Số 22, Ngày 2-10-2004

 

Thư Tòa Soạn

Đọc Kinh Thánh Theo Ánh Mắt Tâm Linh - Khổng Nhuận

Đức Tin Làm Nên Sức Mạnh - Nguyễn Chính Kết

Tại Sao Đức Maria là Người “Đẹp Lòng Thiên Chúa”? - Huyền Vi

Hạnh Phúc Của Maria - NHC

Yêu Mến Chúa Với Tâm Hồn Trẻ Thơ - Lm. Đỗ Xuân Quế, OP

Người Thanh Niên Đã Chọn Chúa - Maranatha sưu tầm

Đến Với Chúa Qua Mẹ - Amy Van Bích

Têrêsa Hài Đồng Giêsu - Lm. Khuất Dũng, SSS

Tâm Tình Bạn Đọc - Thư Bạn Đọc  

 

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

Kính thưa Quý độc giả,

Bước vào đầu tháng 10, cuộc tranh cử tổng thống Hoa Kỳ càng trở nên ráo riết. Cuộc chiến tranh Iraq trở nên chủ đề tranh cãi giữa hai ứng cử viên Bush và Kerry. Ông Kerry lên án ông Bush là người hiếu chiến, và tệ hơn nữa, một người lấy chiến tranh phục vụ cho quyền lợi của người giàu bằng cách lừa dối những người nghèo. Ông Bush phê bình ông Kerry là người có lập trường tiền hậu bất nhất, sẵn sàng hy sinh quyền lợi của nước Mỹ để đánh bóng những mỹ từ như hòa bình và tự do, trong khi chính ông không hề trung  thành với điều mình nói. Cả hai người cố gắng chứng tỏ mình chỉ nghĩ đến người dân. Thế nhưng trong câu chuyện hằng ngày giữa những người thấp cổ bé miệng, hình ảnh của hai người đang chạy đua vào chiếc ghế số một của Hoa Kỳ là hình ảnh của những người chỉ lo toan cho quyền lực bản thân mình.

Cũng trong thời gian này, tại Việt Nam, Hội Đồng Giám Mục chuẩn bị thông qua bức thư chung với chủ đề: Giáo Hội sống Mầu Nhiệm Thánh Thể. Vâng, Thánh Thể là mầu nhiệm của muôn đời, nhưng hơn bao giờ hết, dân Chúa cần trở về với mầu nhiệm ấy. Chúng tôi chưa thể đoán được nội dung của lá thư chung, và do đó chưa biết được Hội Đồng Giám Mục muốn giáo huấn tín hữu Việt Nam những gì qua Bí Tích Thánh Thể. Tuy nhiên, trong chiều hướng của Giáo Hội toàn cầu, mầu nhiệm Thánh Thể hiện nay cần được sống ngay trong thánh lễ cuộc đời chứ không chỉ  nơi bàn thánh, bởi lẽ Chúa Kitô hằng ngày đang hiến tế trở lại trong cuộc đời qua những người nghèo mà Ngài tự đồng hoá và cho đó là chính Ngài. Khi thế giới đang củng cố quyền lực ở mọi môi trường, kể cả môi trường Giáo Hội, thì các chủ chăn muốn nêu cao hình ảnh Chúa Kitô, Đấng đã hóa mình ra không để đem lại yêu thương và hòa bình.

Và vui mừng thay, trong tháng 10 này, những gương mặt “tự hủy” được Giáo Hội đưa vào  phụng vụ. Ngày mồng 1, lễ thánh Têrêxa thành Lisieux, ‘một tâm hồn “kiêu căng” đã trở thành “bé thơ” vì tình yêu Thánh Thể. Ngày mồng 4, lễ thánh Phanxicô thành Assisi, “chàng hiệp sĩ” giàu có và đầy cao vọng đã chọn lấy “chị nghèo” và nếp sống khiêm nhường. Và ngày 7, lễ Mân Côi, cũng là lễ tôn vinh Mẹ Maria, một người biểu trưng tuyệt hảo cho đức tin Kitô giáo, và đồng thời cũng là biểu hiện cho lòng thương xót vô bờ của Chúa Cha.

Trong tinh thần đó, Maranatha tuần này xin giới thiệu sơ lược những hình ảnh, chứng tá dễ thương về thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu và thánh Phanxicô Assisi.

Tuy nhiên, tháng 10 được Giáo Hội dành riêng kính Đức Mẹ qua chuỗi Mân Côi,  Maranatha sẽ nhấn mạnh hơn về các ý chỉ phụng vụ này trong một số báo đặc biệt. Vì thế, số báo 23 tuần tới sẽ là số chủ đề đặc biệt về Đức Mẹ Mân Côi, rất mong sớm nhận được bài vở của quý độc giả như là chia sẻ tràng hạt hoa hồng trong cuộc đời chúng ta….

MARANATHA

Về mục lục >

 HỌC HỎI

ĐỌC KINH THÁNH
THEO ÁNH MẮT TÂM LINH

Khổng Nhuận

Cầu nguyện và đọc Kinh Thánh là 2 phương thế tuyệt vời nhất của Linh Đạo Kitô hữu.

Có nhiều cách đọc Kinh Thánh, tùy theo mục tiêu của người đọc.

I. Khuynh hướng tiêu cực

1. Đọc cho xong một bổn phận: Thời trong chủng viện, ngày nào tôi cũng đọc Kinh Thánh có vẻ chăm chăm chú chú nhưng chẳng hiểu gì cả. Anh em đọc không lẽ mình không đọc. Lời Chúa chẳng dính dáng gì tới tôi.

2. Đọc trong Thánh lễ: Khi được phân công, tôi chuẩn bị đọc làm sao cho xuôi chảy, không vấp váp kẻo thiên hạ cười vào mũi. Còn đỡ hơn một số người, không chuẩn bị gì cả, đọc loạng quạng, phân câu không đúng chỗ đến nỗi chính họ cũng không hiểu điều mình đang đọc. Có người còn tệ hại hơn, đứng trên bục rồi mà không biết là phải đọc bài nào.

3. Đọc để bới lông tìm vết: Họ đứng trên quan điểm lịch sử, khoa học, ngôn ngữ học với ánh mắt mang hình viên đạn rồi dựa theo nghĩa đen để phê bình, chỉ trích, kết án…

Và còn nhiều cách đọc khác nữa…

II. Khuynh hướng tích cực

1. Đọc để cầu nguyện: Trong những tuần qua, tác giả Hoàng Quý đã giới thiệu cách đọc Kinh Thánh rất bài bản với Phương thức cầu nguyện với Kinh Thánh, đặc biệt với phương pháp cầu nguyện của Lectio Divina.

2. Đọc để gặp gỡ Lời Chúa: Tác giả Hoàng Quý cũng giới thiệu phương pháp gặp gỡ Lời Chúa từ các nhà viết suy niệm Lời Chúa danh tiếng như Soubigou, André Roche, Richard Gutzwiller, Prêtres du Prado.

Chắc chắn những bài trên đã mang giúp cho những nhóm chia sẻ Lời Chúa khắp thế giới mỗi ngày một lớn lên trong Lời hằng sống của Ngài.

Tất nhiên là cũng còn vài cách đọc khác nữa. Trong khuôn khổ bài này, tôi xin chia sẻ cách đọc Kinh Thánh theo ánh mắt tâm linh – một cách nhìn trực tiếp – không phải suy luận cao siêu, có lẽ dễ nuốt hơn một chút. Đó là khi đọc Kinh Thánh, tôi cá nhân hóa nội tâm hoá.

A. Cá nhân hoá

Trước kia, khi đọc Kinh Thánh, tôi thấy những nhân vật xuất hiện như chuyện Tề thiên, chẳng liên quan gì tới tôi. Phêrô chối Chúa: Đồ phản Thày! Giuđa bán Chúa: Đồ phản bội! Tự tử hả: Cho chết, chẳng ai thương! Những người Do Thái hò la đóng đinh Chúa: Đúng là quân dữ, quân Giu-Rêu!!!

Khi tôi quyết định lên đường tìm Chúa, tôi cá nhân hoá những nhân vật trong Kinh Thánh. Từ những người yếu đuối tội lỗi tới những vị thánh siêu phàm, thậm chí kể cả đức Giêsu, thần tượng của tôi.

1. Cá nhân hoá những hình ảnh tiêu cực:

a. Dụ ngôn người cha nhân hậu: Có một thời, tôi giống như người anh cả. Mang tiếng là ở trong nhà cha, nhưng quan hệ của tôi với cha của mình y như người làm thuê đối với ông chủ. Biết bao lần tôi đã thầm kể công với Chúa và thầm đòi hỏi Chúa phải trả công xứng đáng cho những hy sinh thời gian, tiền bạc, sức lực của tôi trong công trình của Chúa. Nếu đợi mãi mà Ngài không cho, tôi rất có thể sẽ oán trách ngài y như người con cả: «Cha coi, đã bao nhiêu năm trời con hầu hạ cha, và chẳng khi nào trái lệnh, thế mà chưa bao giờ cha cho lấy được một con dê con để con ăn mừng với bạn bè» (Lc 15,29). Trái lại, khi phạm tội, tôi sợ ông chủ phạt thẳng tay vì Chúa công bằng vô cùng cơ mà.

b. Dụ ngôn người phụ nữ ngoại tình: Có một thời, tôi chính là người phạm tôi ngoại tình. Người phụ nữ phạm tôi ngoại tình vài lần, còn tôi phạm tội ngoại tình hầu như suốt ngày. Này nhé, Chúa yêu tôi hết lòng, sống trong tôi, còn tôi cứ việc chạy theo chuyện thế gian, bỏ mặc Chúa mãi cô đơn ngay trong lòng tôi, Thế không phải ngoại tình suốt ngày thì gọi là gì. Tội sờ sờ ra đó, thế nhưng tôi rất khoái kết tội, nói xấu người khác, và cũng sắn sàng ném đá, đôi lúc lại chơi trò ném đá giấu tay để người bị hại không biết đâu mà đối phó. Tôi y hệt như những người Do thái xưa đã được Đức Giêsu cảnh báo: «Sao anh thấy cái rác trong con mắt của người anh em, mà cái xà trong con mắt của mình thì lại không để ý tới? Sao anh lại nói với người anh em: Hãy để tôi lấy cái rác ra khỏi mắt bạn”, trong khi có cả một cái xà trong con mắt anh?» (Mt 7,3-4)

c. «Khi Đức Giê-su ở trên núi xuống, đám đông lũ lượt đi theo Người» (Mt 8,1): Rất nhiều lần tôi cũng có mặt trong cái đám đông láo nháo đó. Đám đông làm thế nào, tôi làm theo như vậy. Đây chính là kiểu đi theo Ngài một cách vô ý thức: ai sao tôi vậy. Thực thế, tôi đã đi lễ, rước lễ (chứ không phải rước Chúa) tĩnh tâm biết bao lần, nhưng chỉ theo đám đông mà làm như nguời máy chứ chẳng có ý thức gì. Vì vậy, sau hơn 30 năm giữ đạo, tôi chẳng tiến chút nào mà còn lùi xa hơn, chỉ vì sống trong đám đông láo nháo không định hướng.

d. Tôi còn có thể cá nhân hoá mình thành đền thờ Giêrusalem. Đức Giêsu đã khóc thương mà nói: «Phải chi ngày hôm nay ngươi cũng nhận ra những gì đem lại bình an cho ngươi! Nhưng hiện giờ, điều ấy còn bị che khuất, mắt ngươi không thấy được. vì ngươi đã không nhận biết thời giờ ngươi được Thiên Chúa viếng thăm»  (19,42-44). Quả thật, Chúa đã viếng thăm tôi hàng tuần, thậm chí hàng ngày khi tôi lên rước Chúa, nhưng tôi đâu có nhận ra Ngài. Nếu tôi nhận ra Ngài, chắc chắn Ngài đâu có phải khóc thương tôi như thế.

e. Hơn thế nữa, tôi còn biến đền thánh tâm hồn tôi thành sào huyệt của bọn cướp (Mt 21,13) đơn giản chỉ vì «Thân xác anh em là Đền Thờ của Thánh Thần sao? Mà Thánh Thần đang ngự trong anh em là Thánh Thần chính Thiên Chúa đã ban cho anh em. Như thế, anh em đâu còn thuộc về mình nữa» (1Cr 6,19). Nghe câu này cả trăm lần rồi, thế nhưng tôi chẳng bao giờ nhớ Thánh Thần hiện diện sống động trong tôi, suốt ngày tôi cứ chạy theo cơn lốc tình, tiền, tài, danh vọng thế gian thì rõ ràng tôi đang biến đền thánh tâm hồn tôi thành hang trộm cướp – còn gì để nói nữa đâu.

Còn rất nhiều và rất nhiều hình ảnh khác mà tôi có thể tha hồ mà cá nhân hoá.

2. Cá nhân hoá những hình ảnh tích cực, sống động

a. Luca đã viết về Gioan Tẩy giả:

«Ngay khi còn trong lòng mẹ, em đã đầy Thánh Thần» (Lc 1,15).

b. Còn ngôn sứ Giêrêmia,

«Trước khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi;
trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hoá ngươi,
Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân
» (Gr 1,5)

c. Ngay cả bản thân Đức Giêsu, Ngài có cả chục câu tuyệt vời, tôi chỉ cần dẫn chứng vài câu thôi

«Thánh Tử là hình ảnh Thiên Chúa vô hình,
là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thọ tạo
» (Cl 1,15)

«Người đã tiền định cho họ nên đồng hình đồng dạng với Con của Người,
để Con của Người làm trưởng tử giữa một đàn em đông đúc
» (Rm 8; 29)

«Tôi và Chúa Cha là một» (Ga 10,30)

Giống như Gioan Tẩy giả, ngay từ trong lòng mẹ, tôi đã đầy Thánh Thần. Và cũng giống như ngôn sứ Giêrêmia, chính Thánh Thần Chúa đã thánh hoá tôi và sai tôi làm ngôn sứ cho muôn dân. Nếu tôi sống với niềm xác tín sâu xa đó thì chắc chắn tôi sẽ ngày càng đồng hình đồng dạng với Đức Giêsu, trưởng tử của Thiên Chúa. Và cảm nghiệm «Tôi và Chúa Cha là một» sẽ trở thành hiện thực ngay trong cuộc sống trần tục này (nói theo từ của tác giả Nguyễn Đăng Trúc).

Đọc tới đây, chắc có người phản đối:

Những câu này viết chỉ dành riêng cho cá nhân Gioan Tẩy giả, cá nhân Giêrêmia và đặc biệt là cá nhân Đức Giêsu mà thôi, bạn là gì mà dám sánh mình với các ngài. Hoặc phản đối mạnh mẽ và ngắn gọn hơn: Giêsu khác, bạn khác (Lại theo ánh mắt nhân loại: Chúa thánh thiện, tôi tội lỗi!!!)

Nếu nói như thế, thà tôi đọc chuyện Tây du ký còn sướng hơn vì toàn là chuyện viết riêng cho cá nhân Tam Tạng, cá nhân Tề Thiên, cá nhân Chứ Bát Giới… có liên quan quái gì với tôi đâu. Đọc xong tôi có thể vất vào thùng rác hoặc bán ve chai được vài đồng. Cũng vậy, nếu Kinh Thánh chẳng liên quan gì tới tôi, thì đọc làm gì cho mất giờ. Và vấn đề đồng hình đồng dạng sẽ trở thành vô giá trị, nếu tôi không cá nhân hoá Đức Giêsu với chính tôi. Hơn nữa, mục đích của đọc Kinh Thánh cuối cùng cũng chỉ để nên một với Chúa. Nên một với Chúa mà còn được, thì chuyện cá nhân hoá tôi với cỡ Gioan Tẩy giả hoặc Giêrêmia thì nào có nhằm nhò.

B. Nội tâm hoá

Nội tâm hoá chính là đưa Lời Chúa vào lòng mình và xác tín vào Lời đó, đơn giản chỉ vì tôi tin rằng Lời Chúa là Thần Khí và là sự sống.

Tôi xin minh hoạ một ít câu Kinh Thánh đã được tôi nội tâm hoá:

a. Họ được sinh ra, không phải do khí huyết,
cũng chẳng do ước muốn của nhục thể,
hoặc do ước muốn của người đàn ông,
nhưng do bởi Thiên Chúa
(Ga 1,13)

b. «Người đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ,
để trước thánh nhan Người,
ta trở nên tinh tuyền thánh thiện,
nhờ tình thương của Người
»
(Ep 1,4)

c. «Trước khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi;
trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hoá ngươi,
Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân
» (Gr 1,5).

Qua ba câu này, tôi khám phá ra sự xuất phát tuyệt vời của mình khác hẳn với những gì tôi biết trước đây. Tôi cứ tưởng tôi sinh ra trong đống tội, chỉ là vật mọn phàm hèn, không đáng Chúa ngự vào lòng… qua 3 câu này, tôi mới thấy mình thật hạnh phúc vì:

– Tôi được sinh ra bởi chính Thiên Chúa

– Ngài đã thánh hoá tôi ngay từ trong lòng mẹ

– Nhờ được thánh hoá, tôi trở nên thánh thiện tinh tuyền - và Ngài đã chọn tôi trước cả khi tạo dựng đất trời.

Nói cách khác, tôi là con ruột của Chúa chứ không phải dưỡng tử, hay nghĩa tử - một thằng con nuôi - Ủa, mà nếu tôi là con nuôi của Chúa thì ai là cha ruột của tôi nhỉ? Không lẽ tôi là con ruột của ma quỷ!!! kinh khủng quá và cũng vô lý quá. Tôi rất thích bài hát Chúa không lầm với giai điệu mượt mà, truyền cảm, nhưng nội dung thì thật đáng tiếc - xin lỗi tác giả - đúng là một viên thuốc độc bọc đường: Vì Chúa đã biết từ ngàn xưa rằng thân con bởi tro bụi và được cưu mang trong tội lỗi. Quả là khủng khiếp!!!

Với ánh mắt tâm linh, tôi xác tín rằng: ngay từ khi tôi còn trong lòng mẹ, Ngài đã thánh hoá tôi, cho nên, trước khi chào đời, tôi đã thánh thiện từ đầu đến chân. Như thế, theo ánh mắt tâm linh thì không có chuyện nên thánh vì tôi vốn là thánh rồi, còn nên nỗi gì nữa bây giờ. Nhưng thực tế rõ ràng tôi đã từng cảm thấy mình bê bối quá, yếu đuối quá. Nguyên nhân là vì ngay từ lúc còn nhỏ, tôi đã hấp thụ quá nhiều những tư tưởng trần gian, thành thử ra, tôi cứ tưởng mình phàm hèn và đành phải kéo lê lết cuộc đời nhàm chán. Mãi cho tới khi tôi nội tâm hoá những câu Kinh Thánh trên, tôi mới khám ra rằng: bấy lâu nay mình ngủ mê. Thực vậy, nhờ những Lời Chúa quý báu đó, tôi mới té ngửa giống như Phaolô đã từng ngã ngựa: À thì ra, mình vốn là con ruột của Chúa từ lâu rồi, mà mình không biết.

Nói tới đây, tôi chợt nhớ ra, tôi đã từng gặp rất nhiều, rất nhiều người vỗ ngực tự xựng mình là con Chúa nhưng khi cầu nguyện họ vẫn cứ nhắc đi nhắc lại những câu sáo mòn: Con là kẻ yếu đuối, tội lỗi, không xứng đáng, thế mà Chúa vẫn thương chọn con để con ra đi Loan Báo Tin Mừng. Yếu đuối, tội lỗi - một hình thức nô lệ, bị áp bức, bị giam cầm - làm sao có niềm vui đích thực được, mà đòi đi Loan Báo Tin Mừng!!! Tin mừng gì?!!

Để củng cố thêm cho niềm xác tín này, tôi xin dẫn chứng thêm 2 câu nữa của thánh Phaolô:

«Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta» (Rm 5,5)

Thiên Chúa đã bày tỏ tình yêu của Người không phải bằng tiền bạc, nhà cửa, xe cộ, chức tước, danh vọng; mà quý báu và trọng đại hơn nhiều đó là Thánh Thần.

Ngài ban Thánh Thần với mục đích gì?

«Thiên Chúa đã chẳng ban cho chúng ta một thần khí
làm cho chúng ta trở nên nhút nhát,
nhưng là một Thần Khí
khiến chúng ta được đầy sức mạnh, tình thương, và biết tự chủ
» (2Tm 1,4)

Thánh Thần là kho sức mạnh, là nguồn tình thương, là lò nghị lực. Như vậy, từ nay tôi không còn mặc cảm yếu đuối, chết nhát nữa bởi vì tôi đang mang trong mình cả một khối sức mạnh, tình thương và nghị lực. Trước đây, khi tên cám dỗ vừa ló mặt ra, hoặc là tôi đầu hàng rồi răm rắp làm theo những điều nó xúi giục; hoặc là tôi dùng nghị lực con người để chiến đấu với nó - rất cực khổ nhưng thường là thất bại thê thảm. Tôi bèn tự an ủi mình bằng cách đổi lỗi cho Chúa: Vì Chúa đã biết từ ngàn xưa rằng thân con bởi tro bụi và đuợc cưu mang trong tội lỗi. Hiện nay, tôi sống rất thoải mái, tự do, bình an nhờ sức mạnh Thánh Thần ở ngay trong tâm tôi. Thỉnh thoảng, tên cám dỗ ngày xưa cũng dẫn xác tới, nhưng tôi thấy rõ ràng hắn không còn sức quyến rũ mãnh liệt ngày nào, đơn giản chỉ vì mối bận tâm duy nhất của tôi hiện nay là sống điều tôi đã khám phá: sống cuộc sống dồi dào nhờ sức mạnh của Thần Khí Chúa ngay trong tâm hồn tôi.

***

Tóm lại,

Trong phần cách thức giải thích Kinh Thánh, Công đồng Vaticano II khuyến cáo người giải thích cần phải để ý tới văn loại, hoàn cảnh thời đại và văn hoá, nhưng quan trọng hơn hết vẫn là Kinh Thánh được viết ra bởi Chúa Thánh Thần nên cũng phải đuợc đọc và giải thích trong Chúa Thánh Thần.

Nếu đọc và giải thích theo ánh mắt của nhân loại: phân biệt Chúa thánh thiện – tôi tội lỗi - thì rõ ràng không đúng với tinh thần Công Đồng Vaticano II. Và con đường nên thánh của tôi sẽ trở thành mịt mùng diệu vợi - gần như không tưởng vì quan niệm thánh – phàm như dòng sông chia cắt đôi bờ hạnh phúc, như núi cao sừng sững ngăn cản bước chân trùng phùng giữa Chúa cao sang và tôi thấp hèn. Vì thế, tôi tập đọc Kinh Thánh theo ánh mắt tâm linh trong Thánh Thần nhờ nhân cách hóa và nội tâm hóa Lời Chúa vào lòng tôi. Và tôi có thể cảm nhận Thánh Thần bằng chính tâm hồn chứ không phải bằng trí óc con người. Thực vậy, cho dù Lời Chúa là một bức thư tỏ tình của Thiên Chúa đối với nhân loại, cho dù Lời Chúa là nguồn khôn ngoan vô tận, cho dù Lời Chúa là Thần Khí và là sự sống, nhưng nếu Lời Chúa không thấm vào tâm tôi, thì có ích gì?

Vì thế tôi xin được phép giới thiệu đọc Kinh Thánh bằng cách cá nhân hoá hay nội tâm hoá như là một món ăn trong bàn tiệc thịnh soạn Maranatha. Kính mời quý vị độc giả nếm thử cho biết mùi vị độc đáo của nó.

Về mục lục >

 

       ĐỨC TIN LÀM NÊN SỨC MẠNH

Nguyễn Chính Kết

1.      Đức tin cần thiết cho đời sống

Nói đến đức tin, rất nhiều Kitô hữu nghĩ đến một số những tín điều mình đang chấp nhận là đúng. Đức tin thật sự không phải là kết quả của việc chấp nhận xuông một số tín điều nào đó là đúng, hoặc là tuyên xưng những tín điều ấy ra một cách thật mạnh mẽ, rao giảng những tín điều ấy thật hùng hồn, như rất nhiều Kitô hữu đang làm. Rất nhiều Kitô hữu có thứ đức tin kiểu ấy. Nhưng đó không phải là đức tin đích thực. Đức tin đích thật phải là một lực mạnh mẽ từ nội tâm, thúc đẩy người tin phải hành động, bất chấp hy sinh hay đau khổ. Thánh Giacôbê nói: «Đức tin không có việc làm là đức tin chết» (Gc 2,26). Nghĩa là đức tin đích thực thì tự nó phải hướng đến việc làm, nếu không có việc làm thì đó chỉ là thứ đức tin giả hiệu. Nhiều người tưởng mình có đức tin, nhưng thật ra đức tin của họ là đồ giả, vì nó chẳng đem lại một lợi ích thực tế nào cho đời sống của họ. Nghĩa là chẳng làm họ hạnh phúc hơn, mạnh mẽ hơn, yêu thương tha nhân hơn… Nếu có đức tin hay không có đức tin, đời sống của ta cũng chẳng thay đổi bao nhiêu, thì thứ đức tin ấy chỉ là đức tin giả hiệu. Nếu ta có đức tin đích thực, đức tin ấy sẽ làm đời sống ta thay đổi lớn lao.

Ta thử tưởng tượng một anh chàng chuyên môn ăn trộm. Khi có người nói cho anh biết gần nhà anh có một người rất giàu có với một gia tài kếch xù, và gia tài ấy đang được để trong một cái tủ chắc chắn trong nhà người ấy. Anh trộm ấy sẽ không hành động gì nếu anh cho rằng thông tin đó chỉ xác thực được 30, 40%. Nhưng nếu anh biết nguồn tin đó là xác thực, có thể đúng tới 80, 90%, thì anh bắt đầu ăn ngủ không yên. Lòng trí của anh không thể không tính toán xem có cách nào chiếm đoạt được kho tàng ấy. Và sau khi suy nghĩ ra kế hoạch an toàn nhất để xâm nhập nhà đó, anh ta không thể không hành động. Chắc chắn anh ta phải thực hiện dự tính của mình. – Cũng thế, chúng ta không thể không hành động nếu chúng ta có đức tin thật sự.

2.      Tác dụng của đức tin đích thực.

Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu cho thấy hiệu lực rõ rệt của đức tin đích thực. Nếu là đức tin đích thực, thì dù chỉ là một chút, cũng có tác dụng to lớn: «Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì dù anh em có bảo cây dâu này: “Hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc”, nó cũng sẽ vâng lời anh em» (Lc17, 6). Đương nhiên chúng ta không nên hiểu lời Kinh Thánh này theo nghĩa đen, vì Thánh Kinh hay dùng những hình ảnh cụ thể để diễn tả những thực tại trừu tượng. Câu trên có nghĩa: đức tin đích thực, dù chỉ nhỏ bé, cũng có tác dụng thật sự, khiến người có đức tin có được một năng lực hay sức mạnh tinh thần lớn lao để thực hiện được những việc mình muốn.

Không có đức tin, không cậy dựa vào Thiên Chúa, chúng ta không thể làm được gì, đúng như Đức Giêsu nói: «Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được» (Ga15, 5). Nhưng nếu tin vào Thiên Chúa, ta sẽ có năng lực để làm được tất cả mọi sự, như thánh Phaolô đã từng cảm nghiệm: «Tôi có thể làm được tất cả nhờ Đấng ban sức mạnh cho tôi» (Pl 4,13). Vì lúc đó, năng lực mà tôi sử dụng không phải đến từ bản thân bất lực của tôi, mà đến từ Thiên Chúa, nguồn của mọi sức mạnh trong vũ trụ, là Đấng «không có gì là không thể làm được» (Lc 1,37). Lời Chúa rõ ràng như vậy, nên nếu ta không có đủ năng lực, chính là vì ta chưa có đức tin đích thực, mà chỉ có đức tin trên lý thuyết. Nghĩa là ta chỉ chấp nhận là đúng những gì Chúa hay Giáo Hội dạy, và ta chỉ tuyên xưng những điều đó ra ngoài miệng mà thôi, chứ chưa xác tín thật sự từ trong đáy lòng. Chỉ cần một chút thử thách là ta có thể nghi ngờ những điều đó ngay.

3.      Những sự kiện trong Kinh Thánh về đức tin

Một vài sự kiện trong Kinh Thánh đáng chúng ta lưu ý suy gẫm:

a. Khi về Nazarét, Đức Giêsu không làm được nhiều phép lạ nào. Tin Mừng Matthêu nêu rõ lý do: «vì họ không tin» (Mt 13,58). Như vậy, điều kiện để phép lạ có thể xảy ra là phải có đức tin.

b. Khi chữa lành bệnh cho ai, Đức Giêsu không nói rằng «Tôi đã cứu anh», mà nói: «Đức tin của anh đã cứu anh» (Mt 9,22; Mc 5,34; Lc 8,48; Lc 17,19). Như vậy, đức tin là yếu tố chủ quan chính yếu nhất để ta được cứu hay làm được chuyện này việc kia.

c. Đức Maria được bà Êlizabét khen: «Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em» (Lc 1,45). Như vậy, điều khiến cho Đức Maria có phúc chính là Mẹ đã dám tin vào quyền năng của Thiên Chúa. Chúng ta cũng có phúc nếu chúng ta dám thật sự tin vào Thiên Chúa như Mẹ.

d. Khi Phêrô thấy Đức Giêsu đi trên mặt biển, ông tin rằng ông cũng có thể đi trên mặt biển đến với Ngài, và với niềm tin ấy, ông đã đi trên mặt nước không khác gì đi trên mặt đất. Nhưng khi thấy gió thổi mạnh thì ông đâm ra nghi ngờ, đức tin của ông bị chao đảo. Chính vì thế ông bị chìm xuống (x. Mt 14,22-33). Điều đó cho thấy việc Phêrô đi được trên mặt nước hay bị chìm xuống là do đức tin của ông có mạnh mẽ hay không. Trường hợp này có thể nói: ông đi trên đức tin của ông, hay đức tin của ông chính là mặt đất nâng đỡ bước chân ông đi, cũng như nâng đỡ toàn bộ cuộc đời ông. Cũng vậy, khi đức tin ta vững vàng, đời sống nội tâm của ta luôn luôn an bình hạnh phúc bất chấp nghịch cảnh. Nhưng khi đức tin của ta bị chao đảo, đời sống của ta cũng bị chao đảo theo.

Phân tích những sự kiện Kinh Thánh trên, ta thấy: để thành tựu được một phép lạ, phải có hai yếu tố quan trọng: (1) quyền năng của Thiên Chúa(2) lòng tin của con người vào quyền năng của Ngài. Thiếu một trong hai thì phép lạ không thể thành tựu được. Tuy nhiên, quyền năng của Thiên Chúa thì bao giờ cũng có, lúc nào cũng sẵn sàng tác động, không bao giờ thay đổi hay mất đi. Nên yếu tố thường hằng ấy không cần xét tới nữa. Vấn đề còn lại chỉ là lòng tin của con người. Phép lạ hay điều ta cầu xin Thiên Chúa có xảy ra hay không, hoàn toàn do ta: do ta có thật sự tin vào quyền năng vô biên của Thiên Chúa hay không.

4. Hãy tự xét xem mình có đức tin đích thực không

Khi nói về đức tin, người Kitô hữu nào cũng đều tưởng rằng mình có đức tin. Nhưng trong thực tế, chỉ cần trải qua một vài thử thách nho nhỏ là ta có thể chứng tỏ mình có đức tin thật sự hay không. Lúc đó, nếu hồi tâm phản tỉnh, nhiều người sẽ khám phá ra mình hành xử chẳng khác gì người không có đức tin. Thông thường, người Kitô hữu nào cũng tuyên xưng mạnh mẽ vào sự quan phòng đầy tình yêu và quyền năng của Thiên Chúa, thậm chí rao giảng rất hùng hồn về niềm tin ấy. Chính vì tuyên xưng và rao giảng như thế, ta cứ ngỡ rằng mình tin rất vững vào sự quan phòng của Ngài. Nhưng khi tình yêu hay lương tâm ta đòi buộc phải hành động, phải hy sinh, phải chấp nhận nguy hiểm, hay khi gặp những giông tố của cuộc đời, bấy giờ ta mới thấy ta lo sợ đủ thứ và hành động y hệt như những kẻ không tin. Ta không dám phó thác vận mệnh của mình trong tay Thiên Chúa để có thể an tâm làm theo đòi hỏi của tình yêu hay lương tâm mình. Lúc ấy ta mới thấy niềm tin của ta rất mong manh, chỉ mong nó lớn «bằng hạt cải» thôi cũng không chắc đã được.

Nếu «ví phỏng đường đời bằng phẳng cả, anh hùng hào kiệt có hơn ai?» (Nguyễn Công Trứ), thì cũng vậy, nếu không có những thử thách, khó khăn trong cuộc sống, người có đức tin và người không có đức tin chẳng khác nhau bao nhiêu. Nhưng chính trong những thử thách, giống tố của cuộc đời, người có đức tin đích thực sẽ chứng tỏ được đức tin của mình.

Về mục lục >

TẠI SAO ĐỨC MARIA
LÀ NGƯỜI «ĐẸP LÒNG THIÊN CHÚA?

Nguyễn Chính Kết

Khi đọc kinh Mân Côi, chúng ta ca tụng Mẹ Maria là «có phúc lạ hơn mọi người nữ». Nhân lễ Đức Mẹ Mân Côi, chúng ta cùng tìm hiểu lời kinh ấy: tại sao Mẹ lại có phúc như vậy? Chính thiên sứ truyền tin cho Mẹ đã cho biết: «Vì bà đẹp lòng Thiên Chúa. Câu nói ấy lại khơi dậy trong ta một thắc mắc khác: tại sao Mẹ lại đẹp lòng Thiên Chúa? Chúng ta thử trả lời cho thắc mắc đó để rút ra một bài học cho cách sống của mình, để cuộc đời chúng ta cũng trở nên đẹp lòng Thiên Chúa như Mẹ.

1.      Đức Maria là người «đẹp lòng Thiên Chúa»

Đọc lịch sử của các dân tộc, ta thấy có nhiều thiếu nữ nghèo nàn, thuộc giai cấp thấp nhất trong xã hội, nhưng bỗng nhiên trở nên cao trọng thuộc loại nhất trong nước. Lý do: chỉ vì thiếu nữ ấy là người đẹp lòng vua, được vua yêu thương đưa lên làm hoàng hậu, một chức vụ mà ngay cả tể tướng cũng phải kính nể. Thiếu nữ ấy đẹp lòng nhà vua có thể vì sắc đẹp, vì tài năng, vì đức độ, hoặc vì tất cả những thứ ấy hợp lại, tùy theo tính khí và cách suy nghĩ của từng ông vua.

Trường hợp của Đức Maria có phần nào tương tự. Mẹ được chọn làm Mẹ của Đức Giêsu, Ngôi Hai Thiên Chúa. Vì thế, Mẹ trở nên hết sức cao trọng trước mặt Thiên Chúa và loài người, nên Mẹ được sứ thần kính cẩn chào với tư cách «Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà». Lý do khiến Mẹ được như thế đã được sứ thần cho biết: «Vì bà đẹp lòng Thiên Chúa». Một vấn đề thiết tưỏng rất ích lợi cho chúng ta là xét xem Mẹ Maria «đẹp lòng Thiên Chúa» chủ yếu ở điểm nào. Và đó chính là những điểm chúng ta cần bắt chước. Bắt chước Mẹ ở điểm ấy không phải để được trở nên cao trọng giống như Mẹ, vì khi ta vừa nhắm mục đích ấy thì lập tức ta đã khác biệt với Mẹ một trời một vực rồi, và ta đã trở nên không đẹp lòng Thiên Chúa ngay từ mục đích ấy rồi. Chính vì Mẹ không hề mong muốn mình trở nên cao trọng, nên Mẹ mới «đẹp lòng Thiên Chúa», và bởi thế mà trở nên cao trọng. Vì Thiên Chúa vẫn hành động theo kiểu: «Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh, dẹp tan phường lòng trí kiêu căng. Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường» (Lc 1,51-52).

Nếu đặt việc «đẹp lòng Thiên Chúa» làm mục đích, thì kết quả là bình an, hạnh phúc, cao trọng tự nhiên sẽ tới. Nhưng nếu lấy chính hạnh phúc hay việc trở nên cao trọng của mình làm mục đích, thì mục đích ấy sẽ không đạt được, mà có thể còn bị phản nghịch lại. Đúng như Đức Giêsu đã nói: «Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời» (Ga 12,25). Như thế, mục đích phải là Thiên Chúa thì kết quả mới là hạnh phúc của bản thân ta. Còn nếu mục đích là chính bản thân ta, thì kết quả không còn là bản thân ta nữa, mà lại là một cái gì phản lại ta. Đó là qui luật ta cần nắm vững. Trong chiều hướng này, Đức Giêsu cũng khuyên ta: «Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho» (Mt 6,33). «Những thứ kia» bao gồm tất cả những gì tốt đẹp liên quan đến ta, nó sẽ đến sau như kết quả tất yếu của việc «tìm kiếm Nước Thiên Chúa» mà ta phải đặt làm mục đích. Nó chỉ có thể là kết quả chứ không thể là mục đích.

2.      Coi bản thân mình là mục đích, xem Thiên Chúa và tha nhân là phương tiện, là nguồn gốc mọi tội lỗi và sự dữ.

Theo truyền thống Kitô giáo, Luxiphe (Lucifer) – có nghĩa: mang ánh sáng – là một phẩm vị thiên thần tốt đẹp nhất, đáng yêu nhất, quyền thế nhất, hơn tất cả các phẩm vị thiên thần khác trên thiên đàng. Nếu thế, ắt hẳn ông ta phải có rất nhiều nhân đức. Và đương nhiên mọi nhân đức đều có giá trị và đều làm đẹp lòng Thiên Chúa. Nhưng cuối cùng thiên thần này đã trở thành ma quỉ, thành nguyên lý xấu ác vượt trên mọi xấu ác, và thành nguồn gốc phát sinh mọi điều xấu ác và đau khổ. Lý do: ông đã coi «cái tôi» của ông quá lớn, ông đặt bản thân mình lên trên Thiên Chúa, coi Thiên Chúa là phương tiện, còn bản thân mình là mục đích. Tật xấu này là căn bản của mọi tật xấu, và làm cho mọi nhân đức mình đang có trở nên vô giá trị. Ađam và Eva cũng vậy, đã đánh mất hạnh phúc của mình và của con cháu cũng vì đặt quyền lợi bản thân mình cao hơn cả Thiên Chúa.

Thiên Chúa không phải là Đấng ích kỷ và cao ngạo, không muốn con cái hay tạo vật của mình lên cao bằng mình. Cha mẹ luôn luôn mong muốn cho con cái hơn mình, vì «con hơn cha là nhà có phúc». Thiên Chúa không hề kém quảng đại và khoáng đạt hơn các bậc cha mẹ thế gian. Mọi kiểu giải thích Kinh Thánh cho rằng chỉ vì Luxiphe và con người muốn bằng Thiên Chúa, nên đã bị Thiên Chúa chúc dữ. Giải thích như thế thì rõ ràng là đi ngược lại với kinh nghiệm bản thân của các bậc cha mẹ là luôn luôn mong cho con cái hơn mình. Giải thích như thế là coi Thiên Chúa cao ngạo, quá vị kỷ và đặt nặng «cái tôi» của mình hơn các bậc cha mẹ ở trần gian. Giải thích Kinh Thánh như thế một cách nào đó là hạ thấp phẩm chất của Thiên Chúa! Đức Giêsu đã từng khuyên chúng ta: «Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện» (Mt 5,48) Chữ «như» ở đây ngoài ý nghĩa là coi Ngài là gương mẫu để bắt chước, còn có nghĩa là giống, bằng, ngang với. Thiết tưởng ai mong muốn nên hoàn thiện bằng Thiên Chúa, không phải vì muốn đề cao mình, mà muốn sống đúng phẩm giá Thiên Chúa ban cho mình, là một điều đáng khen, và chắc chắn sẽ được Thiên Chúa chúc phúc. Chính Thiên Chúa không hề đặt nặng «cái tôi» của Ngài, điều đó được phản ảnh trung thực qua bản thân và đời sống Đức Giêsu, Ngôi Hai Thiên Chúa, Đấng đã sống tinh thần tự hủy, nghĩa là coi nhẹ «cái tôi», đến tận cùng (x. Pl 2,6-8).

Tội của Luxiphe và tổ tông con người là đã coi «cái tôi» của mình quá quan trọng, quá lớn, tự biến mình thành mục đích và coi Thiên Chúa cũng như tha nhân chỉ là phương tiện.

3.      Điều làm Mẹ đẹp lòng Thiên Chúa nhất
chính là Mẹ đã từ bỏ «cái tôi» của mình trước Thiên Chúa

Nếu coi «cái tôi» của mình như mục đích, coi Thiên Chúa hay tha nhân như phương tiện là điều làm mất lòng Thiên Chúa nhất và là nguồn gốc phát sinh mọi tội lỗi, thì trái lại, tinh thần tự hủy hay từ bỏ «cái tôi» là điều làm đẹp lòng Thiên Chúa nhất, và là nguồn phát sinh an vui và hạnh phúc. Thiết tưởng đây chính là nền tảng căn bản nhất của tình yêu, của sự thánh thiện, của mọi nhân đức. Có đầy đủ mọi nhân đức khác, mà thiếu tinh thần căn bản này, thì mọi nhân đức ấy đều không có nền tảng giá trị.

Sau Đức Giêsu, thì Đức Maria chính là mẫu gương sáng giá nhất về tinh thần tự hủy. Rất nhiều phụ nữ Do Thái đồng thời với Mẹ mong ước được làm mẹ của Đấng Thiên Sai mà các ngôn sứ hứa, để hưởng sự giàu sang và vinh quang tột bậc cho mình. Còn Đức Maria thì không hề mong muốn gì cho bản thân mình, Mẹ chỉ nghĩ tới vinh quang của Thiên Chúa và hạnh phúc của tha nhân. Mẹ muốn mình trở nên một công cụ để thực hiện mục đích vị tha ấy. Theo truyền thống Công giáo, Mẹ muốn hiến cuộc đời mình để phụng sự Thiên Chúa, không tưởng nghĩ đến hạnh phúc riêng của mình, cụ thể như chuyện vợ chồng. Việc đính hôn với Giuse chỉ là một cách khôn ngoan trước mặt người đời để cả hai có thể thực hiện lý tưởng ấy. Vì thế, khi được sứ thần cho biết ý định của Thiên Chúa, Mẹ đã thắc mắc ngay: «Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng!». Mặc dù đang bị thu hút bởi lý tưởng ấy, nhưng khi biết được thánh ý Thiên Chúa muốn mình đi theo con đường khác, thì Mẹ sẵn sàng dẹp bỏ ngay ý riêng của mình để trả lời: «Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói».

Vậy, muốn đẹp lòng Thiên Chúa, điều quan trọng là chúng ta phải từ bỏ «cái tôi» của mình trước Thiên Chúa và tha nhân. Đó cũng là điều kiện quan trọng nhất để chúng ta có thể thật sự yêu Thiên Chúa và thương tha nhân cách đúng nghĩa và đẹp lòng Thiên Chúa nhất.

Về mục lục >

       

       PHỤNG VỤ THÁNG MƯỜI

HẠNH PHÚC CỦA MARIA

NHC

Trong xã hội Á Châu nói chung và Việt Nam nói riêng, chúng ta thường gặp được những phụ nữ chẳng quan tâm đến hạnh phúc của riêng mình, mà có thể nói, suốt đời họ chỉ lo lắng cho cuộc sống và hạnh phúc của chồng, con mà thôi. Trong số những phụ nữ đặc biệt ấy, có Maria, Mẹ Chúa Giêsu.

Đọc Tin Mừng, chúng ta thấy ngay cách đối xử của Maria với Giuse như thế nào. Chịu thai bởi Thánh Thần Thiên Chúa, Maria âm thầm giữ kín bí mật cho riêng mình. Không hé môi, không một lời với Giuse, bạn trăm năm. Có phải vì Maria sợ Giuse không tin, không hiểu nổi việc vĩ đại của Thiên Chúa không? Có phải Maria coi thường và không tin tưởng Giuse không? Cách cắt nghĩa xem ra thỏa đáng nhất cho thái độ im lặng của Maria là vì Nàng không muốn làm buồn lòng Giuse và phó thác cho Thiên Chúa thu xếp mọi việc. Một thái độ tin yêu, kính trọng, vì hạnh phúc của chồng.

Với Đức Giêsu, người con của Maria, Phúc Âm cho chúng ta nhiều minh hoạ về mối quan hệ mẹ con thắm thiết như thế nào. Điểm nổi bật là bao giờ Maria cũng đóng vai trò mờ nhạt, lệ thuộc, thứ yếu bên cạnh Đức Giêsu. Nhưng nhìn cho kỹ, thì vai trò của Maria chẳng mờ nhạt, chẳng thứ yếu chút nào. Nhưng chỉ vì Maria có sứ mệnh phục vụ sứ mệnh cứu độ của con là Đức Giêsu, nên cả cuộc đời Nàng là qui về con, hỗ trợ con, phục vụ con.

Hạnh phúc của Maria là hạnh phúc của một người vợ, người mẹ lo lắng cho chồng cho con. Vì chồng và con của Maria đã nhận một sứ mạng lớn lao từ Thiên Chúa, nên hạnh phúc của Maria cũng là phục vụ sứ mạng cứu độ ấy của Thiên Chúa. Chính vì thế mà Maria có mặt vào những thời điểm quan trọng của chặng đường Thập Giá và Phục Sinh của Đức Giêsu. Dưới chân thập tự giá, Maria đứng đó, đau khổ với con, vì con, và hơn cả con…để chương trình của Thiên Chúa được hoàn thành. Vì vậy ngày Chúa Phục Sinh vinh quang, thì hơn ai hết Maria là người sung sướng hạnh phúc nhất.

Hãy gần gũi với Maria. Hãy chia sẻ với Maria những niềm vui nỗi buồn của chúng ta khi chúng ta thực hiện vai trò làm vợ, làm mẹ bên cạnh chồng, con chúng ta. Maria sẽ giúp chúng ta khám phá ra con đường tìm thấy Hạnh Phúc, Hạnh Phúc đích thực của Nước Trời mà Chúa Giêsu Kitô đã đem lại cho Mẹ, cho mọi người chúng ta.

Về mục lục >

YÊU MẾN CHÚA VỚI TÂM HỒN TRẺ THƠ

Lm. Đỗ Xuân Quế, OP.

Hàng năm vào dịp lễ thánh Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su, ngôi nhà nguyện bé nhỏ của nữ đan viện Cát minh số 33 đường Tôn Đức Thắng lại trở thành một nơi thu hút đông đảo các tín hữu. Điều ấy chứng tỏ rằng họ có một tấm lòng riêng đối với thánh nữ và những cảm tình đặc biệt đối với ngôi nhà nguyện này.

Thật vậy, ai trong chúng ta đã chẳng có lần thấy lòng mình rung động truớc khuôn mặt trẻ trung, chiếu tỏa ra một một vẻ dịu dàng trong trắng, đầy thánh thiện và một sức hấp dẫn lạ lùng của thánh nữ, hay không cảm thấy có một cái gì lâng lâng khác lạ, khi bước chân vào ngôi nhà nguyện này, mắt nhìn lên tượng thánh nữ mà bên tai còn như văng vẳng những lời sau đây:

“Tôi muốn sống cả thời gian trên thiên đàng để làm ích cho dưới thế”

“Tôi sẽ làm mưa xuống những trận hoa hồng.”

“Sứ mệnh của tôi là mến yêu.”

Thánh nữ đã khám phá ra và xây dựng được một công trình thánh hóa bản thân, dựa trên đường nét căn bản này là biến mình thành trẻ thơ và sống như trẻ thơ đối với Chúa. Nét tiêu biểu trong cuộc đời thánh nữ là hiến thân cho tình yêu. Thánh nữ đã yêu mến Chúa như môït trẻ thơ yêu mến cha mẹ.

1. Yêu mến Chúa

Trước hết thánh Tê-rê -xa Hài Đồng là người đã hết lòng yêu mến Chúa. Thánh nữ đã hiến thân cho tình yêu và suốt đời đã yêu mến Chúa chẳng khi ngơi, cả những lúc phải cực kỳ đau khổ vì cơn bệnh dày vò, và những nỗi khổ tâm xâu xé vào những năm tháng cuối đời. Quả như thánh nữ đã viết: sứ mệnh của bà là yêu mến nên cả đời bà đã yêu Chúa và lấy làm đau xót khi thấy người ta không yêu mến Chúa bao nhiêu, ngay cả một số các linh mục và tu sĩ. Nhận xét của bà lúc bấy gờ cũng giống như nhận xét của Đức Phao-lô VI khi làm giáo hoàng: “Ở thời đại chúng ta, sống thân tình với Chúa vẫn là một mục tiêu quan trọng, nhưng khó khăn, bởi lẽ người ta nghi ngờ Chúa và cho rằng mọi sự tìm kiếm Chúa vì chính Người là một trói buộc. Thế giới bây giờ tràn ngập tinh thần tục hóa, muốn rút đời sống và hoạt động của nhân loại ra khỏi nguồn gôc và cứu cánh thần linh của nó.”

Vì thế, để sống mật thiết với Chúa, thánh nữ đã tin tưởng mãnh liệt vào tình thương của Người, qua những chi tiết nhỏ nhặt hàng ngày, đã bước đi trước mặt Người và đời thánh nữ  là một cuộc chuyện trò liên lỉ với Đấng Chí Ái. Bởi vậy, lời nói cuối cùng của thánh nữ trước khi lìa đời là: “Lạy Chúa, con yêu mến Chúa; vâng, con yêu mến Chúa.”

2. Với một tâm hồn trẻ thơ

Thánh Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su yêu mến Chúa, yêu thiết tha, mãnh liệt. Nhưng cách thế yêu mến của Chị lại rất tự nhiên, đơn giản. Chị yêu Chúa như một trẻ thơ yêu cha mẹ, không phức tạp, phiền toái, mà rất hồn nhiên, bộc phát. Thánh nữ đã không phải tìm những ý tưởng cao xa, những lời lẽ chải chuốt, mà chỉ nói những điều mình cảm thấy hay nghĩ được, một cách đơn sơ, thanh thản. Đối với Chị, Thiên Chúa quả là một người cha rất âu yếm, thông cảm. Có lẽ tình nghĩa cha con giữa thánh nữ với ông thân sinh trong những năm thơ ấu, và thời kỳ trước khi vào đan viện Lisieux (Ly-di-ơ) đã giúp cho Chị có được kinh nghiệm trong cách đối xử với Thiên Chúa. Bởi vậy, khi đọc những lời Đức Giê-su nói về các trẻ em: “Cứ để mặc trẻ em, đừng ngăn cấm chúng đến với Thầy, vì Nước Trời là của những ai giống như chúng.” (Mt 19,14) Những lời này làm cho thánh nữ mạnh dạn đến với Chúa cũng như những lời khác: “Thầy bảo thật anh em: nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ thì sẽ chẳng được vào Nước Trời. Vậy ai tự hạ, coi mình như em nhỏ này, người ấy sẽ là người lớn nhất trong Nước Trời.” (Mt 18,3)

Tuổi thơ là tuổi của sự hồn nhiên trong trắng, không mưu mô, không xảo quyệt. Giống như trẻ thơ là ngay thẳng, thật thà, tin tưởng, phó thác, để cho cha mẹ lo liệu, vì tự mình chưa đến tuổi, chưa đủ sức, chưa lo được.

Đối với Chúa, thánh Tê-rê-xa cũng áp dụng một đường lối như thế. Chị không bận tâm tìm những cách thế để bày tỏ lòng mến Chúa như những vị anh hùng đại thánh, mà chỉ làm theo ý Chúa trong những việc tầm thường nhỏ bé, như Chị đã viết trong cuốn sách Một Tâm Hồn: “Trên trời, Thiên Chúa sẽ phải chiều theo mọi ý muốn của tôi, vì ở dưới đất này, tôi đã không bao giờ làm theo ý riêng.”

Như vậy, chỉ vì suốt đời thánh nữ đã muốn sống như một trẻ thơ và giữ một tâm hồn thơ trẻ đối với Chúa. Chính  điều đó đã làm cho bà nên cao trọng. Quả thế, tuy không hãm mình phạt xác như các vị ẩn tu trong sa mạc hay khổ tu trong các dòng nhiệm nhặt, nhưng Chị đã được kể vào hàng các vị đại thánh. Tuy không bôn ba xuôi ngược như các nhà truyền giáo, thế mà Chị đã được coi như nhà truyền giáo vĩ đại, được đặt làm bổn mạng các xứ truyền giáo, ngang hàng với thánh Phan-xi-cô Xa-vi-ê. 

Thánh Tê-rê-xa đã yêu mến Chúa với một tâm hồn trẻ thơ. Nhưng điều ấy liên hệ gì đến các tín hữu thời nay, những người sống xa thánh nữ cả hơn một thế kỷ và hầu hết lại không không sống trong các tu viện?

Thật vậy, tuy hầu hết các tín hữu bây giờ không sống trong các tu viện, nhưng mọi người vẫn phải yêu mến Chúa theo cách thế của mình, giống như  ai nấy phải yêu mến cha mẹ, vì các ngài đã hết lòng yêu, lại có công dưỡng dục sinh thành và gầy dựng cho con cái. Chúa cũng là Đấng tác thành nên chúng ta, là cha, là mẹ của chúng ta. Người ta không hỏi tại sao phải yêu mến cha mẹ và yêu như thế để làm gì, vì đó là điều hiển nhiên. Hơn nữa, vì là những người đã chọn tin theo Chúa, ngày chịu phép Rửa, nên mến Chúa vừa là bổn phận lại vừa là điều hợp lý.

Nhưng yêu mến Chúa làm sao? Đó là vấn đề. Vấn đề ở chỗ chúng ta không sống trong cùng một thời đại và trong bầu không khí sinh hoạt như  thánh Tê-rê-xa. Ngoài ra, mỗi người lại có một cảnh đời riêng với những mối bận tâm, lo lắng và mơ ước trong đời sống vật chất cụ thể. Làm thế nào để sống, làm thế nào để có công ăn việc làm, có của ăn của để và các tiện nghi vật chất, đó mới là những chuyện thiết thân và cấp bách.

Nhưng không phải chỉ có vấn đề sinh sống, đành rằng có thực mới vực được đạo, mà còn có đời sống tinh thần và cuộc đời mai hậu và lời từ miệng Thiên Chúa phán ra nữa.

Vì hiểu biết những nỗi băn khoăn lo lắng của chúng ta nên Chúa mới nói: “Đừng lo lắng cho mạng sống anh em: lấy gì mà ăn ; cũng đừng lo lắng cho thân thể  anh em : lấy gì mà mặc. Tất cả những thứ đó dân ngoại vẫn tìm kiếm. Cha của anh em ở trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó. Trước hết, hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho. Vậy anh em đừng lo lắng về ngày mai: ngày mai, cứ  để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày nấy.” (Mt 6, 25.32-34)

Lời Chúa nhắn bảo về điểm này, thiên hạ nghe đã quen tai. Nhưng thực hành những lời đó mới thực là gay. Thật vậy, chúng ta vẫn biết là có Chúa lo và chúng ta cũng muốn để Chúa lo theo gương thánh Tê-rê-xa. Nhưng phải nhận rằng chúng ta vẫn không được an tâm. Vì thế, phải nhớ lại lời Thánh Vịnh: “Ai tìm kiếm Chúa chẳng thiếu chi điều lành.” Nhưng cho dù đau khổ dồn dập đổ tới thay vì điều lành, bấy giờ người yêu mến Chúa vẫn có thể nói như thánh Tê-rê-xa: “Từ lâu đau khổ đã trở thành thiên đàng của tôi ở dưới thế và tôi khó hình dung ra được tôi sẽ làm thế nào để quen sống ở một nơi mà chỉ có hạnh phúc không pha chút u buồn.”

Vậy, chúng ta sẽ yêu mến Chúa với một tâm hồn trẻ thơ như thánh nữ Tê-rê-xa, mỗi người theo hoàn cảnh và chỗ đứng của mình trong xã hội. Chúng ta không thể hoàn toàn giống thánh Tê-rê-xa, vì mỗi người mang một tâm tính và có một cảnh đời khác nhau, nhưng có thể giống ở chỗ phó thác và tin tưởng. Chúng ta biết rằng mình yếu đuối và không đủ khả năng đương đầu với những khó khăn xẩy ra trong cuộc đời, cũng chẳng thể trung thành theo Chúa mãi, nếu không được ơn trợ giúp. Nhưng chúng ta vẫn có thể tỏ bày nỗi lòng ra với Chúa một cách đơn sơ, và yêu mến Chúa với khả năng hạn hẹp của mình ; phần còn lại Chúa sẽ bù đắp cho như  thánh nữ viết: “Chúa nói : Ta sẽ đem theo phần thưởng để thưởng cho mỗi người tùy theo công nghiệp của họ. Tôi tự bảo: với tôi chắc Chúa sẽ phân vân lắm. Tôi không có công nghiệp gì? Vì thế Chúa sẽ không thể thưởng tôi tùy theo công nghiệp của tôi mà Người sẽ thưởng tôi theo Lòng Thương Xót của chính Người.”

Thánh Tê-rê-xa Hài Đồng đã được tôn phong lên hàng tiến sĩ Hội thánh. Như vậy những điều Chị viết về cách thế yêu mến Chúa với một tâm hồn trẻ thơ đã được công nhận là chính đáng và nêu cho hậu thế noi chung. Những ai đi tìm Chúa có thể nương tựa vào đây để đi tìm cho chính xác và hữu hiệu hơn.  

Về mục lục >

NGƯỜI THANH NIÊN ĐÃ CHỌN CHÚA

Maranatha sưu tầm

Từng giàu có và đầy cao vọng

Chàng đã chọn lấy sự khó nghèo và khiêm nhường

Từng có khuynh hướng theo nghề chiến tranh

Chàng đã chọn lựa hòa bình

Từng yêu thích lễ hội và lạc thú

Chàng đã chọn lựa sự đơn sơ và từ bỏ.

Chàng đã chọn lựa Thiên Chúa

Chàng là ai?

Họ của chàng là Bernardone. Tên chàng lý ra là Gioan, nhưng cha chàng lúc bấy giờ đang buôn bán với  như Pháp, và có lẽ vì mẹ chàng gốc Pháp (Francia) nên mọi người lại thích cái tên Francesco. Vì chàng ra đời tại Assisi (năm 1181 hoặc 1182) nên người ta gọi chàng là Francesco d’Assisi (Phanxicô Assisi).

Tuổi thơ của chàng thật sung sướng, vì rất đầy đủ vật chất. Cha chàng là một thương gia già, và chàng đương nhiên được chuẩn bị để nối nghiệp cha. Vì có nhiều tiền nên cũng có nhiều bạn: chàng từng là một ‘hoàng tử’ trong giới trẻ ăn chơi tại Assisi.

Lớn lên, chàng mơ ước trở thành hiệp sĩ. Kinh nghiệm đầu đời của chàng quả là bi đát: sau trận chiến với thành phố lân cận là Perugia, chàng bị bắt làm tù binh. Một năm bị giam! Kế đến là ngã bệnh. Dù sao thì chàng cũng cố gắng theo đuổi binh nghiệp.

Nhưng dần dần, chàng có linh cảm rằng mình cần phải làm một điều gì tốt lành hơn. Trước hết, chàng hiểu rằng cần phải sửa chữa các thánh đường bị đổ nát: đấy là điều mà Thập giá Chúa Kitô trong thánh đường San Damiano đã mặc khải cho chàng năm 1205. Lúc bấy giờ chàng vừa 25 tuổi. Một năm sau, chàng đoạn tuyệt với gia đình và từ bỏ mọi của cải. Trong vòng hai năm, chàng đã chăm sóc người phong hủi và sửa chữa cách nhà thờ. Năm 1208, ở tuổi 28, khi nghe đọc bài phúc âm trong thánh lễ, chàng hiểu rằng ơn gọi của mình là sống Lời Chúa theo nghĩa đen.

Dưới ánh sáng của Chúa Thánh Thần, sau này chàng hiểu rằng đấy cũng là một cách vực dậy một Giáo Hội đang xuống dốc. Chàng phải chứng minh cho mọi người thấy được tình yêu Thiên Chúa, và tình hiệp thông của mọi anh em cùng một Cha trong Hội Thánh của Người.

Chẳng bao lâu sau, nhiều người đến sống với chàng. Ngài sang Rôma xin Đức Giáo Hoàng cho phép họ sống nếp sống như thế trong lòng Giáo Hội. Giáo Hoàng chấp thuận với ít nhiều dè dặt.

Rồi các phụ nữ cũng noi gương để sống cuộc sống tương tự: người ta gọi họ là cộng đồng Clara, do tên của người tiên phong là Clara d’Ofrreducci, lúc bấy giờ mới 18 tuổi. Sau khi cư ngụ một thời gian ngắn trong các tu viện Biển Đức, nhóm Clara đầu tiên đến ở tại San Damiano, nhà thờ đầu tiên mà chàng Phanxicô tu sửa: người ta gọi họ là những Bà Nghèo.

Về sau, các giáo dân cũng xin theo nếp sống phúc âm đó, mà vẫn sống với gia đình và hành nghề của mình. Đấy là dòng Ba, tiếp nối cho Huynh Đoàn.

Một số anh em đi sang các nước khác ở Âu Châu. Bản thân Phanxicô cũng muốn dấn thân hơn nữa đề phục vụ giáo hội nên đầu quân tham dự cuộc Thánh Chiến thứ 5. Nhưng tại chiến  trường Damiette, năm 1219, ngài phát hiện một tình hình bạo lực quá đáng. Phanxicô đem hết sức mình để ngăn cản chiến tranh. Phương thức hủy hoại của các cuộc thánh chiến đã làm chàng choáng váng. Ngài xác tín rằng đấy không phải là cách thức để loan báo hòa bình và tình yêu của Thiên Chúa. Vì thế, ngài nghĩ đến việc gặp Vua Hồi Giáo (sultan) và đối thoại với ông. Ngài được tiếp kiến vua Melik el Kemel, một người thiện chí và cởi mở, và xin được tự do ra vào nước của ông để sang Đất Thánh.

Từ ấy, Phanxicô đã từ bỏ chức vụ điều hành hội dòng của mình và ẩn mình để viết luật dòng cho anh em. Năm 1223, ngài hoàn tất luật dòng và được đức giáo hoàng phê chuẩn.

Ngài mừng lễ Giáng Sinh tại Greccio. Đấy là nơi mà máng cỏ Noel lần đầu tiên trong lịch sử, qua bàn tay của ngài.

 Càng ngày càng đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô, ngài ẩn mình trên các ngọn đồi vùng Alverne: sau những ngày cầu nguyện xuất thần, thân thể ngài  đã xuất hiện năm dấu thánh của Chúa Giêsu.

Sau khi đau mắt đến độ gần như mù, trong thân hình bệnh hoạn, ngài trở về lưu trú tại San-Damiano và đã viết Bài Ca Vạn Vật (Cantico delle Creature - Laudes Creaturarum) và di chúc của mình.

Ngài qua đời ngày 3 tháng 10 năm 1226, vào tuổi 45

Năm 1228, ngài được công bố là thánh, và đức giáo hoàng đã cho xây một thánh đường tại  Assisi để tôn vinh ngài, mà ngày nay vẫn còn là một trung tâm hành hương.

Năm 1979, Đức Gioan Phaolô II tôn ngài làm thánh bổn mạng của các nhà môi sinh.

Tóm lại, với tư cách là  Kitô hữu, ngài đã đón nhận sứ điệp Phúc Âm một cách cực kỳ nghiêm chỉnh, thường thường là theo nghĩa đen. Trước một Giáo Hội sa sút và xơ cứng, trước một xã hội chạy theo chiến tranh, của cải và quyền lực, ngài đã chọn nếp sống nghèo là không hề lên tiếng than vãn, chê bai. Ngài lấy chính cuộc sống của mình mà phản kháng.

Cái Giáo Hội thời ấy, một Giáo Hội đã lệch đường khá xa so với Phúc Âm mà ngài rao giảng, thì ngài không hề lên án, và cũng không quay mặt bỏ đi; ngài đã chọn Giáo Hội làm nơi cư trú của mình, vì Chúa Kitô và vì Thần Khi mà ngài tìm gặp trong Giáo Hội.

Trong cuốn tiểu sử đầu tiên viết về ngài năm 1228, Thomas de Celano đã ghi lại ở chương 29 như sau:

Năm 16 tuổi, ngài học nghề bán vải với cha mình.

Năm 18 tuổi, ngài là vì sao sáng trong mọi lễ hội. Ngài thích xài phí vung tay và ăn mặc xa hoa.

Năm 20 tuổi, ngài vào quân đội và tham gia chiến trường. Ngài muốn trở thành hiệp sĩ. Ngài bị bắt trong trận chiến giữa Assisi và Perugia, bị cầm tù và được trả về trong tình trạng bệnh hoạn.

Năm 24 tuổi, ngài lắng nghe Chúa muốn ngài làm gì và đã quyết liệt đáp trả.

Còn bạn, bạn là ai?

. Bạn đang ở đâu trên con đường đời mà bạn đang sống?

. Bạn có mơ ước gì? Khát vọng gì? Hoài bão nào?

. Có điều gì làm bạn trăn trở không?

. Bạn có muốn điều ấy thay đổi không?

. Bạn đã làm gì để thay đổi?

Biết đâu chàng thanh niên Phanxicô có thể giúp bạn tìm ra một con đường?

Về mục lục >

 TẢN MẠN

ĐẾN VỚI CHÚA QUA MẸ.

 

Viết theo lời kể của Amy Van Bích - San José

Tôi có một anh bạn sống đạo đàng hoàng, có lẽ là nhờ anh rất sùng kính Đức Mẹ. Đến nhà anh chơi, tôi thấy trong nhà anh phòng nào cũng có một ảnh Đức Mẹ. Tôi hỏi anh: “Sao chỉ thấy ảnh Đức Mẹ mà không thấy cây thánh giá nào?” Anh bảo: “Mình chỉ sùng kính Đức Mẹ thôi, Chúa đối với mình sao cao cả quá, mình thấy sợ…” Tôi tự nhủ: “Như thế cũng hay, ai sùng kính Đức Mẹ thì trước sau gì Mẹ cũng đưa đến gần Chúa Kitô.” Nghĩ như vậy, nhưng tôi vẫn thấy có gì không ổn. Yêu mến Đức Mẹ đến độ quên Chúa Kitô thì còn là một đức tin công giáo tinh ròng không?

Cách đây hai  tháng,  nhân dịp xuống Orange County, tôi có mua được bộ CD ‘Ngài Đã Gọi Họ”. Trên đường về San Jose, vợ chồng tôi lắng nghe và bị đánh động, thế nên chúng tôi yêu cầu gửi cho chúng tôi một số bộ khác. Tôi trao cho người bạn của tôi một bộ và bảo: “Nghe cuốn này đi, hình ảnh Chúa Kitô trong này rất dễ thương. Hãy nghe đi, giá mỗi bộ là 20 USD chứ không phải là cho không đâu”.

- Thôi, tôi sẽ đóng 20 đồng ủng hộ mà không lấy CD. Tôi không đủ can đảm nghe đâu.

- Không! Đem về nghe đi. Nếu không thích thì đem trả lại. Nếu thích thì tôi mới lấy tiền.

Vài ngày sau, gặp lại người bạn, anh chỉ nói có một chữ: “hay!”

Thế rồi weekend đến, anh hỏi tôi: “Có rảnh không? Đi theo giúp tôi mua vài cây thánh giá. Chúa Giêsu dễ thương chứ không đáng sợ như tôi tưởng!” À thì ra thế!

Cám ơn Đức Mẹ. Mẹ thật tế nhị. Mẹ đã dẫn một tâm hồn yêu mến Mẹ về với Chúa Giêsu. Nhưng Mẹ không lấy quyền năng mà thực hiện một mình. Mẹ muốn dùng bàn tay của những người con khác của Mẹ đưa anh em mình về với NGƯỜI ANH CẢ của chúng con.

Về mục lục >

 THƠ

TÊRÊSA HÀI ĐỒNG GIÊSU

Lm. Khuất Dũng sss

TÊRÊSA hưởng phúc Nước Trời

Bông hoa thơm ngát ngàn đời thắm xinh

Sống vui đạo đức gia đình

Công cha nghĩa mẹ tận tình đỡ nâng

Tin yêu phó thác xin vâng

Con đường nên thánh trào dâng cao vời

Nêu gương thánh đức rạng ngời

Hướng mình nghĩ đến Nước Trời tương lai

Nguyện cầu thống hối khẩn nài

Trọn đời dâng hiến cho Ngài mà thôi

Nỗi niềm Tử đạo sục sôi

Tình yêu - đau khổ song đôi bóng hình

Hiểu lầm, nghiêm khắc, cực hình

Bất công, thử thách, tội tình, vạ lây

Nụ cười đáp lại ngất ngây

Âm thầm giúp đỡ người gây phiền hà

Cúi đầu nhận lỗi thứ tha

Khiêm nhu chờ đợi nơi Cha nhân lành

Tình yêu đại độ biến thành

Hy sinh nhỏ bé thực hành trước sau

Quyết tâm phương thế tiến mau

Hiến mình toàn vẹn đớn đau thắm nồng

Đêm ngày trăn trở khát mong

Trên trời tuôn đổ hoa hồng thánh ân

Mưa rơi hồng phúc thấm nhuần

Trao ban tận hiến tâm thân hoàn toàn

Thương người trắc trở gian nan

Cô thân, cố thế, cơ hàn, lẻ loi

Bơ vơ, bé mọn, thiệt thòi

Xoá đi ích kỷ hẹp hòi vấn vương

Đơn sơ nhỏ bé khiêm nhường

Trong vòng tay Chúa yêu thương vô vàn.

Khiết Tâm ngày 1/10/2004

 

Về mục lục >

 

 TÂM TÌNH BẠN ĐỌC

LTS: Tuần qua, MARANATHA đã nhận được thư, bài vở và những ý kiến đóng góp của Quý độc giả: Thế Nguyễn, Lm. Trần Xuân Thịnh, Huynh, Nguyễn Lam Sơn, MarieCecille, Sr. Christine, Joseph Nguyễn, Lm Đỗ Xuân Quế, Nguyễn Minh, Nguyễn Thị Mỹ Dung, Jos Đặng văn Tuyên, Thái Văn Hiến…

Để hồi âm chung cho một số độc giả hỏi về font chữ, Maranatha hiện đang sử dụng font Times New Roman (Unicode) để viết và nhận bài. Nếu quý vị sử dụng Windows trước 98SE, xin install font Unicode này vào máy. Viết bài cho Maranatha xin quý vị cũng sử dụng font này.

Đối với những độc giả nhận báo lần đầu tiên hoặc độc giả nào còn thiếu một vài số báo cũ, xin quý vị vui lòng vào hai trang websites http://maranatha-vn.net hoặc http://tiengnoigiaodan.net để download những số báo mình cần. Hiện nay, các số báo từ 1 đến 21 đã được lưu trên hai websites trên. Nếu vì lý do trục trặc kỹ thuật, xin liên lạc về địa chỉ: maranatha@saintly.com.

Xin kính gửi một vài tâm tình của độc giả đã gửi về trong tuần qua để chia sẻ, hiệp thông và cầu nguyện cho nhau.

Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích lệ của Quý độc giả dành cho Maranatha.

Nguyện xin Chúa chúc lành cho Quý Vị. 

Trân trọng,

MARANATHA

Về mục lục >

THƯ BẠN ĐỌC

  •         Bình Dương, Con là một giáo dân ở Việt Nam, may mắn đọc được báo Maranatha, con thấy nội dung  phong phú và ích lợi cho chúng con. Nay con xin đăng ký và muốn nhận báo Maranatha. Xin gửi cho chúng con. Chân thành cám ơn và chúc nhiều sức khỏe. Huynh.

  •      Maranatha đã được đón nhận nhiệt tình trong Ca Đoàn và nhóm LMTT trong Cộng Đoàn. Tôi đọc tương đối đầy đủ các số báo của Maranatha. Cám ơn Chúa và các cộng tác viên đã có công sức cho những đóng góp này, để cho các tín hữu Công Giáo xa gần có tư liệu để học hỏi và khích lệ sống Lời Chúa, hâm nóng sự nguội lạnh vì mệt mỏi trong công việc mỗi ngày nơi xứ người. Thọ Trần, Los Angeles.

  •      Kính tặng Ban Giám Đốc Báo MARANATHA mấy vần thơ…Nguyện xin Chúa Giêsu Thánh Thể và Mẹ Maria ban muôn ơn lành xuống trên Ban Giám Đốc và quí quyến. Lm. Dam. Tran Van Dung sss.

  •      Cám ơn rất nhiều và mong sẽ tiếp tục nhận được thông tin từ tuần báo. Thân ái, Nguyễn Lam Sơn.

  •      Con xin chân thành cám ơn Ban Biên Tập, con đã nhận được bài viết số 21 trong tuần này. Hộp thư email này là hộp thư chung, con biết nên cùng đọc, viết. Mặc dù mỗi người một nơi. Mỗi tuần chia nhau cám ơn 1 người. Hôm nay, con được vinh dự thay mặt Anh Chị Em kính cám ơn Ban Biên Tập Xin Chúa chúc lành cho Quý cha, Quý Vị  Ban Biên Tập ngày sẽ làm giàu thêm những ơn gọi trong tương lai và những người dân ngoại. Kính chào, MARIACECILIA.

  •      Đã hơn một lần, tôi có dịp đọc được mấy bài trên Maranatha. Vô cùng thích thú. Nếu được, xin vui lòng chuyển cho tôi những bài viết thường xuyên, để tôi có dịp hiểu biết thêm về Chúa. Nguyện xin Chúa chúc lành việc làm tông đồ này. Chân thành cám ơn. Joseph Nguyen

  •      Kính Ban Biên Tập, nhân dịp lễ Thánh Tê-rê-xa sắp tới, tôi xin kính gửi bài này. Thân mến, Đỗ Xuân Quế..

  •      Em xin chào các anh chị trong nhóm Maranatha. Rất cám ơn tất cả đã chia sẻ những bài viết và chia sẻ lời Chúa thật là giá trị và bổ ích cho mọi người độc giả.  Em có một chị mới quen và chị ấy mong muốn được nhận những tuần báo MARANATHA gởi đến quý độc giả hằng tuần/tháng.  Xin các anh chị vui lòng add email của chi HV vào trong Maranatha group email alias, em xin cám ơn thật nhiều. Một lần nữa, em xin thành thật cám ơn tất các anh chị trong nhóm. Nguyện tình yêu Thiên Chúa luôn ban cho các anh chị được vui vẻ, khỏe mạnh, phụng vụ trong vui tươi, và nguyện xin Chúa Thánh Thần soi sáng trí khôn cho các anh chị hầu phục vụ cho Danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến, và để ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời. Amen. Kính, Nguyen Minh

  •      Kính thưa Ban Biên Tập MARANATHA, tôi không biết ai đã có lòng cho địa chỉ của tôi cho Quý Báo nên tôi đã có hân hạnh được đọc rất đều đặn các số báo MARANATHA. Như bao nhiêu anh chị em Công Giáo khác đã cảm nhận và cám ơn Quý Báo, tôi cũng xin gửi lời chúc sức khoẻ của tôi đến Ban Biên Tập, đến những cộng tác viên MARANATHA. Nguyện xin Chúa Thánh Thần luôn là LỬA trong lòng mọi người để có thể chia sẻ ngọn lửa yêu thương đến cho nhiều người khác. Nhắc đến LỬA, tôi cũng xin nhắc cho quý anh chị em nhớ rằng 28/9/04 này là ngày Rằm Trung Thu ở Việt Nam. Chắc chắn khi nhìn các em rước đèn, mọi người sẽ thấy ánh lửa đẹp làm sao!!! Kính chào và hiệp thông trong cầu nguyện. Nguyễn Thị Mỹ Dung.

  •      Kính thưa quý báo, lời đầu thư con xin Chúa chúc lành cho quý báo được mọi ơn lành luôn đem niềm vui cho mọi người. Nhận được tin bài của báo con rất vui mừng và xin cám ơn quý báo đã ưu ái đến con. Nếu có dịp nào con sẽ gửi bài đến quý báo để đuợc góp một phần nhỏ bé của mình cho quý báo. Con xin cám ơn. Jos. Đặng văn Tuyên.

Về mục lục >

     

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn