|
TRUYỀN GIÁO TẠI Á CHÂU Trần Duy Nhiên Bối cảnh Á Châu. Kitô giáo đến Á Châu quá trễ! Ta hãy nhìn lại tiến trình các tôn giáo trên thế giới. Thuở xa xưa, con người chưa có tôn giáo, nhưng dường như từ khi có con người trên mặt đất thì đã có tín ngưỡng. Những tín ngưỡng ấy xuất phát từ một thế giới quan cho rằng trong mọi vật thể hay hiện tượng tự nhiên đều có một sức mạnh nào đó có thể tác động đến con người, hoặc thuận lợi hoặc tai hại, và từ đó mỗi nhóm người tìm cách liên lạc với sức mạnh đó để thủ đắc sự thuận lợi và tránh né các tai họa. Tín ngưỡng là một hiện tượng xã hội văn hóa. Tín ngưỡng này phát triển chủ yếu ở các xã hội bộ tộc, cho đến một ngày nào đó, một tôn giáo xuất hiện. Sự khác biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo là ở điểm: tôn giáo đề xướng sự hiện hữu của một thực tại siêu tự nhiên luôn luôn tác động một cách tiềm tàng vào vũ trụ và có giá trị cứu độ (giải thoát) cái chân tính (linh hồn, cái ngã, cái tôi) của mỗi một con người, qua agapê (bác ái cứu độ/giải thoát) hay qua giác ngộ (hiểu biết cứu độ/giải thoát). Ví dụ như niềm tin Do Thái Giáo, Hồi Giáo và Kitô Giáo là niềm tin mang chiều kích bác ái, và các tôn giáo như Ấn giáo, Phật giáo, Lão giáo mang chiều kích giác ngộ… Trong quá trình một tôn giáo lan rộng trên một lãnh thổ thì có sự kết hợp giữa tín ngưỡng của dân cư với tôn giáo ấy. Tôn giáo, dù bác ái hay giác ngộ, chỉ có thể cắm rễ vững chắc vào xã hội bộ lạc khi nó hội nhập vào tín ngưỡng của xã hội đó. Ngược lại, tín ngưỡng lại là một con đường mở ra trong lãnh vực tự nhiên để chờ đợi một tôn giáo đưa vào siêu nhiên. Đây không có việc lấy tôn giáo thay cho tín ngưỡng, mà là một sự kết hợp nhuần nhuyễn để bổ túc lẫn nhau hầu đi từ một sự cứu độ tự nhiên đến một sự cứu độ siêu nhiên. Đó là hình thức mà các nước Châu Âu đã trở nên một Xã Hội Kitô Giáo (une Chrétienté), bởi vì vào thời Constantin, các nước ấy vẫn sống trong một tình trạng tín ngưỡng tiềm tàng dưới lớp triết học Hy La. Đó cũng là cách thức mà khắp mọi nơi trên Ấn Độ đã đón nhận Ấn Giáo, và cũng là cách mà Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam đón nhận Phật Giáo, Lão Giáo và Khổng Giáo, vì ba tôn giáo này đến hầu như cùng một lúc để kết hợp với tín ngưỡng của các quốc gia kể trên. Cũng vì thế mà Kitô giáo đã trở thành một nền văn hóa Châu Âu, trong khi đó các nước Á Châu có một nền văn hóa Tam Giáo. Và sau đây là một sự kiện mà lịch sử đã chứng minh như là một qui luật: Khi một lãnh thổ đã lấy tín ngưỡng của mình kết hợp với một tôn giáo siêu nhiên rồi, thì không có một tôn giáo nào có thể đánh bật tôn giáo ấy để thay chỗ được, trừ phi có một sự đàn áp bằng vũ lực để cải đạo trong một thời gian kéo dài vài ba thế hệ. Ta thấy rõ từ hai tôn giáo lớn trên thế giới: Kitô giáo và Phật Giáo. Chúa Giêsu xuất phát từ Do Thái, đến độ Kitô giáo lấy Kinh Thánh Do Thái giáo làm một phần của Kinh Thánh của tôn giáo mình, thế mà đất nước Do Thái không có mấy người Kitô giáo, và Kitô giáo tồn tại rất khiêm tốn trên lãnh thổ Do Thái, trong khi đó lại phát triển rất mạnh ở Châu Âu. Đức Phật xuất thân là một người Ấn, và những kinh cốt lõi được ghi bằng tiếng Phạn, thế nhưng tại Ấn Độ Phật Giáo không thể nào có tiếng nói cân xứng với Ấn Giáo mà lại phát triển ở Đông Á, là những nơi mới có tín ngưỡng nhưng chưa có tôn giáo. Như thế, lý do mà Á Châu không thể nào ‘trở lại’ hàng loạt (trừ những nơi ít ỏi mà con người còn sống trong các tín ngưỡng bộ lạc) bởi vì khi Kitô giáo đến với Á Châu, thì tại đây đã có tôn giáo rồi. Nếu không một Kitô hữu nào tin rằng tín hữu Phật Giáo hay Hồi Giáo có thể chiếm đại đa số ở Âu Châu, thì làm thế nào lại có thể quan niệm được rằng Kitô giáo có thể thay thế được Tam Giáo tại Á Châu? Điều gì đã làm làm được ở Á Châu thì đã làm rồi: ví dụ Phi Luật Tân là một đất nước trong tình trạng tín ngưỡng bộ tộc khi Kitô giáo đến, nên hiện nay nước này là nước Kitô giáo duy nhất tại Á châu, và mãi mãi sẽ không còn nước thứ hai như thế nữa. Phải nói thế nào về Chúa Giêsu ? Nhưng phải chăng như thế có nghĩa là người Á Châu không thể nào ‘niềm nở’ với Đức Kitô, và đón nhận ơn Cứu Độ từ Người? Không, Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ cho nhân loại, trong đó có tất cả mọi người ở Á Châu. Vấn đề là các Giáo Hội Kitô giáo nói chung, và Giáo Hội Công Giáo nói riêng, phải đem ơn Cứu Độ của Người, hay đúng hơn, phải trình bày Người thích hợp với nền văn hóa Á Châu, nghĩa là một nền văn hóa Tam Giáo hay Ấn Giáo. Muốn như thế, Giáo Hội phải có thời gian để bước vào dòng nước thanh tẩy của tôn giáo Á Châu, và đi xuyên qua thương khó và cái chết trên thập giá của cái nghèo Á Châu. Ngày nào cuộc cách mạng Giáo Hội chưa hoàn tất, ngày ấy vẫn chưa có một nền Kitô học Á Châu. Thay vào đó, ta buộc phải thỏa lòng với ‘những tư tưởng Kitô giáo’ về ‘người nghèo’ hay hướng về ‘tôn giáo’ bạn, hoặc ta đành phải hài lòng với những lập trường và quan điểm của các nhà thần học. Kitô hữu Á Châu mong mỏi có cơ hội tiếp cận xã hội hiện nay như Chúa Giêsu, với tinh thần khổ hạnh, trầm mình trong mọi tôn giáo và giữa người nghèo. Một sự tiếp cận như thế sẽ làm trổ sinh những nền Kitô học xuất phát từ chiều sâu cứu độ học của các nền văn hóa Á Châu. Đây không phải là điều không tưởng, bởi vì cuộc cách mạng Giáo Hội đã được khởi sự ngoài viền của Giáo Hội, nơi mà những khu vườn ươm hy vọng đang tìm cách để ra đời. Đây không phải là ước mơ, như là một hiện thực đã có một lịch sử gần hai thế kỷ rồi. Từ khoảng năm 1820, nhiều tín đồ Ấn Giáo chân thành đã bị mầu nhiệm Đức Giêsu thu hút. Dù có những người nghi ngờ về tính chất trí huệ (gnostic) của họ, thì họ cũng đã mơ hồ cảm nhận Đấng Cứu Độ nơi Đức Giêsu. Trong số các tín đồ Ấn Giáo có vài người công nhận Đức Giêsu là Đấng Cứu độ (ví dụ: Subha Rao) và theo ngài xa xa (như Raj Ram, Mohan Roy) - họ còn có thể luận về Ba Ngôi. Nhưng điều chính yếu là càng ngày họ càng tập trung vào đức Giêsu. Trong chiều hướng này, ta hiểu vì sao Gandhi đã nhìn Đức Giêsu như một Satyagrahin mẫu mực: một người ‘tôi tớ đau khổ của chân lý (= của Thiên Chúa)’ Tại Á Châu ngày nay, sự giải thoát tâm linh cũng như sự giải phóng con người khỏi các cơ chế chính trị xã hội phi nhân cần có một gương mẫu về sự từ bỏ (sống khó nghèo), để có thể lý giải cuộc chiến nhằm giải phóng con người một cách toàn diện, hầu đem họ đến một cuộc gặp gỡ (mang chiều kích cứu độ) với thực tại tối thượng. Dĩ nhiên, điều này sẽ chạm đến ‘vùng nhạy cảm’ của một số người bên trong và bên ngoài Giáo Hội Công Giáo tại Á Châu, và cần phải tế nhị. Nhưng dù sao con đường không thể tránh né là chân thành đối thoại, như Đức Giáo Hoàng đã nói trong tông thư ‘Truyền Giáo là công bố ơn tha thứ’ ngày 20-05-2002: "Đối thoại không bắt nguồn từ những tính toán chiến thuật tư lợi (Redemptoris Missio, 56) cũng không phải tự nó là cùng đích. Thay vì vậy, đối thoại nói với người khác với lòng kính trọng và sự hiểu biết, bắt nguồn từ những nguyên tắc theo đó chúng ta tin tưởng và công bố với tình yêu những chân lý sâu xa nhất về đức tin là niềm vui, hy vọng và ý nghĩa của cuộc sống. Thật ra, đối thoại là sự hiện thực hóa một tác động thiêng liêng dẫn đưa tới "sự thanh tẩy nội tâm và hoán cải mà, nếu được theo đuổi với sự vâng phục Thần Khí, sẽ mang lại những hoa trái thiêng liêng"(ibid 56). Dấn thân cho đối thoại lắng nghe và tôn trọng là một điều kiện không thể thiếu (conditio sine qua non) cho chứng tá chân thật của tình yêu cứu độ của Thiên Chúa…”.
|