|
KHOA SƯ PHẠM CỦA ĐỨC GIÊSU Trích La Formation des Disciples của José Prado Flores. Thái Văn Hiến dịch Đức Giêsu giảng dạy như thế nào? Phương pháp sư phạm của Vị Thầy xứ Galilê có tám điểm đặc trưng làm cho nó khác với những khoa sư phạm khác. a- Đặt Câu Hỏi: Phương pháp của Đức Giêsu không phải là nói một thôi một hồi như nói với những viên đá câm lặng. Nó tương tự như phương pháp "maieutique (khích biện pháp) = gợi hỏi" của Socrate, phương pháp hỏi trực tiếp các môn sinh. Khoa sư phạm của Người không gây ra sự thụ động nơi các môn đệ nhưng làm cho các ông suy nghĩ; tìm gặp những kết luận ngay trong nội tâm của các ông. Các dụ ngôn, một cách cụ thể, không phải là những tiếp thu thụ động hay những công thức dành cho một vấn đề đã được xác định, nhưng là những nguyên tắc mà người ta phải áp dụng trong mọi hoàn cảnh. Đức Giêsu không thực hiện theo kiểu "mì ăn liền" đối với các môn đệ của Người, nhưng làm cho các ông trở thành có khả năng tự trả lời trước mọi tình huống của cuộc sống. Và thậm chí, nhiều lần Người đích thân hỏi trực tiếp các ông để các ông học được cách quay lại trong chính bản thân mình và gặp thấy ở đó những câu trả lời, phương pháp bắt đầu từ một nguyên lý mang tính nhân loại học và thần học: Thiên Chúa không ở xa chúng ta; chúng ta sống, cử động và hiện hữu trong Người, vì chính Người đã cư ngụ trong tâm hồn chúng ta và không chỉ là "với" chúng ta, mà còn "trong" chúng ta nữa. Chúng ta cùng nhau lập ra một bản liệt kê vắn tắt về vô số những câu hỏi được đặt ra trong Tin Mừng. Nội việc trả lời không thôi cũng sẽ khiến chúng ta phải suy nghĩ: - Các anh tìm gì? (Ga1,38) - Anh em nói Thầy là ai? (Mt16,15) - Nào Thầy đã chẳng nói với chị rằng nếu chị tin, chị sẽ được thấy vinh quang của TC sao? (Ga.11,40) - Nầy bà, sao bà khóc? (Ga.20,13) - Bởi lẽ, giữa người ngồi ăn và kẻ phục vụ, ai lớn hơn ai? (Lc 22,27) - Mạng sống chẳng trọng hơn của ăn, và thân thể chẳng trọng hơn áo mặc sao? (Mt.6, 25). - Tại sao các ông dựa vào truyền thống của các ông mà huỷ bỏ lời TC? (Mt.15,3) - Tại sao anh em lại lo lắng? (Lc.12,26) - Sao các ông lại nghĩ xấu trong bụng như vậy? (Mt 9,4) - Xấu như các ngươi thì làm sao nói điều tốt được? (Mt12,34) - Sao lại hoài nghi? (Mt.14,31) - Người ta có thể lấy gì mà đổi mạng sống của mình?(Mt16,26) - Anh muốn tôi làm gì cho anh? (Lc18,41) - Anh cũng muốn bỏ đi sao? - Không ai kết tội chị cả ư ? (Ga.8,10) - Sao các ông lại không tin tôi ? (Ga.8,46) - Anh có mến Thầy hơn các anh em nầy không ? (Ga.21,15) - Việc gì đến anh ? (Ga.21,22). Số lượng câu hỏi mà Đức Giêsu đặt ra trong toàn bộ Tin Mừng thật là đáng ngạc nhiên. Có hơn năm mươi câu. Người đã không quyết định mang lại những phương cách lĩnh hội hay các công thức, nhưng chờ cho câu hỏi tốt đẹp bật ra từ trong tâm hồn của các môn đệ. Và ngay cả, có khi người ta hỏi Người một điều gì đó, Người thường đáp lại bằng một câu hỏi khác (xem Mt.9,14-15; 12,26-27; 15,1-3; 15,33-34; 19,16-17; 21,15-16) Đằng khác, lời giáo huấn của Người và nhất là cuộc sống và các hành vi của Người, làm cho người ta phải tự đặt câu hỏi (xem Mt.13,55-56;8,27;21,10). b- Lặp lại Đức Giêsu đã truyền đạt cho chúng ta nhiều điều khác nhau. Người đã dạy cùng một điều trong nhiều lần. Người đã dùng kỹ thuật lặp đi lặp lại cùng một sự việc nhiều lần để nó hoàn toàn được khắc sâu trong tâm trí của các môn đệ. Kiểu mẫu điển hình nhất là câu chuyện về ngày phán xét, mà qua đó người ta gặp thấy bản liệt kê sáu công việc của lòng thương xót. Chính là nhằm mục đích làm cho các môn đệ của Người không bao giờ quên, làm cho các ông dùng nó như một chương trình sống và sau đó lặp lại. Người đã diễn giải về Nước Trời xuyên qua mười sáu dụ ngôn khác nhau. Giữa những chủ đề quen thuộc, chúng ta gặp thấy việc nguyện cầu, sự tha thứ và lòng tin. c- Bằng hình ảnh & dấu chỉ Vị Thầy xứ Nazareth đã có phương pháp sư phạm tuyệt diệu để giảng dạy xuyên qua những biểu tượng thắm đượm một sứ điệp mà toàn thể thế giới có thể khám phá thấy, và một sự tăng tiến không thể nào quên được. Chúng ta không thể tưởng tượng Đức Giêsu tiến hành một giáo trình dựa theo "phong cách của Isaia" hoặc "khoa chú giải cổ điển thời kỳ sau lưu đày". Người bằng lòng với việc nói về Nước Trời. Không bao giờ Người giảng dạy bằng những lý thuyết mới cũng không công bố những tín lý mới, nhưng dùng những hình ảnh và những gương mẫu để truyền đạt điều không thể diễn tả được. Lời của Người là những "chuyện kể nho nhỏ" đầy lợi ích khiến cho mọi người chú ý và cho phép mỗi một người rút ra kết luận của riêng mình. Đức Giêsu không công bố một bộ Giáo Luật cũng không công bố một sách công thức về luân lý, thậm chí ngay cả một bộ thập giới cũng không, Người đã kể lại những "câu chuyện nho nhỏ" mà người ta có thể áp dụng cho tất cả những phương diện của cuộc sống. Cũng vậy, khi những người nghèo khốn chiêm ngưỡng những bông hoa đồng nội hay những chú chim trời, thì họ quên đi mối lo lắng bận tâm của mình. Khi một người đàn bà nắm trong tay một viên ngọc quí, bà ta nhớ ngay đến những gì là Nước Trời. Khi một bác nông phu gieo giống trên đồng ruộng của mình, bác hiểu về Lời Chúa rõ ràng hơn. Khi một người đến ngân hàng để lấy những lãi suất của mình, người ấy thấy rằng dụ ngôn về nén bạc bị chôn dưới đất có tầm quan trọng như thế nào. Những người thợ mộc hiểu được một cách đầy đủ rằng Đức Giêsu là cánh cửa, những ông chủ xí nghiệp thực hiện cách tuyệt vời dụ ngôn về tên quản lý bất hảo, còn những bác ngư phủ thì càng chẳng gặp chút khó khăn nào khi bước vào mầu nhiệm Nước Trời vì Nước ấy được ví như một mẻ lưới đầy cá. Do đó, mỗi khi người ta nhìn thấy một trong những điều đó, thì nó có trách nhiệm lặp lại sứ điệp. Nhờ vào phương pháp thính thị ấy, tất cả mọi tạo vật đều trở thành dụng cụ rao giảng Tin Mừng cả. Vả lại, như một vài Ngôn sứ, Đức Giêsu thực hiện những hoạt động biểu trưng mà qua đó điều quan trọng nhất chẳng phải là sự kiện xảy ra nhưng chính là ý nghĩa riêng của sự kiện ấy: - Loan báo Tin Mừng cho người nghèo khó (Lc.3,18) - Tha thứ tội lỗi (Mc.2,1-12) - Chữa lành trong ngày Sabbat (Mc.3,1-5) - Đuổi những kẻ buôn bán ra khỏi Đền Thờ (Ga.2,13-22) - Rửa chân cho các môn đệ (Ga.13,1-17) - Biến cố Phục Sinh. Tất cả những dấu chỉ ấy hoàn toàn chuyên chở sứ điệp. Chúng là những hạt giống chứa đầy những chân lý vĩ đại. d- Thực hiện các sự việc Ngoài những lời giáo huấn ra, Đức Giêsu còn giảng dạy bằng chính mẫu gương của Người. Cách sống của Người là lời giáo huấn vĩ đại nhất: Cách sống của một người Con Thiên Chúa! Chỉ cần quan sát cách ứng xử của Người cũng đủ rút ra hình thức tốt đẹp của đời sống trên trần thế nầy. Chính vì thế mà cuối cùng Người đã nói: "hãy học nơi Thầy" (Mt.11,29). Người ta biết nhìn nhận rằng Đức Giêsu là một vị thầy khác hẳn những người thầy khác vì một lý do duy nhất, đó là Người đã làm và đã sống tất cả những gì mà Người rao giảng. Đức Giêsu đã không tổ chức một hội nghị nhằm mang lại những loạt bài nói chuyện về sự tha thứ, nhưng Người đã tha tội cho người gái điếm, cho Gia- kêu, cho Phêrô đã chối Thầy ba lần, và cách đặc biệt nhất là tha thứ cho những kẻ đã đóng đinh mình: "Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm." (Lc.23,34). Vị Thầy đã không cần đưa ra một giáo trình giảng dạy về sự nghèo khó. Người thật nghèo: không có tiền bạc, của cải, không có nơi tựa đầu. Người cho hết tất cả và trong ngân sách của cộng đoàn, Người chẳng có gì để nuôi sống các môn đệ cả. Chẳng bao giờ Người sử dụng nguyên ngữ Hi lạp hoặc Hibálai để giảng giải về tình yêu, nhưng Người đưa ra bằng chứng vĩ đại nhất về tình yêu: Hiến mạng sống mình cho kẻ mình yêu (xem Ga.15,13). Đức Giêsu nói rằng Người là mục tử tốt lành bước đi đằng trước và chiên của Người đi theo sau. Những người chăn chiên ở Israel không đi sau đàn chiên, nhưng đi trước chúng. Hiệu quả chiến đấu của quân đội Do Thái là ở chỗ giữa các cấp chỉ huy không có ra lệnh: "xung phong" nhưng: "hãy theo tôi". Viên chỉ huy không bao giờ ẩn núp cũng như không ra các chỉ thị từ bàn giấy của mình, nhưng ông ta là người đầu tiên đi lên phía trước, trước khi yêu cầu các thuộc cấp của mình cũng làm như thế. Ông ta làm gương và thực hiện mọi điều trước khi yêu cầu những người khác làm. Đức Giêsu làm mọi sự trước đã sau đó mới rao giảng những điều ấy. Tất cả những giáo huấn của Người được bảo chứng trước bằng chính gương mẫu của Người. Chính ở đó mà cắm rễ sự vượt trỗi của Người trên các thầy ký lục và biệt phái vốn có những lời giảng dạy hoa mỹ nhưng lại không đem ra thực hành. Quyền của Đức Giêsu không đặt nền tảng trên bất cứ một chức tước nào nhưng đặt trong những gì mà Người sống tất cả những điều mà Người rao giảng. Thật khác với công việc của chiếc chuông gióng tiếng để mời gọi chúng ta đến dự lễ nhưng chẳng bao giờ bước xuống khỏi tháp chuông để tham dự vào Bí Tích Thánh Thể cả. Đôi khi có những mục tử thay vì thực hiện các sự việc thì lại ra lệnh cho người khác thực hiện. Đằng khác, đối với Người, điều quan trọng không phải là nhồi nhét đầy tri thức cho các môn đệ của mình, điều mà Người muốn chính là mỗi người trong số họ sống những lời nói của mình. Người chẳng mong phải có một đám cử toạ nghe Lời của Người, nhưng muốn có những môn sinh là những con người trung thành thực hiện sứ vụ của Người. Điều quan trọng nhất đối với Thầy không phải là xây nên một trường đại học dạy làm giáo hoàng, nhưng là một “phòng thí nghiệm” mà ở đó người ta có thể thực hành những gì mà Người giảng dạy. Ngôi trường của Người là một xưởng thợ ở đó lời giáo huấn phải được kiên định. Dấu hiệu xác định các môn đệ của Người không phải là một trình độ về kinh tế hay một chức danh, nhưng là họ có sống những gì mà Người dạy dỗ hay không: "Nếu anh em ở lại trong lời của Thầy, thì anh em thật là môn đệ của Thầy" (Ga.8,31). e- Yêu quí nhóm môn đệ Đức Giêsu có một sự gắn bó đặc biệt với các môn đệ hơn với tất cả những người khác. Các ông đã chiếm phần quan trọng nhất trong sự tha thiết và lòng yêu thích của Người. Sau đây là một vài thái độ đặc biệt của Đức Giêsu dành cho các môn đệ của Người: - Giảng giải cho các ông cách đặc biệt (xem Mc.4,34) - Lên thuyền với các ông (xem Mc.8,10) - Dạy dỗ các ông (xem Mc.9,31) - Tập cho các ông cầu nguyện (xem Lc.11,1) - Các ông là những kẻ được Người yêu thích hơn (xem Lc.12,1) - Dùng tiệc Vượt Qua với các ông (xem Mc.14,14) - Rửa chân cho các ông (xem Ga.13,5) - Chính các ông mà Người hiện ra cho trước nhất (xem Ga.21,14). Đức Giêsu quan tâm đến các môn đệ hơn là đám người đông đảo đi theo Người. Chính với các ông mà Người đã mạc khải những điều mà các Ngôn sứ và các vua chúa ước ao được nhìn thấy hoặc được nghe. Người thường lánh mình xa các đám đông và lui về với các môn đệ của mình để được ở một mình với các ông. " Nhưng đặc biệt, Người giảng giải mọi điều cho các môn đệ (Mc.4,34). Người ta gặp thấy trên Núi Cây Dầu một tu viện danh tiếng dưới tên gọi là nguyện đường "Kinh Lạy Cha." Các du khách, mải mê mẫn vì tính chất đa dạng của các thứ tiếng mà lời kinh tuyệt vời ấy được viết lên, lại bỏ qua không nhìn thấy một hang đá nhỏ mà ở đó Đức Giêsu thường giảng dạy cho các môn đệ. Được bao bọc trong lòng đất, trong an bình và tĩnh lặng, Thầy đã trải qua nhiều thời gian dài trong sự mật thiết với các môn đệ, xa hẳn tiếng ồn ào và công việc thường nhật. f- Giáo Án: Thiên Nhiên Đức Giêsu đã không có một thư viện đồ sộ với các cuốn sách bằng nhiều thứ tiếng, nhưng những chú chim trời, những cánh hoa đồng nội hay một mẻ lưới đầy cá giúp cho Người làm thành sách giáo án. Những con cáo, những con chim bồ câu, những con rắn; người chăn chiên, vườn nho, ngay cả một tên trộm, cũng đều là những gì mang chở sứ điệp. Hạt giống cây cối và các tổ chim; tiếng sấm, tia sét và các đám mây đều giúp Người làm thành phương tiện truyền thông. Nói cho cùng, sách giáo án của Người chính là thiên nhiên. g- Trường Học: Cuộc Sống Ngôi trường dạy học của Đức Giêsu không mấy giống với những trung tâm đào tạo Kitô hữu hay các chủng viện của chúng ta. Không phải là trước một tấm bảng đen, nhưng là tại bàn ăn, nơi những người biệt phái tranh nhau chiếm chỗ cao nhất, mà Đức Giêsu giảng dạy: "Còn anh em, anh em đừng làm như thế. Trái lại, ai lớn nhất trong anh em thì xử sự như người nhỏ nhất" Đức Giêsu giảng dạy với các biến cố, hơn là với các lý thuyết hoặc những giáo điều thuộc nằm lòng. Thầy sử dụng tất cả mọi hoàn cảnh để mạc khải cho các môn đệ những mầu nhiệm Nước Trời: Một bà goá làm việc bố thí, một kho tàng được ẩn giấu, một cuộc hành hung trong sa mạc hay một đám cưới. Nhưng điều quan trọng nhất của ngôi trường chính là Vị Thầy. Người ở đâu thì các môn đệ cũng ở đấy, những gì mà Người nói đều là chân lý và nên sống như Người sống. Người chính là sự sống. Khi Gioan Tẩy Giả nhận ra Đấng Mêsia và bảo: "Đây Chiên Thiên Chúa", thì hai môn đệ giỏi nhất của ông liền đi theo Đức Giêsu đang đi qua sa mạc. Tức thì, Thầy quay lại và hỏi các ông: "Anh em tìm gì?". Ngạc nhiên, hai ông thưa: "Thưa Thầy, Thầy ở đâu?" Các ông đã nhìn nhận Đức Giêsu là một Vị Thầy giảng dạy cách sống và chính vì thế mà các ông hỏi Người ở đâu; bởi vì khi được sống với Người, các ông sẽ học được cách sống như Người. Từ lúc đó, các ông rời bỏ Ngôi Trường của vị Tẩy Giả và ghi tên vào Trường của Vị Thầy xứ Nazareth. h- Kiểu để mẫu học tập: một em bé Kiểu mẫu tuyệt hảo nhất để diễn giải Nước Trời là một em bé. Nếu người ta không nên giống như nó, người ta không thể trở thành môn đệ của Người. Kẻ mà có thể chỉ rõ nhất về Nước Trời không phải là một người khôn khéo nơi trường học của các bậc thầy ở Giêrusalem, nhưng là một em bé đặt lòng tin tưởng và luỵ thuộc vào cha nó (xem Mc. 10, 15). Trích dịch trong cuốn: La Formation des Disciples của José Prado Flores. José Prado Flores, người Mêhicô, là cha của bốn người con. Sau những nghiên cứu về cổ điển, ông chuyển sang nghiên cứu Kinh Thánh tại Mehicô. Ông theo một khoá thực tập nghiên cứu Giáo lý tại viện " Lumen Vitae" ở Bỉ rồi quay trở về châu Mỹ Latin, ở đó ông chuyên tâm vào việc đào tạo những người rao giảng Tin Mừng. Ông đã cho xuất bản trên 30 cuốn sách, và là đồng tác giả của những cuốn sách của cha Emiliano Tardif.
|