VÀI KỶ NIỆM KHÓ QUÊN VỀ ĐỨC HỒNG Y

Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận

-          Tôi còn nhớ hình ảnh của đức hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, một người đầy chân tình và độ lượng. Vào cuối đời, cách đây hơn một năm, ngài đã để lại chứng tích của một người dũng cảm và tận hiến ‘vì Chúa Giêsu và vì Phúc Âm’.

-          Làm sao tôi không nhớ lại với lòng bổi hồi cảm phục con người phi thường này mà tôi đã gặp được vào tháng 4 năm 2000, khi ngài đón tiếp nhóm linh mục Québec chúng tôi tại văn phòng của ngài ở Vatican. Trách nhiệm chủ tịch Ủy Ban Công Lý và Hòa Bình, ngài đã bình tâm gánh vác từ lâu trước khi được tấn phong hồng y : là một người từng tử vì đạo, ngài đã loan truyền hòa bình ngay trong thời gian 13 năm bị cầm tù bằng cách ‘yêu thương những người giam giữ mình’, như lời ngài nói.  Vào cuối đời, ngài đã đế lại chứng từ hùng hồn sau đây như một di chúc : « Tôi không còn oán hận một ai ».

-          Trong khi chức vụ của ngài buộc ngài phải tiếp xúc với bao nhiêu hạng người trên thế giới, thì ngài vẫn nhắc nhở chúng ta rằng lời nói thường thường không thay đổi được gì. Ngài bảo : « Điều cần thiết, là tấm lòng ». Vâng, chính vì lòng ngài đầy ắp đức tin cho nên ngài đã lén làm một cây thánh giá trong tù, và sau này sẽ trở thành cây thánh giá giám mục mà ngài đeo trên ngực mình. Tôi đã quá quen nhìn các thập giá, nhưng trong lần gặp gỡ ấy thập giá trên ngực ngài đã bộc lộ trọn vẹn ý nghĩa : hôm ấy tôi cảm nhận rằng thánh giá mang trọn vẹn tình yêu của Thầy và của người môn đệ Ngài.

-          Khi tuổi già bóng xế, ngài buộc phải phó mình trong tay Chúa. Trong hoàn cảnh tù dày, thì nghịch lý thay, ngài lại tìm thấy tự do. Thật là đáng vui mừng : chứng từ của các tử đạo xưa và nay giúp chúng ta cam đảm bước vào công trường để dùng tấm lòng mình mà xây dựng một thế giới của Công Lý và Hòa Bình!

Linh mục François Baril (Québéc – Canada)

 

-          Hè năm 1967, tôi dự định xuất tu, không còn ở trong Giáo Hoàng Học Viện Đà lạt. (Đức cha Thuận) vừa nhận chức Giám Mục và đến thăm Đại Học và Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt. Ngài kêu riêng tôi để gặp ngài tại Đại Học. Tôi chỉ nhớ một câu ngài nhắn tôi  khi tôi trao đổi với ngài về quyết định của tôi. Ngài nói: «Tu cũng tốt mà về cũng là một ơn gọi riêng. Nhưng con nhớ điều nầy trong đời mình: điều tệ hại trong cuộc đời không phải phạm tội, nhưng là mất đi ý thức tội lỗi. .

-          Đầu tháng 9 năm 1998, trước khi đến Strasbourg để nói chuyện với người trẻ Việt Nam tại Âu Châu, ngài nhờ cha Vincent Dollmann, dạy ở Đại chủng Viện Strasbourg, tìm xem còn có ai trong gia đình của vị linh mục trước dây làm cha xứ Phủ Cam, Huế và đã rửa tội cho ngài. Vị linh mục nầy người gốc Alsace, Pháp (mà Strasbourg là thủ phủ). Cha Dollmann tìm khắp các nơi và không còn ai có tên ấy trong vùng. Nhưng khi hỏi đến quê của linh mục nầy, thì người ta tìm được một bà gọi vị linh mục ấy là ông cậu. Bà nầy là phu nhân của ông xã trưởng. Trong buổi nói chuyện với giới trẻ, ngài nhắc đi nhắc lại ơn được làm kitô hữu qua phép rửa tội của ngài 70 năm về trước; và cho rằng không có một lễ mừng nào vui hơn lễ thất tuần nầy của ngài, vì ngài có dịp đến cám ơn vị linh mục Chúa dùng để ban phép rửa cho ngài; cám ơn những bước chân anh hùng, máu đào tử đạo của các vị truyền giáo cho Việt nam. Và cũng vào dịp nầy ngài đã viết ra 10 sứ điệp Đức Mẹ LaVang và loan báo với giới trẻ Việt nam về việc Ngài đang tiến hành công việc sáng lập Cộng Đoàn La-Vang.

-          Tháng 9 năm 1998, TGM Thuận được Phong trào Focolare mời đến Quốc Hội Âu Châu để dự lễ gắn huy chương của cơ quan nầy cho bà Chiara Lubich. Ngài đem theo cha Lê Phú Hải và tôi đến thăm vị đại diện Toà thánh bên cạnh QH Âu châu và tham dự lể gắn huy chương vị sáng lập PT Focolare, một người bạn thân của ngài. Khi chúng tôi đưa ngài ra nhà gare sân bay Entzheim, Ngài chỉ chiếc nhẫn giám mục thật lớn có vẻ quí giá mang ở ngón tay, và hỏi Sr Nguyễn Thị Hường, Cha Lê Phú Hải, cô Lâm Phương Mai và vợ chồng chúng tôi: «Đoán xem cha mua bao nhiêu ?»  Không ai trả lời liền, nhưng nghĩ bụng chắc cũng trên nghìn mỹ kim.  Ngài không thấy ai trả lời liền nói: «Mới đây cha có dịp đi Israel, thấy ngươì ta bán ngoài lề đường, cha mua nó một mỹ kim, rồi nhờ người khắc trong nhẫn chữ «Nada» (hư không, lời của thánh Têrêsa Avila). Ngó cũng được và là kỷ niệm quý!»

Nguyễn Đăng Trúc (Alsace – Pháp)

 

-          Năm 1972, Đức Cha Điền cho mở khóa Cursillo đầu tiên tại Huế, và Đức Cha Thuận nhận làm linh hướng cho khóa ấy. Tôi được phân công giảng một bài khá quan trọng, nên dù quì gối hằng giờ trước thánh thể, tôi vẫn còn lo âu lắm. Tôi đến trình với đức cha linh hướng. Ngài mỉm cười bảo: «Chuyện của Chúa thì trao phó cho Chúa lo chứ vì sao con phải lo ? ». Tôi cảm thấy nhẹ nhõm. Sau bài giảng, cả hội trường bước vào bầu không khí thinh lặng linh thiêng. Tôi thấy lồng ngực mình như vỡ ra. Tôi đến trình với đức cha : « Con biết là Chúa làm mọi sự chứ con chẳng là gì cả, nhưng sao bên trong con lòng kiêu ngạo cứ vênh váo lên. Con sợ cho đức khiêm nhường của mình quá!» Ngài dạy: «Khiêm nhường đích thực là không thắc mắc gì về mình, ngay cả về đức khiêm nhường của mình ».

-          Hai câu dạy dỗ của ngài theo tôi qua ngày tháng, và tác động rất nhiều vào đời sống đạo của tôi. Mãi sau này tôi mới biết rằng muốn nói những câu đơn sơ đó thì cần cả một đời sống nội tâm chứ không phải chỉ trông cậy vào kiến thức.

-          Năm 1997, khi sang Pháp gặp lại anh Nguyễn Văn Thạch, một phó tế vĩnh viễn từng cộng tác với Đức cha Thuận trước 75, tôi hỏi anh về những gì Đức Cha đã nói về 13 năm giam cầm tại VN. Anh bảo: «Khi sang đây, nhiều người hỏi Đức cha về thời gian ấy, và hy vọng Đức Cha sẽ cung cấp những thông tin hãi hùng. Thế nhưng đức cha chỉ nói : ‘Thời gian ấy, sáng sáng tôi đều dâng ngày ấy cho Đức Mẹ. Tôi đã dâng rồi, nên những ngày ấy là của Đức Mẹ. Muốn biết thì anh em hãy hỏi Đức Mẹ vậy.’ !»

-          Năm 2001, tôi nhận được cuốn ‘5 chiếc bánh và 2 con cá’. Tôi hơi ngỡ ngàng vì Đức Cha đã kể lại những giai thoại trong tù. Chẳng phải Ngài bảo rằng đã trao cho Đức Mẹ rồi sao? Đọc lời tựa, tôi vỡ lẽ. Ngài bảo: «Tôi viết lại những dòng này vì đã đến lúc cuộc đời tôi không còn thuộc về mình ». Mà quả thật như vậy, qua tập sách ngắn ngủi ấy, ta thấy niềm tin và tình yêu của Phaolô trong ngục tù La mã vào thế kỷ thứ nhất đang sống lại trong hình hài của người tông đồ Nguyễn Văn Thuận vào thế kỷ 20 của chúng ta.

 Trần Duy Nhiên (TPHCM – Việt Nam)

Trở về Muc Lục