòng mẹ, để mẹ tôi nên nấm mồ chôn tôi, và lòng bà cưu mang tôi mãi mãi? Tôi đã lọt lòng mẹ để làm chi? Phải chăng chỉ để thấy toàn gian khổ buồn sầu, và thấy cuộc đời qua đi trong tủi hổ.” (Gr 21, 14. 17 - 18). Và rất nhiều những con người đạo đức, thánh thiện, lẽ ra được tràn đầy hạnh phúc, thì ngược lại, số phận cứ mãi lênh đênh bạc bẽo, đau khổ tột cùng như ông Gióp, tiên tri Giona, Tôbia, Isaia, Amốt. Đến vị tiên tri cuối cùng của Cựu ước là thánh Gioan Tẩy giả cũng đã từng hoang mang đến mức nghi ngờ: “Thưa Thầy, Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay chúng tôi phải chờ đợi ai khác?” (Mt 11, 3). Cuối đời, vì lẽ sống và sự thật, thánh Gioan cũng không đi ngoài con đường mà những người tiền nhiệm đã đi: nếm trải nỗi đau khổ, tù tội và cái chết bi ai (Mc 6, 17 -29). Bởi thế, càng u uất, thất bại và chán nản bao nhiêu, linh mục càng phải suy niệm Thánh Kinh gấp nhiều lần bấy nhiêu. Nơi Lời Mạc khải của Thiên Chúa, linh mục sẽ tìm thấy nguồn an ủi, lời động viên, sức nóng đủ hâm lại nhiệt huyết của mình. Và trên hết, nơi Lời Chúa, linh mục lấy lại sự thánh thiện, lấy lại đức tin, niềm hy vọng và phó thác vào tay Chúa là Đấng luôn quan phòng điều khiển mọi sự. Hãy nhớ rằng, linh mục chỉ là dụng cụ trong tay Thiên Chúa. Vì thế hãy cứ gieo hạt giống Tin Mừng, gieo khắp nơi, gieo mọi lúc. Hãy tin rằng, người gieo hạt giống Lời Chúa nếu chỉ là kẻ bất lực, thì quyền năng Thiên Chúa sẽ mạnh mẽ. Chỉ có Chúa mới làm cho xấu trở nên tốt. Dẫu cho người gieo là chính linh mục có sống trong tội lỗi đi nữa, thì chỉ có Chúa mới có thể rút ra điều tốt từ những gì mà trong con mắt con người chỉ là cái xấu. Hãy gieo Lời Chúa và hãy tin mãnh liệt rằng, hạt giống Lời Chúa vẫn nảy mầm và mọc lên, dù đêm hay ngày và người gieo ngủ hay thức (Mc 4, 27). Có thể có hạt rơi trên sỏi đá, rơi trên đất khô cằn. Nhưng sẽ có những hạt rơi trên đất tốt và sinh hoa kết trái: hạt được một trăm, hạt được sáu mươi, hạt được ba mươi (Mt 13, 8). Vấn Tâm. Ý thức rằng, Thánh Kinh là cứu cánh không thể thiếu, hơn thế, là nguồn sống cho đời linh mục, chúng ta cùng nhau đọc lại một tấm gương anh dũng của cha ông được Thánh Kinh ghi lại, từ đó tra vấn lương tâm của mình về lòng yêu mến Chúa, nhằm ý thức mạnh mẽ thiên chức linh mục Chúa trao là để phụng sự Chúa, phục vụ Giáo Hội và yêu mến con người. Ý thức như thế, để dù phải chấp nhận bao nhiêu thử thách đi nữa, lòng người linh mục vẫn lớn lên từng ngày trong sự trung thành, nhiệt huyết, nỗi vui, niềm tin yêu và hy vọng. Ước mong Lời Chúa sẽ làm ấm lòng chúng ta, những linh mục của Chúa. “Có những người thuộc hội đường, gọi là hội đường của nhóm nô lệ được giải phóng, gốc Kyrênê và Alexanria, cùng với một số người gốc Kilikia và Axia, đứng lên tranh luận với ông Stêphanô. Nhưng họ không địch nổi lời lẽ khôn ngoan mà Thần Khí đã ban cho ông.” Họ đưa mấy người làm chứng gian ra khai rằng: “Tên này không ngừng nói những lời phạm đến nơi thánh và lề luật”. Toàn cử tọa trong Hội đồng đều nhìn thẳng vào ông Stêphanô, và họ thấy mặt ông giống như mặt thiên sứ. Bấy giờ vị thượng tế hỏi Stêphanô: “Có đúng như vậy không?” Ông đáp: “Thưa quý vị là những bậc cha anh, xin nghe tôi đây Hỡi những người cứng đầu cứng cổ, lòng và tai không cắt bì, các ông luôn luôn chống lại Thánh Thần. Cha ông các ông thế nào, thì các ông cũng vậy. Có ngôn sứ nào mà cha ông các ông không bắt bớ? Họ đã giết những vị tiên báo Đấng Công Chính sẽ đến; còn các ông, nay đã trở thành những kẻ phản bội và sát hại Đấng ấy. Các ông là những người đã lãnh nhận lề luật do các thiên sứ công bố, nhưng lại chẳng tuân giữ. Khi nghe những lời ấy, lòng họ giận điên lên, và họ nghiến răng căm thù ông Stêphanô. Được đầy ơn Thánh Thần, ông đăm đăm nhìn trời, thấy vinh quang Thiên Chúa, và thấy Đức Giêsu đứng bên hữu Thiên Chúa. Ông nói: “Kìa tôi thấy trời mở ra, và Đức Giêsu đứng bên hữu Thiên Chúa.” Họ liền kêu lớn tiếng, bịt tai lại và nhất tề xông vào ông rồi lôi ra ngoài thành mà ném đá. Họ ném đá ông Stêphanô, đang lúc ông cầu xin rằng: “Lạy Chúa Giêsu, xin nhận lấy hồn con.” Rồi ông quỳ gối xuống, kêu lớn tiếng: “Lạy Chúa, xin đừng chấp họ tội này. Nói thế rồi, ông an nghỉ.” (Cv 6,8-7, 60). Sau khi nghe những lời ấy, có lẽ thái độ thích hợp nhất của chúng ta lúc này là lặng đi để có thể tra vấn lương tâm mình. Vậy chúng ta hãy thinh lặng, để một lần thinh lặng, là một lần nữa, ta ý thức rằng, ơn gọi Chúa trao luôn gắn liền với thập giá mà chính Chúa Kitô đã đi qua, để người linh mục phải vượt qua như Chúa Kitô, mới mong lớn lên và ngày càng trưởng thành hơn trong thiên mà mình được nhận lãnh. Hướng Về Vĩnh Cửu 1. Trong đức tin, ta biết rằng, cuộc sống là một hành trình vượt qua. Trên hành trình đó, ta đã vượt qua nhiều lắm, nhưng không ít lần thất bại, bởi ta còn chần chừ, tính toán, ích kỷ, so đo hơn thiệt. Nhưng điều quan trọng nhất không phải là bản tính yếu đuối, mà là ta có cố gắng chiến đấu, để mỗi một ngày vượt qua tính bất tất của mình hơn không mà thôi. 2. Muốn đi về vĩnh cửu trong bình an, hãy cộng tác với ơn Chúa ban bằng cách vượt lên trên mọi thăng trầm trong chính cuộc đời của mình. Hãy nhớ rằng, trước khi gieo Lời Chúa và làm cho Lời ấy lớn lên trong tâm hồn anh chị em, linh mục phải làm sao để Lời Chúa được gieo và lớn lên trong lòng mình. Đó là hành trang duy nhất giúp người linh mục mang theo tiến về vĩnh cửu. 3. Trong thư mục vụ 2003, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, một lần nữa mời gọi chúng ta nhìn về cha ông của mình để “tiếp nối bước chân truyền giáo”: “Từng đoàn người vượt suối băng rừng. Từng đoàn người ra khơi giữa biển rộng sóng lớn. Biết bao người bỏ mạng nơi rừng sâu núi thẳm. Biết bao người bỏ xác ngoài biển khơi. Nhưng lớp này nằm xuống, lớp khác đứng lên nối tiếp nhau ra đi đem Tin Mừng đến tận cùng thế giới. Nhờ các vị thừa sai tràn đầy nhiệt huyết, quê hương Việt Nam đã được đón nhận Tin Mừng. Nhờ đới sống đức tin anh dũng của các bậc tiền nhân, đức tin đã không ngừng phát triển, để truyền lại cho chúng ta ngày nay một gia sản quý giá.” (Thư Mục Vụ 2003). Để khai mở cho nền tảng vững chắc của đức tin trên quê hương Việt Nam, cha ông chúng ta đã phải trả giá rất đắc là chính xương máu của các ngài. Thừa hưởng gia sản đức tin quý giá ấy, hơn bất cứ ai, làm linh mục hôm nay, anh em chúng ta được mời gọi tiếp nối sứ mạng truyền giáo ấy. Dẫu còn đó những thăng trầm, Lẽ nào chúng ta ngại khó, ngại khổ mà không dám dấn thân? 4. Lạy Chúa Giêsu, nhận lãnh lời mời gọi của Chúa: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo. Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ; còn ai không tin thì sẽ bị kết án.” (Mc 16, 16), anh em chúng con rất muốn nỗ lực hết mình, dấn thân để Lời Chúa được lan tỏa. Nhưng vì sự bạc nhược của bản thân theo thời gian, nhiều lúc chúng con cảm thấy mệt mỏi, chán chường khi lời rao giảng về tình yêu, bao dung, nghèo khó, tha thứ theo đòi hỏi của Tin Mừng, càng lúc như càng trở thành một tiếng la giữa sa mạc, hay giữa một khoảng không vô tận nào đó. Một tiếng la thuộc về chân lý mà sao quá lạc lõng, quá xa cách với suy nghĩ của con người. Chúng con có cảm tưởng rằng, tiếng la ấy, cuối cùng chỉ dội về cho chính mình mà thôi. Vì thế, chúng con nguyện xin Chúa đừng bỏ rơi chúng con trong vạn nẻo cuộc đời. Xin cho chúng con được làm men, làm muối, làm chứng tá cho Chúa đã vậy, nhưng còn một điều quan trọng không kém: xin cho chúng son sắt một lòng tin không dễ gì mai một, không dễ gì lung lay, để dù cho hoàn cảnh nào đi nữa, chính đức tin ấy sẽ thúc đẩy chúng con đi tới chớ không chùng bước. Lạy Chúa, xin cho đôi chân chúng con luôn bước đi chứ đừng dừng lại, cánh tay chúng con giơ cao chứ đừng buông xuôi; bàn tay chúng con mở ra chứ đừng khép chặt và cổ họng chúng con gào to chứ đừng ngậm miệng, để cho Lời Chúa được lan tỏa, để cho đời sống của chúng con minh chứng Lời Chúa qua từng hành động của mình, và hãnh diện ra đi gieo Lời ấy bằng cả một đời đã được Chúa ban, cho đến hơi thở sau cùng của cuộc đời mỗi người chúng con. Amen.
Chị T… yêu mến, Tụi em vừa đi lên thăm anh Chiến về. Một chuyến đi rất vui và đặc biệt. Em chia sẻ với chị chuyến này đây. Tụi em lên đến nhà thờ, nơi anh Chiến phục vụ khoảng 10g sáng thứ năm. Sau khi ăn cơm và nghỉ trưa, anh Chiến đưa mọi người đến thăm một làng cách nơi anh Chiến phục vụ khoảng 5km. Đây là một làng của những anh chị em người dân tộc Giarai. Đoàn đi bằng xe Honda vì không tiện đi xe hơi. Cái nhà mình đến thăm là một nhà của một ông trùm, và căn nhà này cũng dùng làm nhà nguyện cho cộng đoàn nơi đây. Vì là nhà nguyện, nên những người dân vào đến nhà là họ cúi đầu chào Chúa và làm dấu thánh giá. Cộng đoàn ở đây họ họp nhau vào các tối thứ ba, thứ sáu và Chúa nhật để cầu nguyện và học giáo lý. Ở đây, việc dạy giáo lý đều do các ông trùm hoặc trưởng làng dạy, các cha không có giờ và cũng không thể dạy hết cho họ được, các ngài chỉ huấn luyện cho các ông trùm và họ về dạy lại cho giáo dân. Vì làng này tương đối gần nên hằng ngày cũng có một số người đến nhà thờ để dâng lễ. Còn các làng khác họ ở quá xa (diện tích nơi anh Chiến phục vụ khoảng 100km2), họ chỉ có thể đến nhà thờ vào ngày Chúa nhật hoặc những dịp lễ lớn thôi. Cái làng này, theo anh Chiến nói thì họ tương đối không nghèo như các làng khác, họ cũng có rẫy để trồng trọt, chủ yếu là trồng lúa, bắp, khoai… nhưng em thấy họ nghèo lắm. Thấy thương họ quá chừng… Buổi tối hôm thứ sáu là một buổi tối đặc biệt. Một số giáo dân dân làng nơi hôm thứ năm tụi em đến thăm, họ ra chơi với đoàn. Họ có thói quen đón tiếp khách rất lạ và rất vui: mỗi nhà họ tự nấu cơm và đem ra nhà xứ ăn chung với nhau, họ kéo ra từ lúc 5g chiều, còn đoàn thì mãi đến 8g tối mới về đến nhà, thế mà họ vẫn vui vẻ chờ đợi. Cùng ngồi ăn các thức ăn của họ mới thấy họ khổ thế nào. Họ mời tụi em ăn các món “đặc sản” của họ, Chị biết món gì không? Món kiến càng rang với muối ớt, một món khác nữa là lá khoai mì vò rồi xào với mỡ; họ cũng mời em ăn món muối ớt rang khô nữa. Chị biết không, ăn món muối ớt cay đến nỗi em ăn xong là bị ù tai luôn. Nhà khác thì mời em ăn một loại cà của người dân tộc, nhà khác thì mời mọi người ăn món tép xào với một loại hoa rừng… nhiều món lắm, nhưng nhìn chung chủ yếu các món này là rau rừng luộc hoặc xào. Thức ăn mặn chẳng có thịt cá, chỉ chủ yếu là muối. Họ thật nghèo, nghèo lắm. Anh Chiến cũng được ơn là cũng ăn được các món ăn của họ nên họ cũng rất quý anh Chiến. Sau khi ăn tối với nhau xong, họ đánh cồng chiêng và mời mọi người trong đoàn ra múa nhảy. Anh Chiến cũng nhảy quen với các điệu nhảy của họ rồi, anh Chiến nhảy cũng “trình độ” lắm. Chị T… (dì bề trên) cũng cùng nhảy với họ mặc dù Chị rất ngượng vì không quen. Chị bảo: ngại quá chừng, từng bước Chị nhảy là một lời cầu nguyện cho anh Chiến. Chị cũng thật dễ thương. Dĩ nhiên là em cũng cùng ra nhảy với họ cho họ vui mặc dù mệt đến chết được. Vì biết được sáng mai đoàn phải về nên họ chỉ nhảy múa đến hơn 10g tối thôi rồi họ ra về. Sau đó chị Ng., anh Tr. và em ngồi nói chuyện với anh Chiến đến 11g30 mới đi ngủ. Suốt mấy ngày anh Chiến cũng cực với mọi người, ăn ngủ cũng thất thường lắm, mà kể ra anh Chiến cũng khỏe thật, có sức để mà phục vụ giáo dân. Nơi anh Chiến ở cũng có một thầy cùng dòng đang ở chơi với anh Chiến, ông thầy này cũng dễ thương lắm, ngoài ra cũng có 2 thầy thuộc chủng viện Huế, được gởi đến một năm để thực tập Mục vụ và học tiếng Giarai chung với anh Chiến. Một trong hai thầy này cực kỳ dễ thương, phục vụ tụi em một cách vui vẻ và thân thiện, những ngày tụi em đến, lúc nào cũng thấy thầy lăng xăng dưới bếp, nấu ăn, rửa chén… trước khi về, em nói với thầy: thầy ơi, sau này làm linh mục, thầy cũng hãy dễ thương như vầy mãi nhé, thầy chỉ tủm tỉm cười, không nói gì cả. Chị ạ, với em chuyến đi này thật đặc biệt: những con người em gặp thật dễ thương, dễ mến. Em nghĩ rằng: trong Chúa và vì Chúa, con người ta mới dễ thương làm sao! Chuyến đi này em gặp được những con người mà cuộc đời và cách sống của họ đã phần nào diễn tả gương mặt của Chúa Giêsu, Thầy Chí Thánh, một gương mặt nhân ái và một tinh thần phục vụ đến quên mình. Họ là những nhà truyền giáo đã chết khi dấn thân cho công cuộc loan báo Tin Mừng. Và hiện tại cũng còn bao nhiêu vị đang sống với một lòng nhiệt thành dấn thân vì nhà Chúa. Em yêu quý họ biết bao. Mong sao các vị mục tử của chúng ta luôn là những mục tử nhân ái như thế. Họ đã không nghĩ đến đến chính bản thân, cuộc sống của họ luôn sống cho người khác và vì người khác. Có một cha Dòng Chúa Cứu Thế, ngài năm nay mới 73 tuổi, nhưng đã rất yếu, sở dĩ ngài yếu như vậy là do những ngày khi còn trai trẻ, ngài đã mãi miết với việc truyền giáo, bận rộn đến nỗi không có giờ ăn, bữa cơm chỉ đạm bạc, qua loa… nên bây giờ đã kiệt sức. Rồi những người anh em dân tộc, họ cũng rất dễ thương. Họ nghèo quá, nhưng cái nghèo không cản họ thiếu tình yêu, tấm lòng họ vẫn giàu nhân ái. Quả thật chỉ có trong Chúa, mọi người mới thực sự yêu thương nhau không giới hạn, tình yêu quả nhiệm mầu! Khi đi thăm nhà truyền thống của giáo phận, em được biết giáo phận Kontum đang “được mùa”, trong lòng em rộn lên một niềm vui khó tả. Em cũng được khơi lại thao thức truyền giáo nơi bản thân mình. Cũng được lây cái hăng say nhiệt thành vì nhà Chúa của các vị em gặp. Bên cạnh mình, có rất nhiều anh chị em đang hăng say loan báo Chúa cho người khác, họ ra đi không biết mệt mỏi, hạnh phúc của họ là đem Chúa đến cho người khác, hình như cả cuộc đời họ là thế. Chị bảo với anh Chiến khi vừa xuống đến nơi anh Chiến ở: “Chiến ơi, chị muốn hát: ‘đẹp thay, ôi đẹp thay, những bước chân gieo mầm cứu rỗi’…” Em thấy lòng mình rộn lên những cảm xúc phải sống sao cho xứng đáng hơn ơn gọi của mình. Mình không được quyền “nhàn nhã” trong khi bao nhiêu người thân yêu của mình đang say sưa với sứ vụ Chúa trao. Chị ơi, cầu nguyện cho em được thêm lòng yêu Chúa, vì chỉ khi có tình yêu, mình mới có thể dám dấn thân vì Chúa và vì Giáo hội Chúa. Chuyến đi này cũng tăng thêm nơi em lòng yêu mến Giáo Hội của Chúa. Chúa Thánh Thần vẫn đang làm việc, và hoa trái của Ngài vẫn được thấy tỏ tường nơi Giáo hội của mình. Chúa vẫn có đó nơi sự diện diện của những người của Chúa, ngày hôm nay, lời Chúa: hãy đi loan báo Tin mừng đến tận cùng trái đất vẫn được thực hiện nơi bước chân của các nhà truyền giáo. Chị ạ, bao nhiêu người đang xả thân vì lý tưởng yêu Chúa, chẳng lẽ mình lại ngồi yên sao được. Xin Chúa cho em cũng biết không ngừng rao giảng Chúa trong môi trường sống của em nghe. Thế đó Chị ạ, chuyến đi thật ý nghĩa và mang một giá trị đặc biệt, giá mà các Giáo Lý Viên Bình Đông có thể đến đó để khơi dậy và tăng thêm thao thức truyền giáo. Em cũng thấy quý Anh Chiến nhiều hơn, cũng thấy cảm phục anh Chiến lắm. Và dĩ nhiên là em nghĩ mình phải tăng thêm việc cầu nguyện cho công cuộc truyền giáo của Giáo hội Việt nam. Một vài tâm tình chia sẻ với Chị. Mình cầu nguyện cho nhau luôn biết sống đẹp lòng Chúa và biết làm cái gì đó thật đẹp cho Giáo hội của mình nghe. Em, Clara Th.
HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
NHỮNG LỜI KHUYÊN VỀ GIA ĐÌNH
Dịch từ
phần phụ lục của cuốn Thánh Gioan Kim Khẩu có một bài giảng về đoạn Thư của Thánh Phaolô gửi cho tín hữu Êphêsô 5, 22-24 (Bài giảng số 20 về thư Êphêsô). Bài giảng này có một đoạn chú giải rất hay về đời sống hôn nhân và gia đình. Thánh Gioan Kim Khẩu là giám mục thành Constantinople vào thế kỷ 15, và là một trong những vị giáo phụ vĩ đại của Giáo Hội. Khi viết cuốn «Nền tảng gia đình Kitô hữu», tôi mới khám phá ra ngài có bài giảng này. Tôi nghĩ sẽ có nhiều đôi vợ chồng rất thích lối nhìn của Thánh Kim Khẩu vì nó vừa hay lại vừa vui. Tập sách nhỏ này gồm một số đoạn trích từ bài giảng ấy. Về hôn nhân Không có mối tương quan nào giữa người với người lại thân mật cho bằng mối tương quan giữa vợ chồng với nhau - miễn là hai vợ chồng liên kết với nhau đúng như Chúa đã dạy. Thánh Phaolô nói: «Hỡi những người vợ, hãy tuân phục chồng mình như tuân phục Chúa vậy». Tại sao Ngài lại nói như thế? Bởi vì khi vợ chồng hòa hợp với nhau, thì con cái họ sẽ được giáo dục tử tế, mọi việc trong nhà đâu ra đó; hàng xóm, bạn bè và thân quyến đều được hưởng lây danh thơm tiếng tốt của họ. Nhưng nếu họ không hòa hợp với nhau, thì mọi sự đều bị đảo ngược lại và rất dễ đi đến chỗ hỗn loạn. Cũng tương tự như các tướng lãnh trong quân đội, khi họ hòa thuận với nhau, thì các cấp dưới họ đều qui thuận họ, và quân đội sẽ hùng mạnh; còn trái lại, nếu họ chia rẽ nhau, thì mọi sự đều xảy ra ngược lại. Vì thế, Thánh Phaolô mới nói: «Hỡi những người vợ, hãy phục tùng chồng như phục tùng Chúa». Khi ăn uống với nhau cùng một bàn, việc chung bàn đó sẽ tạo nên sự nhất trí, đồng lòng với nhau, cho dù những người cùng bàn là bọn ăn cướp, ăn chung với kẻ thù của chúng… Việc chung chăn chung gối cũng tương tự như vậy, nó kéo chúng ta lại với nhau đến nỗi trở thành «một xương một thịt». Nếu chúng ta tìm kiếm những gì thuộc tâm linh, thì chúng ta cũng được cả những gì thuộc thể chất. «Hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Ngài trước đã, mọi thứ khác rồi sẽ được ban sau» (Mt 6,33). Bạn thử nghĩ xem, con cái của những bậc cha mẹ như vậy sẽ trở nên hạng người thế nào? Tôi tớ của những ông bà chủ như thế sẽ ra sao? Và tất cả những người khác đến gần họ sẽ trở nên thế nào? Họ sẽ chẳng được vô số người chúc lành cho họ sao? Vì thế, nếu chúng ta sống cho đàng hoàng, đồng thời chăm chỉ học hỏi Kinh Thánh, thì trong mọi chuyện, chúng ta sẽ tìm được trong đó những lời giáo huấn khôn ngoan. Và như vậy, chúng ta sẽ làm đẹp lòng Thiên Chúa, và toàn bộ cuộc sống của chúng ta ở đời này sẽ trôi qua một cách tốt đẹp, đầy đức hạnh, đồng thời Chúa sẽ thực hiện đúng như lời Ngài đã hứa: Ngài sẽ chúc lành cho những ai yêu mến Ngài. Lời khuyên cho những bậc làm chồng Các bạn đã nghe nói người vợ phải phục tùng chồng thế nào và người chồng phải yêu thương vợ ra sao. Các bạn có mong vợ mình phục tùng mình như Giáo Hội phục tùng Đức Giêsu không? Nếu thế, bạn hãy lo lắng chăm sóc cho nàng cũng như Đức Giêsu đã chăm sóc lo lắng cho Giáo Hội vậy. Thật vậy, các bạn ai cũng mong muốn vợ mình phục tùng mình: nếu mà được vợ phục tùng, thì cho dẫu có phải hiến dâng cả đời mình cho nàng, cho dẫu thân xác bạn có bị xẻ ra thành ngàn mảnh, hay cho dẫu bạn phải chịu bất kỳ hình khổ nào, bạn cũng sẵn sàng chấp nhận hết. Người bạn trăm năm của ta, người mẹ của những đứa con ta, chính là nhân tố nền tảng nhất có thể đem đến mọi niềm vui cho ta. Vì thế, ta đừng bao giờ làm cho nàng phải gắn bó với ta bằng cách đe dọa hay làm nàng sợ hãi, mà phải dùng tình yêu và sự dịu dàng mà chinh phục nàng. Nếu khi có mặt người chồng mà người vợ phải run sợ, thì hai vợ chồng đó liên kết với nhau theo kiểu gì vậy? Và nếu người chồng đối xử với vợ theo kiểu «chồng chúa vợ tôi» chứ không như một người bạn ngang hàng với mình, thì cái vui thú mà người chồng hưởng được là thứ vui thú gì vậy? Cho dẫu có phải chịu đựng hay bực bội nàng bất cứ điều gì, ta cũng không nên mắng nhiếc, nhục mạ nàng. Đức Kitô đâu bao giờ có thái độ như vậy! Chúng ta có thể tìm nơi người vợ sự âu yếm, tính thùy mị và dịu hiền, đó là những đặc trưng của vẻ đẹp. Nhưng chúng ta đừng đòi hỏi nàng phải dễ thương, và cũng đừng trách mắng nàng về điều đó, là điều mà có thể nàng không làm được. Tốt hơn, ta đừng trách mắng nàng gì hết (vì trách mắng như thế có vẻ nghiêm khắc quá!), cũng đừng tỏ ra bực bội hay buồn phiền nàng điều gì. Bạn thấy không: có biết bao nhiêu người, sau khi sống với bà vợ thật đẹp của mình, đã phải trải qua những ngày cuối đời thật buồn thảm, và có biết bao nhiêu người sống với một người vợ không đẹp lắm mà lại được trường thọ và sống thật là hạnh phúc? Chúng ta hãy lau đi những «vết nhọ» tâm hồn, hãy làm cho phẳng những «vết nhăn» tâm hồn, và hãy xóa đi những «nhược điểm» trong tâm hồn chúng ta. Đó mới chính là vẻ đẹp mà Thiên Chúa muốn ta có. Chúng ta hãy làm cho nàng đẹp đẽ dưới con mắt của Thiên Chúa chứ không phải mắt của ta. Chúng ta đừng tìm sự giầu sang, cũng đừng tìm những vẻ sang trọng bề ngoài, mà hãy tìm sự cao thượng đích thực trong tâm hồn. Một tình yêu cao thượng như thế sẽ đẹp lòng Thiên Chúa, và Ngài muốn chúng ta có một tình yêu cao thượng như thế đối với vợ mình. Yêu cao thượng như vậy không phải vì cả hai vợ chồng có cùng một tính tình như nhau. Không, nền tảng của trách nhiệm đối với vợ mình phải cao thượng hơn thế nhiều, vì chồng và vợ không phải là hai thân thể mà là một: chàng là đầu còn nàng là thân. «Nhưng làm sao yêu cao thượng như vậy được nếu vợ tôi không kính trọng tôi?», người ta có thể nói như thế. Không sao, bạn cứ yêu cao thượng như thế đi, và cứ chu toàn bổn phận của mình đi. Bởi vì những gì chúng ta phải làm vì bổn phận đối với người khác, cho dù quan hệ giữa họ với ta không tốt đẹp, thì ta vẫn phải làm bổn phận của ta chứ! … Nhưng làm sao được nếu người kia không chịu tuân phục mình? Bạn cứ tuân theo Luật Chúa… Cho dẫu vợ mình không kính trọng mình, người chồng hãy cứ tỏ ra yêu thương nàng, để mình không bị thiếu xót ở điểm nào cả. Vì mỗi người đều phải chịu trách nhiệm về việc mình làm. Thánh Phaolô lại dùng lập luận trên - là gương của Chúa Kitô - để chứng tỏ rằng chúng ta không những phải yêu thương mà còn phải biết điều khiển nữa… Bởi vì nếu bạn làm cho nàng nên «thánh thiện không tỳ vết», thì mọi chuyện khác rồi sẽ xuôi chảy… Khôn khéo làm cho vợ mình cảm nhận được rõ rệt tình yêu của mình thì mọi sự trong nhà đều trở nên tốt đẹp. Nếu chúng ta điều hành được tốt đẹp mọi việc trong nhà, thì chúng ta cũng có thể đảm trách được những công việc điều hành trong Giáo Hội. Vì gia đình chính là một Giáo Hội nho nhỏ (x. Tm 3,4-5). Bạn hãy chứng tỏ cho vợ mình thấy bạn rất lấy làm hân hạnh được sống với nàng, và vì nàng mà bạn muốn ở nhà với nàng hơn là đi chỗ này chỗ kia. Hãy khen ngợi nàng trước mặt tất cả những bạn bè của bạn, và hãy tỏ ra yêu thương nàng hơn cả những đứa con do nàng sinh ra, và bạn hãy yêu những đứa con này vì chúng chính là con của nàng. Nếu nàng làm được điều gì tốt đẹp, bạn hãy khen ngợi và tỏ ra cảm phục nàng. Nếu nàng làm điều gì sai trái, không hay… bạn hãy khuyên bảo và nhắc nhở nàng… và hãy tiếp tục chỉ bảo cho nàng những điều ích lợi. Khi nào cầu nguyện thì hai vợ chồng hãy cầu nguyện chung với nhau. Nếu hai vợ chồng cùng đến nhà thờ để cầu nguyện, thì khi về nhà, hai người hãy chia sẻ với nhau những gì mình đã cầu nguyện ở nhà thờ. Nếu chẳng may gia đình lâm vào cảnh túng quẫn, bạn hãy trưng dẫn trường hợp của Phêrô và Phaolô, là những người sống rất nghèo khổ, thường bị đói khát, thế mà các ngài lại được kính trọng hơn bất kỳ vị vua chúa hay người giầu có nào. Hãy cho nàng biết rằng trên trần gian này, ngoài việc làm mất lòng Chúa ra, thì không nên sợ bất cứ điều gì hết. Hãy chia sẻ với nàng những bài học ấy một cách thật tế nhị và dễ thương, bởi vì khuyên bảo về đức hạnh, tự bản chất, là một việc mang tính cách đúng đắn và quá nghiêm nghị… Bất cứ lúc nào nói về sự khôn ngoan đích thật, bạn hãy cố gắng nói sao cho thật nhẹ nhàng và chan hòa tình cảm. Và trên hết, hãy giúp nàng bỏ hẳn quan niệm «của anh», «của em». Nếu nàng nói một vật nào đó là «của em», bạn hãy nói với nàng: «Em nói vật nào là của riêng em vậy? Thật sự anh không biết vật nào là của riêng em. Phần anh, anh không có vật gì là của riêng anh cả. Làm sao em có thể phân biệt được vật nào là “của em” khi mà tất cả mọi thứ đều là của em hết? Nếu anh không có quyền trên thân xác của anh (x. Cr 7,4), thì chính em có quyền đó. Tất cả những gì của anh đều là của em. Thậm chí bản thân anh cũng là của em». Hãy trọng vọng nàng để nàng khỏi mong được người khác trọng vọng. Nếu nàng vui thích những lời tán dương của bạn, thì nàng không còn khao khát người khác ca tụng nàng nữa. Hãy tỏ ra yêu quí nàng trước mặt mọi người vì nàng được hết mọi mặt, cả về sắc đẹp lẫn trí khôn, và hãy khen ngợi nàng. Nhờ vậy, bạn sẽ làm cho nàng không còn để ý đến ai bên ngoài nữa, và cũng không thèm lưu tâm tới sự chú ý của ai ngoài bạn nữa. Hãy dạy nàng biết kính nể Chúa, rồi mọi sự tốt đẹp sẽ từ sự kính nể đó tuôn ra như một dòng suối, và ngôi nhà của bạn sẽ tràn đầy hạnh phúc. Lời khuyên cho những người vợ Khi phục tùng chồng, bạn hãy coi điều đó như một công việc phụng sự Thiên Chúa. Bởi vì nếu người nào chống lại quyền bính ngoài đời, chẳng hạn như chính quyền, người đó cũng «chống lại trật tự của Thiên Chúa» (Rm 13,2). Người vợ nào không chịu tuân phục chồng mình là chống lại trật tự đó còn hơn như thế nhiều. Đó là ý muốn của Thiên Chúa ngay từ khởi thủy. Chúng ta hãy coi đây là trật tự nền tảng của gia đình: chồng là đầu, còn vợ là thân mình. Người vợ hãy kính nể chồng mình. Người vợ có quyền ở hàng thứ hai. Vì thế, nàng không nên đòi hỏi được bình đẳng về quyền hành với chồng, vì nàng là thân, nên ở bên dưới đầu. Chàng cũng không nên coi nàng như một người bề dưới, bởi vì nàng là thân thể. Nếu cái đầu coi thường thân mình, thì chính nó cũng sẽ bị diệt vong. Người chồng phải yêu thương vợ mình để người vợ có thể phục tùng mình, vì tình yêu là đối trọng phải có nơi người chồng để có được sự tùng phục nơi người vợ. Tương tự như mọi chi thể trong thân đều tuân hành mọi chỉ thị của cái đầu, bù lại, cái đầu hoàn toàn lo lắng cho toàn thân, và coi tất cả, mọi chi thể là chính mình. Cái đầu không bao giờ coi cái thân như một cái gì khác với nó. Không có một sự hiệp nhất nào tốt hơn sự hiệp nhất đó. Người ta có thể thắc mắc: tình yêu mà có sự kính nể thì còn gì là tình yêu nữa? Tôi cho rằng tình yêu như thế là một tình yêu tốt đẹp. Bởi vì người phụ nữ nào kính nể chồng, thì cũng là yêu chồng. và người nào yêu chồng thì cũng phải kính nể chồng mình như là đầu, và yêu chàng như một chi thể, vì chính đầu cũng là một chi thể của toàn thân nói chung. Vì thế, một người thì phục tùng, còn người kia thì nắm quyền để có thể hòa thuận với nhau, bởi vì gia đình nào mà vợ chồng ngang quyền nhau, thì gia đình ấy không bao giờ có sự thuận hòa được. Cũng vậy, nhà nào mà dân chủ quá, nhà nào mà ai cũng có quyền hành cả, thì nhà đó chẳng bao giờ có hòa thuận. Nhưng quyền điều hành trong nhà chỉ nên dành cho một người đứng đầu mà thôi. Người vợ mà phải kính nể chồng thì xem ra có vẻ bị thiệt thòi, nhưng thực ra là người có lợi, vì bổn phận chính yếu là yêu thương, thì người chồng phải đảm nhận. Người vợ phải tỏ ra kính nể chồng mình như thế nào? Người vợ không nên cãi lại chồng mình, không nên chống đối, và cũng không nên ham thích tỏ ra hơn chồng mình. Nếu bạn muốn pha trò hay đùa giỡn cho vui, bạn nên tránh đừng làm gì khiếm nhã hay vô lễ. Hãy làm cho phòng ngủ của vợ chồng bạn tươi mát, nhưng cũng đừng biến nó thành xa xỉ hay sang trọng quá. Hãy để những thứ xa hoa đó cho những người giầu có quí phái. Chính bạn hãy trang hoàng dọn dẹp nhà cửa cho gọn ghẽ chừng nào có thể, để người trong nhà được hít thở không khí trong lành hơn là thở hít quá nhiều mùi dầu thơm.
TẢN MẠN Graciela
Beecher Cô giáo là một người trẻ đầy nhiệt tình mới vô nghề. Ngôi trường Cô được sai đến là một trong những khu vực nghèo nhất thành phố thuộc tỉnh Havana. Nguồn nước thì hiếm hoi, phần lớn được kín múc từ các giếng nước ở rìa thành phố. Cô giáo trẻ thường xuyên nhìn thấy dân chúng sống chung quanh ngôi trường xử dụng các xô đi lấy nước đem về nhà dùng. Các trẻ em luôn sạch sẽ cho dù quần áo các em mặc có cũ kỹ hay vá chằng vá đụp, đúng như câu nói «đói cho sạch, rách cho thơm». Học trò Cô giáo ưa thích nhất là một bé gái 9 tuổi có cặp mắt nâu và đôi mắt sống động. Em luôn tươi cười, sạch sẽ với mái tóc chải gọn ghẽ hàng ngày. Chiếc áo đầm em mặc được giặt sạch và ủi tươm tất, nhưng đôi giầy em mang thật tệ hại, gần như phải bỏ đi. Cô giáo không tin mình có thể làm được gì nhiều hơn nữa cho đám học trò. Khi bắt đầu bước vào học kỳ thứ hai thì đôi giày cô bé mang dưới chân rách nát chỉ còn là các mảnh quấn quanh bàn chân. Đến ngày cuối tuần, cô giáo làng đã mua một đôi giầy mới đem đến nhà cho cô bé. Đó là một đôi giầy da có một nơ trên mặt giầy, trông thật dễ thương nơi đôi chân cô bé. Vào cuối năm học, cô giáo có được cơ hội di chuyển đến dạy tại một trường học khác, cũng thuộc tỉnh Havana. Gia cảnh phần đông trẻ em theo học nơi đây có vẻ khá hơn. Cô giáo dậy học ở đó trên 30 năm trời cho đến khi về hưu, dành thời giờ cho việc đọc và viết sách. Cô giáo trở thành bà giáo hồi hưu. Một ngày kia bà giáo được mang đến một trạm y tế do tư nhân mở vì bà bị chứng viêm phổi. Tuy được chu cấp thẻ y tế, nhưng bà chưa hề sử dụng trong nhiều năm trời. Bà ngạc nhiên trước cách đối xử và phục vụ tử tế của các nhân viên làm việc, như thể các bác sĩ và y tá đều hết sức muốn làm vui lòng bà. Ngày nọ, bà trò chuyện cùng một bệnh nhân khác, bà nói bà rất hài lòng với sự chăm sóc mà bà nhận được ở đây. Nữ bệnh nhân đó nói: - «Hẳn là như thế rồi. Tôi nói chắc được rằng kể từ lúc bà đến đây chữa bệnh đến nay, chúng tôi cũng được hưởng lợi lây qua cách đối xử tử tế hơn». Bà giáo hỏi lại: - «Bà muốn ám chỉ gì vậy? Tôi không là một nhân vật quan trọng, lại không quen biết bất kỳ ai nơi này, thì làm sao họ chú trọng nhiều đến tôi cho được?» - «Nếu bà không tin, tại sao bà không hỏi?» Bệnh nhân kia trả lời. Chiều hôm đó, khi tới phiên gặp người y tá dễ thương, bà giáo mới lên tiếng hỏi, - «Thưa cô, tôi được quan tâm đặc biệt ở trạm ý tế này thì điều đó có đúng không vậy?» Người y tá trả lời, - «Thưa đúng thế. Bác sĩ giám đốc Mendez yêu cầu chúng tôi chăm sóc kỹ lưỡng cho bà». Mendez là một tên rất thông dụng, và bà giáo không nhớ được ai đó mà mình quen biết mang tên này. Vào lúc thủ tục dành cho bệnh nhân xong xuôi, bà giáo quyết định đích thân ngỏ lời cám ơn bác sĩ Mendez. Bà gõ cửa phòng làm việc của bà ta. - «Xin mời vào». Một giọng nói lên tiếng. Vừa bước vào, bà giáo bắt gặp một phụ nữ khoảng tuổi 40, dáng dấp yêu kiều, mỉm cười tươi tắn khi vừa nhìn thấy bà. - «Thưa bác sĩ Mendez, tôi đến để cám ơn bà vì bà đã yêu cầu nhân viên làm việc dành cho tôi một sự chăm sóc đặc biệt. Làm sao tôi có thể đền ơn cho được?» Vị giám đốc nói: - «Đền ơn sao? Thưa, con mới là người đang cố gắng đền ơn thì có». - «Tôi không hiểu. Tôi không nhớ đã gặp bà trước đây». Bà giáo thắc mắc. - «Thưa đúng ra là đã gặp, thưa Cô. Cô đã là nguồn hứng khởi, là thần tượng cho con noi theo. Cô đã là động lực thúc đẩy cho con vươn tới một tương lai tốt đẹp hơn. Cô đã trao cho con ước muốn cải thiện đời mình. Con mắc nợ Cô tất cả mọi sự, bản thân con và những thành đạt trong cuộc đời mình». - «Nhưng ... tôi vẫn không hiểu ».... Bà giáo lộ vẻ ngạc nhiên. - «Cô không nhớ con sao? Con chính là cô bé nghèo của ngày hôm nào Cô đã mang đến cho con một đôi giầy mới, đôi giầy da quí giá nhất trên trần gian này vậy».
TÂM TÌNH BẠN ĐỌC |