Số 21, Ngày 25-9-2004

 

MỤC LỤC

Thư Tòa Soạn

Khoa Sư Phạm của Đức Giêsu - Thái Văn Hiến dịch

Cầu nguyện với Kinh Thánh (Xức dầu tại Bêtania) - Hoàng Quý

Đương Đầu với Những Phức Tạp của Bản Thân - Lm. Ron Rolheiser, OMI

Người Kitô Hữu Cần Sống Đời Sống Chia Sẻ - Nguyễn Chính Kết

Xin Dùng Con Theo Ý Chúa… - Lm. Nguyễn Công Đoan, SJ

Cầu Nguyện Trong Đời Sống Gia Đình - Giao Duyên

Tâm Tình Bạn Đọc - Thư Bạn Đọc  

 

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

 

Kính thưa Quý độc giả,

Cha Anthony de Mello đã viết câu chuyện sau trong cuốn Như Tiếng Chim Ca:

Tôi thấy ngoài đường một cô bé gái đang run cầm cập trong chiếc áo mỏng tanh, với chút hy vọng mong manh là có được một bữa ăn kha khá. Tôi phẫn uất và thưa với Chúa: "Tại sao Chúa đã để cho sự việc đó xảy ra? Chúa không nhìn thấy sao? Tại sao Chúa không làm gì hết?" Trong một thời gian khá lâu, Chúa không nói gì. Rồi một đêm kia, Chúa đã trả lời rất bất ngờ: "Dĩ nhiên là Cha đã thấy điều đó rồi: vì thế mà Cha tạo dựng nên con, con đấy!"

Chúa nhật tuần này, Phúc Âm kể lại câu chuyện người phú hộ và Ladarô. Biết đâu người phú hộ cũng ray rứt cầu nguyện với Chúa:Sao Chúa không làm gì hết cho Ladarô?” Và ông không hề để ý rằng mình được Chúa dựng nên để chia sẻ với Ladarô.

Chúa nhật tuần này là chúa nhật 26 mùa thường niên, nghĩa là một chúa nhật không có gì để nói… Sao lại không nhỉ? Mỗi thánh lễ chúa nhật là nhà sư phạm Kitô dạy bài học chia sẻ bằng phương pháp trực quan: Người lấy chính bản thân mình mà chia sẻ cho tất cả chúng ta.

 Thánh Gioan đã viết về thánh lễ đầu tiên: ‘Người đã yêu thương đến cùng.’yêu thương đến cùng nên Người cũng hiến thân đến cùng. “Này là Mình Thầy, Này là Máu Thầy, các con ăn đi, và hãy làm như thế để tưởng niệm Thầy’.  Hãy giúp Thầy tiếp tục chia sẻ cho đến mai sau.

Hãy làm như thế mà tưởng niệm Thầy’ cũng còn có nghĩa là hãy yêu thương như Thầy, hãy chia sẻ như Thầy, hãy để cho người khác nghiền nát, lạm dụng, bóc lột noi gương Thầy.

Bạn sẽ nói: Trước những đói khát vật chất và tinh thần của anh em tôi, tôi có thể làm gì được. Bản thân tôi còn khó khăn mọi bề kia mà?” Chúng ta không thể làm gì nhiều, nhưng chúng ta vẫn có thể đến với họ với 5 cái bánh và 2 con cá của mình.

Mẹ Têrêxa thành Calcutta thuật lại câu chuyện sau, trong bài diễn văn nhận Giải Nobel Hòa Bình tại Oslo, năm 1979:  Tôi đã có một kinh nghiệm lạ lùng với một gia đình theo Ấn Giáo. Hôm nọ, một người đến nhà chúng tôi và bảo: “Mẹ Têrêxa à, có một gia đình 8 con; họ không có gì ăn lâu rồi; Mẹ làm điều gì đi!” Thế là tôi lấy một ít gạo rồi lập tức đi đến đấy. Tôi thấy mấy em bé với cặp mắt ánh lên vì đói. Tôi không biết anh chị em có bao giờ thấy ai đói chưa. Tôi thì thấy nhiều lắm ở Ấn Độ. Bà cầm lấy gạo, chia ra hai phần, rồi đi ra ngoài. Khi bà trở về, tôi hỏi bà: “Bà đi đâu vậy? Làm gì vậy?” Bà đơn sơ trả lời: “Họ cũng đói!”. Điều làm tôi choáng váng nhất là bà ấy biết họ là ai: là một gia đình Hồi Giáo. Tôi không đem thêm gạo tối hôm ấy vì tôi muốn để cho họ hưởng trọn vẹn niềm vui chia sẻ.

Hẳn Thầy Giêsu sẽ tủi thân lắm khi thấy môn sinh của Người là chúng ta đây cứ ở lại tưởng niệm Người trong nhà thờ mỗi ngày chúa nhật, và bỏ mặc cho người phụ nữ đói meo kia đem chia một nửa sự sống của chị cho một người hàng xóm, khi mà chính chị chưa bao giờ được chia sẻ Máu Thịt của Thầy, như chúng ta.

Vì thế, tuần lễ này, Maranatha dành cho những bài viết về Khoa Sư Phạm của Chúa Giêsu, để từ đó ta đưa Người vào lòng mình trong tinh thần cầu nguyện, dù phải Đương Đầu với Những Phức Tạp của Bản Thân, để rồi cũng biết chia sẻ đến nhói đau như Thầy Chí Thánh của mình.

 

MARANATHA

Về mục lục >

 HỌC HỎI

KHOA SƯ PHẠM CỦA ĐỨC GIÊSU

 

 Trích La Formation des Disciples của  José Prado Flores.

Thái Văn Hiến dịch

 

Đức Giêsu giảng dạy như thế nào?

Phương pháp sư phạm của Vị Thầy xứ Galilê có tám điểm đặc trưng làm cho nó khác với những khoa sư phạm khác.

a- Đặt Câu Hỏi:

                             Phương pháp của Đức Giêsu không phải là nói một thôi một hồi như nói với những viên đá câm lặng. Nó tương tự như phương pháp "maieutique (khích biện pháp) = gợi hỏi" của Socrate, phương pháp hỏi trực tiếp các môn sinh. Khoa sư phạm của Người không gây ra sự thụ động nơi các môn đệ nhưng làm cho các ông suy nghĩ; tìm gặp những kết luận ngay trong nội tâm của các ông.

 Các dụ ngôn, một cách cụ thể, không phải là những tiếp thu thụ động hay những công thức dành cho một vấn đề đã được xác định, nhưng là những nguyên tắc mà người ta phải áp dụng trong mọi hoàn cảnh. Đức Giêsu không thực hiện theo kiểu "mì ăn liền" đối với các môn đệ của Người, nhưng làm cho các ông trở thành có khả năng tự trả lời trước mọi tình huống của cuộc sống.

        Và thậm chí, nhiều lần Người đích thân hỏi trực tiếp các ông để các ông học được cách quay lại trong chính bản thân mình và gặp thấy ở đó những câu trả lời, phương pháp bắt đầu từ một nguyên lý mang tính nhân loại học và thần học: Thiên Chúa không ở xa chúng ta; chúng ta sống, cử động và hiện hữu trong Người, vì chính Người đã cư ngụ trong tâm hồn chúng ta và không chỉ là "với" chúng ta, mà còn "trong" chúng ta nữa.

           Chúng ta cùng nhau lập ra một bản liệt kê vắn tắt về vô số những câu hỏi được đặt ra trong Tin Mừng. Nội việc trả lời không thôi cũng sẽ khiến chúng ta phải suy nghĩ:

 - Các anh tìm gì? (Ga1,38)

 - Anh em nói Thầy là ai? (Mt16,15)

 - Nào Thầy đã chẳng nói với chị rằng nếu chị tin, chị sẽ được thấy vinh quang của TC sao? (Ga.11,40)

 - Nầy bà, sao bà khóc? (Ga.20,13)

 - Bởi lẽ, giữa người ngồi ăn và kẻ phục vụ, ai lớn hơn ai?  (Lc 22,27)

 - Mạng sống chẳng trọng hơn của ăn, và thân thể chẳng trọng hơn áo mặc sao? (Mt.6, 25).

 - Tại sao các ông dựa vào truyền thống của các ông mà huỷ bỏ lời TC? (Mt.15,3)

 - Tại sao anh em lại lo lắng? (Lc.12,26)

 - Sao các ông lại nghĩ xấu trong bụng như vậy? (Mt 9,4)

 - Xấu như các ngươi thì làm sao nói điều tốt được? (Mt12,34)

 - Sao lại hoài nghi? (Mt.14,31)

 - Người ta có thể lấy gì mà đổi mạng sống của mình?(Mt16,26)

 - Anh muốn tôi làm gì cho anh? (Lc18,41)

 - Anh cũng muốn bỏ đi sao?

 - Không ai kết tội chị cả ư ? (Ga.8,10)

 - Sao các ông lại không tin tôi ? (Ga.8,46)

 - Anh có mến Thầy hơn các anh em nầy không ? (Ga.21,15)

 - Việc gì đến anh ? (Ga.21,22).

         Số lượng câu hỏi mà Đức Giêsu đặt ra trong toàn bộ Tin Mừng thật là đáng ngạc nhiên. Có hơn năm mươi câu.

         Người đã không quyết định mang lại những phương cách lĩnh hội hay các công thức, nhưng chờ cho câu hỏi tốt đẹp bật ra từ trong tâm hồn của các môn đệ. Và ngay cả, có khi người ta hỏi Người một điều gì đó, Người thường đáp lại bằng một câu hỏi khác (xem Mt.9,14-15; 12,26-27; 15,1-3; 15,33-34; 19,16-17; 21,15-16) Đằng khác, lời giáo huấn của Người và nhất là cuộc sống và các hành vi của Người, làm cho người ta phải tự đặt câu hỏi (xem Mt.13,55-56;8,27;21,10).

b- Lặp lại

        Đức Giêsu đã truyền đạt cho chúng ta nhiều điều khác nhau. Người đã dạy cùng một điều trong nhiều lần. Người đã dùng kỹ thuật lặp đi lặp lại cùng một sự việc nhiều lần để nó hoàn toàn được khắc sâu trong tâm trí của các môn đệ. Kiểu mẫu điển hình nhất là câu chuyện về ngày phán xét, mà qua đó người ta gặp thấy bản liệt kê sáu công việc của lòng thương xót. Chính là nhằm mục đích làm cho các môn đệ của Người không bao giờ quên, làm cho các ông dùng nó như một chương trình sống và sau đó lặp lại.

          Người đã diễn giải về Nước Trời xuyên qua mười sáu dụ ngôn khác nhau. Giữa những chủ đề quen thuộc, chúng ta gặp thấy việc nguyện cầu, sự tha thứ và lòng tin.

c- Bằng hình ảnh & dấu chỉ

         Vị Thầy xứ Nazareth đã có phương pháp sư phạm tuyệt diệu để giảng dạy xuyên qua những biểu tượng thắm đượm một sứ điệp mà toàn thể thế giới có thể khám phá thấy, và một sự tăng tiến không thể nào quên được.

         Chúng ta không thể tưởng tượng Đức Giêsu tiến hành một giáo trình dựa theo "phong cách của Isaia" hoặc "khoa chú giải cổ điển thời kỳ sau lưu đày". Người bằng lòng với việc nói về Nước Trời. Không bao giờ Người giảng dạy bằng những lý thuyết mới cũng không công bố những tín lý mới, nhưng dùng những hình ảnh và những gương mẫu để truyền đạt điều không thể diễn tả được. Lời của Người là những "chuyện kể nho nhỏ" đầy lợi ích khiến cho mọi người chú ý và cho phép mỗi một người rút ra kết luận của riêng mình. Đức Giêsu không công bố một bộ Giáo Luật cũng không công bố một sách công thức về luân lý, thậm chí ngay cả một bộ thập giới cũng không, Người đã kể lại những "câu chuyện nho nhỏ" mà người ta có thể áp dụng cho tất cả những phương diện của cuộc sống.

           Cũng vậy, khi những người nghèo khốn chiêm ngưỡng những bông hoa đồng nội hay những chú chim trời, thì họ quên đi mối lo lắng bận tâm của mình. Khi một người đàn bà nắm trong tay một viên ngọc quí, bà ta nhớ ngay đến những gì là Nước Trời. Khi một bác nông phu gieo giống trên đồng ruộng của mình, bác hiểu về Lời Chúa rõ ràng hơn. Khi một người đến ngân hàng để lấy những lãi suất của mình, người ấy thấy rằng dụ ngôn về nén bạc bị chôn dưới đất có tầm quan trọng như thế nào. Những người thợ mộc hiểu được một cách đầy đủ rằng Đức Giêsu là cánh cửa, những ông chủ xí nghiệp thực hiện cách tuyệt vời dụ ngôn về tên quản lý bất hảo, còn những bác ngư phủ thì càng chẳng gặp chút khó khăn nào khi bước vào mầu nhiệm Nước Trời vì Nước ấy được ví như một mẻ lưới đầy cá.

          Do đó, mỗi khi người ta nhìn thấy một trong những điều đó, thì nó có trách nhiệm lặp lại sứ điệp. Nhờ vào phương pháp thính thị ấy, tất cả mọi tạo vật đều trở thành dụng cụ rao giảng Tin Mừng cả.

        Vả lại, như một vài Ngôn sứ, Đức Giêsu thực hiện những hoạt động biểu trưng mà qua đó điều quan trọng nhất chẳng phải là sự kiện xảy ra nhưng chính là ý nghĩa riêng của sự kiện ấy:

 - Loan báo Tin Mừng cho người nghèo khó (Lc.3,18)

 - Tha thứ tội lỗi (Mc.2,1-12)

 - Chữa lành trong ngày Sabbat (Mc.3,1-5)

 - Đuổi những kẻ buôn bán ra khỏi Đền Thờ (Ga.2,13-22)

 - Rửa chân cho các môn đệ (Ga.13,1-17)

 - Biến cố Phục Sinh.

          Tất cả những dấu chỉ ấy hoàn toàn chuyên chở sứ điệp. Chúng là những hạt giống chứa đầy những chân lý vĩ đại.

d- Thực hiện các sự việc

          Ngoài những lời giáo huấn ra, Đức Giêsu còn giảng dạy bằng chính mẫu gương của Người. Cách sống của Người là lời giáo huấn vĩ đại nhất: Cách sống của một người Con Thiên Chúa! Chỉ cần quan sát cách ứng xử của Người cũng đủ rút ra hình thức tốt đẹp của đời sống trên trần thế nầy. Chính vì thế mà cuối cùng Người đã nói: "hãy học nơi Thầy" (Mt.11,29). Người ta biết nhìn nhận rằng Đức Giêsu là một vị thầy khác hẳn những người thầy khác vì một lý do duy nhất, đó là Người đã làm và đã sống tất cả những gì mà Người rao giảng.

          Đức Giêsu đã không tổ chức một hội nghị nhằm mang lại những loạt bài nói chuyện về sự tha thứ, nhưng Người đã tha tội cho người gái điếm, cho Gia- kêu, cho Phêrô đã chối Thầy ba lần, và cách đặc biệt nhất là tha thứ cho những kẻ đã đóng đinh mình: "Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm." (Lc.23,34).

         Vị Thầy đã không cần đưa ra một giáo trình giảng dạy về sự nghèo khó. Người thật nghèo: không có tiền bạc, của cải, không có nơi tựa đầu. Người cho hết tất cả và trong ngân sách của cộng đoàn, Người chẳng có gì để nuôi sống các môn đệ cả.

          Chẳng bao giờ Người sử dụng nguyên ngữ Hi lạp hoặc Hibálai để giảng giải về tình yêu, nhưng Người đưa ra bằng chứng vĩ đại nhất về tình yêu: Hiến mạng sống mình cho kẻ mình yêu (xem Ga.15,13).

           Đức Giêsu nói rằng Người là mục tử tốt lành bước đi đằng trước và chiên của Người đi theo sau. Những người chăn chiên ở Israel không đi sau đàn chiên, nhưng đi trước chúng.

           Hiệu quả chiến đấu của quân đội Do Thái là ở chỗ giữa các cấp chỉ  huy không có ra lệnh: "xung phong" nhưng: "hãy theo tôi". Viên chỉ huy không bao giờ ẩn núp cũng như không ra các chỉ thị từ bàn giấy của mình, nhưng ông ta là người đầu tiên đi lên phía trước, trước khi yêu cầu các thuộc cấp của mình cũng làm như thế. Ông ta làm gương và thực hiện mọi điều trước khi yêu cầu những người khác làm.

           Đức Giêsu làm mọi sự trước đã sau đó mới rao giảng những điều ấy. Tất cả những giáo huấn của Người được bảo chứng trước bằng chính gương mẫu của Người. Chính ở đó mà cắm rễ sự vượt trỗi của Người trên các thầy ký lục và biệt phái vốn có những lời giảng dạy hoa mỹ nhưng lại không đem ra thực hành. Quyền của Đức Giêsu không đặt nền tảng trên bất cứ một chức tước nào nhưng đặt trong những gì mà Người sống tất cả những điều mà Người rao giảng.

            Thật khác với công việc của chiếc chuông gióng tiếng để mời gọi chúng ta đến dự lễ nhưng chẳng bao giờ bước xuống khỏi tháp chuông để tham dự vào Bí Tích Thánh Thể cả. Đôi khi có những mục tử thay vì thực hiện các sự việc thì lại ra lệnh cho người khác thực hiện.

            Đằng khác, đối với Người, điều quan trọng không phải là nhồi nhét đầy tri thức cho các môn đệ của mình, điều mà Người muốn chính là mỗi người trong số họ sống những lời nói của mình. Người chẳng mong phải có một đám cử toạ nghe

          Lời của Người, nhưng muốn có những môn sinh là những con người trung thành thực hiện sứ vụ của Người. Điều quan trọng nhất đối với Thầy không phải là xây nên một trường đại học dạy làm giáo hoàng, nhưng là một “phòng thí nghiệm” mà ở đó người ta có thể thực hành những gì mà Người giảng dạy.

          Ngôi trường của Người là một xưởng thợ ở đó lời giáo huấn phải được kiên định. Dấu hiệu xác định các môn đệ của Người không phải là một trình độ về kinh tế hay một chức danh, nhưng là họ có sống những gì mà Người dạy dỗ hay không: "Nếu anh em ở lại trong lời của Thầy, thì anh em thật là môn đệ của Thầy" (Ga.8,31).

e- Yêu quí nhóm môn đệ

          Đức Giêsu có một sự gắn bó đặc biệt với các môn đệ hơn với tất cả những người khác. Các ông đã chiếm phần quan trọng nhất trong sự tha thiết và lòng yêu thích của Người. Sau đây là một vài thái độ đặc biệt của Đức Giêsu dành cho các môn đệ của Người:

 - Giảng giải cho các ông cách đặc biệt (xem Mc.4,34)

 - Lên thuyền với các ông (xem Mc.8,10)

 - Dạy dỗ các ông (xem Mc.9,31)

 - Tập cho các ông cầu nguyện (xem Lc.11,1)

 - Các ông là những kẻ được Người yêu thích hơn (xem Lc.12,1)

 - Dùng tiệc Vượt Qua với các ông (xem Mc.14,14)

 - Rửa chân cho các ông (xem Ga.13,5)

 - Chính các ông mà Người hiện ra cho trước nhất (xem Ga.21,14).

            Đức Giêsu quan tâm đến các môn đệ hơn là đám người đông đảo đi theo Người. Chính với các ông mà Người đã mạc khải những điều mà các Ngôn sứ và các vua chúa ước ao được nhìn thấy hoặc được nghe. Người thường lánh mình xa các đám đông và lui về với các môn đệ của mình để được ở một mình với các ông.

                  " Nhưng đặc biệt, Người giảng giải mọi điều cho các môn đệ (Mc.4,34).

           Người ta gặp thấy trên Núi Cây Dầu một tu viện danh tiếng dưới tên gọi là nguyện đường "Kinh Lạy Cha." Các du khách, mải mê mẫn vì tính chất đa dạng của các thứ tiếng mà lời kinh tuyệt vời ấy được viết lên, lại bỏ qua không nhìn thấy một hang đá nhỏ mà ở đó Đức Giêsu thường giảng dạy cho các môn đệ. Được bao bọc trong lòng đất, trong an bình và tĩnh lặng, Thầy đã trải qua nhiều thời gian dài trong sự mật thiết với các môn đệ, xa hẳn tiếng ồn ào và công việc thường nhật.

f- Giáo Án: Thiên Nhiên

          Đức Giêsu đã không có một thư viện đồ sộ với các cuốn sách bằng nhiều thứ tiếng, nhưng những chú chim trời, những cánh hoa đồng nội hay một mẻ lưới đầy cá giúp cho Người làm thành sách giáo án.

         Những con cáo, những con chim bồ câu, những con rắn; người chăn chiên, vườn nho, ngay cả một tên trộm, cũng đều là những gì mang chở sứ điệp. Hạt giống cây cối và các tổ chim; tiếng sấm, tia sét và các đám mây đều giúp Người làm thành phương tiện truyền thông. Nói cho cùng, sách giáo án của Người chính là thiên nhiên.

g- Trường Học: Cuộc Sống

           Ngôi trường dạy học của Đức Giêsu không mấy giống với những trung tâm đào tạo Kitô hữu hay các chủng viện của chúng ta. Không phải là trước một tấm bảng đen, nhưng là tại bàn ăn, nơi những người biệt phái tranh nhau chiếm chỗ cao nhất, mà Đức Giêsu giảng dạy: "Còn anh em, anh em đừng làm như thế. Trái lại, ai lớn nhất trong anh em thì xử sự như người nhỏ nhất"

           Đức Giêsu giảng dạy với các biến cố, hơn là với các lý thuyết hoặc những giáo điều thuộc nằm lòng. Thầy sử dụng tất cả mọi hoàn cảnh để mạc khải cho các môn đệ những mầu nhiệm Nước Trời: Một bà goá làm việc bố thí, một kho tàng được ẩn giấu, một cuộc hành hung trong sa mạc hay một đám cưới.

          Nhưng điều quan trọng nhất của ngôi trường chính là Vị Thầy. Người ở đâu thì các môn đệ cũng ở đấy, những gì mà Người nói đều là chân lý và nên sống như Người sống. Người chính là sự sống.

          Khi Gioan Tẩy Giả nhận ra Đấng Mêsia và bảo: "Đây Chiên Thiên Chúa", thì hai môn đệ giỏi nhất của ông liền đi theo Đức Giêsu đang đi qua sa mạc. Tức thì, Thầy quay lại và hỏi các ông: "Anh em tìm gì?".  Ngạc nhiên, hai ông thưa: "Thưa Thầy, Thầy ở đâu?"  Các ông đã nhìn nhận Đức Giêsu là một Vị Thầy giảng dạy cách sống và chính vì thế mà các ông hỏi Người ở đâu; bởi vì khi được sống với Người, các ông sẽ học được cách sống  như Người. Từ lúc đó, các ông rời bỏ Ngôi Trường của vị Tẩy Giả và ghi tên vào Trường của Vị Thầy xứ Nazareth.

h- Kiểu để mẫu học tập: một em bé

  Kiểu mẫu tuyệt hảo nhất để diễn giải Nước Trời là một em bé. Nếu người ta không nên giống như nó, người ta không thể trở thành môn đệ của Người. Kẻ mà có thể chỉ rõ nhất về Nước Trời không phải là một người khôn khéo nơi trường học của các bậc thầy ở Giêrusalem, nhưng là một em bé đặt lòng tin tưởng và luỵ thuộc vào cha nó (xem Mc. 10, 15).

  Trích dịch trong cuốn: La Formation des Disciples của  José Prado Flores.

     José Prado Flores, người Mêhicô, là cha của bốn người con. Sau những nghiên cứu về cổ điển, ông chuyển sang nghiên cứu Kinh Thánh tại Mehicô. Ông theo một khoá thực tập nghiên cứu Giáo lý tại viện " Lumen Vitae" ở Bỉ rồi quay trở về châu Mỹ Latin, ở đó ông chuyên tâm vào việc đào tạo những người rao giảng Tin Mừng.  Ông đã cho xuất bản trên 30 cuốn sách, và là đồng tác giả của những cuốn sách của cha Emiliano Tardif.

Về mục lục >

 

 

CẦU NGUYỆN


CẦU NGUYỆN VỚI KINH THÁNH

XỨC DẦU TẠI BÊTANIA

 

Hoàng Quý

Trong bài lần trước, chúng tôi đã giới thiệu với quý độc giả Phương Pháp Gặp Gỡ Lời Chúa để từ đó chúng ta đi vào cầu nguyện một cách thâm sâu và sốt sắng hơn. Trước tiên để khởi động cho giờ cầu nguyện với Kinh Thánh này, chúng tôi xin mời quý độc giả thao diễn các động tác giúp chúng ta mời Chúa đến hiện diện tràn ngập trong chúng ta. Cầu nguyện không gì khác hơn là khai mở bầu không khí nối kết, tận hiệp với Chúa. Những thao tác này chúng tôi đã trình bầy trong bài lần trước và hôm nay chúng tôi xin phép được lặp lại tại đây. Hy vọng, trong tất cả các giờ cầu nguyện của chúng ta dành cho Chúa, chúng ta cũng hãy lặp lại các thao tác này và chúng ta sẽ nhận ra những động tác này sẽ đưa chúng ta đi vào cầu nguyện thật dễ dàng và hiệu lực.

Để khởi động bước vào cầu nguyện với bài Tin Mừng, chúng tôi mời quý độc giả thực hiện các «thao tác cầu nguyện» sau đây giúp chúng ta đi vào cầu nguyện một cách tốt đẹp hơn.

1/ Mời Chúa Thánh Linh đến cầu nguyện

Chúng ta có thể giơ hai bàn tay lên cao mời Chúa Thánh Linh đến với tâm hồn chúng ta, rồi từ từ chúng ta đưa hai bàn tay áp vào ngực để xin Ngài ngự trị tâm hồn, và sau đó hai bàn tay xuôi xuống hai chân để xin Ngài xua đuổi mọi tà khí, mọi lo toan, mọi bệnh hoạn ra khỏi con người chúng ta. Và cứ thế chúng ta lặp lại các động tác vừa rồi chừng ba hoặc bốn lần, cho tới khi chúng ta cảm nghiệm được Chúa Thánh Linh đã hiện diện tràn đầy trong chúng ta.

2/ Mời Chúa Cha và Chúa Giêsu đến

Chúng ta cũng lặp lại các tác động vừa rồi để mời Chúa Cha và sau đó mời Chúa Giêsu đến hiện diện trong tâm hồn chúng ta. Với những tâm hồn yêu mến Đức Mẹ, chúng ta cũng mời Đức Mẹ đến hiện diện. Và từ đây chúng ta sẽ cảm nghiệm được cả «Gia Đình Chúa» đang hiện diện sống động trong tâm hồn chúng ta.

3/ Ca ngợi Chúa

Sau khi chúng ta mời gia đình Chúa hiện diện trong buổi cầu nguyện, việc kế tiếp là chúng ta ngỏ lời chúc tụng và cảm tạ lên Thiên Chúa Ba Ngôi bằng cách chúng ta hát một bản thánh ca hoặc đọc một lời kinh. Với những ai đã nhận được ơn tiếng lạ, chúng ta hãy cầu nguyện bằng tiếng lạ. Chúng ta cũng có thể mở nhạc thánh ca và hát theo đó để chúc tụng và cảm tạ Chúa.

4/ Tâm tình với Chúa

Đây là những giây phút Thiên Chúa yêu thích nhất. Ngài đến với chúng ta để mong gặp gỡ, nối kết thân tình với chúng ta. Những tâm tình đầu tiên Ngài mong đợi nơi chúng ta chính là những tâm tình chúng ta tập trung vào Ngài, chứ không phải vào chúng ta. Những tâm tình đó là những lời chúc mừng Ngài, biết ơn Ngài, yêu mến Ngài và tín thác nơi Ngài. Chúng ta hạn chế tối đa những lời thở than, ưu phiền với các Ngài, vì các Ngài biết hoàn cảnh của chúng ta hơn cả chính chúng ta. Hãy quy phục nơi các Ngài tất cả và tín thác nơi các Ngài. Điều đó sẽ làm hài lòng các Ngài rất nhiều.

5/ Cầu nguyện với Kinh Thánh

Sau khi chúng ta đã trao đổi tâm tình vói Ngài, đây là giờ phút Ngài muốn nói chuyện với chúng ta. Ngài nói với chúng ta qua Lời Hằng Sống của Ngài trong Kinh Thánh. Vậy chúng ta hãy mở Kinh Thánh và đọc bài Sách Thánh chúng ta muốn.

Hôm nay chúng ta cầu nguyện theo bài Tin Mừng «Xức dầu tại Bêtania»  Chúng ta sẽ đi theo phương pháp suy niệm đã được giới thiệu trong bài lần trước với bốn bước khai triển.

Xức Dầu Tại Bêtania (Mc 14: 3-9)

«Lúc đó, Đức Giê-su đang ở làng Bê-ta-ni-a, tại nhà ông Si-mon Cùi. Giữa lúc Người dùng bữa, có một người phụ nữ đến, mang theo một bình bạch ngọc đựng dầu thơm cam tùng nguyên chất thứ đắt tiền. Cô đập ra, đổ dầu thơm trên đầu Người. Có vài người lấy làm bực tức, nói với nhau: “Phí dầu thơm như thế để làm gì? Dầu đó có thể đem bán lấy trên ba trăm quan tiền mà bố thí cho người nghèo”. Rồi họ gắt gỏng với cô. Nhưng Đức Giê-su bảo họ: “Cứ để cho cô làm. Sao lại muốn gây chuyện? Cô ấy vừa làm cho tôi một việc nghĩa. Người nghèo thì lúc nào các ông chẳng có bên cạnh mình, các ông muốn làm phúc cho họ bao giờ mà chẳng được! Còn tôi, các ông chẳng có mãi đâu! Điều gì làm được thì cô đã làm: cô đã lấy dầu thơm ướp xác tôi, để chuẩn bị ngày mai táng. Tôi bảo thật các ông: Hễ Tin Mừng được loan báo đến đâu trong khắp thiên hạ, thì nơi đó việc cô vừa làm cũng sẽ được kể lại để nhớ tới cô».

1/ Bối cảnh bài Tin Mừng

Chúa Giêsu đang ở tại kinh thành Giêrusalem. Và còn hai ngày nữa người Do Thái ăn mừng lễ Vượt Qua. Các thượng tế và kinh sĩ đang tìm cách bắt Chúa, nhưng họ phải khựng lại vì trong ngày đại lễ không nên gây chuyện náo động. Trong lúc đó, Chúa Giêsu đang ở Bêtania cách Giêsrusalem không bao xa, trong nhà ông Simon Cùi. Hôm ấy ông Simon thết đãi Chúa bữa ăn. Nghe tin Chúa đang có mặt tại nhà ông Simon, nhiều người tuốn đến nhìn xem Chúa, trong số đó, có một phụ nữ cũng tìm đến với Ngài.

2/ Người phụ nữ với bình ngọc

Theo Tin Mừng Thánh Gioan, người phụ nữ xức dầu thơm cho Chúa là Maria, em ông Lazarô, trong khi đó, hai Tin Mừng Matthêu và Marcô không xác định phụ nữ này là ai. Còn theo sự phỏng đoán của nhiều người, phụ nữ này có thể là bà Mađalêna, một người tội lỗi đã ăn năn trở lại.

Dầu bất cứ là ai, người phụ nữ này phải là người cảm mến Chúa Giêsu rất nhiều, do đó khi nghe Ngài đang có mặt tại nhà ông Simon Cùi, cô đã hối hả tìm đến gặp Ngài, tay mang theo bình ngọc đựng loại dầu thơm quý giá với ý định xức dầu cho Chúa. Khi vừa gặp được Chúa Giêsu, không một phút chần chừ tiếc nuối bình ngọc đựng dầu thơm quý giá đã dành dụm trong cuộc sống, hoặc mắc cỡ trước đám đông, cô quyết liệt bẻ cổ bình ngọc và vội vã xức dầu thơm lên đầu Ngài. Hành động bẻ cổ bình ngọc là một hành động quyết liệt và dứt khóat quên đi chính mình để trọn vẹn quy hướng về Chúa, quy phục Chúa hoàn toàn và dâng lên Chúa tất cả những gì quý giá nhất của cuộc đời mình. Phải chăng hành động này Chúa không mong muốn các tín hữu của Ngài ngày hôm nay cũng phải bẻ cổ bình ngọc cuộc đời mình dâng hiến Ngài như thế?

Từ những suy niệm vừa rồi, chúng ta đi vào cầu nguyện tâm tình với Chúa:

Chúa Giêsu ơi, người phụ nữ này phải là người cảm mến Chúa nhiều lắm khi dám bẻ cổ bình ngọc quý giá mà cô đã chắt chiu trong cuộc sống của cô, có thể là cuộc sống tội lỗi. Gặp được Chúa cô không tiếc gì với Chúa, kể cả việc phải bẻ bình ngọc với một thái độ đầy quảng đại và quyết chí. Việc bẻ bình ngọc quý giá này hẳn phải gây cho cô một sự mất mát to lớn cô hằng trân trọng gìn giữ trong suốt cuộc đời cô. Nhưng cô biết cô không có gì tỏ ra thái độ biết ơn và quý mến Chúa, hơn là phải dâng bình ngọc như lễ hy tế ca ngợi Chúa, và xức dầu lên đầu Chúa như những lời chúc tụng cao quý nhất của cuộc đời cô.

Phân tách thái độ và cử chỉ yêu mến và hiến dâng của người phụ nữ tội lỗi này đối với Chúa, sao con cảm thấy mình hèn mọn và kém cỏi thế, Chúa ơi? Chúa yêu thương con nhiều lắm, Chúa cho con nhiều lắm, nhưng rồi, đã lần nào con có thái độ dâng hiến quảng đại và nhiệt thành như người phụ nữ tội lỗi này chưa? Con nghĩ mình là một tín hữu ngoan đạo từ nhỏ tới nay, nhưng đã lần nào con xức dầu cho Chúa bằng những lời ca ngợi nhiệt tình, những dấn thân loan báo Tin Mừng cho nhiều người biết tới Chúa chưa? Người phụ nữ này đã tập trung sự chú ý, sức sống vào Chúa như là trung tâm cuộc đời cô, do đó cô không tiếc Chúa một điều chi, kể cả việc phải quyết liệt bẻ bình ngọc quý giá nhất cuộc đời mình để chúc tụng Chúa. Còn con, Chúa ơi, con đã yêu Chúa với hết tâm hồn, hết trí khôn, hết sức lực như người phụ nữ tội lỗi này chưa? Càng suy nghĩ, con càng cảm thấy xấu hổ đã xử đối kém cỏi với Chúa, thua xa người phụ nữ tội lỗi này. Xin nâng con lên cao Chúa ơi, khỏi lối sống thụ động, ích kỷ, nguội lạnh của con.  Và thay vào đó, con muốn dâng lên Chúa những lời ca tán dương và cảm tạ Chúa, như những dầu thơn xức lên đầu Chúa. Xin Chúa biến đổi con trở thành một tâm hồn biết quảng đại và ca ngợi Chúa thường xuyên. Con dám nguyện xin điều đó, nhân danh Chúa Giêsu, Chúa của con. Amen.

3/ Các môn đệ đòi đem bán bình dầu thơm

Trước thái độ người phụ nữ tội lỗi bẻ bình dầu thơm mắc tiền xức lên đầu Chúa, một số người ngồi chung quanh và có lẽ cả những môn đệ của Chúa nữa, nóng mặt lên và bực tức vì cho rằng cô đã làm một việc phí phạm đối với Chúa. Họ cho rằng nên đem bình dầu thơm đó đem đi bán để bố thí cho người nghèo khó, còn ích lợi hơn là xức lên đầu Chúa.

Chúa ơi, những môn đệ của Chúa, những người ngồi đồng bàn với Chúa, họ đối xử keo kiệt với Chúa như thế đấy. Họ vịn cớ lo cho người nghèo làm chiếc bình phong che đậy sự bủn xỉn và tính toán của mình. Họ tức giận cả với những người tỏ ra yêu mến Chúa và quảng đại với Chúa hơn họ. Họ muốn ngăn cản cả những tâm hồn đầy nhiệt tình với Chúa và không muốn cho ai qua mặt họ. Trước mặt Chúa đấy, họ còn đối xử như thế, huống hồ khi khuất mặt Chúa, khi vắng bóng Chúa hiện diện giữa họ. Chúa ơi, con có thuộc vào số những người ngồi đồng bàn với Chúa như vậy không? Nếu quả thực con đã không biết hy sinh bẻ bình ngọc bằng những hy sinh, những cố gắng tìm đến cầu nguyện và ca ngợi Chúa, thực sự con cũng thuộc thành phần này rồi. Nếu quả thực, con không biết quý trọng Chúa bằng những lời ca ngợi và tạ ơn, làm sao con có thể yêu thương và quý trọng người nghèo khổ để bố thí cho họ? Những việc bố thí của con cho người nghèo khi vắng bóng tình yêu Chúa, thường chỉ là những việc làm khoa trương, làm nổi bật chính con. Không thể có tình yêu thương anh em đậm đà được, khi chính con thiếu yêu thương Đấng là suối nguồn của tình yêu.

Lạy Chúa Thánh Linh, xin đến giúp con biết yêu mến Chúa Giêsu thực sự như người phụ nữ này. Cô tập trung tất cả tình yêu thương vào chính Chúa và hy sinh cũng như quên đi tất cả, để dâng hiến Chúa trọn vẹn tâm hồn và thể xác cô. Xin cho con sống trung thực với Chúa, không giả hình che đậy nếp sống nghèo hèn tâm linh của con, không bực bội khi thấy người khác nhận được nhiều ơn Chúa hơn con, không phê bình chỉ trích người khác hoạt động tông đồ nhiệt tình và thành công hơn con. Con biết chỉ có khi nào con nhìn lên Chúa, tập trung vào Chúa và ca ngợi Chúa, lúc đó con mới sống quảng đại và cao cả như người phụ nữ tội lỗi này. Xin Chúa chữa lành tâm hồn con. Con nguyện xin như thế, nhân danh Chúa Giêsu, Đấng Cứu Chúa của con. Amen.

4/ Chúa Giêsu công bố: Cô ấy vừa làm cho tôi một việc nghĩa

Đọc bài Tin Mừng lần này tôi lại chú ý tới câu Chúa Giêsu khen người phụ nữ tội lỗi đã làm một việc nghĩa cho Ngài. Việc nghĩa ở đây chính là việc người phụ nữ xức dầu thơm cho Chúa. Và việc nghĩa này Chúa coi cao trọng và quý giá hơn việc bố thí. Cô xức dầu không phải cho người nghèo khổ, hay cho một nhân vật vị vọng nào của trần gian, nhưng cho chính Chúa là Vua trời đất, Đấng Tạo Thành và Đấng Cứu Độ cô. Cô đã bộc lộ lòng ăn năn thống hối cuộc đời tội lỗi của cô bằng những hành động tích cực và quyết liệt nhất, khi cô dám bẻ bình dầu thơm quý giá nhất của cô và xức dầu lên đầu Chúa. Như vậy, đối với Chúa, việc xức dầu cho Ngài bằng những lời ca tụng và tạ ơn trong thái độ thống hối, làm đẹp lòng Ngài nhất. Chính vì thế, hành động xức dầu này của cô đã được Chúa cho lưu danh tới thiên thu và tới tận cùng trái đất, trong lúc những công trình vĩ đại khác kiến tạo cho Chúa, cũng chỉ tồn tại ngắn ngủi với thời gian.

Chúa ơi, thì ra hôm nay con hiểu biết thêm Chúa muốn con hãy xức dầu thơm cho Chúa bằng những lời ca ngợi và tạ ơn Chúa. Chính trong lúc cô xức dầu thơm cho Chúa như vậy, cô được Chúa xức dầu lại cho cô sống cuộc đời mới thánh thiện hơn và tên tuổi cô được trời cao ghi khắc. Không còn một hành động thống hối nào cao cả và đẹp đẽ hơn hành động xức dầu của cô cho Chúa. Xin Chúa Thánh Linh giúp con sống thái độ thống hối và yêu mến Chúa Giêsu tràn đầy như cô. Con chán với lối sống đạo hình thức, khô khan, thụ động và câu nệ không giúp con cất cánh bay lên cao với Chúa được. Xin giúp con sống lối sống quảng đại biết nhìn lên Chúa, biết tập trung vào Chúa hơn là nhìn vào con, tập trung vào con. Chỉ biết sống như vậy, con mới đáng được Chúa tha thứ, chữa lành và cất nhắc con lên cao với Chúa. Xin chúc tụng và cảm tạ Chúa đến muôn đời. Amen.

Ngoài những suy niệm và dâng lên Chúa những lời cầu nguyện ở trên, thỉnh thoảng chúng ta dành ra những khoảnh khắc để lắng nghe Chúa muốn nói với chúng ta thêm gì nữa không? Tiếng nói của Chúa thật êm đềm, nhỏ nhẹ, khi nào tâm hồn chúng ta im bặt mọi lo toan, mọi sợ hãi, mọi tức giận, mọi phân tâm. Như Maria, chúng ta hãy ngồi dưới chân Chúa, nhìn lên Chúa và thưa với Chúa như Samuel: «Lạy Chúa xin hãy nói, con đang nghe đây!»

Như vậy cầu nguyện với Kinh Thánh là những phút giây cầu nguyện quý giá nhất. Đây là cuộc đối thoại giữa Chúa và tâm hồn thâm sâu nhất. Đây là một lần chúng ta ca ngợi Chúa thật tốt đẹp. Đây cũng là một lần Chúa dậy dỗ chúng ta nhiều nhất. Cầu chúc quý độc giả thành đạt với chiêu thức cầu nguyện với Kinh Thánh này.

Về mục lục >

 

 

TU ĐỨC

ĐƯƠNG ĐẦU VỚI NHỮNG PHỨC TẠP CỦA BẢN THÂN.

 

Lm. Ron Rolheiser, OMI

Maranatha dịch từ The Tidings

 

Sự thánh thiện và toàn vẹn, nói cho cùng, cũng chỉ là một. Nên thánh là nên vẹn toàn. Điều này không đáng ngạc nhiên, vì ân sủng được xây dựng và triển nở trên những phương diện tự nhiên của con người. Nhưng vấn đề là làm thế nào để đạt được sự toàn vẹn.  Vì sao như vậy?

Bởi vì tất cả chúng ta đều phức tạp một cách bệnh hoạn đến nỗi chúng ta dành phần lớn cuộc đời mình để cố gắng tìm hiểu xem mình thực sự là ai, và mặc cho mình nhiều nhân cách khác nhau như mặc thử quần áo vậy. Xin kể cho các bạn ví dụ như thế này:

Một lần nọ, đọc được một bài phỏng vấn bà Catherine de Hueck Doherty, một nữ Nam tước người Nga, vị sáng lập Hội Tông Đồ Đức Mẹ. Bà đã hơn 80 tuổi, và khi suy tư về những chiến đấu trong cuộc hành trình tâm linh của mình, bà đã cho biết như sau:

“Dường như trong tôi có ba con người. Có một người mà tôi gọi là một bà Nam tước. Đây là một người tâm linh, sống cuộc đời khổ hạnh và cầu nguyện. Đấy làm một người đạo đức. Bà ấy là người đã lập dòng tu, viết sách đạo đức, và cố gắng hy sinh đời mình cho người nghèo. Bà Nam tước này chính là người bức xúc trước thế sự đời này và cố gắng hướng mắt nhìn tập  trung vào những điều ở  đời sau.

“Nhưng trong tôi, đồng thời cũng có một con người khác mang tên là Catherine. Catherine là một phụ nữ chỉ thích hưởng thụ của ngon vật đẹp, xa xỉ, khoái lạc. Cô ấy thích nhàn hạ, tắm rửa lâu giờ, áo quần lượt là, điểm trang son phấn, thích ăn đồ ngon, uống rượu quý, và vì có chồng, nên cũng thích chuyện chăn gối lành mạnh. Cô Catherine này thích hưởng thụ và không muốn từ bỏ để sống nghèo. Cô ấy không đạo đức như bà Nam tước, trái lại, còn ghét bà Nam tước và căng thẳng với bà ấy.

“Và rốt hết, trong tôi lại có một con người khác nữa. Đó là một cô bé, nằm chơi trên sườn đồi xứ Phần Lan, thích nhìn mây bay và mơ mộng. Cô nhỏ ấy khác xa cả bà Nam tước lẫn cô Catherine.

      “Càng về già, tôi thấy mình càng giống bà Nam tước nhiều hơn, nhưng lại nhớ Catherine nhiều hơn, nhưng nghĩ kỹ thì có lẽ mình thực sự là cô gái bé nhỏ mơ mộng trên sườn đồi xứ Phần Lan.”

    Những lời này phát xuất từ một bậc thầy về linh đạo, một người hầu như đã đạt được sự toàn vẹn cũng như thánh thiện sau cuộc hành trình dài tìm kiếm và chiến đấu cam go, chứ không phải của một người tập tễnh bước vào con đường hoán cải. Nhận định của bà làm nổi bật hai điều, (1) con người chúng ta thì phức tạp biết bao và (2) con đường trở nên toàn vẹn thì khó khăn chừng nào.

Như bà Catherine Doherty, tất cả chúng ta cũng đều có nhiều con người khác nhau như thế bên trong bản thân mình. Trong mỗi chúng ta đều có một con người biết được những đòi hỏi chân lý của Tin Mừng, được mời gọi sống đạo đức, cố gắng từ bỏ bản thân và biết rằng có nhiều điều quan trọng khác hơn là những thành tựu ở thế gian này, hơn tiện nghi và sắc dục. Nhưng đồng thời trong chúng ta cũng có một con người ham mê xác thịt, một con người muốn uống cạn chén rượu ngon của khoái lạc trần gian.  Và hơn thế nữa, trong mỗi chúng ta vẫn còn đó một cô bé hay cậu bé đang còn mơ mộng trên sườn đồi nào đó.

Triết gia Soren Kierkegaard đã định nghĩa một vị thánh là người “chỉ ước muốn một điều mà thôi.” Nhưng với những người khác nhau như thế trong bản thân mình, thì mình thực sự ao ước điều gì? Điều uớc muốn thẳm sâu nhất trong tận đáy tâm hồn và trái tim chúng ta là gì?

Đấy cũng là điều quan trọng, bởi lẽ ân sủng xây dựng trên phương diện tự nhiên của con người chứ không hủy diệt nó, thì thật là đơn sơ nếu cho rằng: sự thánh thiện chỉ là vấn đề con người “tinh thần” chiến thắng được con người ham thích thế gian trong ta, hay chiến thắng được đứa bé con vẫn còn hay mơ mộng trong con người mình. Sự toàn vẹn có nghĩa là làm thế nào để tất cả những con người khác biệt này trở nên trọn vẹn, hài hòa trong chính bản thân mình. Bỏ qua, phủ nhận, hủy diệt, vô hiệu hoá, hay làm ngơ bất kỳ một phần nào để chú trọng một phần khác thì chắc chắn không bao giờ đạt được sự toàn vẹn.

Sự thánh thiện bao gồm sự vẹn toàn; và một con người toàn vẹn, giống như Đức Kitô, là con người vừa uống rượu mà cũng vừa khổ chế; là con người vừa yêu mến cả đời này lẫn đời sau; con người vừa mơ mộng vừa thực tế, và bao nhiêu điều khác, tất cả cùng một trật. Trong hành trình đời sống tâm linh, điều chúng ta cần từ bỏ không phải là bản chất con người của ta, cho dù nó luôn mâu thuẫn, và lại có những lôi cuốn trái ngược nhau. Điều cần từ bỏ là bất cứ một công thức nào khiến ta nghĩ rằng ta có thể nên thánh dễ dàng, không căng thẳng, bối rối, và không cần phải bền chí kiên gan.

Sự thánh thiện cũng có nghĩa là đạt được sự bình an. Bình an không có nghĩa không có chiến tranh hay xung đột, nhưng là sự hòa hợp và trọn vẹn. Chúng ta đạt được sự bình an khi chúng ta giao hòa được những bất hòa---trong đó, mọi yếu tố đều được xem xét và đặt đúng vị trí của chúng. Cắt bỏ vài phần của bản thân chúng ta trong để tìm kiếm sự trọn vẹn thì tương tự như một nhà nghệ sĩ dương cầm cưa bỏ một phần bàn phím của mình. Việc chơi đàn có lẽ sẽ đơn giản hơn nhiều, nhưng đồng thời cũng không thể chơi đa số các bản nhạc được nữa.

Làm người là phức tạp một cách bệnh hoạn. Nhưng điều đó cho chúng ta thấy rằng mình giàu có chứ không phải nghèo nàn, và tỏ lộ rằng tất cả mọi phần trong chúng ta đều quan trọng trong hành trình thiêng liêng. Nhà văn-thi sĩ-triết gia Nikos Kazantzakis đã từng viết: “Tinh thần thì muốn vật lộn với xác thịt, mà xác thịt thì mạnh mẽ và luôn chống lại...bởi vì...cuộc chiến đấu càng quyết liệt bao nhiêu, thì sự bình an chung cục lại càng phong phú bấy nhiêu.”

Linh mục Rohanld Rolheiser, thuộc Hội dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ Vô Nhiễm, là chuyên viên trong lãnh vực linh đạo và thần học hệ thống.

 

Về mục lục >

 

 SỐNG ĐẠO

NGƯỜI KITÔ HỮU CẦN SỐNG TINH THẦN CHIA SẺ

 

Nguyễn Chính Kết

1. Chúng ta chỉ là những người quản lý những gì chúng ta có

Tất cả những gì chúng ta đang có trong tay, dù là vật chất hay tinh thần (đức độ, tài năng, chức quyền, địa vị, hay của cải, tiền bạc, v.v…) cũng đều do Thiên Chúa ban. Ngài muốn chúng ta tạm thời quản lý để làm những việc ích lợi cho Thiên Chúa và tha nhân, tức làm lợi cho Nước Trời. Chúng không phải là của ta, vì nếu chúng thật sự là của ta, thì chúng cũng phải theo ta về đời sau. Nhưng trong thực tế, khi lìa cuộc đời, ta phải để lại tất cả cho người khác. Do đó, xét cho cùng, chúng ta chỉ là những người quản lý tạm thời những gì chúng ta đang có, và phải sử dụng chúng theo ý muốn của người chủ đích thực của chúng là Thiên Chúa. Và chúng ta sẽ phải trả lẽ trước mặt Thiên Chúa về cách chúng ta quản lý chúng. Người quản lý nào không sử dụng của cải tiền bạc của chủ đúng theo ý chủ, nghĩa là không làm lợi cho chủ mà chỉ làm lợi cho mình, sẽ bị đuổi việc hoặc phải chịu trách nhiệm về cách quản lý sai trái ấy.

Để nói lên chân lý ấy, Đức Giêsu đã đưa ra dụ ngôn «ông nhà giàu và anh Ladarô nghèo khó» (Lc 16,19-31), trong đó, người phú hộ bị hình phạt dưới âm phủ, chịu lửa thiêu đốt và khát cháy cổ. Ông chịu hình phạt đó không phải vì phạm một tội ác nào (trong dụ ngôn này, Đức Giêsu không hề nói ông đã phạm một tội tích cực nào), mà chỉ vì sử dụng của cải Thiên Chúa ban để ích lợi duy nhất cho một mình mình hay gia đình mình. Dụ ngôn kể: ông nhà giàu «mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình», bỏ mặc người nghèo ở ngay trước cổng nhà mình «sống chết mặc bay!», phải chịu «mụn nhọt đầy mình», «mấy con chó cứ đến liếm ghẻ chốc anh ta», «thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rớt xuống mà ăn cho no» mà không hẳn được ai cho. Người phú hộ ấy – cũng như biết bao người giàu có khác – nghĩ rằng những gì mình đang có trong tay là của mình, mình muốn sử dụng hay hưởng thụ thế nào, cho ai hay không cho ai là tùy ý mình. Ông ta nghĩ rằng ông hoàn toàn vô tội khi không làm thiệt hại gì ai. Đối với những người nghèo khổ đến với ông, ông nghĩ ông có quyền không cho, và làm như thế ông không có lỗi gì với họ cả: ông có làm gì khiến họ bị thiệt hại đâu!

Nhưng việc ông phải chịu phạt dưới âm phủ chứng tỏ cách suy nghĩ như thế là hoàn toàn sai lầm. Ông không có hành động tích cực hay cụ thể nào gây bất công cho ai. Ông chỉ dùng của cải Thiên Chúa ban để hưởng thụ một mình mình, hay một mình gia đình mình, đồng thời làm ngơ hoặc không đếm xỉa gì đến những đau khổ của những người nghèo túng, bị áp bức chung quanh mình. Hành động như thế ông tưởng rằng không có tội, không gây bất công, nhưng thật ra trước mặt Thiên Chúa, ông đã phạm một tội bất công rất nặng, xứng đáng bị phạt như vậy. Vì tiền bạc của cải ông có, thật ra đâu phải là của ông khiến ông có toàn quyền sử dụng theo ý mình. Ông chỉ là người quản lý, và ông phải quản lý làm sao để chứng tỏ ông có tình thương, để làm lợi cho Nước Trời, là thứ xã hội lý tưởng trong đó mọi người luôn yêu thương nhau. Có thế ông mới xứng đáng được hưởng hạnh phúc trong Nước Trời, vốn chỉ dành cho những con người có tình yêu thương thật sự. Theo bài Tin Mừng về ngày phán xét cuối cùng (Mt 25,3146), rất nhiều người chẳng phạm một tội ác nào tích cực, thế mà chẳng thể vào được Nước Trời chỉ vì, như Chúa nói: «xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn; Ta khát, các ngươi đã không cho uống;  là khách lạ, các ngươi đã không tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã không cho mặc; Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đã chẳng thăm viếng» (Mt 25,4243).

2.      Của cải vật chất trên nguyên tắc là để mọi người hưởng dùng

Thiên Chúa tạo dựng nên của cải vật chất trên thế gian là cho tất cả mọi người hưởng dùng. Nhưng vì các cơ chế xã hội còn bất toàn, nên sự phân phối của cải chưa hợp lý, khiến cho xã hội còn nhiều bất công: «kẻ ăn không hết, người lần chẳng ra». Do đó, để sửa chữa hay giảm bớt bất công trong xã hội, những ai được cơ chế xã hội ưu đãi khiến mình giàu có hơn người, dù là giàu có một cách rất hợp pháp, phải biết chia sẻ cho những người nghèo khổ hơn mình, nhất là những người gặp cảnh cùng quẫn. Đó là nghĩa vụ mà lương tâm tự nhiên của con người đòi hỏi, không cần phải nại đến luân lý Kitô giáo. Cổ nhân ta có những câu như «Lá lành đùm lá rách», «Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn», «Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng». Việc xây dựng một xã hội công bằng, trong đó của cải được phân chia hợp lý, hay việc chống bất công, cũng là nghĩa vụ của mọi người, nhất là những người được Thiên Chúa ban cho nhiều khả năng làm việc ấy một cách hữu hiệu (những người có tài năng, chức quyền, có địa vị trong xã hội và Giáo Hội…)

Thiên Chúa của chúng ta là một Thiên Chúa công bằng và yêu thương, Ngài đã cho Con Một Ngài xuống thế để loan báo Tin Mừng về Nước Thiên Chúa hay Nước Trời và khởi đầu xây dựng nước ấy, trước hết tại trần gian, và sau đó là trên trời. Nước Trời là một xã hội hay Giáo Hội lý tưởng, trong đó mọi người đều đối xử với nhau không chỉ hợp với lẽ công bằng, mà còn phải đầy tình yêu thương nữa. Những người ích kỷ, chỉ biết hạnh phúc một mình, đầy đủ một mình, những người chủ trương ai chết mặc ai, ai khổ mặc ai, không thể là đối tượng của Nước Trời. Vì thế, những người theo Ngài, tức các Kitô hữu, có nhiệm vụ tiếp nối công việc của Ngài là làm chứng và xây dựng cho Nước Trời. Làm chứng là chính mình sống đúng tinh thần công bằng và yêu thương của Nước Trời ngay trong chính môi trường mình đang sống. Xây dựng là làm sao để trong môi trường mình sống ngày càng có nhiều người sống tinh thần ấy. Thiết tưởng mọi Kitô hữu cần ý thức và quan tâm tới chiều kích xã hội và giáo hội này.

3.      Những người giàu có, hạnh phúc, cần quan tâm giúp đỡ và chia sẻ với người nghèo túng, đau khổ

Qua bài Tin Mừng hôm nay, ta thấy Thiên Chúa không chấp nhận cho vào Nước Trời những người sống ích kỷ, không biết yêu thương, những người lãnh đạm hoặc làm ngơ trước những đau khổ, thế cùng quẫn, tình trạng bị áp bức, bóc lột mà những người chung quanh ta đang phải gánh chịu một cách bất công. Vì thế, một cách cụ thể, chúng ta cần biết chia sẻ, giúp đỡ họ, và phải làm một cái gì đó khi có thể. Nếu chúng ta có tình yêu đích thực, tình yêu ấy ắt sẽ khiến chúng ta bức xúc và không thể im lặng hay bất động trước những đau khổ người khác đang phải chịu trước mắt mình. Tình yêu đích thực không cho phép chúng ta hành động như anh nhà giàu trong bài Tin Mừng hôm nay, an tâm «mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình» trong ngôi nhà khang trang đầy tiện nghi, không thèm đếm xỉa đến nỗi cùng quẫn của những «Ladarô, mụn nhọt đầy mình, thèm được những thứ trên bàn ăn rớt xuống mà ăn cho no» đang nằm trước cổng nhà mình. Tình yêu đích thực không cho phép chúng ta khoanh tay ngồi nhìn những kẻ ác tự do gây bất công cho những kẻ thế cô, khi mà chúng ta có thể dùng tài năng hay địa vị của chúng ta để can thiệp.

Chúng ta sẽ phải trả lẽ trước mặt Thiên Chúa về những gì Thiên Chúa ban mà chúng ta lại không sử dụng để làm lợi cho Ngài và tha nhân. Dụ ngôn về nén bạc cho chúng ta biết điều ấy (xem Mt 25,1430; Lc 19,1227): Kẻ nào đem chôn nén bạc Chúa trao, dù chỉ là một nén, mà không sinh lợi ích cho Ngài, thì sẽ Ngài bị kết án: «Còn tên đầy tớ vô dụng kia, hãy quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài: ở đó, sẽ phải khóc lóc nghiến răng» (Mt 25,30). Do đó, chúng ta không thể tự hào mình vô tội chỉ vì mình không hề làm điều gì bất công. Coi chừng chúng ta là kẻ tội lỗi đáng kết án chỉ vì đã không làm những gì lương tâm và tình yêu thương đòi buộc phải làm, dù bởi lười biếng hay hèn nhát…

Về mục lục >

 

 CẦU NGUYỆN

XIN DÙNG CON THEO Ý CHÚA…

 

               Lm. Nguyễn Công Đoan, S.J.

 

Lạy Chúa, xin cứ dùng con theo ý Chúa,

Làm chân tay cho người què cụt,

Làm đôi mắt cho ai đui mù,

Làm lỗ tai cho người bị điếc,

Làm miệng lưỡi cho người không nói được,

Làm tiếng kêu cho người chịu bất công.

 

Lạy Chúa, xin cứ gởi con ra đồng lúa,

Để đem cơm cho người đói đang chờ,

Và đem nước cho người họng đang khô,

Đem thuốc thang cho người đang đau ốm,

Đem áo quần cho người đang trần trụi,

Đem mền đắp cho người rét đang run.

 

Lạy Chúa, xin cứ gởi con ra đường vắng,

Thắp đèn soi cho ai bước trong đêm,

Đốt lửa ấm cho những ai giá lạnh,

Truyền cảm thông cho lữ khách đơn côi,

Nâng phẩm giá cho kẻ đời chà đạp,

Đem tự do cho những kiếp đọa đày.

 

Lạy Chúa, xin cứ gởi con vào thôn xóm,

Đem an hòa cho những ai bất thuận,

Đem thanh bình cho kẻ sống âu lo,

Đem ủi an cho người đang sầu khổ,

Đem niềm vui cho những ai bất hạnh,

Đem vận may cho người gặp rủi ro.

 

Lạy Chúa, xin cứ dùng con làm tất cả,

Cho mọi người được hạnh phúc an vui,

Còn phần con, xin gởi hết nơi Ngài,

Là Thiên Chúa, là tình yêu, là lẽ sống,

Ngài cho con tất cả niềm hy vọng,

Để tin yêu mà vui sống trọn đời.

 

   Như Chúa đang hiện diện trong mỗi người chúng ta, khi chúng ta muốn và cố gắng sống theo gương mẫu Tình Yêu của Ngài, chúng ta yêu thương Ngài trong tha nhân và cùng lúc ấy chúng ta để cho Ngài yêu thương chúng ta qua những con người đó. Chúng ta là những bàn tay, bàn chân, là nụ cười, là sự kiên nhẫn của Ngài…Khi chúng ta yêu thương bởi vì Thánh Ý Ngài, chúng ta đã đem Ngài hiện diện, làm cho Ngài ‘có thể chạm đến được.’ Chúng ta có thể làm cho Tình Yêu của Ngài trở nên hiện thực. Vì thế, chúng ta có lời mời gọi thật cao cả. Vì thế, chúng ta cảm tạ, vì thế chúng ta có một trách nhiệm lớn lao. Ngay cả khi cuộc đời của mình xem ra thật vô nghĩa, thì chính lúc ấy bạn đáng giá hoàn toàn đối với Thiên Chúa. Ngay cả khi thấy mình vô dụng, thì chúng ta vẫn hữu ích như dấu chỉ của sự tốt lành, của chính Tình Yêu Ngài…”  Mẹ Têrêxa Calcutta.

  

Về mục lục >

HÔN NHÂN & GIA ĐÌNH

CẦU NGUYỆN TRONG ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH

Giao Duyên

Cầu nguyện là gì?

Cầu nguyện là sự gặp gỡ và đối thoại giữa Thiên Chúa và tâm hồn ta trong bầu khí yêu thương, thông cảm của tình cha con.  Cầu nguyện tạo nên một tương quan thân thiện và cá nhân giữa tâm hồn ta với Thiên Chúa, là Người Cha Chung của nhân loại, rất mực yêu thương ta.

Cầu nguyện là một cuộc gặp gỡ

Có ba cách gặp gỡ:

– Hai chiếc xe tình cờ đụng nhau ở ngoài đường gây ra tai nạn cũng là gặp gỡ.  Hai người xa lạ cùng ngồi bên nhau trong một chuyến xe nói chuyện xã giao với nhau cũng là gặp gỡ.  Hai người bạn học chung với nhau trong một lớp, thậm chí ngồi cạnh nhau suốt năm, nhưng không ưa nhau, luôn luôn khó chịu về nhau, cũng là một cách gặp gỡ, v. v… Nhưng đó chỉ là gặp gỡ thể chất, không hề có sự gặp gỡ tâm hồn.

– Có người đọc một bài báo, lấy làm tâm đắc với ý tưởng của tác giả, đồng ý tưởng, đồng lập trường với tác giả, nên cảm thấy giữa mình và tác giả có một sự đồng cảm, gần gũi, tuy dù chưa biết gì về nhau; đấy cũng là một cách gặp gỡ, v. v… Đó là gặp gỡ tinh thần.

– Một cặp tình nhân ngồi bên nhau, tâm hồn họ dành hết cho nhau, họ chỉ nghĩ về nhau, cho dù họ không nói với nhau điều gì, vì họ đã hiểu rõ tình yêu của nhau, họ cảm thấy cả hai đã trở nên một, v. v… Đó là gặp gỡ cả tâm hồn lẫn thể chất.  Đây là cách gặp gỡ tốt nhất, lý tưởng nhất, hoàn hảo nhất.

Có câu phương ngôn Trung Hoa nói lên hai cách gặp gỡ của con người: «Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, vô duyên đối diện bất tương phùng»  (có duyên với nhau thì dù cách xa nhau ngàn dậm, vẫn có thể gặp gỡ nhau; còn không có duyên với nhau thì dù có đối mặt nhau cũng không gặp được nhau).

Cầu nguyện chủ yếu là gặp gỡ Thiên Chúa về tinh thần, tâm hồn.  Nếu được cả hai mặt thể chất lẫn tinh thần thì thật là tuyệt vời (trường hợp rước lễ đúng nghĩa).

Cầu nguyện là một cuộc đối thoại

Đối thoại là hai người nói chuyện với nhau, người này nói thì người kia nghe, và ngược lại.  Một bên chỉ nói, và một bên chỉ nghe thì không phải là đối thoại.

Đối thoại bằng những công thức có sẵn, thì không phải là cách đối thoại đúng nghĩa. Đối thoại là để nói cho nhau nghe những điều mình có trong tâm hồn, trong trí óc: những tâm tình yêu thương, cảm phục, biết ơn, tuân phục, những tâm sự vui buồn, những thao thức suy tư, những ước vọng riêng tư, v. v…

Đối thoại không nhất thiết cứ phải dùng lời nói, có thể đối thoại bằng ánh mắt, bằng cử chỉ, bằng tâm tình, bằng hành động cụ thể, v. v… Điều quan trọng là nội dung và ý nghĩa mình muốn nói lên qua những cách biểu lộ đó để người kia hiểu được mình.

Nghe Chúa nói:

Vì thế, cầu nguyện là trước hết là nghe Chúa nói, sau là nói với Chúa. Nghe Chúa nói thì quan trọng và ích lợi hơn là nói với Chúa.

– Nghe Chúa nói là lắng nghe tiếng Chúa vang dội trong thẳm sâu tâm hồn mình, trong lương tâm mình. Có thể đọc hay suy nghĩ về những câu trong Thánh Kinh để qua đó nhận ra tiếng Chúa nói với mình. Nên nhớ: Thiên Chúa nói với con người qua Lời của Ngài trong Thánh Kinh.

– Muốn tiếng Chúa trở nên càng ngày càng rõ rệt hơn, hãy can đảm thực thi những gì Chúa nói qua tâm hồn mình. Nếu không, tiếng nói đó sẽ yếu dần và tắt hẳn.

Nói với Chúa:

Cầu nguyện cũng là nói với Chúa.

Tốt nhất là bằng tâm tình yêu thương, cảm phục, biết ơn, tuân phục, có thể diễn tả thành lời, thành bài ca, cử chỉ, hoặc hành động.

Bằng lời nói (ra miệng, hoặc âm thầm trong tâm trí) để diễn tả tâm tình có thực ở bên trong. Điều quan trọng không phải là lời nói, mà là tâm tình bên trong. Lời nói mà không có tâm tình thật sự chỉ là những lời trống rỗng, không mấy giá trị.

Bằng bài ca, hay câu kinh làm sẵn. Đây là cách dành cho những người mới tập sự cầu nguyện, chưa thể cầu nguyện một cách tự phát bằng chính tâm tình của mình. Không nên cầu nguyện bằng cách này hoài, mà phải tập cầu nguyện bằng những cách cao hơn. Điều quan trọng là vừa đọc vừa suy nghĩ và có tâm tình theo lời kinh hay lời ca.

Bằng cử chỉ: giơ cao tay lên, chấp tay, quỳ xuống, đứng lên, cúi đầu, bái gối, lạy, nhảy múa, v. v…)

Bằng hành động cụ thể: để biểu lộ tâm tình yêu thương, cảm phục, biết ơn, tuân phục… Làm việc với tinh thần tin cậy mến, với ý hướng tuân hành thánh ý Chúa, muốn làm đẹp lòng Chúa, cũng là một cách cầu nguyện rất tốt và thực tế. Vì thế, hãy biến việc làm thành cầu nguyện.

Cầu nguyện cần thiết cho đời sống tâm linh

Thiên Chúa là nguồn tình yêu, nguồn sự sống, nguồn trí tuệ, nguồn sức mạnh, nguồn ân sủng. Muốn nhận được những giá trị cần thiết đó, con người phải thông hiệp với nguồn của những giá trị đó là Thiên Chúa.

Tương tự như các dụng cụ điện, muốn nhận được năng lực để hoạt động, thì phải tiếp xúc với nguồn điện. Không tiếp xúc với nguồn điện, các dụng cụ điện không hoạt động được, trở thành bất động, vô ích. Cầu nguyện chính là tiếp xúc, thông hiệp với nguồn tình yêu, nguồn sự sống, nguồn sức mạnh thần linh.

Vì thế, cầu nguyện được ví như hơi thở của linh hồn. Không thở, con người không thể sống được. Cũng vậy, không cầu nguyện, linh hồn không thể sống mạnh, sống tốt lành, thánh thiện được. Nhờ cầu nguyện, linh hồn tràn đầy sức sống, tình yêu, trí tuệ, sức mạnh, và đời sống con người trở nên hạnh phúc và đầy ý nghĩa.

Cầu nguyện cần thiết cho hạnh phúc lứa đôi

Trong đời sống hôn nhân, muốn được hạnh phúc, hai vợ chồng phải yêu thương nhau, sống hòa hợp với nhau, đồng thời phải thành công trong việc giáo dục con cái.

Để yêu thương nhau trọn đời, không gì bảo đảm hơn là cả hai vợ chồng đều gắn bó với Thiên Chúa, là nguồn mạch mọi tình yêu chân chính, bằng đời sống cầu nguyện. Nhờ gắn bó với Thiên Chúa, họ học được từ nơi Ngài cách biểu lộ tình yêu: bằng sự quên mình, hy sinh và xả thân cho nhau, biết quan tâm giúp đỡ nhau. Thiên Chúa sẽ là mối dây liên kết, khiến họ gắn bó, khắn khít với nhau suốt cuộc đời.

Để sống hòa hợp và hiệp nhất với nhau, không gì hữu hiệu hơn là cả hai đều cùng chung một lý tưởng nên trọn lành, cùng nhau bắt chước Chúa Kitô, sống đúng theo ý muốn Thiên Chúa, không làm theo ý riêng mình. Làm theo ý riêng thì hai người có thể khác nhau, ngược nhau, nhưng cùng làm theo thánh ý Chúa, thì hai người sẽ chủ trương giống nhau, sẽ cùng một ý, và sẽ hiệp nhất với nhau.

Để giáo dục con cái một cách hữu hiệu, không gì bằng giúp chúng biết cầu nguyện, biết gắn bó với Thiên Chúa bằng chính gương sáng của mình. Lúc đó, Thiên Chúa sẽ là mẫu mực cho chúng, là người giáo dục và ban sức mạnh cho chúng, để chúng có thể sống tốt đẹp.

Kết luận

Thiên Chúa ở ngay trong tâm hồn ta, hiện diện nơi những người chung quanh ta, trong thiên nhiên, và trong tất cả vạn vật. Vì thế, ta cần nhận ra sự hiện diện của Ngài ở những nơi đó, để cầu nguyện, để nâng tâm hồn lên với Ngài, để gặp gỡ, tâm sự, đối thoại với Ngài. Ta có thể gặp Ngài bất cứ lúc nào, có thể có những tâm tình thích hợp đối với Ngài trong bất kỳ cảnh ngộ nào, khi vui cũng như lúc buồn, khi thuận lợi cũng như lúc khó khăn, khi bình an cũng như lúc nguy hiểm. Hãy tập sống đời sống cầu nguyện, để tương quan cá nhân giữa mình với Thiên Chúa ngày càng thân mật, đậm đà hơn. Nhờ vậy, cuộc đời chúng ta sẽ hạnh phúc lâu bền.

Về mục lục >

 

TÂM TÌNH BẠN ĐỌC 


LTS: Tuần qua, MARANATHA đã nhận được thư, bài vở và những ý kiến đóng góp của Quý độc giả: Kim Chu, Nguyễn Duy Sinh, Tuong Phuong, DinhVinh Phuc, Trần Đức Tân, Vũ Văn Quí, Lm. Trần Xuân Thịnh,…

Để hồi âm chung cho một số độc giả hỏi về font chữ, Maranatha hiện đang sử dụng font Times New Roman (Unicode) để viết và nhận bài. Nếu quý vị sử dụng Windows trước 98SE, xin install font Unicode này vào máy. Viết bài cho Maranatha xin quý vị cũng sử dụng font này.

Đối với những độc giả nhận báo lần đầu tiên hoặc độc giả nào còn thiếu một vài số báo cũ, xin quý vị vui lòng vào hai trang websites http://maranatha-vn.net hoặc http://tiengnoigiaodan.net để download những số báo mình cần. Hiện nay, các số báo từ 1 đến 19 đã được lưu trên hai websites trên. Nếu vì lý do trục trặc kỹ thuật, xin liên lạc về địa chỉ: maranatha@saintly.com.

Xin kính gửi một vài tâm tình của độc giả đã gửi về trong tuần qua để chia sẻ, hiệp thông và cầu nguyện cho nhau.

Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích lệ của Quý độc giả dành cho Maranatha.

Nguyện xin Chúa chúc lành cho Quý Vị. 

Trân trọng,

MARANATHA

 

THƯ BẠN ĐỌC

  • Kính gửi Ban Biên Tập Maranatha, tôi là độc giả quen thuộc của quí báo. Cảm phục sự gian khổ và tinh thần phục vụ quên mình của quí vị. Tôi rất thú vị khi đọc những bài trong mục cầu nguyện vì tôi hiện nay là một thành viên trong nhóm cầu nguyện canh tân đặc sủng của giáo xứ….Kính chúc quí vị khoẻ, đầy ân sủng và trang nhà luôn vững mạnh để đáp ứng kịp thời được nhu cầu của giáo dân. Kính trong Chúa Kitô, Vũ văn Quí, Việt Nam.

  • Xin chân thành cảm tạ quý vị đã cho chúng tôi hàng tuần những của ăn tinh thần vô cùng quí hóa. Nguyện xin Thiên Chúa Toàn Năng ban tràn đầy ơn lành xuống tất cả quí vị. Chúng tôi xin được tiếp tục hưởng những ân huệ đặc biệt này. Xin kính chúc quí vị và tuần báo càng ngày càng phát tirển hơn nữa. Kính, Đức Trần.

  • Qua một người quen tôi đã đọc được Maranatha. Nếu có thể xin vui lòng cho tôi cùng được nhận chương trình này. Xin gửi cho từ số mới. Xin chân thành cám ơn. Xin Chúa chúc lành cho việc RAO GIẢNG TIN MỪNG của chương trình. Têrêsa.

  • Xin chân thành cámơn toàn thể quý vị đang làm việc cho Tuần Báo điện tử Maranatha. Đã rất ân cần chu đáo trong việc gửi báo đến cho tôi từ bấy lâu nay qua internet. Xin hết lòng cám ơn quí vị. Nguyện xin ơn trên luôn ban dồi dào trên quí vị và trong công việc vô cùng tốt đẹp mà quí vị đã và còn đang tiếp tục thực hiện. Trân trọng, Nam T. Nguyễn.

·        Tôi là Phương Trần muốn nhận tuần baó MARANATHA để học hỏi thêm về giáo lý công giáo. Xin chân thành cám ơn tuần báo. Phuong.

  • Kính bổn báo: Xin thành thật cám ơn nhiều về món quà tinh thần đầy bổ ích. Trần Duy Tân.

  • Kính gửi Tòa Soạn báo Maranatha, Tôi là Vĩnh An - Nguyễn Văn Sơn, vừa đăng ký nhập mạng internet, nên báo cho các Anh Chị trong ban biên tập biết, để mong được làm quen với các Anh Chị, và cũng mong hợp tác với ban Biên Tập trong công việc lợi ích  này. Kính chúc các Anh Chị trong Ban Biên Tập luôn an vui mạnh khỏe. Thân, Vĩnh An.

  • Tôi tên là Joseph Nguyễn. Hiện đang sống tại Hoa Kỳ. Tôi đã một lần xem qua mấy bài viết của báo Maranatha. Thật là thích thú và vô cùng bổ ích cho sự hiểu biết thêm trong cuộc sống của tôi. Xin vui lòng, nếu có thể, chuyển cho một số bài qua địa chỉ email…. Cầu xin Chúa chúc lành việc làm của quý Cha và quý vị. Trân trọng, J. Nguyễn.

 

Về mục lục >