UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN

Trần Ngọc Báu

Bạn là người trẻ Việt Nam ở ngoài nước. Hay nói đúng hơn, bạn là người thanh niên Mỹ gốc Việt, Pháp gốc Việt, Úc gốc Việt, v.v. «Gốc Việt» có nghĩa là bạn đến từ Việt Nam, và cũng có nghĩa là bạn xuất thân từ nền văn hóa Việt Nam. Chẳng hạn, trong Ngày Đại Hội Thế Giới Thanh Niên ở Toronto (Canada) tháng 7 năm ngoái, có khoảng 3 ngàn người trẻ «Việt Nam» từ khắp nơi trên thế giới, kể cả Việt Nam, đã tề tựu về đó mừng ngày hội ngộ với Đức TC Gioan Phaolô 2. Tiếng «Việt Nam» ở đấy không ám chỉ màu cờ, dải đất hình chữ S, dân tộc Việt, hay chính phủ Việt Nam nào, mà cốt là xác định những người thanh niên này xuất thân từ một mẫu số chung, một nền văn hóa chung; đó là văn hóa Việt Nam. Thanh niên Mỹ gốc Việt cảm thấy liên đới với thanh niên gốc Việt đến từ nhiều nước trên thế giới. Tất cả cảm thấy gần gũi nhau, gắn bó bên nhau cùng với thanh niên Việt Nam đến từ Việt Nam, vì họ tự nhận cùng thống thuộc một gốc văn hóa Việt.

Gia Đình Việt Nam Hun Đúc Cốt Cách Người Thanh Niên.

Con người không từ dưới đất chui lên, hay từ trời rơi xuống. Mỗi người có mặt trên trái đất này đều có một cội nguồn. Chẳng hạn, tuyệt đại đa số người Việt Nam đều có chung một dòng máu Việt, một dân tộc Việt và một nền văn hóa Việt. Bởi nhờ có tổ tiên, ông bà, cha mẹ, cùng gắn bó với nhau để sinh tồn và phát triển trên một dải đất, họ mới được sinh ra làm người và, nhờ đó, họ mới được dưỡng dục trong xã hội Việt Nam để thành người Việt Nam. Họ tự nhận là người Việt Nam, thuộc một xã hội gồm những người tự nhận là Việt Nam, vì cùng hấp thụ chung một truyền thống văn hóa Việt Nam. Họ tự nhiên cảm thấy thiết thân với nhau, vì họ nhận ra rằng họ đến cùng một cội nguồn, chia sẻ cùng một « nếp sống », « nếp cảm », « nếp nghĩ » xấp xỉ như nhau.

Ra đi sinh sống ở nước ngoài, họ tất yếu phải hội nhập vào nền văn hóa nước định cư. Giữa họ, họ phấn đấu rất gay gắt với nhau để tìm phương hội nhập tốt mà không đánh mất bản sắc Việt Nam của họ. Lúc đầu, họ ý thức rõ có một sự sai biệt rất lớn giữa người mình với người ta. Từ nền văn hóa gốc của họ, họ được trang bị đủ khả năng để nhận diện ra cách xử thế sao cho phải đạo. Từ nền văn hóa gốc của họ, họ có đủ khôn ngoan và nghị lực để tìm ra ngỏ ngách giao dịch và tiến thân. Từ nền văn hóa gốc của họ, họ có được tính cần cù chịu đựng và hiếu học, để vươn lên từ chỗ con số không đến mức ngang tầm người dân bản xứ trung bình hoặc cao hơn nữa. Dần dần, họ tạo được sự kính nể nơi người bản xứ. Dần dần, họ gầy dựng cho họ một chỗ đứng xứng đáng nơi xứ người. Nói cách khác, họ đã nhanh chóng hội nhập và trở thành công dân tốt của nước định cư.

Trước đây, nhiều người nghĩ rằng người Việt Nam chỉ biết có cái « ao nhà » mình, ngụ ý rằng họ chỉ bo bo gắn bó với nơi chôn nhau cắt rốn, bo bo ôm chặt mối quan hệ ruột thịt, mà ít chú trọng đến những vấn đề chính trị/xã hội rộng lớn hơn tại đất nước họ, hay trên thế giới. Có phần đúng! Nhưng ngược lại, người Việt Nam cũng tỏ ra rất cởi mở với các nền văn hóa khác khi cần, đến mức có nguy cơ quên đi dễ dàng nền văn hóa « ao nhà » mình. Đó là nền văn hóa nông nghiệp Việt Nam, chủ yếu bám chặt vào cái cốt lỏi tối thiểu phải có là cơ chế gia đình! Sang đến nước người, gia đình Việt Nam quả là nơi hun đúc nghị lực và sức phấn đấu cho thế hệ con cháu. Thành công vượt bực của các con em Việt Nam ở học đường Mỹ, chẳng hạn, là một phần lớn do sự nâng đỡ của gia đình. Ngày nay, những nước tiền tiến như Hoa Kỳ đã bắt đầu ý thức lại rằng, trong bất kỳ tình huống nào, gia đình vẫn là nền móng của xã hội. Nếu gia đình hư hỏng, con cái sẽ hư hỏng và xã hội sẽ loạn lạc. Nhiều người trẻ Việt Nam hải ngoại muốn thoát ly gia đình sớm, giống như giới trẻ bản xứ, để được « tự do » hơn. Hơn nữa, có người tỏ ra bất mãn với nề nếp truyền thống gia đình, chống đối lại sự gắn bó của quan hệ quyến thuộc. Đó là điều thật đáng tiếc vậy!

Nhìn Nhận Công Ơn Sinh Thành Dưỡng Dục.

Tuy nhiên, cho dù người thanh niên Việt Nam hải ngoại muốn chống lại nền văn hóa truyền thống Việt Nam đi nữa, sự thành công vượt bực của họ trên nhiều lãnh vực cho thấy rằng họ khó có thể thành đạt được như vậy nếu họ không phải là người Việt Nam và nhất là không phát xuất từ nguồn gốc văn hóa Việt Nam.  Dĩ nhiên, không ai phủ nhận sự thành đạt của họ là do công sức của họ bỏ ra. Nhưng đừng quên rằng công sức ấy được tích lũy lâu năm trong cái khuôn khổ gia đình của họ, trong cái vốn công sức tích lũy từ nhiều thế hệ của cha ông họ, và trong cái vốn văn hóa tích lũy lâu đời của dân tộc Việt Nam. Thử lấy một ví dụ nhỏ thôi: nếu gia đình họ không đủ sức phấn đấu để dám bỏ hết công sức ra mà liều mình vượt biển, lánh nạn, tìm đến bến bờ tự do, thì còn khuya họ mới có mặt ở nước ngoài và còn khuya họ mới có thời cơ và nghị lực dốc quyết « làm lại cuộc đời » cùng với gia đình họ ở hải ngoại!

Cái sở trường của người trẻ Việt Nam là sẵn có óc tinh khôn (« ma lanh ») : biết người biết mình, biết phải biết trái, biết trên biết dưới, biết trước biết sau, biết ăn coi nồi ngồi coi hướng, biết nhập gia tùy tục nhập giang tùy khúc, biết ăn cây nào rào cây nấy, biết ăn chắc mặc bền, biết tùy cơ ứng biến để sống còn và vươn lên, v.v. Những cái biết thông dụng ấy đã thành nề nếp sinh hoạt lâu đời nơi các gia đình Việt Nam từ thành thị đến thôn quê. Khi ứng dụng vào hoàn cảnh lưu lạc xứ người, những cái sở đắc thông thường ấy trở nên những khí cụ sắc bén để thành công. Vì vấn đề ngôn ngữ bất cập, đa số sinh viên Việt Nam có thể thua kém chút ít người đồng môn bản xứ khi còn ngồi ghế nhà trường, nhưng khi ra trường đi làm họ chưa chắc đã thua sút ai. Thực vậy, cái khả năng tự học đang khi hành nghề và cái tài ứng biến của họ trong hoàn cảnh bức bách cụ thể có thể vượt xa những đồng nghiệp bản xứ của họ. Họ có biết chăng rằng họ thành công là nhờ họ có cốt cách người Việt, hay nói cách khác là nhờ được hun đúc trong nền văn hóa truyền thống Việt Nam?

Người thanh niên Việt Nam hải ngoại không thể quên hoặc chối bỏ cái gốc văn hóa của mình. Mà có muốn chối bỏ cũng không được, vì nó vẫn tồn tại sờ sờ ra đó! Trái lại, họ càng được kính trọng hơn khi biết nhìn nhận cái vốn liếng văn hóa ngàn đời đã tích tụ nơi họ, giúp họ khai triển và sáng tạo thành công cuộc sống tha hương của họ nơi xứ người. Bởi dưới con mắt của nhiều người và nhất là của người Việt Nam, con người ăn ở vô ân bội nghĩa thường bị coi là đã đánh mất nhân cách rồi vậy. Quả thực, khi nói người Việt Nam ăn ở có nhân có nghĩa, tức là có ý nói người Việt Nam trung bình là người có giáo dục, có tư cách, biết điều, biết cư xử phải đạo làm người. Đạo làm người là cái đạo dạy người ta sống ở đời trong sự liên đới ân-nghĩa với nhau, nghĩa là có làm ơn cho nhau và biết giữ mối quan hệ tình nghĩa với nhau. Ân và nghĩa là hai mặt của cái đức « nhân » vậy.

Hơn nữa, nhìn nhận công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ, đến từ công ơn sinh thành dưỡng dục của các đấng tiền bối, dứt khoát không có nghĩa là bị ràng buộc trong cái xó « ao nhà » mình. Trái lại, sự nhìn nhận ấy cho ta có sự bảo đảm chắc chắn rằng ta có một vốn đầu tư sơ khởi vững chắc để nhờ đó mà ăn nên làm ra, tiến thân, dấn bước hướng về một tương lai sáng lạn. Các công trình nghiên cứu xãhội từng chứng minh rằng những người lai căng mất gốc là người không có được cái bảo đảm vững chắc ấy và khó thành công hơn. Chính vì đó, ở cái xứ Cờ Hoa «tạp chủng » (melting pot), không phải vô lý mà người ta biết trọng vọng và giữ gìn nền văn hóa gốc của các cộng đồng di dân, và có nơi dám đưa cả nền văn hóa ấy vào giảng dạy ở học đường của những thành phố có đông đảo sắc dân ấy. Đó là cách tiếp cận khôn khéo nhất để giúp người di dân hội nhập an toàn nhất vào nếp văn hóa của nước định cư.

Những Đứa “Con Cưng Đột Xuất” của Loài Người.

 Nói thật đi, do đâu mà trên thế giới ngày nay có vài triệu công dân « gốc Việt » rải rác tứ xứ, nhất là tại những nước tiền tiến?  Mà dứt khoát họ lại không phải là giống dân du mục, ham lưu linh thiên địa, thích đi tha phương cầu thực, không tha thiết gì đến quê cha đất tổ! Trái lại, dù có đói meo ra, họ đã từng quen thói bám trụ nơi mảnh đất sỏi đá quê nhà, nơi có mồ mả cha ông, nơi thấm nhuần mồ hôi nước mắt của đấng tiên thánh sáng lập thôn làng. Từ ngàn xưa rồi, trải qua bao nhiêu cuộc đời dâu bể, đất nước thăng trầm, họ chỉ biết có một ước mơ là được an cư lạc nghiệp nơi « ao nhà » của mình. Trước đây, ai dám nghĩ rằng một ngày nào đó, họ đành đoạn giũ áo ra đi lưu lạc xứ người như những đứa con vô gia đình, vô tổ quốc ? Ngày nay tại xứ người, những bậc niên trưởng cứ mãi âm thầm ôm mối hờn vong quốc, hận vong thân, ấm ức tủi nhục phải ăn nhờ ở đậu quê người. Quả vậy, khi ra đi, họ đâu có tính chuyện định cư vĩnh viễn nơi tha hương đất khách!

Nhìn thấy lớp con cháu của họ, sau mươi mười lăm năm lưu lạc, nay đã « an cư lạc nghiệp », « công thành danh toại » nơi xứ người, họ cũng được đôi phần an ủi. Dù vậy, không ít người trong lớp niên trưởng này, giờ đây đã đến tuổi hưu dưỡng trong những điều kiện viên mãn của những nước văn minh tiền tiến, vẫn chưa thấy họ có quyền được nghỉ ngơi trước cuộc đời mà họ cho là dang dở, bẽ bàng, lơ láo, đảo điên. Làm sao an tâm nghỉ ngơi được khi họ còn thấy liên đới trách nhiệm với vận mệnh đất nước? Tại sao thế?

Tại sao họ không an phận vui hưởng cái thú thanh nhàn nơi « ao người » thanh lịch, khang trang, sang trọng gấp trăm lần «ao nhà» mình? Tại sao họ cứ mãi da diết bất mãn âm ỉ với bản thân, với thời cuộc tại quê nhà, với cái quá khứ cứ lảng vảng trong trí óc họ mà làm chi ? Họ có khùng chăng khi không biết tận hưởng một cuộc sống ngàn lần sung túc quá cái mức mong chờ của họ khi còn tại quê nhà? Hay ngược lại, có lẽ chính vì họ càng được ưu đãi quá mức mong đợi, đang khi nhiều người đồng hương của họ tại quê nhà vẫn mãi lận đận với thân phận nô bộc, tù túng, đói khổ dài dài, mà họ càng cảm thấy tủi hổ hơn chăng?! Hơn nữa, phải chăng họ càng bị ray rứt hơn khi chính con cháu họ lại tỏ ra hờ hững ngay với những thao thức triền miên của họ, bực dọc với những nỗi niềm u uất bất tận của họ, khó hiểu trước những uẩn khúc trầm kha của họ, và nhất là muốn quên đi càng nhanh càng tốt cái quá khứ đau thương của gia đình họ, giồng tộc họ, đất nước họ?! Đau xót nhất chính là khi chúng nó muốn dứt khoát quên đi để tận hưởng cuộc sống tiêu thụ xa hoa, bù lại những ngày đen tối tại quê nhà, và để trả thù cái kiếp sống dã man cầm thú trước đó?!

Không ít các bậc niên trưởng từng bị dằn vặt xâu xé trước cuộc đời đầy nghịch lý này. Một đàng, họ đành lòng và vui lòng chấp nhận cho con cháu họ hội nhập sâu sát vào cuộc sống mới tại quê người, để thành đạt công danh sự nghiệp. Nhưng đàng khác, họ lại cảm thấy cuộc sống thoải mái vô tư của con cháu họ có cái gì « không được ổn », như đâu đang phản bội lại công đức của cha ông! Chẳng hạn, giờ đây hình như chúng nó không còn hình dáng nguyên thủy của người con đất Việt nữa!  Giờ đây, chúng nó sống cuộc sống phải nói là « xa xỉ » so với đại đa số anh chị em đồng lứa chúng nó tại quê nhà. Giờ đây, chúng nó an nhiên tự tại hưởng thụ một mình những thành quả đã được vun xới bằng mồ hôi, nước mắt và xương máu từ bao thế hệ cha ông trước đó.

Thực vậy, mới đây thôi, có biết bao nhiêu người đồng hương chúng nó bị sóng cả nhận chìm dưới đáy biển để cho chúng nó được ân cần tiếp rước nơi bến bờ tự do. Có biết bao nhiêu sinh mạng đã phải làm bia «chống cộng» và phơi thây nơi chiến trường Việt Nam trước kia để ngày nay chúng nó được nhìn nhận là « người tị nạn chính trị cộng sản ». Với cái giá hằng triệu con dân Việt Nam, những đấng bậc chú bác đáng kính của chúng nó, đã hy sinh trong 30 năm chinh chiến nơi « tiền đồn thế giới tự do » và chết gục trong những trại tù cải tạo của cộng sản Việt Nam từ sau 1975, ngày nay chúng nó mới được cái quyền sống tự do phè phỡn nơi xứ người. Quả vậy, không dễ gì chúng nó được thế giới tự do đương nhiên nhìn nhận là « người tị nạn chính trị » khi làm thuyền nhân đến bến bờ nước khác, nếu không có rừng biển xương máu của cha ông chúng nó đổ ra làm bằng cho cuộc chui nhủi tháo chạy, thoát chết với muôn vàn gian khổ trần ai của gia đình chúng nó.

Vả lại, chúng nó biết chăng hiện nay có bao nhiêu tỷ người trên thế giới phải cật lực làm việc để cạnh tranh một cách bất cân xứng với nền kinh tế toàn-cầu-hóa khổng lồ và bá quyền của các cường quốc Âu Mỹ, một cuộc «tự do cạnh tranh» để sống còn mà thấy trước là rất thua thiệt về phía các nước nghèo yếu, và cuối cùng chỉ làm mập béo thêm nền kinh tế thế giới do các siêu cường Âu Mỹ chế ngự. Nói cách khác, chúng nó biết chăng giờ đây có hằng tỷ người vẫn bị bạc đãi trên thế giới và tại quê nhà để cho chúng nó được ưu đãi như ngày nay tại Mỹ và tại các nước tiền tiến khác? Đang khi hằng tỷ thanh niên cùng lứa tuổi chúng nó trên thế giới và tại quê nhà thèm khát địa vị ưu việt của chúng nó, chúng nó có ý thức được rằng không thể vô cớ mà chúng nó nghiễm nhiên trở thành những đứa « con cưng đột xuất » của nhân loại ngày nay? Từ địa vị một người dân của nước nghèo nhất nhì thế giới, chúng nó không thể ngẫu nhiên bước lên địa vị ưu việt trên hằng tỷ thanh niên thế giới!  Đó phải chăng là vì chúng nó được thế giới tự do cho thừa hưởng « tài khoản bồi thường xương máu của cha ông » chúng nó?!

Trách Nhiệm của Người Thanh Niên Thời Đại.

Người ta không ngớt nhắc nhở cho con em những câu châm ngôn thân thuộc từ tấm bé vỡ lòng, như «ăn quả nhớ kẻ trồng cây» hay «uống nước nhớ nguồn».--Dĩ nhiên thôi, biết rồi, nói mãi ! Vâng, thanh niên Việt Nam ngày nay tưởng rằng mình vẫn « nhớ » đấy, nhưng không muốn mãi bận tâm với cái quá khứ « đau buồn » của cha ông. Họ sẵn sàng quát vào mặt «người lớn» rằng ở mọi thời đại « nước mắt vẫn chảy xuống », làm gì có chuyện nước mắt chảy ngược lên mà nhớ với thương! Thời cơ đến với họ, họ có quyền và có trách nhiệm nhìn về phía trước và đi tới. Cần tỉnh táo và gan dạ, họ mới sống còn một cách tương đối oanh liệt ở cái xã hội cạnh tranh ráo riết và man rợ này. Không khéo, họ vẫn có thể bị bầm dập tan xác hơn cả đời cha ông nữa kia. Ở xã hội tự do, qui luật « mạnh được yếu thua » buộc họ phải tự lập sớm, trưởng thành sớm, để tranh giành cho được một thế đứng thượng phong, nếu không muốn chịu qụy lụy, đè bẹp, cạp đất hết kiếp này đến kiếp khác như cha ông họ. 

Hỡi người thanh niên thời đại, bạn có lý, tất nhiên ! Nhưng tại sao quá khứ của cha ông đối với bạn chỉ có «đau buồn» mà không có phấn chấn, vui tươi, đầy khí phách, kể từ các đời Vua Hùng dựng nước? Bạn có biết chăng sau các giai đoạn «đau buồn» của dân tộc Việt Nam, có những khúc ca khải hoàn và những thời đại huy hoàng rực rỡ? Chính cái dòng lịch sử oanh liệt của dân tộc Việt đã hun đúc nên cái chí khí bất khuất cang cường trong chiến đấu của giống nòi Lạc Việt, cũng như đã xây đấp lên cái uy dũng trong nếp sống hiếu hòa nhằm xóa bỏ hận thù, cùng nhau mưu cầu no ấm,  an cư lạc nghiệp. Ai rèn luyện nên cái sức phấn đấu kiên cường mà người thanh niên hải ngoại ngày nay thừa hưởng để đấu tranh thắng lợi, nếu không có cả một bầu nhiệt huyết của triệu triệu con dân đã từng bẻ gẫy gông cùm, xiềng xích của ngoại bang để sống tự do, tung hoành, hiên ngang, hòa hợp với nhau trên dải đất quê hương mình?

Vả lại, có ai không tán thành lập trường của người thanh niên Việt Nam hải ngoại quyết dấn bước đi tới, không ngoái cổ nhìn lui, và phấn khởi dấn thân vào cuộc sống mới đâu? Và dĩ nhiên, ai cũng phải nhìn nhận là nước mắt làm gì có thể chảy ngược lên được! Cái điều bà con Việt Nam mong đợi ở người thanh niên thời đại này, đó không phải là quay lưng với hiện tại, nhắm mắt nghe theo những người của thời đại trước, mà mở to mắt ra để nhận chân hiện tại với một tầm nhìn bao quát phía trước và làm chủ được tình hình, đang khi dấn bước vào con đường phiêu lưu tìm kiếm và xây dựng cho họ và cho thế hệ họ một cuộc sống xứng với phẩm giá làm người, hơn cả cha ông họ trước đây đã từng làm. Vâng, thời của cha ông, cha ông đã đứng lên đảm nhận trách nhiệm của con người thời đại, thì thanh niên ngày nay cũng phải anh dũng nhận trách nhiệm của con người thời đại mình thôi. Không thể thoái thoát trách nhiệm được!

Hơn nữa, bạn không thể không « nhớ » quá khứ,  không những để hãnh diện với cội nguồn,  mà còn để biết sống trung thực với hiện tại và biết tránh những vết xe đổ của cha ông. «Nhớ nguồn », bạn không thể nhắm mắt trước cái nhục mất nước, cố tình làm ngơ trước nếp sống quần quại trong cực hình của người đồng hương tại quê nhà. Thực ra, cũng mới ngày nào đây thôi bạn à, bạn và gia đình bạn cũng đã nếm mùi gian khổ, đói rách, cay đắùng, tủi hổ của cái kiếp người không ra người, ngợm không ra ngợm, tại chính nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Bạn đâu có lòng nào phủi đít ra đi để « quên » dễ dàng như người dưng nước lã! Tuy nhiên, giờ đây bạn không muốn ngồi khoanh tay than thở, thở than, loay hoay với những nỗi niềm uất hận hay nuối tiếc! Và bạn cũng không ngông nghênh lên đường xuống đường hò hét vung vít «đả đảo», «câm thù». Thời đại của bạn, bạn tất nhiên phải có cách làm tốt hơn, hiệu nghiệm hơn, sát thực hơn, chí lý hơn!

Hẳn nhiên, bà con có quyền chờ đợi bạn tiếp tục lên đường nối tiếp sự nghiệp của cha ông, tăng cường cái sức đẩy cho giòng nước cuồn cuộn phăng đi về phía trước, ra đến tận biển cảbao la. «Quay đầu trở lại» là phản bội định hướng ra khơi của giòng sông. «Dừng lại» là ích kỷ, cầu an, ươn hèn, và vô trách nhiệm với vận mệnh lịch sử. Vận mệnh lịch sử của mọi giòng sông là phải tiếp tục chảy, hướng về biển cả đại dương. Trách nhiệm của thanh niên thời đại là phải tiếp tục xô đẩy thế hệ mình đi tới, đền đáp lại những sự mong đợi của cha ông nơi thế hệ con cháu. Thanh niên không thể hèn nhát, thanh niên không thể buông xuôi, thanh niên không thể chỉ biết hưởng thụ cho mình.

Nếu bạn được sinh ra có ngày có tháng trong một tổ ấm gia đình, thì cái mối giây liên hệ đầu tiên ấy sẽ đưa bạn đến chỗ liên đới trách nhiệm với dòng tộc, giống nòi và nhân loại thôi. Nếu bạn biết nhìn nhận trách nhiệm với thân phận làm người « có gốc có ngày » của bạn, thì hẳn nhiên bạn có thể nhìn nhận trách nhiệm với thân phận làm người «có gốc có ngày » của những người đồng hương hay đồng loại, để tất cả cùng nhìn nhận gắn bó với nhau trong cái bản sắc chung của nhân loại và cùng nhau chia sẻ trách nhiệm cho nhau. Tất cả các thế hệ đã qua, đang qua và sẽ đến đều đặt tất cả niềm tin tưởng và hy vọng vào sự hoàn thành trách nhiệm cao quí của bạn.

 

Hòa bình bắt đầu bằng một nụ cười.” Mẹ Têrêxa Calcutta.

·        “Dù tôi có làm gì thì cũng không thể thay đổi được bộ mặt của vũ trụ này. Nhưng có lẽ, nếu tôi cất tiếng lên, tôi có thể góp phần thăng tiến lý tưởng cao quý nhất: đó là mang lại thiện tâm cho con người và hòa bình trên mặt đất.” Albert Einstein.

·        “Chúng ta có thể bắt đầu biểu lộ tình yêu trong cuộc sống hằng ngày khi càng có nhiều người trong chúng ta đánh thức con tim mình để đón nhận tình yêu hoàn vũ, thì hòa thuận và an bình sẽ ngự trị trên mặt đất này.”

           Masami Saionji, Chủ tịch HiệpHội Cầu Nguyện cho Hoà Bình Thế Giới.

 

Trở về Muc Lục