|
|
Số 20, Ngày 18-9-2004
Quyết Nghị Về Ngày Quốc Tế Hòa Bình - Maranatha dịch Tìm Hiểu về Ngày Quốc Tế Hòa Bình Sứ Điệp của ĐTC Gioan Phaolô II nhân ngày HBTG Ngày Hòa Bình Thế Giới: Uớc Mơ hay Hiện Thực? - Madeline Labriola Tưởng Nhớ Đức Hồng Y Phanxicô Xavie NVT Tại sao Tôi Yêu Chúa - ĐHY Nguyễn Văn Thuận Vài Kỷ Niệm Khó Quên về Đức Hồng Y Phanxicô Xavie Uống Nước Nhớ Nguồn - Trần Ngọc Báu Tâm tình bạn đọc - Thư Bạn Đọc
Kính thưa Quý độc giả, Ngày Quốc Tế Hòa Bình 21 tháng 9 trở về trong khi ở Trung Đông, ở Palestine, ở Ấn Độ đang sống trong chiến tranh và hận thù. Năm 1981, khi khai mạc khóa họp khoáng đại Hội Đồng Liên Hiện Quốc, các thành viên đi đến quyết định công bố Năm Quốc Tế Hòa Bình và Ngày Quốc Tế Hòa Bình. Khởi thủy, ngày này được cử hành vào Thứ Ba, tuần thứ ba, tháng 9. Thiết lập ngày Quốc Tế Hoà Bình, Hội Đồng Khoáng Đại Liên Hiệp Quốc quyết định đã đến lúc “dành một thời gian đặc biệt để huy động nỗ lực của Liên Hiệp Quốc và các Quốc Gia thành viên, cũng như tất cả nhân loại, để cổ võ cho lý tưởng hòa bình và đề ra một bằng chứng tích cực cho sự dấn thân của họ để xây dựng hoà bình bằng mọi con đường có thể được. Ngày quốc tế hòa bình được dành để tưởng niệm và củng cố lý tưởng hòa bình giữa và trong mọi quốc gia và mọi dân tộc.” Hội Đồng tuyên bố rằng Ngày Quốc Tế Hòa Bình “sẽ là một ngày nhắc nhở cho mọi dân tộc rằng Tổ Chức của chúng ta, với mọi hạn chế của nó, vẫn là một công cụ sống động nhằm phục vụ hòa bình và phải trở nên cho tất cả chúng ta trong Tổ Chức này một hồi chuông liên lỉ nhắc nhở rằng, bên trên mọi quyền lợi và khác biệt, chúng ta dấn thân để xây dựng hòa bình. Chớ gì Ngày Hòa Bình này thực sự là một ngày hòa bình.” Năm 2000, kỷ niệm 20 năm, Hội Đồng Khoáng Đại Liên Hiệp Quốc quyết định từ đấy Ngày Quốc Tế Hòa Bình sẽ chính thức cử hành ngày 21 tháng 9. Quyết định này kèm thêm lời kêu gọi ngưng chiến cho ngày Quốc Tế Hòa Bình: Hội đồng tuyên bố rằng “Ngày Quốc Tế Hòa Bình từ nay sẽ được cử hành như một ngày ngưng chiến và bất bạo động, một lời mời gọi mọi quốc gia và dân tộc ngưng mọi thù hận suốt ngày hôm ấy.” Nỗ lực này của Liên Hiệp Quốc vang dội trong lòng Kitô hữu chúng ta, khi mà mỗi năm Giáo Hội vẫn dành ngày đầu tiên trong năm Dương Lịch cầu nguyện cho Hòa Bình Thế Giới. Là Kitô hữu Việt Nam, chúng ta lại không thể không nhớ đến một khuôn mặt đã từng là chủ tịch của Ủy Ban Công Lý và Hòa Bình, một người đã cố gắng sống công lý bằng tất cả con tim yêu thương để mong góp phần thiết lập hòa bình đích thực trên trái đất này: đó là cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Khi chúng tôi viết những dòng này, ngày 16 tháng 9, thì khắp nơi trên thế giới đang tưởng niệm sinh nhật lần thứ hai ngày Đức Hồng Y vào sự sống mới. Đập cùng nhịp tim với Giáo Hội Việt Nam và với những người thiện tâm, Maranatha xin tạm gác những bài thường lệ về đạo đức và đời sống để tập trung tìm hiểm Ngày Quốc Tế Hòa Bình và tưởng niệm Cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận. Và để đáp lại thao thức của Cố Hồng Y về một niềm Hòa Bình đích thực trên quê hương Việt Nam, Maranatha cũng cho đăng một bức thư gửi người trẻ hải ngoại để khi họ mong kiến tạo hòa bình trên trái đất này, thì họ đừng quên khởi sự đem hòa bình ấy vào lòng mình, một tấm lòng luôn mang dấu ấn của tổ quốc Việt Nam. Và như thế lời cầu xin Chúa đến “Maranatha!” sẽ là một lời cầu xin chân thành, vì một trong các danh hiệu của Chúa Kitô là Vua Hòa Bình. MARANATHA
HỌC HỎI
QUYẾT NGHỊ NĂM QUỐC TẾ HÒA BÌNH và NGÀY QUỐC TẾ HÒA BÌNH.
Bản dịch của Maranatha
Liên Hiệp Quốc, tháng 11 năm 1981.
Hội Đồng Khoáng Đại:
- Nhớ lại rằng việc thăng tiến hòa bình, ở cả bình diện quốc tế lẫn quốc gia, là một trong những mục đích quan trọng nhất của Liên Hiệp Quốc, phù hợp với Hiến Chương của mình. - Tái khẳng định, như lời mở đầu của Hiến Chương của Tổ Chức Giáo Dục, Khoa Học và Văn Hoá Liên Hiệp Quốc, rằng bởi lẽ chiến tranh khởi sự từ trong trí óc của con người, nên chính trong trí óc của con người là nơi mà công cuộc bảo vệ cho hòa bình cần được xây dựng, rằng một nền hòa bình chỉ đơn thuần dựa trên những dàn xếp chính trị và kinh tế giữa các chính phủ sẽ không phải là một nền hòa bình được mọi dân tộc trên thế giới ủng hộ một cách đồng lòng, lâu dài và chân thành, và vì thế hòa bình phải được xây dựng trên sự liên đới trí tuệ và tinh thần của nhân loại, nếu không thì nó sẽ sụp đổ, - Cũng nhớ lại rằng, dựa trên những nhận xét tương tự, Hội Đồng Khoáng Đại đã thiết lập Đại Học Liên Hiệp Quốc năm 1972, và đặc biệt là Đại Học vì Hòa Bình năm 1980, và thôi thúc các cơ quan và tổ chức khác trong hệ thống Liên Hiệp Quốc cổ võ cho hòa bình, chủ yếu là thông qua việc giáo dục ở mọi bình diện, - Hân hoan lưu ý đến các sáng kiến của Hiệp Hội Quốc Tế các Chủ Tịch Đại Học trong Đại Hội tam niên lần thứ sáu, tổ chức tại San Jose, Costa Rica, vào tháng 06 -1981, để đề xuất công bố một năm hòa bình, một tháng hòa bình và một ngày hòa bình. - Đồng tình với lời kết luận của Đại Hội trên rằng nên dành thời gian đặc biệt để huy động nỗ lực của Liên Hiệp Quốc và các Quốc Gia thành viên, cũng như tất cả nhân loại, để cổ võ cho lý tưởng hòa bình và đề ra một bằng chứng tích cực cho sự dấn thân của họ để xây dựng hoà bình bằng mọi con đường có thể được. - Xét rằng, qua việc công bố và tổ chức đúng mức năm quốc tế hòa bình và ngày quốc tế hòa bình, thì người ta có thể góp phần để củng cố các lý tưởng hòa bình ấy và xoa dịu những căng thẳng và nguyên nhân của các xung đột, cả trong nội bộ lẫn giữa các quốc gia và dân tộc. 1. Yêu cầu Hội Đồng Kinh Tế và Xã hội xem xét, vào khóa họp thường kỳ đầu tiên trong năm 1982, khả năng công bố một Năm Quốc Tế Hòa Bình vào dịp thuận tiện sớm nhất, chú ý đến tính chất khẩn cấp và đặc biệt của việc tôn trọng ngày ấy cũng như đề ra những hướng dẫn cho năm và ngày quốc tế mà Hội Đồng Khoáng Đại đã phê chuẩn qua quyết định 35/424, ngày 5 tháng 12, 1980, và đệ trình ý kiến mình lên Đại Hội vào khóa họp 37, dựa trên những sắp xếp phù hợp với thời gian, tổ chức và ngân sách của Năm ấy. 2. Tuyên bố rằng ngày Thứ Ba, tuần thứ ba, tháng 09, nghĩa là ngày khai mạc khóa họp thường kỳ của Hội Đồng Khoáng Đại, sẽ chính thức được tuân giữ như Ngày Quốc Tế Hòa Bình và sẽ dành để tưởng nhớ và củng cố lý tưởng hòa bình, cả trong nội bộ lẫn giữa các quốc gia và dân tộc. 3. Mời gọi tất cả các Quốc Gia thành viên, mọi cơ quan và tổ chức của hệ thống Liên Hiệp Quốc, mọi tổ chức địa phương, mọi tổ chức phi chính phủ, mọi dân tộc và cá nhân để mừng Ngày Quốc Tế Hòa Bình theo cách thức phù hợp, đặc biệt là bằng phương tiện giáo dục, và cộng tác với Liên Hiệp Quốc để tuân giữ Ngày này.
TÌM HIỂU NGÀY QUỐC TẾ HÒA BÌNH
NGÀY QUỐC TẾ HÒA BÌNH được thành lập bởi nghị quyết của Liên Hiệp Quốc vào năm 1981, ngày Quốc Tế Hoà Bình được chính thức khai mừng vào tháng 9 năm 1982. Liên Hiệp Quốc ước mong đem lại cho từng cá nhân, hội đoàn hay quốc gia cơ hội để cùng nhau thực hiện những hành động cụ thể để kiến tạo Hoà Bình trong ngày đã định. Nhân Ngày Quốc Tế Hòa Bình hằng năm này sẽ làm nổi bật Thập Niên đề cao nền Văn Hoá Hoà Bình và Bất Bạo Động cho Thiếu Nhi trên Thế Giới, khởi đi từ năm 2001 đến năm 2010. Ngày Quốc Tế Hòa Bình được tổ chức:
Mọi cá nhân và các quốc gia, phối hợp đồng bộ, sẽ thay đổi phẩm chất cuộc đời, tổ chức, môi trường và tương lai của hành tinh chúng ta. Qua việc hợp tác với nhau, chúng ta biểu lộ Tinh thần cơ bản đã nối kết chúng ta dù chúng ta có nhiều khác biệt
v Hiệp thông với mọi người trên toàn thế giới bằng một phút thinh lặng vào đúng 12 giờ trưa Ngày Hôm Nay, trong tinh thần quyết tâm kiến tạo Hòa Bình. v Gióng lên nột hồi chuông, thắp lên một ngọn nến cho Hoà Bình. v Đặt kế hoạch để tổ chức một buổi gặp gỡ tại địa phương. Có thể sử dụng trường học, nhà thờ, thư viện, công viên, hoặc bất cứ một cơ quan để tổ chức. Dùng ngày này để tạo lập tình liên kết hữu nghị trong cộng đồng của bạn, xin đừng quên các em thiếu nhi. v Đề nghị với những nơi bạn thường đến thờ phượng rung chuông cho Hoà Bình vào lúc 12 giờ trưa hôm ấy. v Phối hợp để có giờ cầu nguyện và suy niệm trong chương trình của bạn. Liên kết với những đoàn thể khác để chuẩn bị Đêm Canh Thức cho Ngày Quốc Tế Hoà Bình. v Các nhạc sĩ-nghệ sĩ: Cống Hiến ngày 21 tháng 9 dành riêng các buổi hòa nhạc hoặc biểu diễn cho Hòa Bình. v Hãy tử tế, tha thứ và cảm thông trong bất cứ quan hệ đối xử thuộc phạm vi của đời sống. v Gia nhập những Nhóm Xây Dựng Hòa Bình với những việc làm cụ thể. v Hoặc…bất cứ điều gì gây cảm hứng cho bạn để trở thành một người Xây Dựng Hoà Bình!
SỨ ĐIỆP của ĐỨC THÁNH CHA GIOAN PHAOLÔ II NHÂN NGÀY HÒA BÌNH THẾ GIỚI
Bản dịch của Maranatha. 9. “Phúc cho ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa” (Mt 5,9). Những lời này mời gọi mọi người làm việc trong cánh đồng mênh mông của hòa bình. Làm thế nào những lời ấy có thể vang dội mạnh mẽ như thế trong lòng người nếu chúng không đáp ứng cho một nỗi khao khát sâu xa và một niềm hy vọng không gì dập tắt nổi trong chúng ta? Và còn lý do nào khác để cho những người xây dựng hòa bình được gọi là con Thiên Chúa, nếu không phải vì Thiên Chúa, tự bản chất, là một Thiên Chúa của Hòa Bình? Chính vì thế mà lời loan báo cứu độ do Giáo Hội thông truyền trên thế giới chứa đựng những yếu tố tín lý có tầm quan trọng nền tảng để tìm ra những ngưyên tắc cần thiết hầu cho các quốc gia sống chung hòa bình. Các biến cố lịch sử dạy chúng ta biết rằng muốn dựng hòa bình thì không thể nào bỏ qua việc tôn trọng một trật tự luân lý và luật pháp, theo như châm ngôn: “Serva ordinem et ordo servabit te” (hãy phục vụ cho hòa bình thì hòa bình sẽ phục vụ cho ngươi). Luật pháp quốc tế cần tránh sự việc là luật của kẻ mạnh bao giờ cũng thắng. Mục đích chủ yếu của luật pháp quốc tế là làm sao cho “sức mạnh tinh thần của luật pháp thay thế cho sức mạnh vật chất của vũ khí”, bằng cách dự kiến những biện pháp chế tài thích đáng đối với những ai vi phạm, cũng như những sự đền bủ thỏa đáng cho nạn nhân. Điều này cũng có giá trị đối với những kẻ cầm quyền nào chủ ý vi phạm nhân phẩm và nhân quyền, vịn vào cái cớ không thể chấp nhận được ấy là ‘vấn đề nội bộ của quốc gia mình’. Khi ngỏ lời với phái đoàn ngoại giao cạnh Tòa Thánh, ngày 13 tháng 01 năm 1997, tôi lưu ý rằng luật pháp quốc tế là một khí cụ hàng đầu để đem lại hòa bình: “Luật quốc tế trong một thời gian dài là luật chiến tranh và hòa bình. Tôi nghĩ rằng càng ngày luật ấy phải trở nên luật hòa bình mà thôi, được xây dựng căn cứ trên công lý và tình liên đới. Và trong bối cảnh ấy, luân lý cần phải sản sanh luật pháp, thậm chí luân lý có thể có chức năng đi trước luật pháp, trong tầm mức mà luân lý chỉ rõ hướng đi nào là công bình và thiện hảo.” Chúng ta lưu ý đến tầm quan trọng của sự đóng góp tín lý mà Giáo Hội đề ra qua quá trình lịch sử, nhờ vào những suy tư triết thần của nhiều nhà tư tưởng Kitô giáo, hầu hướng luật quốc tế đến lợi ích chung của toàn thế gia đình nhân loại. Đặc biệt, trong lịch sử hiện đaị, các Giáo Hoàng đã không ngần ngại nhấn mạnh đền tầm quan trọng của luật quốc tế như là một bảo chứng cho hòa bình, vì các ngài xác tín rằng “chỉ trong hòa bình thì công lý mới được gieo, và công lý sẽ đem lại hoa trái cho những người xây dựng hòa bình.” (Gc 3,18). Giáo Hội đang dấn thân trên con đường này, với những phương tiện của riêng mình, dưới ánh sáng liên lỉ của Phúc Âm và với sự trợ giúp không thể thiếu được của nguyện cầu. 10. Cuối cùng, tôi nghĩ rằng mình có bổn phận nhắc nhở rằng, muốn thiết lập một nền hòa bình đích thực trên thế gian, công lý cần phải lấy bác ái mà bổ túc cho mình. Quả thật, luật là con đường đầu tiên phải theo để đạt đến hòa bình. Các dân tộc phải được giáo dục để tôn trong luật ấy. Nhưng người ta chỉ không thể đi đến cuối đường nếu công lý không được bổ xung bằng tình yêu. Công lý và tình yêu đôi khi có vẻ như là hai sức mạnh đối lập. Thực ra đấy là hai mặt của một thực tại duy nhất, hai chiếu kích của đời sống con người cần bổ túc cho nhau. Kinh nghiệm lịch sử đã chứng minh điều ấy. Nó cho thấy rằng công lý khó lòng mà xóa bỏ được hận thù và thậm chí sự độc ác. Chỉ công lý mà thôi thì chưa đủ. Công lý có thể đi đến mức phủ nhận chính mình, nếu nó không mở lòng đón nhận sức mạnh sâu xa hơn ấy là tình yêu. Vì thế, đã nhiều lần tôi nhắc nhở Kitô hữu và mọi người thiện chí là cần phải thứ tha để giải quyết những vấn đề giữa các các nhân cũng như giữa các dân tộc. Không có hòa bình nếu không có thứ tha! Và trong bối cảnh hiện nay tôi vẫn lặp lại như thế, khi mà tôi nhìn thấy trước mắt mình cuộc khủng hoảng đang tiếp tục gia tăng tại Palestine và taị Trung Đông: không thể nào tìm ra giải pháp cho những vấn đề nhức nhối mà các dân tộc miền này đã cam chịu bao lâu rồi, ngày nào mà người chưa quyết định vượt qua khỏi cái công lý đơn thuần để mở lòng ra cho sự thứ tha. Kitô hữu biết điều đó: tình yêu là lý do khiến Thiên Chúa liên hệ với con người. Và Tình Yêu cũng chính là điều mà người chờ đợi con người đáp trả. Qua đó, Tình Yêu cũng là phương thức cao thượng nhất để con người liên hệ với nhau. Vì thế, Tình Yêu cần phải thấm nhuần mọi lãnh vực của đời sống con người và lan tỏa cho đến chiều kích quốc tế. Chỉ khi nào nhân loại sống trong ‘một nền văn minh của tình yêu’ thì mới có thể vui hưởng một nền hòa bình đích thực và lâu bền. Bước và thềm năm mới, tôi muốn nhắc lại cho mọi người nam nữ thuộc mọi ngôn ngữ, mọi tôn giáo và mọi văn hóa câu phương ngôn cổ xưa: “Omnia vincit amor” (Tình Yêu chiến thắng mọi sự)! Vâng, anh chị em thân mến trên khắp hoàn câu, cuối cùng, chính Tình Yêu sẽ chiến thắng! Chớ gì mọi người nỗ lực để cho chiến thắng ấy mau đến! Xét cho cùng, chiến thắng ấy chính là điều mà mọi trái tim đều khao khát. Vatican, ngày 8 tháng 12 năm 2003
Nguyện Xin Hòa Bình Đến Với Toàn Thể Nhân Loại Trên Thế Giới. Nguyện Xin Hòa Bình Đến Với Dân Tộc Việt Nam.
NGÀY HOÀ BÌNH THẾ GIỚI: ƯỚC MƠ HAY HIỆN THỰC?
Madeline Labriola The Catholic Peace Voice, số tháng 7-8/2004 Bản dịch của Maranatha. Thứ ba 21 tháng 9 năm 2004. Cứ theo lẽ thường, đây chỉ là một ngày trong tuần làm việc chờ mong ngày thứ sáu mau đến. Nhưng hôm nay thì lại khác. Tất cả mọi quốc gia dân tộc trên thế giới đang chào mừng Ngày Hòa Bình Thế Giới của Liên Hiệp Quốc lập ra. Các thánh đường sẽ gióng lên những hồi chuông, trong gia đình mọi người sẽ nói với nhau trong tôn trọng và khoan dung, các bãi mìn sẽ được tháo gỡ, trong một số làng, dân quân sẽ nộp súng đạn. Thế giới được chúc lành bằng những âm thanh của hòa bình. Vào đúng ngọ, mọi người sẽ ngưng công việc và tĩnh lặng trong giây lát, để cùng cầu nguyện cho hòa bình. Chiều đến, khi trẻ em đi học về, ngồi vào bàn ăn bữa tối và xin cha mẹ thắp lên một ngọn nến cho hòa bình. Các nhà lãnh đạo tôn giáo sẽ nhắc nhở cộng đoàn của mình rằng mỗi một người trong họ phải trước tiên tìm thấy được bình an trong con người và cuộc sống của mình trước khi đem đến cho người khác. Các vị này giúp mọi người học để tha thứ cho nhau, để nhận diện và từ bỏ những tham lam, khước từ những gì là cố chấp, thiếu khoan dung, và ngợi khen Thiên Chúa vì đã ban cho sự tốt lành và đẹp đẽ nơi mỗi một con người. Ở một vài nơi, người ta sẽ tổ chức những ngày lễ hội với giấy màu được giăng trên khắp các ngọn cây, buổi tối đến có pháo bông làm sáng rực cả bầu trời. Họ ca tụng cuộc đời và những đóng góp cao cả của các nhà kiến tạo hoà bình trên từng quốc gia – Gandhi, Martin Luther King Jr., Nelson Mandela, Dorothy Day, Đức Đạt Lai Lạt Ma, Oscar Romeo và Đức Giêsu. Ngay cả những bài học lịch sử cũng thay đổi trong ngày hôm nay. Thay vì học về những cuộc chiến lừng danh trên thế giới, học sinh sẽ thảo luận về cách thế hợp tác và ý thức để con người có thể cùng cộng tác và giúp đỡ nhau. Họ sẽ biết rằng Thập Niên xây dựng Hoà Bình và Bất Bạo Động của Liên Hiệp Quốc đã khởi đầu từ năm 2001 và Những Mục Tiêu Phát Triển cho Thiên Niên Kỷ của Liên Hợp Quốc thành lập đã được toàn thể 191 quốc gia đồng ý. Những mục tiêu này nhắm vào việc bài trừ sự nghèo đói, để mọi người ai cũng được đến trường, có thực phẩm và nước uống trong lành. Trong những xứ tại Châu Mỹ La tinh, các vùng Biển Hồ tại châu Phi, ở Haiti và Nam Triều Tiên, người ta đang dựng lên những cây cột Hòa Bình và dành một ngày để đề cao sự bất bạo động và ngưng bắn trên toàn địa cầu. Những người theo Kitô giáo, Hồi giáo, Do Thái Giáo, Phật Giáo, và Ấn Giáo hợp với những người không có niềm tin hay tín ngưỡng nào, sẽ cùng nhau trồng một cây xanh. Họ sẽ đặt một biểu tượng của chiến tranh xuống hố, và trồng lên đó một cái cây. Trong một vài thành phố, người ta trao cho nhau những ổ bánh mì, đồng thời khuyến khích người nhận kêu gọi và thách thức các viên chức chính phủ đem lại cho đồng bào “bánh mì thay vì bom đạn.” Người ta giúp nhau ghi danh đi bầu và không từ khước bất cứ người nào, mỗi một phiếu bầu đều được đếm tới. Trên các chuyến xe lửa, phi cơ và xe buýt ở Anh Quốc, Úc Châu và Trung Đông, người ta mỉm cưòi chào nhau, chúc nhau một ngày tốt lành, và bắt tay nhau. Người ta không phung phí nước uống và thực phẩm, phụ nữ được đối xử công bằng và các trẻ em được chơi đùa vui vẻ. Các thông tấn xã trên toàn thế giới sẽ loan tin về ngày hôm nay. Báo chí sẽ kể lại những câu chuyện tràn ngập hòa bình nơi các địa phương. Hệ thống truyền hình phỏng vấn Kofi Annan, Đức Giáo Chủ Gioan Phaolô II, Arafat, và Sharon trong khi họ đang cùng dùng bữa với nhau tại thành thánh Giêrusalem, trong khi đó, người ta phá vỡ bức tường biểu tượng của hận thù và chia rẽ. Tại các nhà thờ, hội đường, đền thờ Hồi giáo và các nơi thờ phượng đều mở cửa để canh thức suốt 24 giờ đồng hồ. Đền miếu lúc nào cũng đầy người, mọi nơi, mọi lúc, người ta cầu nguyện và suy niệm về hòa bình. Họ đang cùng nhau làm một Đêm Canh Thức Cầu Nguyện cho Hoà Bình Thế Giới. Ngày 21 tháng 9 năm 2004 bây giờ là một ước mơ, nhưng nó có thể trở thành một hiện thực- một thời điểm của lịch sử khi tất cả chúng ta nhận biết rằng chúng ta lệ thuộc nhau và tất cả chúng ta đều là con người với nhau. Đây là một ngày đã đuợc thành lập theo nghị quyết của Liên Hiệp Quốc từ năm 1981, nhằm tạo cơ hội cho mỗi cá nhân, các tổ chức và từng quốc gia để có thể tạo ra những hành động cụ thể cho hòa bình trong một ngày được đồng ý chung. Chúng ta có thể làm gì để tạo niềm hy vọng cho ngày hôm nay, để biến ước mơ này trở thành hiện thực? Xã hội dân sự có quyền hành rất lớn, lớn hơn hẳn quyền lực của các chính phủ. Tướng Dwight D. Eisenhower đã từng tuyên bố, “Một ngày nào đó các chính phủ sẽ phải ra đi và để cho con người có hòa bình.” Xin cùng hiệp lòng và góp sức với chúng tôi trong nỗ lực kêu gọi một triệu người tham gia vào công việc trên trong ngày 21 tháng 9 sắp tới đây. Mỗi một hành động đều quan trọng, mỗi một diễn tả tình yêu đều đem lại những tác động dây chuyền trên toàn thế giới. Bao giờ là lúc thuận tiện hơn lúc này để kiến tạo hòa bình?
TƯỞNG NHỚ ĐỨC CỐ HỒNG Y PHANXICÔ XAVIE
LỜI CẦU NGUYỆN MỞ ĐẦU CỦA ĐỨC HỒNG Y PHANXICÔ XAVIER NGUYỄN VĂN THUẬN Chủ tịch Ủy Ban Công Lý và Hòa Bình Tòa Thánh Trong ngày Cầu Nguyện cho Hoà Bình Thế Giới của các nhà lãnh đạo tôn giáo trên toàn thế giới Tổ chức tại Assisi, thứ năm, ngày 24 tháng 1 năm 2002. Trích website Cardinal Nguyễn Văn Thuận Foundation for the Road of Hope.
How Beautiful…
(Extracted from The Holy See)
Ôi đẹp làm sao…. Ôi đẹp sao những bước chân leo núi trèo non Để đem đến Tin Vui Và loan báo hòa bình Ôi đẹp làm sao và phấn khởi làm sao Khi lời kêu gọi trọng thể xây dựng hòa bình Đã nhận được sự đáp trả nhanh nhẹn và thiện tâm Của tất cả quí vị hiện diện nơi đây Là những người ngày ngày từng dấn thân cho hòa bình Chúng ta tụ họp nơi đây Theo lời mời gọi của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Để làm chứng trước mọi người nam nữ thiện tâm, Bằng cùng tinh thần dấn thân như nhau Và bằng lời cầu nguyện theo cảm nghiệm tôn giáo mình Rằng chúng ta muốn vượt qua mọi xung đột giữa các dân tộc để thực sự cổ võ cho hòa bình. Trong tinh thần của lần gặp gỡ đầu tiên tại Assisi Chúng ta đáp lời mời gọi để công bố cho thế giới Rằng tôn giáo không bao giờ được trở thành Một cái cớ cho xung đột, hận thù và bạo lực, như ta đang thấy diển lại hiện nay. Vào giờ phút lịch sử này Nhân loại cần thấy những hành vi hòa bình Và cần nghe những lời nói hy vọng Những bước chân sứ giả mang Tin Vui hòa bình Sẽ còn xinh đẹp biết chừng nào Nếu, sau khi công bố tin này trên triền núi Subasio
Mỗi chúng ta lại công bố và đem ra thực hành Trong mọi tình huống khác nhau của đời thường nơi các núi non, thành thị và thôn làng khác nữa. (trích Tư Liệu Tòa Thánh) ĐHY. PX. Nguyễn Văn Thuận
Chúa Giêsu là Thiên Chúa tốt lành vô cùng, đáng yêu quý vô cùng. Nhưng đối với bản thân tôi, tôi đã bị Ngài lôi cuốn theo Ngài suốt đời, vì tôi yêu các khuyết điểm của Ngài. 1. Chúa Giêsu kém trí nhớ! Lúc sắp trút hơi thở, Chúa Giêsu có cuộc đối thoại cuối cùng với hai người gian phi cùng bị treo trên thập giá cạnh ngài. Một trong hai người đó thốt lên lời nầy với Chúa Giêsu: "Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi". Và Chúa nói với anh ấy: "Tôi bảo thật với anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên đàng" (Lc. 23, 42-43). Chúa Giêsu không sưu tra lại lý lịch người đó để nhớ xem hắn gian ác đến mức độ nào, không cân nhắc tội nặng, nhẹ để châm chước hay tạm ra hình phạt thế nào đó cho thích đáng. Người gian phi kêu nài Ngài nhớ, thì Ngài "nhớ" một điều là thấy người ấy trước mắt, còn tất cả mọi điều gian ác trước đó Ngài đã quên hết, quên đến độ ngay hôm đó hứa ngay Nước Thiên đàng cho anh ta. Các thánh nói: tên nầy suốt đời ăn trộm, đến lúc chết nó ăn trộm nước thiên đàng luôn! Trong Phúc âm chúng ta gặp lại nhiều chứng tích về việc Chúa Giêsu kém trí nhớ như thế. Nhưng qua chuyện ngụ ngôn người cha nhân hậu, sự kiện đó rõ ràng. Thánh sử Luca kể rằng người con út trong hai con của cha già đã lấy hết phần gia tài của nó, để bỏ nhà ra đi sống đời phóng đảng, quên cha, quên anh. Đến khi tiêu hết tiền, gặp năm đói, thì quay trở về nhà, xin khai thú tội lỗi mong cha già xét tình cha con mà tha thứ... Người cha (là hình ảnh Chúa Giêsu), không kể đến tội cũ, chỉ trông ngóng chờ con; thấy con đằng xa, thì chạy ra đón. Con có thú tội, thì cũng không cố nghe để hạch hỏi tội cũ mà ra lệnh cho tôi tớ: lấy áo đẹp, giày tốt, nhẫn quý mang lại cho cậu, làm thịt con bê béo dọn tiệc vì con ta chết mà nay nó sống lại. Anh ta còn ở đằng xa, thì người cha đã trông thấy. Ông chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ anh ta và hôn lấy hôn để. Bấy giờ người con thưa rằng: "Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với Cha, con chẳng đáng gọi là con cha nữa...". Nhưng người cha liền bảo người giúp việc rằng: "Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay , xỏ dép vào chân cậu, rồi đi bắt con dê đã vỗ béo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng!..." (Lc. 15, 20-23). Chúng ta thấy ở đây trí nhớ của Chúa Giêsu dường như không còn làm việc nữa! Ngài quên vô điều kiện, quên tức khắc tất cả quá khứ không hay không tốt của ta, mỗi khi chúng ta quay trở về. Ngài chỉ nhớ mỗi người là con Cha Ngài, là em Ngài, nên khi ta quay lại gặp Ngài, thì tức khắc ta lại được mặc áo vinh hiển sự sống của Thiên Chúa. 2. Chúa Giêsu không biết làm toán Trong dụ ngôn con chiên bị mất (xem Mt. 18, 12-14; Lc. 15, 4-7), chúng ta thấy lối cư xử của Chúa Giêsu tỏ ra không biết tính toán. Một kẻ có 100 con chiên ở giữa đồng trống mà mất một con, hẳn phải tính toán xem làm sao một con đi lạc lại hơn 99 con còn lại. Không những Chúa Giêsu cho rằng 1 con đi mất cũng bằng 99 con còn lại, mà còn đi xa hơn nữa: Ngài bỏ 99 con còn lại đấy để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất. Một mà hơn 99, hẳn Chúa Giêsu không biết làm toán! Trong chương trình rao giảng của Ngài, không phải số lượng quần chúng đông đảo mà Chúa Giêsu tìm kiếm, nhưng là những con người; và Ngài đã không tiếc thì giờ để trao đổi với từng người, giảng dạy cho một người như chúng ta từng thấy trong cuộc đối thoại với người phụ nữ Samari trên bờ giếng Gia-cóp (xem Gioan 4, 1-42). 3. Chúa Giêsu không sành luận lý Chúa Giêsu không những không cân nhắc tính toán trên số lượng, mà có lúc lời của Ngài đi ngược lại sự khôn ngoan bình thường của con người. "Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối, thì đừng kêu bạn bè, anh em hay bà con, hoặc láng giềng giàu có, kẻo họ cũng mời lại ông, và như thế ông được đáp lễ rồi. Trái lại, khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì để đáp lễ, và như thế, ông mới thật có phúc.." (Lc. 14, 12-14). Trong dụ ngôn về đồng bạc bị mất (xem Lc. 15, 8-10), người phụ nữ có 10 đồng, nhưng trong đêm lỡ đánh mất 1 đồng: "bà thắp đèn, quét nhà, moi móc tìm cho bằng được." - Khi tìm được, thì bất chấp giờ giấc nghĩ ngơi ban đêm của hàng xóm, bạn bè, mời họ phải đến chung vui với mình. Chúa Giêsu ví mình như người phụ nữ tìm đồng bạc bị mất trong đêm; không cần suy tính, luận lý là đủng đỉnh ngày mai sẽ tìm, dù sao thì cũng còn 9 đồng khác trong tay; nôn nóng đem nguồn vui của mình cho người chung quanh không ngại sự nghỉ ngơi trong đêm vắng. Chẳng qua vì Chúa là yêu thương, mà yêu thương của Thiên Chúa cao hơn lý luận con của người. "Giữa triều thần Thiên Chúa, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối" (Lc. 15, 10). 4. Chúa Giêsu không biết kinh tế tài chánh Chúa Giêsu đến để loan báo Nước Trời ở gần con người, gần cuộc sống của họ. Thế mà khi giới thiệu Nước Trời với các môn đệ và với người nghe Ngài nói, Ngài lấy dụ ngôn về Nước Trời như người chủ vườn nho thuê thợ làm cho mình trong một ngày (xem Mt. 20, 1-16). Người chủ từ tảng sáng đã mướn thợ làm; rồi đến giờ thứ 3, giờ thứ 6, giờ 11, mỗi giờ người ấy đều đi tìm mướn thêm thợ (giờ 11 trong lối nói của người Do Thái thời của Chúa Giêsu tức là buổi cận chiều tối rồi). Chiều tối đó, ông chủ, là hình ảnh Chúa Giêsu, bảo người quản lý kêu thợ lại và trả cho mỗi người 1 quan tiền như nhau. Những kẻ làm nhiều giờ trong ngày bực tức vì thấy ông chủ nầy không biết gì về kinh tế, tài chánh cả, hơn nữa còn bất chấp lối tính toán và sự công bình thông thường: "Nầy bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn. Bạn đã chẳng thoả thuận với tôi là 1 quan tiền sao?...Hay vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ghen tức? Thế là những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu, còn những kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót..." (Mt. 20, 13-16). 5. Chúa Giêsu làm bạn với kẻ tội lỗi Không phải trong xã hội của người Do Thái vào thời Chúa Giêsu còn tại thế, mà ngay giữa xã hội chúng ta, người ta khó lòng chấp nhận chuyện người "đàng hoàng" lại giao du với lớp người được đánh giá là không "đàng hoàng". Thời bấy giờ người đồng hương với Chúa Giêsu cho rằng hai giới đặc biệt không "đàng hoàng" là những quân thu thuế và người tội lỗi, đặc biệt là các người gái điếm. Người tội lỗi bấy giờ còn được xem là những kẻ không lành mạnh về cuộc sống thân xác, như người phung cùi, tàn tật... Những người Pha-ri-siêu nhiều lần thắc mắc về thái độ sống của Chúa Giêsu và nhắc nhở với các môn đệ Chúa: "Sao Thầy của các anh lại ăn uống với bọn thu thuế và quân tội lỗi như vậy?" (Mt. 9, 11). "Ông nầy đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng" (Lc. 15, 2). Theo các sách Phúc âm ghi lại, thì không những Chúa Giêsu chỉ gặp gỡ, chào hỏi, hay bất đắc dĩ được mời ăn thì ngại lắm phải chiều người ta, mà thực sự Ngài tự tìm tới nhà người thu thuế, và kẻ tội lỗi, làm thân với họ và ăn ở với họ. Ông Da-kêu là người "đứng đầu những người thu thuế" (Lc. 19, 2); khi biết Chúa Giêsu đi qua thành phố Giê-ri-cô, ông ấy sợ không chen lấn nổi với đông đảo dân chúng, nên chạy ra đàng trước, trèo lên cây sung để xem Ngài, chẳng qua vì ông rất lùn. Chúa Giêsu đi qua, nhìn lên cây ấy thấy ông và nói ngay: "Nầy ông Da-kêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông!" (Lc. 19, 5). Người chung quanh xào xáo: "Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ" (Lc. 19, 7). Chúa Giêsu tự đến để gặp gỡ Da-kêu và loan Tin Mừng: "Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà nầy" (Lc. 19, 9) Và chúng ta đều biết Chúa đã chọn 1 trong 12 vị tông đồ của Ngài là Mathêu, trước đó có tên là Lê-vi một người làm nghề thu thuế. Và để giải thích thái độ ngược đời của mình, chính Chúa Giêsu đã nói rõ sứ mệnh của Ngài. "Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Hãy về học cho biết ý nghĩa câu nầy: Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế. Vì tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi" (Mt. 9, 12-13). 6. Chúa Giêsu thích ăn uống, tiệc tùng Phúc-âm cũng cho chúng ta thấy sự kiện mỗi lần đến nhà nào, gặp ai, đặc biệt là những người được xã hội xếp loại không "đàng hoàng", Chúa Giêsu lại thường ăn uống. Ngài mở đầu sứ mạng rao giảng công khai bằng việc dự tiệc cưới Cana miền Galilê (Gioan 2, 1), kết thúc cuộc gặp gỡ chung với các tông đồ trước khi đi vào cuộc khổ nạn bằng bữa tiệc ở Giêrusalem gọi là tiệc ly (Mt. 26, 17 và tìếp theo). Thế nhưng lịch sử nhiều tôn giáo và tâm thức nhiều nền văn hoá không phải đã cho chúng ta thấy rằng nói đến thần thánh, đạo đức, tôn giáo thì hẳn phải nói đến ăn chay cầu nguyện hay sao! Luca thuật lại rằng, sau bữa tiệc lớn tại nhà Lê-vi (tức thánh Mathêu sau nầy) những người Pha-ri-siêu và những người thông luật nói với Chúa Giêsu: "Môn đệ ông Gioan năng ăn chay cầu nguyện, môn đệ người Pha-ri-siêu cũng thế, còn môn đệ ông thì ăn với uống" (Lc. 6, 33). Chúa Giêsu đã dùng những bữa ăn để cứu người tội lỗi như Mađalêna, Da-kêu... Cái mới của Chúa Giêsu làm cho người Pha-ri-siêu và cả chúng ta khó hiểu đó là tất cả sứ điệp của Ngài, không còn phải là ăn chay hay ăn tiệc, nhưng tiên quyết là Yêu thương phát xuất từ tận đáy lòng mình. Như thánh Augustinô sau nầy tóm tắt trong câu: "Hãy yêu rồi làm gì thì làm" (Ama et fac quod vis). 7. Chúa Giêsu không giữ luật Do thái Không những lui tới bạn bè, với kẻ tội lỗi, lại còn hay dự tiệc với họ, Chúa Giêsu không giữ luật lệ của cộng đồng người Do Thái đương thời. Ngài bất chấp luật phải rửa tay trước bữa ăn, đi thẳng vào bàn tiệc nên "ông Pha-ri-siêu lấy làm lạ vì lúc đầu Ngài không rửa tay trước bữa ăn" (Lc. 11, 38). Đặc biệt trong những ngày sa-bát, Ngài hay chữa lành bệnh tật cho người ta, và điều đó đối với người Do Thái đương thời cho là phạm luật. Phúc âm ghi lại nhiều sự kiện như thế, như việc chữa lành người bại tay (Lc. 6, 8-11), chữa người mắc bệnh phù thủng (Lc. 14, 1-6), chữa lành một phụ nữ còng lưng (Lc. 13, 14)... Thánh sử Luca ghi rõ: "Ông trưởng hội đường tức tối vì Đức Giêsu đã chữa lành bệnh vào ngày sa-bát" (Lc. 13, 14). Ngài không giữ luật, và các môn đệ theo Ngài cũng không giữ luật: Vào ngày sa-bát, Đức Giêsu đi băng qua một cánh đồng lúa; các môn đệ đưa tay bứt lúa ăn. Nhưng có mấy người Pha-ri-siêu nói: "Tại sao các ông làm điều không được phép làm trong ngày sa-bát" (Lc. 6, 1-2). Nhưng trước những lời chỉ trích nầy, Chúa Giêsu trả lời: "Con người làm chủ ngày sa-bát" (Lc. 6, 9). Chúa Giêsu đến để làm trọn lề luật, để ban luật mới là luật yêu thương, là luật có chiều kích nội tâm, để xoá bỏ những lối giải thích lề luật rắc rối bên ngoài: "Khốn cho các ngươi giả hình, như má tô vôi, bên ngoài trắng trẻo mà bên trong thối tha" (Mt. 23, 13-36). 8. Chúa Giêsu như điên cuồng Trong Toà Tổng trấn Phi-la-tô, lúc chịu xử án, Chúa Giêsu bị lính của Tổng trấn cho choàng áo đỏ, đội vương niệm bằng gai để chế nhạo như là kẻ điên cuồng. Nhưng không phải chỉ người ngoài, mà ngay cả Phê-rô, người vừa được Chúa Giêsu cử sẽ làm đầu Hội thánh Ngài: "Anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng đá, trên tảng đá nầy, Thầy sẽ xây Hội thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi..." (Mt. 16, 18), người được Chúa tin yêu như thế cũng không chịu nổi những lời nói như điên dại của Chúa Giêsu: "Người phải đi Giê-ru-sa-lem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại" (Mt. 16, 21). Điên dại vì gọi môn đệ theo mình, đồng thời thông báo mình phải chịu khổ đau, bị giết chết; và xem ra điên dại hơn nữa khi bảo rằng chết sau ba ngày sẽ sống lại! Và suốt cả các cuốn Phúc âm trang nào cũng làm cho chúng ta ngạc nhiên về thái độ và lời nói khác lạ của Ngài: "Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em, hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em. Ai vả anh má bên nầy, thì hãy giơ cả má bên kia nữa. Ai đoạt áo ngoài của anh, thì cũng đừng cản nó lấy áo trong. Ai xin thì hãy cho, ai lấy cái gì của anh, thì đừng đòi lại..." (Lc. 6, 27-31). Nói như thế, làm sao có thể nghe cho được, khi tâm tư ta còn sống trong tâm trạng "măt đền mắt, răng đền răng"! Và tôi xin kể cho các bạn kinh nghiệm của tôi về sứ điệp "điên dại" nầy của Chúa Giêsu. Lúc tôi sống những năm tháng tù đày tại quê nhà, có lúc những người canh tù tâm sự cho tôi hay, họ thắc mắc và ngạc nhiên về thái độ vui cười, thân thiện của tôi đối với họ: trong hoàn cảnh nầy làm sao có thể thanh thản và dung thứ như thế được! Tôi đã có dịp chia sẻ các kinh nghiệm đó trong cuốn sách "Năm chiếc bánh, và hai con cá", tôi vừa cho phổ biến trong năm nầy. Nhưng ở đây tôi muốn nói, chính sự "điên dại" của tình yêu thương Thiên Chúa đối với tôi, đối với mọi người là "khuyết điểm" làm tôi say mê hơn cả; sự điên dại đó lôi kéo tôi bước theo Chúa Giêsu! 9. Chúa Giêsu phiêu lưu Một chương trình cứu chuộc toàn nhân loại, một dự tính gửi người đi rao truyền Phúc âm cho mọi dân nước, mọi thế hệ, thế mà lại chọn và đặt hết tín nhiệm, quyền hành cho Phê-rô, một người chài lưới bộp chộp, ít học rồi còn sợ sệt chối mình nữa! Và về phương cách truyền bá, rao giảng nước Thiên Chúa, thì Chúa Giêsu lại dạy các môn đệ: "Anh em đừng mang gì đi đường, đừng mang gậy, bao bị, lương thực, tiền bạc, cũng đừng có hai áo" (Lc. 9, 3). Phiêu lưu trong việc tuyển lựa các môn đệ, Chúa Giêsu còn bị ngay các môn đệ Ngài nghi ngờ là quá phiêu lưu. Khi Chúa Giêsu loan báo chương trình Ngài sẽ bị bắt nạp, bị giết chết và sẽ sống lại trong ngày thứ ba, thì "Các môn đệ buồn phiền lắm" (Mt. 17, 23). Khi Chúa nói với họ: "Nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con người, các ông không có sự sống nơi mình" (Gioan 6, 53), thì "nhiều môn đệ của Ngài liền nói: "Lời nầy chướng ta quá! Ai mà nghe nổi" (Gioan 6, 60). Và, vì thấy lời giảng dạy của Chúa Giêsu khó nghe và phiêu lưu quá, nhiều môn đệ rút lui. Nên Chúa quay hỏi nhóm 12 tông đồ "Cả anh em nữa, anh em cũng bỏ đi sao?" (Gioan 6, 67). Có lần khác, có người lại muốn đi theo Ngài làm môn đệ, nên hỏi: "Thưa Thầy, Thầy đi đâu, tôi cũng xin đi theo". Người trả lời: "Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng con người không có chỗ tựa đầu" (Lc. 9, 58). Và cuộc phiêu lưu tột đỉnh của Yêu thương nơi Chúa Giêsu được diễn tả cô động nơi bài ca trong thư của Thánh Phaolô gửi giáo đoàn Phi-líp-phê: "Đức Giêsu Kitô Vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân phận nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự"(Phl. 2, 6-8). 10. Chúa Giêsu có những lời giảng dạy xem ra mâu thuẫn Mâu thuẫn vì Lời từ Thiên Chúa khác với lời chúng ta. Làm sao chúng ta thấy hợp lý được khi tuyên dương Phúc cho kẻ nghèo, kẻ phải đói, kẻ phải khóc, kẻ bị người ta oán ghét (Lc6, 20-22) "Ai muốn cứu mạng sống mình, thì phải mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy" (Lc. 9, 24). Làm sao có thể ví Nước Thiên Chúa, Nước của Đấng toàn năng, vô tận với một hạt cải (13, 18-19). Mà làm sao có thể tuyên xưng là "Con Thiên Chúa, Đấng hằng sống" lại phải chấp nhận sự chết và chết nhục nhằn trên Thập giá (xem Lc. 23, 70). Ngày 12.10.1998, có một cuộc tĩnh tâm linh mục quốc tế, tại thành phố Monterrey, nước Mexico: 91 giám mục, 1,500 linh mục tham dự. Lúc tôi vừa nói: Tôi yêu các khuyết điểm của Chúa Giêsu, các ngài nhìn nhau với vẻ ngạc nhiên, bỡ ngỡ! Nhưng nói đến đâu các ngài lại cười đến đó, cuối bài các ngài xúm lại quanh tôi và bảo: "Chúng tôi cũng yêu các khuyết điểm của Chúa Giêsu". Các bạn thân mến, Bây giờ, sau khi chúng ta cùng nhau lược qua 10 khuyết điểm của Chúa Giêsu, 10 khuyết điểm ghi lại nơi các bản Phúc-âm, tôi lại một lần nữa xác quyết với các bạn rằng: vì tôi yêu 10 khuyết điểm nầy của Chúa Giêsu, nên chọn Chúa Giêsu làm Thầy, làm Mẫu-mực tuyệt đối cho đời tôi. Tôi cũng tâm sự với các bạn rằng, cho đến giây phút nầy, tôi không hề có một chút gì ân hận, Chúa Giêsu đã cuốn hút cuộc đời của tôi. Vì Chúa là Tình Yêu đã dẫn lối cho tôi đi, đặc biệt trong những ngày tháng tôi cảm thấy xao xuyến, bứt rứt; chúng đã đem lại nguồn vui và hy vọng cho tôi, nhất là trong những giây phút khổ đau, tưởng chừng như không thể chịu đựng nổi. Các bạn biết lý do tại sao không? Vì 10 khuyết điểm đó phát xuất từ Tình yêu thương mà Thiên Chúa là cha chúng ta ban cho để chúng ta được sống nhờ Chúa Giêsu: "Không ai có tình thương lớn hơn tình thương của người hy sinh mạng sống mình cho bạn hữu" (Gioan 15, 13). Tình yêu đó không nhớ lỗi lầm, không tính toán, không xét nét, không vị kỷ, không phê phán, không câu chấp, không gò bó, không biên giới, không điều kiện; Tình yêu đó yêu điên cuồng đến độ phiêu lưu và hy sinh cả mạng sống mình; tình yêu đó khác với mẫu mực nhỏ hẹp của xã hội và của lối cân nhắc giới hạn của chúng ta. Chúa là Đấng trọn lành, làm sao có khuyết điểm được, nhưng Chúa lại là tình yêu vô hạn, mầu nhiệm. Trí khôn loài người không hiểu nổi, không tin nổi, nên gọi là khuyết điểm! Khuyết điểm ấy lên đến cùng độ trên thánh giá. Cả 10 khuyết điểm cô đọng vào đó, khi người lính thách đố Chúa: "Nếu ông thật là con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi Thánh giá để chúng tôi tin" Chúa Giêsu thinh lặng, lại còn cầu nguyện: "Xin Cha tha cho họ..." Lạy Chúa lúc ấy Chúa không chết thì làm sao chúng con được sống đời đời. Tôi khích lệ các bạn chọn lựa cuộc sống làm chứng 10 khuyết điểm tuyệt vời đó của Chúa Giêsu. Và để chấm dứt buổi chia sẻ nầy tôi xin kể cho các bạn một sự kiện trong cuộc đời của một danh nhân thế giới đã từng chọn Chúa Giêsu, chọn giáo huấn của Ngài, một giáo huấn mà ông ấy cho là kỳ lạ, mâu thuẫn "Kitô giáo kỳ lạ" (Le Christianisme est étrange, Pascal, Pensées, No 537). Danh nhân ấy là ông Blaise Pascal (1623-1662). Khi ông Pascal vừa qua đời vào tuổi 39, người giúp việc trong gia đình xin người chị của ông cho phép mở gấu áo ông mặc lần cuối để xem ông thu giấu cái gì trong ấy. Vì mỗi lần thay áo cho ông, chị giúp việc thấy ông luôn mở gấu áo cũ lấy một cái gì trong ấy rồi lại tự may vào gấu áo mới. Người chị của Pascal cũng như người giúp việc cắt gấu áo và thấy có một miếng giấy nhỏ, trên ấy ghi vỏn vẹn câu sau đây: "Sự sống đời đời là hiểu biết và yêu mến Đức Kitô và Đấng đã sai Người... lửa, lửa, lửa; nước mắt, nước mắt, nước mắt của tình yêu". Đó là bí quyết của B. Pascal một văn hào, một triết gia, một nhà toán học. (Bài chia sẻ của Đức Tổng Giám Mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, sáng thứ Bảy, ngày 12.9.1998, tại nguyện đường Dòng Truyền-Giáo Đức Mẹ Vô Nhiễm (O.M.I), Strasbourg, Pháp trong cuộc họp mặt "Niềm Vui Sống Đạo" của các bạn trẻ Việt Nam Công Giáo sống tại Âu Châu, do Trung Tâm Nguyễn-Trường-Tộ tổ chức./ Trích website ttntt.free.fr)
Trích bài Giảng của Đức Cố Hông Y Phanxicô Xavie cho Đức Thánh Cha và Giáo Triều Roma, nhân dịp tĩnh tâm mùa chay 2000.
VÀI KỶ NIỆM KHÓ QUÊN VỂ ĐỨC HỒNG Y Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận
- Tôi còn nhớ hình ảnh của đức hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, một người đầy chân tình và độ lượng. Vào cuối đời, cách đây hơn một năm, ngài đã để lại chứng tích của một người dũng cảm và tận hiến ‘vì Chúa Giêsu và vì Phúc Âm’. - Làm sao tôi không nhớ lại với lòng bổi hồi cảm phục con người phi thường này mà tôi đã gặp được vào tháng 4 năm 2000, khi ngài đón tiếp nhóm linh mục Québec chúng tôi tại văn phòng của ngài ở Vatican. Trách nhiệm chủ tịch Ủy Ban Công Lý và Hòa Bình, ngài đã bình tâm gánh vác từ lâu trước khi được tấn phong hồng y : là một người từng tử vì đạo, ngài đã loan truyền hòa bình ngay trong thời gian 13 năm bị cầm tù bằng cách ‘yêu thương những người giam giữ mình’, như lời ngài nói. Vào cuối đời, ngài đã đế lại chứng từ hùng hồn sau đây như một di chúc : « Tôi không còn oán hận một ai ». - Trong khi chức vụ của ngài buộc ngài phải tiếp xúc với bao nhiêu hạng người trên thế giới, thì ngài vẫn nhắc nhở chúng ta rằng lời nói thường thường không thay đổi được gì. Ngài bảo : « Điều cần thiết, là tấm lòng ». Vâng, chính vì lòng ngài đầy ắp đức tin cho nên ngài đã lén làm một cây thánh giá trong tù, và sau này sẽ trở thành cây thánh giá giám mục mà ngài đeo trên ngực mình. Tôi đã quá quen nhìn các thập giá, nhưng trong lần gặp gỡ ấy thập giá trên ngực ngài đã bộc lộ trọn vẹn ý nghĩa : hôm ấy tôi cảm nhận rằng thánh giá mang trọn vẹn tình yêu của Thầy và của người môn đệ Ngài. - Khi tuổi già bóng xế, ngài buộc phải phó mình trong tay Chúa. Trong hoàn cảnh tù dày, thì nghịch lý thay, ngài lại tìm thấy tự do. Thật là đáng vui mừng : chứng từ của các tử đạo xưa và nay giúp chúng ta cam đảm bước vào công trường để dùng tấm lòng mình mà xây dựng một thế giới của Công Lý và Hòa Bình!
- Hè năm 1967, tôi dự định xuất tu, không còn ở trong Giáo Hoàng Học Viện Đà lạt. (Đức cha Thuận) vừa nhận chức Giám Mục và đến thăm Đại Học và Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt. Ngài kêu riêng tôi để gặp ngài tại Đại Học. Tôi chỉ nhớ một câu ngài nhắn tôi khi tôi trao đổi với ngài về quyết định của tôi. Ngài nói: «Tu cũng tốt mà về cũng là một ơn gọi riêng. Nhưng con nhớ điều nầy trong đời mình: điều tệ hại trong cuộc đời không phải phạm tội, nhưng là mất đi ý thức tội lỗi. . - Đầu tháng 9 năm 1998, trước khi đến Strasbourg để nói chuyện với người trẻ Việt Nam tại Âu Châu, ngài nhờ cha Vincent Dollmann, dạy ở Đại chủng Viện Strasbourg, tìm xem còn có ai trong gia đình của vị linh mục trước dây làm cha xứ Phủ Cam, Huế và đã rửa tội cho ngài. Vị linh mục nầy người gốc Alsace, Pháp (mà Strasbourg là thủ phủ). Cha Dollmann tìm khắp các nơi và không còn ai có tên ấy trong vùng. Nhưng khi hỏi đến quê của linh mục nầy, thì người ta tìm được một bà gọi vị linh mục ấy là ông cậu. Bà nầy là phu nhân của ông xã trưởng. Trong buổi nói chuyện với giới trẻ, ngài nhắc đi nhắc lại ơn được làm kitô hữu qua phép rửa tội của ngài 70 năm về trước; và cho rằng không có một lễ mừng nào vui hơn lễ thất tuần nầy của ngài, vì ngài có dịp |