|
|
Số 24, Ngày 23-10-2004
Sứ Điệp Của Đức Thánh Cha - Lm. Trần Đức Anh, OP dịch Vài Suy Nghĩ Nhân Khánh Nhật Truyền Giáo - Lm. Vũ Xuân Hạnh Truyền Giáo Tại Á Châu - Trần Duy Nhiên Tin Mừng Là Hạt Mưa Rơi - Lm. Giuse Lê Hiền Thánh Thể Ánh Sáng Ngàn Năm Mới - Lm. Khuất Dũng, SSS Những Nhận Thức Mới về Thánh Lễ - Hoàng Quý viết theo Scott Hahn Làm Sao Cầu Nguyện Cho Hữu Hiệu - Nguyễn Chính Kết Tình Yêu Thiên Chúa Theo Ánh Mắt Tâm Linh - Khổng Nhuận
Kính thưa Quý độc giả, Chúa nhật 24 tháng 10-2004, toàn thể Giáo Hội Công Giáo sẽ cử hành Ngày Thế Giới truyền giáo lần thứ 78 với chủ đề "Thánh Thể và Truyền Giáo" Tháng Mười này khởi đầu cho năm Thánh Thể, và ngày 10 đến 17 vừa qua, Ðại Hội Thánh Thể quốc tế lần thứ 48 đã được tiến hành tại thành phố Guadalajara, Mexicô. Mà tháng Mười, cũng là tháng Mân Côi sùng kính Đức Mẹ. Những biến cố này được nêu rõ trong sứ điệp mà Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã công bố cách đây sáu tháng, ngày 19-04-2004: "Thánh Thể và Truyền Giáo", như đề tài Ngày Thế Giới Truyền Giáo năm nay nêu rõ, là hai điều không thể tách rời nhau. Cùng với việc suy tư về mối liên hệ giữa mầu nhiệm Thánh Thể và mầu nhiệm Giáo Hội, năm nay còn có thêm một sự tham chiếu hùng hồn về Ðức Trinh Nữ Maria, qua việc cử hành kỷ niệm 150 năm tuyên bố tín điều Ðức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội (1854-2004). Chúng ta chiêm nhiệm Thánh Thể với đôi mắt của Mẹ Maria. Cậy dựa vào sự chuyển cầu của Ðức Trinh Nữ, Giáo Hội trao ban Chúa Kitô, Bánh cứu độ, cho mọi dân tộc, để họ nhìn nhận và đón tiếp Ngài như vị Cứu Thế duy nhất. “Chúng ta chiêm niệm Thánh Thể với đôi mắt của Mẹ Maria.” Thánh Thể mà Mẹ chiêm niệm không chỉ là Thánh Thể trong bữa Tiệc Ly mà thôi (vì Phúc Âm không nói đến sự hiện diện của Mẹ trong phòng tiệc) nhưng là Thánh Thể trên đồi Calvê, khi ‘Mẹ Đứng Đó” ngắm nhìn Con mình treo trên Thập Giá. Vì thế, Maranatha rất đồng cảm với những lời mà Tập San Dấn Thân đăng trong Tâm Thư số mới nhất: “Chúng tôi quan niệm truyền giáo không phải chỉ là đứng rao giảng giữa nhà thờ, xây cất, sửa sang những đền thờ lộng lẫy để Chúa có chỗ ngự, nhưng quan trọng hơn, là đi, là sống thật những điều rao giảng, mở rộng cửa nhà Chúa cho mọi người trong đạo cũng như ngoại đạo, là phá đổ những hàng rào ngăn cách, đi tìm những con chiên lạc mang về, là phục vụ không phải được phục vụ... Hơn ai hết, những môn đệ theo chân Chúa phải là những người sống thật, sống đúng tinh thần khó nghèo, phục vụ, yêu thương của Đức Kitô khi Người còn ở dương thế. Chúng tôi cũng quan niệm theo đạo, giữ đạo, chuẩn bị cho cuộc sống đời sau không phải chỉ là đi nhà thờ, đọc kinh cầu nguyện, xin lễ, quà tặng hậu hỉ cho chủ chiên, rộng rãi góp tiền xây cất thánh đường nguy nga là đủ..., nhưng quan trọng hơn, làm muối mặn men nồng, mang tình yêu thương đến những người bất hạnh, kém may mắn hơn mình; sống đức tin không phải chỉ mến Chúa mà còn phải yêu người vì như Chúa dạy “Ai cho người đói ăn, người khát uống, người rách mặc... là đã làm cho chính Thầy đó.” Đạo Chúa không phải để “giữ” mà để “truyền”. Tin Mừng không phải để giấu kín, dành riêng cho bổn đạo mà phải được mọi thành phần dân Chúa làm loa phát đi, không rao phát bằng lời nói mà rao phát bằng đời sống, bằng hành động dấn thân phục vụ tha nhân.”... Trong chiều hướng đó, trong số này, Maranatha đăng toàn bộ Sứ Điệp Truyền Giáo của Đức Thánh Cha cùng với những suy nghĩ về Truyền Giáo cũng như một trong bao nhiêu mẫu truyền giáo cho bối cảnh Á Châu và Việt Nam.
Cùng với Đức Mẹ, chúng ta đi vào năm Thánh Thể với ước vọng Truyền Giáo, vì
hơn ai hết, Mẹ
MARANATHA
TRUYỀN GIÁO
SỨ
ĐIỆP của ĐỨC THÁNH CHA
lần thứ 78 Lm. Giuse Trần Ðức Anh, O.P. dịch Anh chị em rất thân mến, 1. Sự dấn thân truyền giáo của Giáo Hội là một điều cấp thiết, kể cả trong thời kỳ đầu Ngàn Năm Thứ Ba này, như tôi đã nhiều lần muốn nhắc nhở. Như tôi đã nhận xét trong Thông Ðiệp "Sứ Mạng Ðấng Cứu Chuộc" (Redemptoris Missio), công cuộc truyền giáo vẫn còn ở xa sự hoàn tất và vì thế chúng ta phải hết sức dấn thân truyền giáo (cf n.1). Ở mọi lúc trong cuộc lữ hành lịch sử, toàn thể Dân Chúa đều được kêu mời chia sẻ "cơn khát" của Ðấng Cứu Chuộc (cf Gioan 19,28). Các thánh vẫn luôn mạnh mẽ cảm thấy niềm khao khát các linh hồn cần được cứu rỗi: chẳng hạn chỉ cần nghĩ đến thánh nữ Têrêsa thành Lisieux, bổn mạng các xứ truyền giáo, và Ðức Cha Comboni, vị đại tông đồ của Phi châu, mà mới đây tôi đã được vui mừng tôn vinh trên bàn thờ. Những thách đố xã hội và tôn giáo nhân loại đang phải đương đầu ngày nay kích thích các tín hữu canh tân lòng nhiệt thành truyền giáo. Ðúng vậy, cần phải can đảm tái đẩy mạnh công cuộc truyền giáo cho dân ngoại, bắt đầu bằng viêc rao giảng Chúa Kitô, Ðấng Cứu Chuộc mọi người. Ðại hội Thánh Thể quốc tế sẽ tiến hành tại thành phố Guadalajara vào tháng 10 năm nay, tháng truyền giáo, sẽ là một dịp đặc biệt để chúng ta cùng nhau ý thức về truyền giáo quanh Bàn Tiệc Mình Máu Thánh Chúa Kitô. Quây quần quanh bàn thờ, Giáo Hội hiểu rõ hơn nguồn gốc của mình là mệnh lệnh truyền giáo. "Thánh Thể và Truyền Giáo", như đề tài Ngày Thế Giới Truyền Giáo năm nay nêu rõ, là hai điều không thể tách rời nhau. Cùng với việc suy tư về mối liên hệ giữa mầu nhiệm Thánh Thể và mầu nhiệm Giáo Hội, năm nay còn có thêm một sự tham chiếu hùng hồn về Ðức Trinh Nữ Maria, qua việc cử hành kỷ niệm 150 năm tuyên bố tín điều Ðức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội (1854-2004). Chúng ta chiêm nhiệm Thánh Thể với đôi mắt của Mẹ Maria. Cậy dựa vào sự chuyển cầu của Ðức Trinh Nữ, Giáo Hội trao ban Chúa Kitô, Bánh cứu độ, cho mọi dân tộc, để họ nhìn nhận và đón tiếp Ngài như vị Cứu Thế duy nhất. 2. Anh chị em rất thân mến, trở lại Nhà Tiệc Ly trong tâm trí, năm ngoái, đúng vào Ngày Thứ Năm Tuần Thánh, tôi đã ký Thông Ðiệp "Giáo Hội sống bằng Thánh Thể, bây giờ tôi muốn lấy lại vài đoạn trong Thông Ðiệp ấy, có thể giúp chúng ta sống Ngày Thế giới Truyền giáo sắp tới với tinh thần Thánh Thể. "Thánh Thể xây dựng Giáo Hội và Giáo Hội làm nên Thánh Thể" (n.26): tôi đã viết như thế, khi quan sát sứ mạng của Giáo Hội tiếp nối sứ mạng của Chúa Kitô (cf Ga 20,21), và kín múc sức mạnh tinh thần từ sự hiệp thông với Mình và Máu Chúa. Mục đích của Thánh Thể chính là "sự hiệp thông của con người với Chúa Kitô và trong Người, với Chúa Cha và Thánh Linh" (Eccl.de Euch. 22). Khi ta tham dự Hy tế Thánh Thể, chúng ta nhận thức được sâu xa hơn đặc tính phổ quát của ơn cứu chuộc, và vì thế, chúng ta thấy rõ hơn sự cấp thiết của sứ mạng Giáo Hội, và chương trình của Giáo Hội, "xét cho cùng, tập trung vào chính Chúa Kitô, là Ðấng cần nhận biết, yêu mến, noi gương để sống cuộc sống của Ba Ngôi trong Ngài, và cùng với Ngài biến đổi lịch sử cho đến khi được hoàn tất trong Jerusalem Thiên Quốc" (Ibid. 60) Quây quần chung quanh Chúa Kitô Thánh Thể, Giáo Hội trở thành như một dân, là đền thờ và là gia đình của Thiên Chúa: duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền. Ðồng thời Giáo Hội hiểu rõ hơn đặc tính của mình là một bí tích cứu độ mọi người và là một thực tại hữu hình có cơ cấu phẩm trật. Chắc chắn là "không thể hình thành một cộng đồng Kitô, nếu không có bắt nguồn và dựa trên việc cử hành Thánh Thể" (ibid. 33, cf P.O, 6). Vào cuối mỗi Thánh lễ, khi vị chủ tế giã từ cộng đoàn bằng câu: Thánh lễ đã xong, anh chị em hãy ra đi", mọi người đều phải cảm thấy được sai đi "như những thừa sai của Thánh Thể", để phổ biến khắp nơi hồng ân đã nhận lãnh. Thực vậy, ai gặp gỡ Chúa Kitô trong Thánh Thể thì không thể không rao giảng lòng thương xót của Ðấng Cứu Chuộc bằng chính cuộc sống của mình. 3. Ngoài ra, để sống Thánh Thể, cần phải ở lại thờ lạy lâu giờ trước Mình Thánh Chúa, kinh nghiệm mà chính tôi mỗi ngày vẫn làm, kín múc từ đó sức mạnh, sự an ủi và nâng đỡ (cf Eccl. de Eucharistia, 25). Công đồng chung Vatican 2 đã nhấn mạnh rằng Thánh Thể là "nguồn mạch và là tột đỉnh của toàn thể đời sống Kitô giáo" (LG 11), "nguồn mạch và là tột đỉnh của toàn thể công cuộc rao giảng Tin Mừng" (P.O 5). Bánh và rượu, thành quả lao công của con người, được quyền năng của Chúa Thánh Linh biến đổi thành Mình và Máu Chúa Kitô, trở thành bảo chứng một "trời mới và đất mới" (KH 21,1) mà Giáo Hội loan báo trong sứ vụ thường nhật của mình. Trong Chúa Kitô, Ðấng chúng ta thờ lạy hiện diện trong mầu nhiệm Thánh Thể, Chúa Cha đã nói lời quyết định về con người và lịch sử nhân loại. Làm sao Giáo Hội có thể thực hiện ơn gọi của mình mà không vun trồng một quan hệ liên lỉ với Thánh Thể, không nuôi dưỡng mình bằng lương thực thánh hóa này, không dựa vào sự nâng đỡ tối cần thiết cho hoạt động truyền giáo của mình? Ðể rao giảng Tin Mừng, thế giới cần những vị tông đồ lành nghề, trong việc cử hành, thờ lạy và chiêm ngắm Thánh Thể. 4. Trong Thánh Thể chúng ta tái cảm nghiệm mầu nhiệm Cứu Chuộc, tột đỉnh hy tế của Chúa, như được nêu rõ qua lời truyền phép: "Này là Mình Thầy bị nộp vì các con... Này là Máu Thầy đổ ra cho các con" (Lc 22,19-20). Chúa Kitô đã chết cho tất cả mọi người, và là hồng ân cứu độ cho mọi người, điều mà Thánh Thể làm cho hiện diện trong lịch sử theo thể thức bí tích: "Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy" (Lc 22,19) Tất cả mọi người đều được mời đến bàn tiệc và hy tế này, để có thể tham dự vào chính sự sống của Chúa Kitô: "Ai ăn thịt Thầy và uống máu Thầy thì ở trong Thầy và Thầy ở trong người ấy. Như Cha, Ðấng có sự sống, đã sai Thầy, và Thầy sống vì Cha, cũng vậy người nào ăn Thầy thì cũng sẽ sống vì Thầy"(Gioan 6,56-57). Ðược nuôi dưỡng bằng Thánh Thể, các tín hữu hiểu rằng nghĩa vụ truyền giáo hệ tại "trở thành một lễ vật đẹp lòng Chúa, được Thánh Linh thánh hóa" (Roma 15,16), để ngày càng trở nên "một lòng một trí" (TÐCV 4,32) và trở thành chứng nhân về tình yêu Chúa cho đến tận bờ cõi trái đất. Qua các thế kỷ, Giáo Hội, Dân Thiên Chúa, hằng ngày diễn lại hy tế bàn thờ, chờ đợi Chúa Kitô trở lại trong vinh quang. Ðó là điều được cộng đoàn Thánh Thể quây quần quanh bàn thờ tuyên xưng sau lúc truyền phép. Lần này qua lần khác, với đức tin được đổi mới, Giáo Hội lập lại ước muốn được gặp gỡ chung cục với Ðấng đến để hoàn tất chương trình cứu độ mọi người. Chúa Thánh Linh, hoạt động âm thầm nhưng rất mạnh mẽ, vẫn hướng dẫn dân Kitô giáo trong cuộc hành trình thiêng liêng hằng ngày, trong đó, chắc chắn họ gặp phải những khó khăn và cảm nghiệm mầu nhiệm Thánh Giá. Thánh Thể là niềm an ủi và là bảo chứng chiến thắng chung kết cho những người chiến đấu chống sự ác và tội lỗi; Thánh Thể là "Bánh sự sống" nâng đỡ những người trở thành "bánh được bẻ ra" cho tha nhân, đôi khi họ trả giá bằng cuộc tử đạo vì lòng trung thành với Tin Mừng. 5. Năm nay, như tôi đã nói đến trên đây, là kỷ niệm 150 năm công bố tín điều Ðức Mẹ Vô Nhiễm nguyên tội. Mẹ Maria "đã được cứu chuộc một cách đặc biệt trổi vượt nhờ công trạng Con của Mẹ" (LG 53). Tôi đã nói trong Thông Ðiệp "Giáo Hội sống bằng Thánh Thể": Khi ngắm nhìn Mẹ Maria, chúng ta biết được quyền năng biến đổi hiện diện trong Thánh Thể. Nơi Mẹ chúng ta thấy thế giới được đổi mới trong tình yêu" (n.62). Mẹ Maria là Nhà Tạm đầu tiên trong lịch sử (ibid., n.55), Mẹ mạc khải và trao ban cho chúng ta Chúa Kitô, Ðấng là Ðường, là Sự Thật và là Sự Sống (cf. Gioan 14,6). Nếu "Giáo Hội và Thánh Thể liên kết chặt chẽ không thể tách rời nhau, thì chúng ta cũng phải nói như thế về Mẹ Maria và Thánh Thể" (Eccl. de Eucharistia, 57). Tôi hy vọng rằng dịp trùng hợp giữa Ðại Hội Thánh Thể quốc tế với việc kỷ niệm 150 năm công bố tín điều Ðức Mẹ Vô Nhiễm sẽ mang lại cho các tín hữu, các giáo xứ và các dòng thừa sai cơ hội củng cố lòng nhiệt thành truyền giáo để trong mỗi cộng đoàn luôn luôn có "sự khao khát chân thực đối với Thánh Thể" (Ibid., n.33). Ðây cũng là dịp tốt để nhắc đến sự đóng góp của các Hội Giáo Hoàng truyền giáo cho hoạt động tông đồ của Giáo Hội. Các Hội này rất quí báu đối với tâm hồn tôi và tôi cám ơn các Hội ấy nhân danh mọi người, vì công tác phục vụ đầy giá trị dành cho công cuộc tái truyền giảng Tin Mừng và viêc truyền giáo cho dân ngoại. Tôi xin anh chị em hỗ trợ tinh thần và vật chất này để nhờ sự đóng góp của các Hội này, việc rao giảng Tin Mừng có để đi tới tất cả mọi dân tộc trên trái đất. Với tâm tình ấy, tôi cầu khẩn sự chuyển cầu từ mẫu của Mẹ Maria, "Phụ Nữ Thánh Thể", và tôi hân hoan ban phép lành Tòa Thánh cho anh chị em. Vatican ngày 19-4-2004 Gioan Phaolô 2, Giáo Hoàng.
VÀI SUY NGHĨ NHÂN KHÁNH NHẬT TRUYỀN GIÁO Lm. Vũ Xuân Hạnh “Các con hãy đi giảng dạy muôn dân: rửa tội cho họ, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, và dạy họ mọi điều Thầy truyền cho các con” (Mt 28, 19- 20). Chúa Kitô, trước khi về trời đã để lại cho Hội Thánh lệnh truyền ấy như là lời di chúc đặc biệt mà Hội Thánh phải cất giữ và ấp ủ từng ngày, để thao thức truyền giáo của Chúa Kitô trở thành nỗi thao thức và niềm say mê của Hội Thánh. Lệnh truyền ấy vừa là bổn phận, vừa làm cho Hội Thánh vinh quang. Bổn phận là vì Hội Thánh phải tiếp tục sứ mạng của Chúa Kitô. Còn vinh quang là vì Hội Thánh được cộng tác với Chúa Kitô mang ơn cứu độ cho trần gian. Ý thức bổn phận vinh quang ấy, Hội Thánh luôn luôn lên đường dấn thân cho hoạt động truyền giáo. Sau những năm dạy giáo lý, nhất là giáo lý dự tòng, với kinh nghiệm cá nhân, chắc còn nhiều hạn chế, tôi thử đưa ra một vài yếu tố mà tôi cho là cần thiết đối với hoạt động truyền giáo. Không nhắm đến nghệ thuật, làm sao để truyền giáo cho hay, cho tốt, tôi chỉ muốn nói đến chính bản thân người làm công tác truyền giáo. Người làm công tác truyền giáo rất cần có tinh thần hiệp thông, lòng bác ái và sự nghèo khó. 1/ Tinh Thần Hiệp Thông Trước hết, tinh thần hiệp thông phải là điều kiện hàng đầu mà nhà truyền giáo cần quan tâm. Tôi lấy làm tâm đắc khi đọc Bản góp ý cho Tài liệu làm việc của Thượng Hội đồng Giám mục Á châu mà Hội Đồng Giám mục Việt Nam soạn thảo trước khi một số giám mục Việt Nam lên đường dự Thượng Hội Đồng Giám mục Á châu tại Rôma (từ 19. 4 đến 14. 5. 1998). Hội Đồng Giám mục Việt Nam gọi “Hiệp thông là thái độ nền tảng trong việc phục vụ và rao giảng Tin Mừng”. Hiệp thông không chỉ trong nội bộ của từng Hội Thánh địa phương, giữa các Hội Thánh địa phương với nhau - Bởi điều đó hết sức quang trọng vì những người sống gần nhau, những cộng đoàn sống gần nhau mà không thể chia sớt cho nhau niềm vui, nỗi buồn, chia sớt cho nhau tinh thần cũng như vật chất, ngược lại còn hiềm khích nhau, thì sẽ không bao giờ làm nỗi một tấm gương chứng tá. Nhất là chứng tá càng rạng sáng bao nhiêu thì truyền giáo càng có sức sống bấy nhiêu - Nhưng hiệp thông còn là sự gắn bó với mọi người quanh ta. Không dám nói điều gì rộng lớn và xa xôi, tôi có kinh nghiệm thế này, khi dạy giáo lý dự tòng, nếu ta chịu khó nhín thời gian một chút, tìm hiểu hoàn cảnh, tâm tư, nguyện vọng, ước mơ của riêng từng học viên dự tòng, dẫu họ chưa là người tự nguyện hoàn toàn đi học đạo, nhưng do một động lực khác như để lập gia đình chẳng hạn, ta vẫn có thể tạo được mối tương quan thân thiện, gần gũi và hiểu biết giữa người hướng dẫn và người được hướng dẫn, từ đó gây cho họ cảm tình với bản thân ta, đi xa hơn: với Thiên Chúa, với Chúa Kitô, với Hội Thánh. Hiệp thông với mọi người còn là sự liên đới với người nghèo, người ít học. Tại Việt Nam, thành phần này rất đông. Đông đến mức gấp ba, gấp bốn số người giàu cộng lại. Ta có thể hiện diện với họ bằng thái độ chân tình, cởi mở, bằng lui tới thăm nom, đừng bao giờ có thái độ trọng sang khinh bần. Nếu có biếu một ít vật chất nào đó, xin đừng có thái độ kẻ cả ban ơn. Trên hết mọi sự, ta cần có lòng yêu thương chân thành. Chính tình yêu sẽ dạy ta biết sống thế nào với anh chị em quanh mình. Điều quí giá là trao ban tình yêu chứ không phải là cho đi sự bố thí. Tình yêu của ta, nhất là của các mục tử sẽ là nguồn an ủi lớn lao dành cho anh chị em. Trên hết mọi tương quan hiệp thông, ta không thể nào bỏ qua sự hiệp thông với Hội Thánh toàn cầu. Hiệp thông với Hội Thánh để rao giảng Tin Mừng bằng ý hướng của Hội Thánh, dựa trên nền tảng Huấn Quyền của Hội Thánh. Có như thế mới bảo đảm được tính nhất quáng đồng bộ khắp nơi trong lời rao giảng của nhà truyền giáo này với nhà truyền giáo kia. Nếu không, sẽ rơi vào nguy cơ sống lập dị, suy nghĩ khác những gì Hội Thánh nhìn nhận, và cuối cùng loan báo Lời Chúa theo suy nghĩ cá nhân chứ không phải của Hội Thánh. Với cách sống, cách suy nghĩ, và lời loan báo như thế, sẽ làm nguy hại cho công cuộc truyền giáo. Bởi nếu đi ngược chân lý đức tin mà Hội Thánh rao giảng là phá hoại chứ không phải truyền giáo. Hiệp thông với Hội Thánh còn là lòng yêu mến, và nhìn nhận Hội Thánh là mẹ đã sinh chúng ta trong đức tin. Có yêu mến Hội Thánh, ta mới dễ dàng thông cảm cho những yếu đuối, những sa ngã của nhiều phần tử trong Hội Thánh, có lúc trở thành tấm gương mù tồi tệ. Người rao giảng Tin Mừng có thể nói đến những khuyết điểm của Hội Thánh như là bằng chứng về yếu tố con người để xin sự thông cảm, chứ không phải tấn công, hay nặng lời chê trách Hội Thánh. Ta không thể mời gọi ai đi theo mẹ mình mà lại sĩ nhục mẹ bằng chính những lỗi lầm của bà. Cũng thế, làm sao ta có thể nói đến sự thánh thiện, để mời gọi mọi người vào Hội Thánh mà chẳng yêu thương Hội Thánh! Nếu chỉ công kích Hội Thánh thì làm sao anh chị em của ta có thể nhận ra sự thánh thiện của Hội Thánh mà can đảm dấn thân sống đời Kitô hữu, trong khi sự thánh thiện của Hội Thánh là điều có thật. Suốt chiều dài lịch sử, Biết bao nhiêu người con của Hội Thánh, bằng đời sống chứng tá của bản thân, đã ghi nên những trang sử vàng rất hào hùng, rất oanh liệt, làm rạng danh Mẹ Hội Thánh của mình. Sự thánh thiện của Hội Thánh còn khơi nguồn từ Đấng “Thánh, rất Thánh, chí Thánh” của chúng ta: Chúa Giêsu Kitô, Đấng sáng lập, là Đầu và Thủ lãnh của Hội Thánh. Hội Thánh là Mẹ, mỗi Kitô hữu là con cùng một Mẹ. Chúng ta hiệp thông với Mẹ của mình để tất cả trở thành anh em là điều hợp lý. Mỗi anh em trong cùng một gia đình, đều lãnh nhận từ người Mẹ chung ấy đức tin duy nhất, để cùng rao giảng chỉ một đức tin tinh tuyền do Mẹ Hội Thánh truyền lại mà thôi. 2/ Lòng Bác Ái Bác ái cũng là một đặc điểm cần thiết nơi một chứng nhân Tin Mừng. Giảng về Thiên Chúa yêu thương mà nhà truyền giáo không biết yêu thương, không tận tâm, tận tình với anh chị em, nhất là với người bần cùng, bất hạnh, cách sống đó không đúng, có thể là phản chứng của lời rao giảng. Mẹ Têrêsa thành Calcutta đã trở thành một nhà truyền giáo lừng danh vì Mẹ đã sống tinh thần bác ái ấy. Mẹ Têrêsa là mẫu gương thời đại cho tất cả những người làm chứng cho Tin Mừng. Đức Hồng y Phạm Đình Tụng, trong bài phát biểu tại Thượng Hội đồng Giám mục Á châu đã nêu gương Mẹ Têrêsa như sau: “Bởi sự kính trọng sâu xa và tình yêu thương hữu hiệu của Mẹ đối với mọi người, Mẹ đã giảng dạy một cách hữu hiệu cho chúng ta biết thế nào là Đấng Thiên Chúa tình thương của người Kitô.” Bác ái còn là sự thông cảm và tha thứ đối với lỗi lầm của anh chị em. Ta không bao che, không dung túng cho tội lỗi, nhưng độ lượng với người có tội để mời gọi họ trở về đường ngay nẻo chính. Chính Chúa Giêsu đã nêu gương về lòng độ lượng, thông cảm và tha thứ này. Đối với người phụ nữ xứ Samari có đến sáu đời chồng, bằng những lời ân cần hết sức, nhưng cũng không kém phần dứt khoát, Chúa Giêsu đã đánh thẳng vào vấn đề của chị, buộc chị phải nhìn nhận thân phận của mình mà vẫn không cảm thấy bị xúc phạm: “Người bảo chị: 'Chị hãy gọi chồng chị rồi trở lại đây'. Người phụ nữ đáp: 'Tôi không có chồng'. Đức Giêsu bảo: 'Chị nói: tôi không có chồng là phải, vì chị đã có năm đời chồng, và hiện người đang sống với chị không phải là chồng chị. Chị nói đúng” (Ga 4, 1- 30). Đối với người phụ nữ ngoại tình bị bắt quả tang cũng vậy. Trước sự hung hăng đắc thắng của những kẻ vừa bắt được một tội nhân, như một thành quả to lớn của mình để bảo vệ lề luật, vừa có thể gài bẫy một người khác, Chúa Giêsu đã hết sức nhẹ nhàng: “Người bảo họ: 'Ai trong các ông sạch tội thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi'. Nghe vậy, họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi. Người ngẩng lên và nói: 'Này chị, họ đâu cả rồi? Không ai lên án chị sao?'. 'Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Thôi chị về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!”. Lời của Chúa Giêsu nhẹ nhàng là thế, nhưng cũng rất dứt khoát, làm cho những kẻ to tiếng kết tội chị phụ nữ phải cúi mặt nhận ra thân phận của mình. Nhưng cũng chính thái độ nhẹ nhàng và dứt khoát của Chúa Giêsu lại mang lại sự giải thoát cho chị phụ nữ. Không chỉ giải thoát chị khỏi tay những kẻ kết án mà còn là một sự giải thoát đúng nghĩa và quan trọng: cứu chị khỏi vòng kềm hãm của tội, đưa chị vào thế giới của bình an và tình yêu. Lòng bác ái và độ lượng lớn lao như thế chắc chắn sẽ đem lại thành quả cũng lớn lao không kém cho những người tha thiết với trách vụ truyền giáo. 3. Tinh Thần Nghèo Khó Người truyền giáo cũng rất cần có lối sống giản dị, Tinh thần khiêm nhu, cởi mở. Lối sống kiểu cách, cầu kỳ có thể trở thành rào chắn làm cho ta ngại dấn thân đã vậy, nó cũng sẽ tạo ra một khoảng cách lớn với anh chị em, khiến ta trở thành xa lạ với mọi người. Lối sống càng giản dị, ta càng dễ khiêm nhu, cởi mở. Một lối sống và một tinh thần như thế đòi phải có đức khó nghèo ngự trị thẳm sâu nơi nhà truyền giáo. Bởi đó, ta cần khước từ những sa hoa, những tiện nghi, không tranh giành quyền lợi, không tranh giành ảnh hưởng. Chỉ cần như thế thôi, nhà truyền giáo đã là một bằng chứng hấp dẫn, mạnh mẽ và quan trọng của Tin Mừng. Một lối sống giản dị, một tinh thần khiêm nhu, cởi mở, một đức tính khó nghèo như thế, còn giúp ta dễ dàng tôn trọng những tập quán, những tôn giáo, những hình thức văn hóa và các dị biệt khác của anh chị em. Cả một đời trần thế của Chúa Giêsu là bài học quí giá cho ta về tất cả những nhân đức trên. Từ khi sinh ra, Chúa là Chúa trời đất đã không chọn sự giàu sang để nương thân. Cung điện dù nguy nga đến đâu, đền đài dù tráng lệ cách mấy, lại không có chỗ chứa đựng Đức Chúa cao cả ấy. Vậy mà chỉ cần một hang đá Bêlem khiêm cung lại có thể chứa đựng Đấng quyền năng vô biên. Lúc sinh ra là thế. Chúa Giêsu lớn lên cũng bắt đầu từ một gia đình nghèo, không tiếng tăm, ẩn khuất giữa một làng quê Nagiarét bình dị như bao nhiêu gia đình ở nơi ấy. Đến khi ra đi rao giảng Tin Mừng lại bị người đời chống đối và rắp tâm thủ tiêu. Đến lúc sinh thì, chính những kẻ mà Chúa yêu quí mang Tin Mừng đến cho họ, lại bị họ trở mặt, tước sạch những gì là nhân phẩm, là giá trị của một con người. Tước cả mạng sống vẫn chưa lấy làm đủ, sau khi đã gục đầu tắt thở, con người đan tâm tước đoạt cả đến giọt máu cuối cùng của Thiên Chúa làm người. Lồng ngực bị mở ra là vết thương rốt hết để đón lấy mọi tội nhân và ôm lấy cả những kẻ giết hại mình. Bằng cách ấy, Chúa Giêsu đã diễn tả đến kỳ cùng lòng thương xót của “Đấng vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ” (Philip 2, 6 -7). Nhìn ngắm Chúa Giêsu, người truyền giáo sẽ học được cách thức truyền giáo mà Chúa đã chọn. 4. Kết Luận Mỗi người Kitô hữu đều có trách nhiệm truyền giáo vì đó là lệnh truyền, cũng là lời di chúc của Chúa Giêsu. Nó còn là trách nhiệm và vinh dự cho những ai tha thiết với Lời Chúa, tha thiết mang Chúa ra đi giới thiệu cho muôn người. Sứ điệp Thượng Hội Đồng Giám mục Á châu có nói: “Chúng tôi coi đức tin của chúng tôi như một kho tàng quí giá nhất và chúng tôi muốn chia sẻ với tất cả mọi người. Bởi thế mang đức tin đến cho anh chị em là mang đến cho họ cả một món quà vô giá của ơn cứu độ. Bởi thế, chúng ta không sợ gian nan, không sợ khó khăn, tìm mọi cách chia sẻ đức tin của mình cho mọi người. Hiểu như thế, bạn và tôi sẽ nhận ra công tác rao giảng của mình có một giá trị to lớn. Bởi trong niềm tin vào Đấng cứu độ duy nhất, chúng ta luôn luôn nhìn nhận rằng, ai cũng cần được Chúa Kitô cứu độ. Do đó công tác rao giảng Tin Mừng càng khẩn thiết hơn. Chính các linh mục và tất cả những ai được trao nhiệm vụ rao giảng Lời Chúa, càng phải ý thức hơn ai hết, trách nhiệm cao cả và vinh quang lớn lao của công tác truyền giáo. Sau hết, tôi muốn kết thúc ở đây bằng chính sứ điệp Ngày Thế giới Truyền giáo năm 2002 của Đức Thánh Cha để bạn và tôi cùng thao thức với vị Cha chung của cả Hội Thánh. Đức Thánh Cha viết: “Cùng với Thánh Phaolô, vị tông đồ và nhà truyền giáo vĩ đại, chúng ta muốn lặp lại rằng 'Thật vậy, đối với tôi, rao giảng Tin Mừng không phải là lý do để tự hào, mà đó là một sự cần thiết bắt buộc tôi phải làm. Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng! Tôi mà tự ý làm việc ấy, thì mới đáng Thiên Chúa thưởng công; còn nếu không tự ý, thì đó là một nhiệm vụ Thiên Chúa giao phó' (1 Cor 9, 16-17). Chỉ có tình yêu của Thiên Chúa, điều có thể khiến cho muôn người của các chủng tộc và văn hóa khác nhau nên anh chị em với nhau, mới có thể chữa lành những chia rẽ đau đớn: tranh chấp ý thức hệ, mất quân bình kinh tế và bạo lực là những gì đang đè nặng lên nhân loại” (Sứ điệp Truyền giáo, số 2). “Vâng, chúng ta không bao giờ xấu hổ vì Tin Mừng và không bao giờ sợ hãi tuyên bố rằng chúng ta là Kitô Hữu, không bao giờ che dấu đức tin chúng ta. Thay vì vậy, chúng ta phải tiếp tục nói để mở rộng những không gian cho việc công bố ơn cứu độ, vì Chúa Giêsu đã hứa ở cùng chúng ta mãi mãi và Ngài luôn luôn ở giữa các môn đệ Ngài” (Sứ điệp Truyền giáo 2002, số 6).
Trần Duy Nhiên Bối cảnh Á Châu. Kitô giáo đến Á Châu quá trễ! Ta hãy nhìn lại tiến trình các tôn giáo trên thế giới. Thuở xa xưa, con người chưa có tôn giáo, nhưng dường như từ khi có con người trên mặt đất thì đã có tín ngưỡng. Những tín ngưỡng ấy xuất phát từ một thế giới quan cho rằng trong mọi vật thể hay hiện tượng tự nhiên đều có một sức mạnh nào đó có thể tác động đến con người, hoặc thuận lợi hoặc tai hại, và từ đó mỗi nhóm người tìm cách liên lạc với sức mạnh đó để thủ đắc sự thuận lợi và tránh né các tai họa. Tín ngưỡng là một hiện tượng xã hội văn hóa. Tín ngưỡng này phát triển chủ yếu ở các xã hội bộ tộc, cho đến một ngày nào đó, một tôn giáo xuất hiện. Sự khác biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo là ở điểm: tôn giáo đề xướng sự hiện hữu của một thực tại siêu tự nhiên luôn luôn tác động một cách tiềm tàng vào vũ trụ và có giá trị cứu độ (giải thoát) cái chân tính (linh hồn, cái ngã, cái tôi) của mỗi một con người, qua agapê (bác ái cứu độ/giải thoát) hay qua giác ngộ (hiểu biết cứu độ/giải thoát). Ví dụ như niềm tin Do Thái Giáo, Hồi Giáo và Kitô Giáo là niềm tin mang chiều kích bác ái, và các tôn giáo như Ấn giáo, Phật giáo, Lão giáo mang chiều kích giác ngộ… Trong quá trình một tôn giáo lan rộng trên một lãnh thổ thì có sự kết hợp giữa tín ngưỡng của dân cư với tôn giáo ấy. Tôn giáo, dù bác ái hay giác ngộ, chỉ có thể cắm rễ vững chắc vào xã hội bộ lạc khi nó hội nhập vào tín ngưỡng của xã hội đó. Ngược lại, tín ngưỡng lại là một con đường mở ra trong lãnh vực tự nhiên để chờ đợi một tôn giáo đưa vào siêu nhiên. Đây không có việc lấy tôn giáo thay cho tín ngưỡng, mà là một sự kết hợp nhuần nhuyễn để bổ túc lẫn nhau hầu đi từ một sự cứu độ tự nhiên đến một sự cứu độ siêu nhiên. Đó là hình thức mà các nước Châu Âu đã trở nên một Xã Hội Kitô Giáo (une Chrétienté), bởi vì vào thời Constantin, các nước ấy vẫn sống trong một tình trạng tín ngưỡng tiềm tàng dưới lớp triết học Hy La. Đó cũng là cách thức mà khắp mọi nơi trên Ấn Độ đã đón nhận Ấn Giáo, và cũng là cách mà Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam đón nhận Phật Giáo, Lão Giáo và Khổng Giáo, vì ba tôn giáo này đến hầu như cùng một lúc để kết hợp với tín ngưỡng của các quốc gia kể trên. Cũng vì thế mà Kitô giáo đã trở thành một nền văn hóa Châu Âu, trong khi đó các nước Á Châu có một nền văn hóa Tam Giáo. Và sau đây là một sự kiện mà lịch sử đã chứng minh như là một qui luật: Khi một lãnh thổ đã lấy tín ngưỡng của mình kết hợp với một tôn giáo siêu nhiên rồi, thì không có một tôn giáo nào có thể đánh bật tôn giáo ấy để thay chỗ được, trừ phi có một sự đàn áp bằng vũ lực để cải đạo trong một thời gian kéo dài vài ba thế hệ. Ta thấy rõ từ hai tôn giáo lớn trên thế giới: Kitô giáo và Phật Giáo. Chúa Giêsu xuất phát từ Do Thái, đến độ Kitô giáo lấy Kinh Thánh Do Thái giáo làm một phần của Kinh Thánh của tôn giáo mình, thế mà đất nước Do Thái không có mấy người Kitô giáo, và Kitô giáo tồn tại rất khiêm tốn trên lãnh thổ Do Thái, trong khi đó lại phát triển rất mạnh ở Châu Âu. Đức Phật xuất thân là một người Ấn, và những kinh cốt lõi được ghi bằng tiếng Phạn, thế nhưng tại Ấn Độ Phật Giáo không thể nào có tiếng nói cân xứng với Ấn Giáo mà lại phát triển ở Đông Á, là những nơi mới có tín ngưỡng nhưng chưa có tôn giáo. Như thế, lý do mà Á Châu không thể nào ‘trở lại’ hàng loạt (trừ những nơi ít ỏi mà con người còn sống trong các tín ngưỡng bộ lạc) bởi vì khi Kitô giáo đến với Á Châu, thì tại đây đã có tôn giáo rồi. Nếu không một Kitô hữu nào tin rằng tín hữu Phật Giáo hay Hồi Giáo có thể chiếm đại đa số ở Âu Châu, thì làm thế nào lại có thể quan niệm được rằng Kitô giáo có thể thay thế được Tam Giáo tại Á Châu? Điều gì đã làm làm được ở Á Châu thì đã làm rồi: ví dụ Phi Luật Tân là một đất nước trong tình trạng tín ngưỡng bộ tộc khi Kitô giáo đến, nên hiện nay nước này là nước Kitô giáo duy nhất tại Á châu, và mãi mãi sẽ không còn nước thứ hai như thế nữa. Phải nói thế nào về Chúa Giêsu ? Nhưng phải chăng như thế có nghĩa là người Á Châu không thể nào ‘niềm nở’ với Đức Kitô, và đón nhận ơn Cứu Độ từ Người? Không, Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ cho nhân loại, trong đó có tất cả mọi người ở Á Châu. Vấn đề là các Giáo Hội Kitô giáo nói chung, và Giáo Hội Công Giáo nói riêng, phải đem ơn Cứu Độ của Người, hay đúng hơn, phải trình bày Người thích hợp với nền văn hóa Á Châu, nghĩa là một nền văn hóa Tam Giáo hay Ấn Giáo. Muốn như thế, Giáo Hội phải có thời gian để bước vào dòng nước thanh tẩy của tôn giáo Á Châu, và đi xuyên qua thương khó và cái chết trên thập giá của cái nghèo Á Châu. Ngày nào cuộc cách mạng Giáo Hội chưa hoàn tất, ngày ấy vẫn chưa có một nền Kitô học Á Châu. Thay vào đó, ta buộc phải thỏa lòng với ‘những tư tưởng Kitô giáo’ về ‘người nghèo’ hay hướng về ‘tôn giáo’ bạn, hoặc ta đành phải hài lòng với những lập trường và quan điểm của các nhà thần học. Kitô hữu Á Châu mong mỏi có cơ hội tiếp cận xã hội hiện nay như Chúa Giêsu, với tinh thần khổ hạnh, trầm mình trong mọi tôn giáo và giữa người nghèo. Một sự tiếp cận như thế sẽ làm trổ sinh những nền Kitô học xuất phát từ chiều sâu cứu độ học của các nền văn hóa Á Châu. Đây không phải là điều không tưởng, bởi vì cuộc cách mạng Giáo Hội đã được khởi sự ngoài viền của Giáo Hội, nơi mà những khu vườn ươm hy vọng đang tìm cách để ra đời. Đây không phải là ước mơ, như là một hiện thực đã có một lịch sử gần hai thế kỷ rồi. Từ khoảng năm 1820, nhiều tín đồ Ấn Giáo chân thành đã bị mầu nhiệm Đức Giêsu thu hút. Dù có những người nghi ngờ về tính chất trí huệ (gnostic) của họ, thì họ cũng đã mơ hồ cảm nhận Đấng Cứu Độ nơi Đức Giêsu. Trong số các tín đồ Ấn Giáo có vài người công nhận Đức Giêsu là Đấng Cứu độ (ví dụ: Subha Rao) và theo ngài xa xa (như Raj Ram, Mohan Roy) - họ còn có thể luận về Ba Ngôi. Nhưng điều chính yếu là càng ngày họ càng tập trung vào đức Giêsu. Trong chiều hướng này, ta hiểu vì sao Gandhi đã nhìn Đức Giêsu như một Satyagrahin mẫu mực: một người ‘tôi tớ đau khổ của chân lý (= của Thiên Chúa)’ Tại Á Châu ngày nay, sự giải thoát tâm linh cũng như sự giải phóng con người khỏi các cơ chế chính trị xã hội phi nhân cần có một gương mẫu về sự từ bỏ (sống khó nghèo), để có thể lý giải cuộc chiến nhằm giải phóng con người một cách toàn diện, hầu đem họ đến một cuộc gặp gỡ (mang chiều kích cứu độ) với thực tại tối thượng. Dĩ nhiên, điều này sẽ chạm đến ‘vùng nhạy cảm’ của một số người bên trong và bên ngoài Giáo Hội Công Giáo tại Á Châu, và cần phải tế nhị. Nhưng dù sao con đường không thể tránh né là chân thành đối thoại, như Đức Giáo Hoàng đã nói trong tông thư ‘Truyền Giáo là công bố ơn tha thứ’ ngày 20-05-2002: "Đối thoại không bắt nguồn từ những tính toán chiến thuật tư lợi (Redemptoris Missio, 56) cũng không phải tự nó là cùng đích. Thay vì vậy, đối thoại nói với người khác với lòng kính trọng và sự hiểu biết, bắt nguồn từ những nguyên tắc theo đó chúng ta tin tưởng và công bố với tình yêu những chân lý sâu xa nhất về đức tin là niềm vui, hy vọng và ý nghĩa của cuộc sống. Thật ra, đối thoại là sự hiện thực hóa một tác động thiêng liêng dẫn đưa tới "sự thanh tẩy nội tâm và hoán cải mà, nếu được theo đuổi với sự vâng phục Thần Khí, sẽ mang lại những hoa trái thiêng liêng"(ibid 56). Dấn thân cho đối thoại lắng nghe và tôn trọng là một điều kiện không thể thiếu (conditio sine qua non) cho chứng tá chân thật của tình yêu cứu độ của Thiên Chúa…”.
Lm. Giuse Lê Hiền Cuộc đời linh mục của tôi gắn với miền đất Cà Mau, miền sông nước, đi đâu cũng gặp sông rạch chằng chịt, đến nỗi có nhiều nơi phương tiện đi lại duy nhất là xuồng, vỏ lãi. Nên tôi chọn đề tài Tin Mừng là hạt mưa rơi, từng hạt mưa ngấm vào lòng đất, làm cây cối tươi tốt, tạo nên những cánh đồng lúa bao la. Cách đây hai năm, tôi có dịp đi xuống Đất Mũi, phần đất cuối cùng của nước Việt, cách Cà Mau khoảng 100 cây số đường sông. Vừa bước lên khỏi vỏ lãi tôi thấy một phụ nữ khoảng 30 tuổi, đi chân đất, hai ống quần kéo lên quá đầu gối, đầu đội nón lá, gương mặt thật dễ thương nhưng làn da đen sạm vì phèn, một tay cầm cuốn giáo lý tân tòng. Tôi nghĩ rằng: đây đúng là một bà “hai lúa” nhưng tôi đã lầm. Chị là một nữ tu lớp Thần Học Liên dòng nữ tại thành phố Hồ Chí Minh, đi truyền giáo hè tại Cà Mau. Chị nói với tôi. Ông cố ơi, mấy đứa nhỏ dự tòng ở đây đã thay đổi kinh Lạy Cha, không phải “...dưới đất cũng như trên trời”, mà là “dưới nước cũng như trên Trời”, vì các cháu thấy nước nhiều hơn đất. Thế ra Tin Mừng đã mang dấu ấn lúa nước Cà Mau. Sau một tháng sống ở Đất Mũi, chị hoàn toàn lột xác vì sống tạm cùng với bà con lương dân, cùng ăn, cùng ở và cùng chia sẻ cuộc sống, chị sống trong một lều tranh chơ vơ bên bờ kênh, mong manh, tạm bợ. Nước uống của chị là nước sông rạch, không ngọt mà lờ lợ, uống vào không đã khát, chưa nói đến vi khuẩn có khả năng truyền bệnh. Ngày đêm muỗi mòng thi nhau hút máu chị. Thế mà chị không nằm xuống, ngày ngày vẫn đến với anh em lương dân nghèo khổ, để thăm hỏi, để truyền cho họ sức sống mà họ mới lãnh nhận. Hình ảnh của Nữ tu Đất Mũi là một minh hoạ sống động, thực tế, cho những bài tham luận cao sâu về Truyền Giáo là hội nhập là sống cùng, sống với, sống cho… Này chị Nữ tu Đất Mũi, tôi không nhớ tên chị, nhưng nụ cười tươi vui và ánh mắt trong sáng của chị làm sao tôi quên được, vì từ nụ cười và ánh mắt đó đã mặc khải cho tôi một sức mạnh nhiệm mầu. Phải chăng, những giờ quỳ trước Thánh Thể, những lời trong Tin Mừng, đã chuyển vào cơ thể chị một nghị lực tuyệt vời, nghị lực của Chúa Thánh Thần, để chị có thể vượt thắng tất cả. Thế ra Truyền Giáo không cần kèn trống, rước xách linh đình, mà là cuộc đời thầm lặng, nhỏ thôi, như một giọt nước rơi vào lòng đất. Ai đã làm được việc này ? Vì phải bỏ tất cả để Tin Mừng được rao giảng. Tác nhân chính, chắc bạn đã biết đó là Chúa Thánh Thần “Thầy sẽ sai đến với các con Đấng thầy đã hứa.” (Ga 24, 49). Chúa Thánh Thần đã biến đổi các tông đồ ngày xưa, để Tin Mừng được rao giảng cho muôn dân. Thì ngày nay, cũng chính Chúa Thánh Thần đang tác động trong Hội Thánh, một cách thầm lặng, nhưng rất mãnh liệt và hiệu quả. Qua tác động của Chúa Thánh Thần những bước chân thầm lặng của các chị Nữ tu Đất Mũi ngày nào, đã trở thành những hạt mưa rơi vào lòng người Cà Mau, trở thành những cánh đồng lúa bao la, đang reo vui TIN MỪNG CỨU ĐỘ.
(Trích Web Giới Trẻ Công Giáo Viêt Nam)
TRUYỀN GIÁO =TÔNG ĐỒ = TRUYỀN GIÁO
THƠ ÁNH SÁNG NGÀN NĂM MỚI Lm. Khuất Dũng sss Giêsu Thánh Thể Vĩnh Hằng Phàm nhân bất xứng dẫu rằng khát khao Tình Yêu chiêm ngắm dạt dào Hành trình phấn khởi vươn cao ngút ngàn Đức tin ân huệ Chúa ban Thỏa lòng mơ ước thánh nhan ngọt bùi Sâu xa đón nhận dập vùi Lên đường loan báo Tin Vui sáng ngời * Đau thương bộ mặt thế đời Phi nhân kinh tế biến người máy xay Mạnh trừ diệt yếu tội thay Giầu - nghèo ngăn cách mỗi ngày rộng ra Chiến tranh khủng bố xót xa Gia đình đổ vỡ bất hoà rối gây Phá thai, đồi trụy chất đầy Bóng đen tội ác bủa vây thét gào Là người Kitô hữu ước ao Xin mong Chúa đến soi vào đêm thâu ** Kính thờ Thánh Thể Nhiệm Mầu Đoàn con phủ phục cúi đầu suy tôn Khai sinh Giáo Hội lâu tồn Qui về Thánh Thể suối nguồn cậy trông Lễ dâng phục vụ góp công Bàn ăn chia sẻ hiệp thông nhân quyền Canh tân huynh đệ tương liên Mạch nguồn cứu rỗi loan truyền Phục Sinh Giêsu Thánh Thể quang vinh Trung tâm tột đỉnh hành trình sáng tươi Tôn sùng Thánh Thể nơi nơi Dấn thân trọn vẹn gọi mời bốn phương Người là Chân- Thiện con đường Giêsu chí ái tình thương ngập tràn *** Mẹ ban sự sống chứa chan Ấp ôm chiu chắt gian nan không sờn Chẳng đâu ' Nhà Tạm’ nào hơn ! (1) Cử hành Thánh Thể Tạ Ơn suốt đời Bão bùng sóng gió biển khơi Sơ khai Giáo Hội thuyền đời nhấp nhô Mẹ luôn bên cạnh Môn Đồ Dẫn đưa ta đến Đức Kitô không ngừng Toả hương nhân đức thơm lừng ‘Ngôi Sao loan báo Tin Mừng’ huyền siêu (2) Thánh Thần tuôn đổ tình yêu Đức tin truyền giáo còn nhiều xa xăm Mẹ yêu ghé mắt viếng thăm Dâng lên phó thác Ngàn Năm mới này. Chú thích: 1. Thánh Ephrem - 2. Đức Phaolô VI
HỌC
HỎI NHỮNG NHẬN THỨC MỚI VỀ THÁNH LỄ Hoàng Quý viết theo Tiến Sĩ Scott Hahn Giới thiệu tác phẩm giá trị. The Lamb's Supper (Bữa Ăn Tối của Con Chiên), cuốn sách đứng hàng đầu trong các sách Công Giáo bán chạy nhất hiện nay của Tiến sĩ Kinh Thánh Scott Hahn. Cuốn sách được linh mục uyên bác Benedict L. Groeschel viết lời tựa ca tụng là cuốn sách tuyệt vời, vì tác giả sẽ dẫn đưa chúng ta tới tầm nhìn mới, thẩm định mới về Thánh Lễ, trung tâm thờ phượng của Giáo Hội Công Giáo. Lm. Groeschel nhận ra khi chúng ta đọc phần trình bầy của Tiến sĩ Scott Hahn về Thánh Lễ như một việc thờ phượng trên thiên cung đã được diễn tả trong sách Khải Huyền, chúng ta sẽ bị rúng động với sức sống mãnh liệt của ơn thánh. Thánh lễ trên trái đất chính là việc diễn tả lại Tiệc Cưới của Con Chiên. Chúng ta có thể nhìn thấy như một biểu tượng nơi việc cử hành Thánh lễ hàng ngày, những thực tại của công việc thờ phượng trên thiên cung của Vị Thượng Tế và Nhiệm Thể của Ngài. Thật vậy, khi chúng ta cử hành Phụng Vụ Thánh Lễ, Chúa Kitô hiện diện ở đó và thật huyền diệu, ngay giờ phút đó, chúng ta được tham dự vào Bữa Ăn Tối Vĩnh Cửu của Con Chiên. Mở đầu cuốn sách giá trị và nổi tiếng này hiện nay trong Giáo Hội Công giáo, Tiến sĩ Scott Hahn trích dẫn lời sách Khải Huyền: "Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta... Sau đó, tôi còn mải nhìn, thì kìa, một cánh cửa mở ra ở trên trời..." (Kh 3:20; 4:1). Lời sách Khải Huyền vừa rồi mở ra cho chúng ta nhìn thấy chân trời mới của Thánh Lễ như Giáo Chủ Gioan Phaolô nhìn nhận: "Thánh lễ chính là một thiên cung trên trái đất, nghĩa là khi chúng ta cử hành nghi lễ phụng vụ này, chúng ta được tham dự một cách huyền diệu vào nghi lễ phụng vụ trên thiên cung." Phải, Đức Kitô đang đứng trước cửa để mở cho chúng ta thấy thiên cung ngay trên trái đất này nơi Thánh Lễ. Thế mà từ trước tới nay sách Khải Huyền đối với nhiều người trong chúng ta coi như một cuốn sách kỳ dị, xa lạ. Sau hơn hai mươi năm truy tầm và xử dụng các phương pháp diễn giải Kinh Thánh không đạt được kết quả như ông mong muốn, sau cùng tiến sĩ Scott Hahn đã tìm ra chìa khóa giúp ông hiểu được sách Khải Huyền chính nhờ tham dự Thánh Lễ và ngược lại chìa khóa giúp ông thấu hiểu được Thánh Lễ lại phải nhờ tới sách Khải Huyền. Từ đây tiến sĩ Scott Hahn sẽ hướng dẫn chúng ta cảm nghiệm được Thánh Lễ là một thiên cung trên trái đất. Chúng ta đi tới thiên cung mỗi lần chúng ta đi tham dự Thánh Lễ. Và như vậy, chúng tôi hy vọng sau khi chúng ta đọc xong cuốn sách nổi tiếng hoàn vũ này của ông, chúng ta sẽ tham dự Thánh lễ với một nhận thức mới, cử hành nghi lễ phụng vụ với một trái tim mới và cảm nghiệm Thánh Lễ một cách thâm sâu hơn, rung động hơn, tràn đầy hơn và thần diệu hơn. Kết thúc cho lời giới thiệu cuốn sách, tác giả lặp lại với chúng ta rằng Sách Khải Huyền sẽ chỉ cho chúng ta nhìn ra Thánh Lễ đích thực là một thiên cung trên trái đất và hối thúc chúng ta còn chần chừ gì nữa mà không đi vào cảm nghiệm ngay đi, vì "Thiên Đàng không thể chờ đợi nữa" (heaven can't wait). Chúng tôi sẽ lần lượt khai triển cuốn sách này và độc giả muốn đọc nguyên văn bản tiếng Anh, xin tìm kiếm cuốn sách nhan đề: The Lamb's Supper: The Mass As Heaven On Earth của Scott Hahn do nhà xuất bản Doubleday phát hành. Chương I. TRÊN THIÊN ĐÀNG NGAY BÂY GIỜ Tác giả Scott Hahn kể lại lúc ông còn là một mục sư Tin Lành, có một lần ông tò mò lẻn vào ngồi hàng ghế sau cùng trong một nhà thờ Công Giáo tại Milwaukee để quan sát một Thánh Lễ. Đó là thời gian ông đang nghiên cứu các văn bản của các tín hữu tiên khởi. Ông ngạc nhiên không hiểu tại sao các văn bản này thường đề cập về "phụng vụ", "Thánh Thể", "hy lễ". Đối với các tín hữu tiên khởi này, Kinh Thánh trở thành khó hiểu khi bị tách rời ra khỏi biến cố mà ngày nay người Công Giáo gọi là Thánh Lễ. Ông muốn tìm hiểu các tín hữu tiên khởi này, nhưng khổ một nỗi, ông chả có cảm nghiệm gì về phụng vụ cả. Đó là lý do thúc đẩy ông lần mò tìm đến Thánh Lễ như một nghiên cứu Kinh Thánh và tự hứa với lòng mình là không bao giờ quỳ gối hoặc tôn thờ một ngẫu tượng nào. Ngồi ở dẫy ghế cuối cùng, ông quan sát thấy các tín hữu nam nữ thuộc mọi lứa tuổi bước vào nhà thờ. Ông cảm kích thấy họ bái gối, họ quỳ để thể hiện thái độ tập trung cầu nguyện. Rồi tiếp tới khi nghe tiếng chuông rung, mọi người đứng lên tiếp đón linh mục chủ tế từ cuối nhà thờ tiến lên cung thánh. Còn riêng ông, ông vẫn ngồi lì ra đó với cuốn Kinh Thánh kề bên, vì từ trước đến giơ, ông vẫn bị nhồi sọ rằng Thánh Lễ là một sự phạm thánh trầm trọng. Với người Tin Lành Calvinist, Thánh Lễ là một nghi lễ mang ý nghĩa "tái sát tế Đức Giêsu Kitô." Thấm đượm Kinh Thánh Thánh Lễ càng diễn tiến, ông càng bị đánh động. Giờ đây cuốn Kinh Thánh ông mang theo không còn ở bên cạnh ông nữa, nhưng đang khai diễn ngay trước mặt ông với các bài đọc tràn đầy hương vị Kinh Thánh trong Thánh Lễ. Từ sách Tiên tri Isaia, tới Thánh Vịnh, rồi tới Thư Thánh Phaolô. Thật tuyệt vời! Thế mà từ trước tới nay nhiều anh em Tin Lành chê bai Công Giáo không biết đến Kinh Thánh. Tôi vẫn đóng vai trò là khách bàng quang cho tới lúc linh mục đọc Lời Truyền Phép: "Đây là Mình Ta... Đây là chén Máu Ta." Tất cả mọi nghi hoặc tan biến trong ông khi ông nhìn thấy linh mục nâng cao Bánh Thánh lên. Lúc đó, như lời cầu nguyện phát xuất từ trái tim, ông thốt lên: " Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con. Quả thực Chúa đấy sao!" Ông phải thú nhận ông không thể hình dung được một sự khích động nào thâm sâu hơn những Lời Truyền Phép vừa rồi đã tác động trong ông. Và tiếp tới, một cảm nghiệm mới còn khích động trong ông thêm nhiều nữa khi ông nghe thấy cộng đoàn cùng lớn tiếng đọc: "Lạy Chiên Thiên Chúa... Lạy Chiên Thiên Chúa... Lạy Chiên Thiên Chúa," và sau đó linh mục nâng cao Bánh Thánh lên và công bố, "Đây Chiên Thiên Chúa..." Chỉ trong chưa đầy một phút, câu "Chiên Thiên Chúa" được tung hô bốn lần. Thế là sau bao năm dài dẵng ông nghiên cứu Kinh Thánh, giờ đây ông biết ông đang ở đâu. Ông đang sống trong sách Khải Huyền. Nơi đây Đức Giêsu được gọi là Chiên Thiên Chúa cả thảy hai mươi tám lần trong hai mươi hai chương. Ông biết ông đang được tham dự vào bữa tiệc cưới mà Thánh Gioan diễn tả ở đoạn cuối cuốn sách này. Ông đang đứng trước ngai thiên cung, nơi đó Chúa Giêsu được vĩnh viễn tung hô là Con Chiên. Ông không được ai chuẩn bị cho ông cả, nhưng thực sự ông đã hiện diện trong Thánh Lễ. (Còn tiếp) LÀM SAO CẦU NGUYỆN CHO HỮU HIỆU Nguyễn Chính Kết 1. Thiên Chúa không thể làm ngơ trước lời cầu xin của con người. Đời sống con người quả thật có những lúc đau khổ, thiếu thốn, mà con người không thể làm gì được, cũng không thể cầu cứu ai được ngoài Thiên Chúa. Những lúc đó, con người nên kêu cầu Thiên Chúa, và tin tưởng rằng Ngài là người Cha nhân hậu, luôn luôn thỏa mãn những gì con người cần cho đời sống của họ. Trong đoạn Tin Mừng Lc 18,1-8, Đức Giêsu đưa ra một lập luận để chứng tỏ điều đó. Ngay cả một ông quan vô đạo đức mà cũng phải nhậm lời cầu xin của một bà góa nếu bà ta cứ xin mãi. Ông ta nhậm lời bà không phải vì ông ta tốt lành gì, mà vì để mình khỏi bị quấy rầy nữa. Một người vô lương tâm, thiếu đạo đức mà còn phải nhậm lời những người cầu xin mình mãi, huống gì những người có đạo đức, có lòng thương người! Mà Thiên Chúa là Đấng nhân lành hơn ai hết, chẳng lẽ lại có thể làm ngơ được trước những người thành tâm, có nhu cầu thật sự, kêu cầu Ngài. Vì thế, khi cầu nguyện, ta hãy tin tưởng vào tình thương và lòng nhân từ của Thiên Chúa. 2. Giá trị lời cầu xin nằm ở chất lượng chứ không phải số lượng Khi nói dụ ngôn ông quan tòa bất lương và bà góa ấy, Đức Giêsu không có ý nói ta phải cầu xin cho thật dai dẳng thì mới được Thiên Chúa nhậm lời, làm như thể Ngài cũng giống như ông quan kia, cứ phải để cho người ta xin cho thật nhiều thật lâu thì mới ban cho. Qua dụ ngôn này, Ngài muốn ta tin tưởng vào hiệu lực của lời cầu xin, chứ không phải khuyên ta cầu xin cho dài hay phải lập lại cho thật nhiều lần lời cầu xin của mình. Chính Ngài cũng đã khuyên: «Khi cầu nguyện, anh em đừng lải nhải như dân ngoại; họ nghĩ rằng: cứ nói nhiều là được nhận lời. Đừng bắt chước họ, vì Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu xin» (Mt 6,7-8). Sự hữu hiệu của lời cầu nguyện nằm ở phẩm chất chứ không phải số lượng hay thời gian cầu nguyện. Một lời cầu nguyện có giá trị trước mặt Thiên Chúa là một lời cầu nguyện thấm nhuần tinh thần tin yêu, xuất phát từ niềm tin tưởng và phó thác vào tình yêu, vào sự quan phòng của Thiên Chúa, đồng thời từ tâm tình yêu thương đích thực của mình đối với Thiên Chúa được biểu hiện cụ thể thành hành động. Một lời cầu xin rất ngắn, thậm chí không được phát thành lời, mà chỉ là tâm tình yêu thương tin tưởng như trên, thì giá trị gấp triệu lần những lời cầu xin dài dòng mà thiếu những tâm tình cần thiết ấy. Không khéo, chúng ta sẽ biến đạo của mình thành một «đạo xin», và tự biến mình thành những «kẻ ăn mày». 3. Hãy cầu xin như một người con, đừng xin như một gả ăn mày Cách xin của một gả ăn mày khác hẳn với cách xin của một người con. Người con thì biết cha mẹ là người yêu thương mình nhất trên đời, và tin tưởng chắc chắn rằng các ngài luôn luôn thỏa mãn những gì mình cần. Vì thế, người con chỉ cần nói với cha mẹ mình một tiếng và chờ đợi cha mẹ mình thoả mãn nhu cầu của mình. Còn người ăn mày thì không dám tin tưởng rằng người mình xin thương yêu mình thật sự để sẵn sàng «bố thí» cho mình, nên xin với tâm tình «được chăng hay chớ», được thì mừng mà chẳng được thì đành chịu vậy. Vì thế, người ăn mày phải lải nhải van xin để đánh động lòng thương của người khác. Thiên Chúa là Cha đầy tình thương, và chúng ta là con cái Ngài. Ngài không cần ta phải đánh động lòng thương của Ngài, làm như tình thương của Ngài đã đi vắng hay ngủ quên. Coi chừng kẻo chúng ta đánh giá tình thương Ngài quá thấp, và đó là một cách vô tình xúc phạm đến Ngài. Đồng thời có thể chúng ta cũng đã tự hạ thấp phẩm giá của mình trước mặt Thiên Chúa: thay vì làm một đứa con được yêu thương chăm sóc, thì lại làm như một kẻ ăn mày xa lạ từ đâu tới trước cửa nhà. Chính vì thế, đã 30 năm nay, tôi chẳng cầu xin bằng lời cho bằng dùng tâm tình thật sự của một người con, tin tưởng và phó thác hoàn toàn vào tình thương, vào sự quan phòng đầy khôn ngoan sáng suốt của Thiên Chúa. Vì thế, dường như không một nhu cầu chính đáng nào của tôi mà không được Ngài thỏa mãn, cho dù tôi chẳng hề lên tiếng cầu xin. Tôi nghĩ, cần gì phải lên tiếng khi mà chưa mở miệng thì Ngài đã biết mình nghĩ gì, muốn gì, xin gì rồi. Và khi nhận thấy Thiên Chúa đã thỏa mãn nhu cầu hay điều tôi mong muốn, thì tôi nhận ngay ra tình thương phụ tử của Ngài đối với mình, nên cố gắng đáp lại tình thương ấy một cách quảng đại, đầy yêu thương, bằng hành động thật sự. 4. Trường hợp Thiên Chúa không thỏa mãn điều mình mong ước Nếu có một nhu cầu hay một điều mong muốn nào của mình không được thỏa mãn, dù mình nghĩ nó rất chính đáng và thật sự cần thiết, thì sao? Lúc đó ta nên nghĩ rằng Ngài khôn ngoan sáng suốt hơn mình gấp triệu lần, cách hành động của Ngài chắc chắn có lợi cho mình hơn cách mình nghĩ. Ta hãy phó thác mọi sự cho Ngài, và để mặc Ngài hành động. Nếu Ngài ban cho, thì việc ban cho ấy chắc chắn là điều có lợi cho ta. Nếu Ngài không ban cho thì việc không ban cho ấy chắc chắn cũng vì ích lợi cho ta. Kinh nghiệm làm cha mẹ đã dạy tôi điều ấy. Trước hết, tôi không hề để cho con tôi phải xin nhiều lời rồi mới cho. Việc gì tôi thấy cần thiết và ích lợi cho nó, thì dù nó có xin hay không xin, tôi cũng cho. Thậm chí nhiều thứ nó không xin vì thấy không cần, nhưng tôi thấy những thứ ấy cần thiết cho nó, thì tôi cho và buộc nó phải nhận lấy mà dùng. Còn việc gì tôi thấy cho có hại hơn không cho, hoặc không cho có lợi hơn là cho, thì dù nó có năn nỉ xin tới đâu tôi cũng không cho. Nhiều khi quan điểm của tôi và nó trái ngược nhau: nhiều điều nó nghĩ là cần thiết hoặc ích lợi thì tôi lại cho là không cần thiết hoặc không có lợi. Lúc đó tôi phải theo sự khôn ngoan của tôi – là người nhiều kinh nghiệm và khôn ngoan hơn nó – chứ không phải theo sự suy nghĩ còn non nớt của nó. Nếu tôi đã quyết không cho mà nó cứ nằng nặc đòi thì tôi nổi quạu lên ngay. Tôi nghĩ rằng Thiên Chúa có lẽ cũng hành xử tương tự như vậy đối với con cái Ngài. 5. Cầu nguyện không nhất thiết phải dùng lời Thiên Chúa thấu hiểu hết tâm can tôi, Ngài biết hết mọi tư tưởng của tôi trước khi nó thành hình trong đầu tôi. Vì thế, tôi cảm thấy lời nói của tôi đối với Ngài trở thành thừa thãi, không cần thiết, nếu không muốn nói là có nhiều khi không hợp lý. Không nói với Ngài không có nghĩa là tôi không cầu nguyện. Tôi nghĩ rằng có nhiều cách để cầu nguyện tốt hơn là cầu nguyện bằng lời nói. Đó là cầu nguyện bằng tâm tình và bằng hành động. Nếu lời cầu nguyện không xuất phát từ những tâm tình có thực trong tâm hồn được biểu hiện cụ thể thành hành động, thì đó chỉ là những lời trống rỗng hoặc giả dối, chẳng có giá trị trước Thiên Chúa. Mà nếu đã có tâm tình yêu thương, biết ơn, cảm tạ… đối với Ngài thì chắc chắn Ngài đã biết: nói ra hay không nói ra không phải là điều quan trọng, điều quan trọng chính là có những tâm tình đó thật sự hay không. Vì thế, những lúc cầu nguyện, tôi chỉ để cho những tâm tình yêu thương, biết ơn, cảm tạ… tự động trào lên từ đáy lòng. Những tâm tình ấy tự động phát sinh khi tôi nhìn vào bản tính đầy tình phụ tử và yêu thương của Ngài, và vào những ân huệ lớn lao Ngài đã dành cho tôi. Những tâm tình ấy có thể khiến tôi bật thành lời, mà cũng có thể không. Và tôi cũng dành nhiều phút im lặng để lắng nghe Ngài nói trong tâm hồn, xem Ngài muốn nói gì với mình. Tôi cho rằng khi cầu nguyện, nói với Ngài là chuyện không cần thiết, vì Ngài đã hiểu hết mọi sự tôi muốn nói. Nhưng lắng nghe Ngài mới là chuyện hết sức cần thiết, vì tôi đâu biết được ý Ngài thế nào, phải lắng nghe Ngài thì mới biết Ngài muốn gì. Muốn thực hiện thánh ý Ngài mà lại không thèm nghe Ngài nói lên điều Ngài muốn thì thật là phi lý. Im lặng lắng nghe Ngài, ta sẽ học được nhiều điều khôn ngoan, và múc được rất nhiều sức mạnh từ nơi Ngài.
THEO ÁNH MẮT TÂM LINH Khổng Nhuận Tình yêu Thiên Chúa là một khu rừng hoa thơm ngát cả bầu trời, với muôn màu sắc tươi, tuỳ theo cách nhìn của mỗi người. Tôi tạm đưa ra một vài lối nhìn: 1. Theo thần học cổ điển Người ta gán cho tình yêu Thiên Chúa một đặc tính vô cùng, nhưng cùng lúc đó họ lại cũng tin rằng Thiên Chúa công bằng vô cùng để rồi cho tới bây giờ họ vẫn loay hoay giải quyết mâu thuẫn này bằng trí óc của con người mà chẳng thuyết phục được ai. 2. Theo cặp mắt nhân loại Trong cộng đoàn, họ thường họp nhau hàng tuần hoặc hàng tháng và chia sẻ cho nhau nghe những ân huệ họ đã nhận được. Tôi đã nghe hàng trăm lời ca ngợi tình yêu Thiên Chúa đại loại như sau: – Đang thất nghiệp dài dài, bỗng nhận được việc làm ngon cơm do anh bạn giới thiệu. – Sáng nay, chỉ một ly nữa là tôi bị xe tải nghiến chết!!! – Chỉ còn một căn nhà nữa là thần hoả đã thiêu rụi nhà tôi rồi!!! – Học bài chưa kỹ lắm, thế mà Chúa vẫn cho đậu!!! – Hôm qua, tớ chở hàng lậu, thế mà Chúa đã bịt mắt công an, nên tớ thoát nạn!!! – Tuần trước, gặp tai nạn ô tô, hành khách bị chết gần nửa xe, số còn lại ai cũng bị thương, trong khi tôi bị văng ra khỏi xe mà chỉ bị trầy xước sơ sơ. Tạ ơn Chúa!!! – Nhờ cộng đoàn cầu nguyện, chồng tôi đã bỏ được rượu. – Huynh trưởng bọn tôi làm luộm thuộm vậy mà Chúa vẫn cho cộng đoàn gia tăng số thành viên. Và còn 1001 chuyện kì diệu khác mà Chúa đã làm cho cá nhân và cộng đoàn…. Rất tốt, rất tốt, nhờ thế mà họ gắn bó với cộng đoàn và nhờ thế, cuộc sống của họ cũng cảm thấy đỡ khổ hơn một chút. Nhưng… xét cho thật kỹ thì có tới 90% ân huệ đều thuộc về những chuyện trần gian. Như vậy đây chỉ là cái vỏ của tình yêu Thiên Chúa. Hay nói cách khác, đây chỉ là phần thêm vào làm cho tình yêu của Ngài có vẻ dễ thấy hơn. Đức Giêsu đã khẳng định Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho (Mt 6:33). Rõ ràng 1001 chuyện kỳ diệu trên chẳng dính dáng gì với nước Nước Thiên Chúa mà chỉ là những điều Ngài sẽ thêm cho. Nếu cho rằng đó là cái vỏ, là đồ thêm cho, vậy cái ruột, cốt lõi của tình yêu Thiên Chúa nằm ở chỗ nào? 3 Theo Kinh Thánh. Để chứng tỏ tình yêu của Ngài, Thiên Chúa làm 2 việc: – Món quà chúng ta có thể thấy được:
Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta Nói có sách , mách có chứng, không phải do tôi chế ra. Tình yêu Thiên Chúa được biểu lộ không phải bằng hàng ngàn ơn phúc Ngài ban cho tôi, mà chính là ở chỗ Ngài đã sai Đức Giêsu xuống trần để giới thiệu cho tôi một lối nhìn về Chúa Cha, một cuộc sống kết hợp nên một với Chúa Cha - một cuộc sống dồi dào, tự do, bình an và hạnh phúc đích thực. – Món quà chúng ta không dễ gì thấy được: Thiên Chúa đã tuôn đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta (Rm 5:5).
Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được Thiên Chúa không tuôn đổ tình yêu của Ngài bằng cách ban cho hết ơn này tới ơn khác, mà Ngài ban cho tôi Thánh Thần – hay nói cách khác – Ngài ban cho tôi chính Thần Khí của Ngài - sự sống của Ngài - để nhờ đó tôi sống bằng chính nguồn sống sung mãn của Ngài ở trong tâm tôi. 4. Theo ánh mắt tâm linh Theo ánh mắt tâm linh, tình yêu Chúa trở nên quý trọng hơn nhiều, sâu thẳm hơn nhiều và đặc biệt là trọn vẹn một cách tuyệt vời. Nói là Chúa Cha sai Đức Giêsu xuống trần để cho chúng ta được sống dồi dào, tự do, bình an. Nhưng chúng ta thử giở Kinh Thánh ra xem Đức Giêsu đã xác tín như thế nào trong lúc trao đổi với các môn đệ về Chúa Cha trong Gioan chương 14,7 -10 Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha Thầy. Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người». Ông Phi-líp-phê nói: «Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện». Đức Giê-su trả lời: «Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Phi-líp-phê, anh chưa biết Thầy ư? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Sao anh lại nói: «Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha»? Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao? Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình. Bấy lâu nay tôi cứ tin chắc như đinh đóng cột rằng: có một ông Chúa Cha râu tóc bạc phơ, sai con một của mình là Đức Giêsu xuống trần chịu nạn chịu chết trên cây thánh giá để cứu chuộc nhân loại, còn mình cứ việc vui vẻ hạnh phúc thoải mái trên thiên đàng. Nhưng khi suy đi nghĩ lại đoạn Kinh Thánh này, tôi mới khám phá ra rằng: bên ngoài tôi thấy Đức Giêsu đi đứng, nói năng, làm đủ thứ phép lạ nhưng thực ra Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Đức Giêsu, chính Người làm những việc của mình. Như vậy, theo ánh mắt tâm linh, tôi đã khám phá ra tình thương của Chúa thật bao la và sâu thẳm đến nỗi chính Ngài đã xuống trần qua thân xác của Đức Giêsu, bằng chứng là chính Đức Giêsu đã quả quyết: «Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người». Tình yêu Thiên Chúa đã vươn tới tuyệt đỉnh qua mong muốn của Đức Giêsu: để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta… để họ được nên một như chúng ta là một. Thêm vào đó, tình yêu Thiên Chúa còn được biểu lộ trong việc Ngài ban Thánh Thần cho tôi. Trước kia, tôi cứ tưởng Chúa Cha như một ông chủ, cầm cái bình HỒNG ÂN rót vào hồn tôi từng giọt ân huệ Thánh Thần… Như vậy, Chúa Cha vẫn ở ngoài tôi và giao tiếp với tôi qua những ân huệ Ngài ban. Nhưng hoá ra không phải như vậy, bằng chứng là câu Kinh Thánh sau đây: «Nhưng giờ đã đến -và chính là lúc này đây- giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế. Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật».( Ga 4:23-24) Thánh Thần - Thần Khí - có vẻ giống như món quà Chúa ban cho tôi, nhưng qua đoạn Kinh Thánh trên, tôi mới khám phá ra người cho và món quà là một – Thiên Chúa cũng chính là thần khí. Nói cách khác, để chứng tỏ tình yêu đối với tôi, chính Chúa Cha hiện diện trong tôi, sống với tôi, nên một với tôi, để tôi cũng được nên một với Ngài. Theo tôi cảm nghiệm, điều này mới là một minh chứng hùng hồn Chúa yêu tôi trọn vẹn, Ngài cho tôi hết – không giữ lại cho mình một chút gì. 5. Đền đáp tình yêu – Những người lãnh nhận ơn Chúa phải đền đáp sao đây trước Tình yêu Chúa bao la như vậy? Để đáp lại muôn ngàn hồng ân của Chúa, họ chỉ còn biết dâng lời ngợi khen và cảm tạ Chúa. Họ cho rằng như vậy là đủ lắm rồi, còn hơn rất nhiều người - những giáo dân khác không bao giờ biết tạ ơn Chúa. Họ thường đồng thanh hát : «Hồng ân Thiên Chúa bao la, muôn đời con sẽ ngợi ca ơn Người». Phải, chỉ biết ca ngợi mà thôi. Chấm hết. – Theo ánh mắt tâm linh thì không chỉ như vậy. tôi xin kể một chuyện nhỏ nhỏ. Sau một năm hội họp với nhau, một anh huynh trưởng đã vừa hỏi vừa như căn vặn tôi: – Sao em chẳng xin ơn gì cho mình vậy? – Thú thật với anh, từ khi khám phá ra Chúa của lòng mình, em chẳng còn cảm thấy phải xin ơn gì cho mình nữa. – Trong lời ngợi khen - cảm tạ, sao em lại hay dùng những lời Kinh Thánh, nghe có vẻ lý thuyết, dậy dỗ người khác và không giống như kiểu cách của cộng đoàn. – Lại phải thú thật với anh, đây không phải là lý thuyết mà là từ trong tâm chân thành của em. Đơn giản chỉ vì em nhận thấy những Lời Chúa đó quả là hồng ân đích thực, sống động trong đời sống của em - chứ không lý thuyết, xa vời như ngày xưa. Cuộc đối thoại kiểu ông nói gà, bà nói vịt giống như cuộc đàm thoại giữa Đức Giêsu và ông Philipphê. Đức Giêsu đã nói «Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người», thế mà Philipphê vẫn còn cố nài nỉ: «Thưa Thày, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện». Đức Giêsu hàng ngày sống trong Chúa Cha, nên một với Chúa Cha, đó là chuyện bình thường như ăn cơm, uống nước; trong khi Philipphê tưởng sẽ được gặp một Chúa Cha oai phong lẫm liệt, tràn đầy ánh sáng và quyền uy… Cũng vậy, có lẽ anh huynh trưởng của tôi quan niệm với cặp mắt nhân loại: Chúa là Cha nhân lành, Ngài ban muôn vàn hồng ân – bổn phận ta phải cảm tạ, cầu xin, nếu không sẽ là đồ vô ơn, bạc nghĩa với Chúa – nên anh hoàn toàn ngạc nhiên không hiểu tại sao tôi lại không cảm tạ Ngài và đặc biệt là không bao giờ xin ơn Ngài. Có lẽ anh nghĩ: tay này có vẻ kiêu ngạo đây – không cần ơn Chúa. Trong khi đó, mối quan tâm hàng đầu của tôi là sống nên một với Ngài thì chuyện ngợi khen, cảm tạ và xin ơn cho mình thì có vẻ hơi thừa. Xin ơn gì bây giờ ? trong khi chính Thánh Thần - nguồn ơn Chúa - đang hiện diện và sống trong tôi? Hay nói cách khác: chính Chúa Cha sống trong mình thì còn ơn nào cao trọng hơn? Không lẽ nghe anh huynh trưởng, tôi phải để đẩy Ngài ra khỏi lòng mình, tôn Ngài lên làm vua cả nước trời - trên 9 tầng mây, để rồi lại quỳ mọp xuống năn nỉ, ỉ ôi từng ơn, từng ơn theo từng hoàn cảnh - như tôi đã sống từ mấy chục năm trước? Tại sao vậy ? Đơn giản chỉ vì tôi xác tín rằng: «Đừng tìm xem mình sẽ ăn gì, uống gì, và đừng bận tâm. Vì tất cả những thứ đó, dân ngoại trên thế gian vẫn tìm kiếm; nhưng Cha của anh em thừa biết anh em cần những thứ đó. Vậy hãy lo tìm Nước của Người, còn các thứ kia, Người sẽ thêm cho» (Lc 12:29-31). Thực vậy, đối với tôi, một khi Cha của tôi đã thừa biết và chăm sóc tôi mà tôi còn xin xỏ thì tôi đã phạm vào những tội sau đây: – Tôi đã xúc phạm tới Chúa khi tỏ ra không tin tưởng tuyệt đối vào tình yêu của Ngài. – Tôi coi Chúa như ông già lẩm cẫm và hơi lãng tai, nên tôi cứ phải lải nhải: «Xin Chúa lắng nghe và nhận lời chúng con» dường như sợ Ngài không nhận lời cầu xin tha thiết của tôi giữa hàng tỷ người đang chen chúc cầu xin với hàng tỷ tỷ ơn huệ khác nhau. – Tôi phỉ báng tình yêu bao la của Ngài. Tôi nghĩ rằng: Ngài cũng chẳng quan tâm gì tới tôi giữa hàng tỷ người lúc nhúc trên mặt đất này. Ngài cũng đối xử với tôi theo kiểu thế gian, tức là: Phải đợi con khóc, mẹ mới cho bú tí. Nói như thế không c |