|
DOROTHY DAY, NGƯỜI PHỤ NỮ GIÁO DÂN ĐƯỢC MỞ HỒ SƠ PHONG THÁNH Hoàng Quý viết theo Ann Ball
Bà Dorothy Day sinh ngày 8-11-1897 tại Brooklyn, thành phố New York. Bà thuộc gia đình gồm bốn người con và bà là người chị cả trong gia đình. Ông cụ thân sinh tên là John Day hành nghề báo chí. Ông thuộc giáo phái Congregationalism và bà mẹ tên là Grace thuộc giáo phái Episcopalian. Thuở ấu thời, gia đình thường xuyên di chuyển chỗ ở. Năm lên tám tuổi, gia đình cư ngụ tại Chicago. Năm 1906, trong trận động đất tại San Francisco, gia đình tan nát nhà cửa và ông bố mất việc. Lúc đó gia đình tạm cư tại một khu nhà tồi tàn, đến nỗi khi đi học về, Dorothy bước vào khu nhà cao tầng bên cạnh lánh thân ở đó, chờ cho đồng bạn đi về nhà xong xuôi, cô mới dám bước về nhà. Một lần kia, tại nhà người bạn, Dorothy nhìn thấy người mẹ của cô bạn đang quỳ gối cầu nguyện bên cạnh giường. Thật thản nhiên, bà Barret, má cô bạn, hỏi Dorothy xem con gái của bà ở đâu rồi và bà tiếp tục trở lại cầu nguyện. Chuyện tình cờ nhỏ bé này đã giúp Dorothy vượt qua được những thiên kiến chống Công giáo do người cha hay gán ghép. Hình ảnh này đâm rễ sâu dần trong tâm tưởng Dorothy và trở thành một yếu tố quan trọng đem cô đến với niềm tin Công giáo vào năm ba mươi tuổi. Sau này cha cô nhận làm chủ bút cho tờ báo thể thao Inter Ocean và gia đình trở lại Chicago với một ngôi nhà rộng lớn, đầy đủ tiện nghi. Năm 15 tuổi, các thư từ của cô bộc lộ cô đang phải chiến đấu với ý nghĩa trong sách Tông Đồ Công Vụ. Cô lớn lên dần mang theo mối quan tâm đến các đau khổ và các nhu cầu của những người nghèo túng và nhất là các lệnh truyền của Thánh Kinh bảo phải lo lắng giúp đỡ họ. Cô chưa hiểu được tường tận lý do nào khiến các Kitô hữu không sống sứ điệp của Tin Mừng. Trong một lá thư gửi cho người bạn học, cô nói mình đang đọc Thánh Kinh, một trong những cuốn sách cô yêu thích: "Mình còn đang đọc sách Công Vụ. Trước đây chưa bao giờ mình đọc say mê cả và bây giờ mình khám phá ra nhiều điều tuyệt vời. Không kỳ diệu sao khi cũng những câu ấy lại có thể đánh động mỗi lúc một khác? 'Chúng ta phải trải qua nhiều khốn khổ khi bước vào Vương Quốc của Chúa.' Điều đó thật xác thực! Phải, chỉ sau cuộc chiến đấu đầy cam go và cay đắng chống lại tội lỗi và sau chỉ khi đã chiến thắng, chúng ta mới cảm nghiệm được niềm hân hoan dịu ngọt và an bình. Ngược lại, nếu gặp thất bại, niềm vui sẽ biến biệt dạng. Chúng ta thực là những loài thụ tạo mềm yếu , tuy nhiên Thiên Chúa vẫn là người cha của chúng ta, Ngài là tình yêu luôn luôn hiện diện, ôm ấp chúng ta, ủy lạo và nâng chúng ta chỗi dậy. Tôi có bao việc phải làm để vượt thắng tội lỗi. Tôi luôn luôn làm việc, luôn luôn canh chừng, cầu nguyện không ngừng để vượt thắng các cảm xúc giác quan và giữ tâm hồn thanh khiết." Dorothy thừa hưởng được người cha lòng yêu thích đọc sách cũng như khuynh hướng viết báo. Sách báo trở thành các người bạn đường trong suốt cuộc đời Dorothy Day. Văn chương đã tác động và đánh thức cảm quan tôn giáo nơi cô. Văn chương nuôi dưỡng ý thức nơi cô về các nhu cầu của người nghèo khổ. Là một học sinh xuất sắc, ngay từ thời niên thiếu, cô đã đọc các tác phẩm của các đại văn hào Dostoevsky và Tolstoy. Những đại tác phẩm này đã làm nổi bật các hậu quả của điều thiện cũng như điều ác, các hành động anh hùng, thánh đức và đã gây ảnh hưởng thâm sâu nơi cô. Một trong những câu châm ngôn được cô ấp ủ suốt cuộc đời, được rút ra từ văn hào Dostoevsky: "Tình yêu đi vào hành động là một việc làm gay go và quả cảm, khác với tình yêu trong giấc mơ." Là một thiếu nữ trầm tĩnh và sâu sắc, năm mười sáu tuổi Dorothy nhận được học bổng của đại học Illinois. Cô quyết định đi xa nhà và không xin gia đình trợ cấp. Cô tự mình kiếm sống để học hành. Trong suốt hai năm, cô đi rửa chén, ủi quần áo, coi giữ trẻ em. Trong giai đoạn này cô học hiểu được nguyên lý sau đây: bác ái không chưa đủ, nhưng cần phải làm việc để loại trừ chính các tội ác xã hội. Chúng ta thiếu các thánh nhân không phải chỉ chăn dăùt các người tôi đòi, nhưng còn phải đẩy lui tình trạng tôi đòi nữa. Năm mười tám tuổi, cô trở về New York dấn thân vào đời thực sự. Cô muốn trở thành ký giả, nhưng thiếu bằng cấp, do đó rất khó tìm được việc làm. Cuối cùng cô được nhận vào làm cho tờ The Call với tiền lương chết đói năm Mỹ kim một tuần. Từ một con mọt sách vở, cô chuyển hướng dấn thân vào hoạt động xã hội. Từ đây cô phát triển những mối giây gắn bó lâu dài với những con người nghèo khổ túng thiếu. Là một thiếu nữ suy tư, cô bắt đầu viết về những cuộc chiến đấu với tội ác hàng ngày lúc cô mới lên lười lăm tuổi. Tội ác đã chiến thắng cô một đôi lần. Cô đã lao đầu vào một tình yêu bất hạnh và kết thúc bằng việc phá thai. Câu chuyện này được cô tường thuật lại trong cuốn tiểu sử mang tựa đề The Eleventh Virgin. Không gì làm cô hãi hùng nhớ về cuộc đời quá vãng hơn là lần cô giết đứa con riêng của cô trong bụng mình. Những lời nói mãnh liệt của vị linh mục trong tòa giải tội vẫn đi theo cô suốt cuộc đời. Vị linh mục bảo cô: "Con chẳng có đức tin nơi Thiên Chúa là bao khi con tước bỏ cuộc sống Ngài đã ban cho con và con sử dụng theo kiểu đó. Chúa sẽ tha thứ cho chúng ta, nếu chúng ta xin Ngài. Và hình như con chưa muốn Ngài tha thứ cho con..." Năm 1926 cô sống với người chồng tên là Foster và mang thai với anh ta. Cô coi đây như một phép lạ và biểu lộ lòng thương xót và thứ tha của Thiên Chúa. Cô tràn ngập niềm ao ước cho đứa con nhỏ nhận được niềm tin Công giáo cô hằng đeo đuổi. Và sau này cô đã quyết định như thế. Người chồng sống vô thần và hơn thế còn chống lại niềm tin tôn giáo, nhất là Công giáo. Trong tình huống khó khăn này, cô đã viết lại trong nhật ký: "Tôi biết con tôi sắp nhận phép rửa tội theo nghi thức Công giáo, và tôi phải trả giá biết bao. Tôi biết mình không muốn nó sau này phạm vào sai lầm như tôi trong quá khứ, hoài nghi, do dự, vô kỷ luật và vô luân." Năm 1927 cô sinh hạ Tamar. Sau cuộc ly dị gay go với Foster, cô nhận phép rửa theo nghi thức Công giáo vào cuối năm đó. Sau khi trở lại, cô tâm sự: "Tôi có một số chuyện phải làm. Tôi quá mệt mỏi chạy theo những khẩu hiệu, những ước muốn của con tim, đeo đuổi những gì tôi muốn làm hoặc những ao ước con tim bảo tôi làm, tất cả đã dẫn dắt tôi đi vào lầm lạc." Cô vẫn còn yêu Foster, nhưng lòng cô tràn đầy cay đắng và hoài nghi. Chỉ sau khi cô nhận Phép Thêm Sức, những đắng đót và nghi ngại đó mãi xa rời cô. Giờ đây cô đơn thân độc mã kiếm sống bằng nghề viết báo tự do. Cô sống giằng co, lúng túng giữa xác tín phải xóa bỏ bất công xã hội và sống niềm tin tôn giáo. Chạy theo đường lối chống bất công xã hội, cô dễ trở thành kẻ vô thần, trong lúc hầu như mọi tín hữu Công giáo không hay biết gì về cách thức phải hoạt động chống bất công xã hội mình đang rao truyền. Đôi khi cô viết cho hai tờ báo Công giáo đề cập về những vấn đề xã hội. Một lần kia cô cổ động cho cuộc "Diễn hành cho người đói khổ" từ New York kéo về Washington. Cuối cùng, lệnh tòa án cho phép những người thất nghiệp đến thủ đô trao các kiến nghị xin việc làm và y tế. Trước công cuộc rộng lớn này, cô cảm thấy việc làm của cô quá khiêm tốn từ ngày cô trở lại với đức tin Công giáo. Cô nhìn nhận mình ích kỷ quy hướng về mình và sống thiếu ý thức cộng đồng. Lúc đó tâm hồn cô tràn ngập cảm nghĩ Chúa Giêsu phải yêu thương những con người này, cả khi họ không yêu Ngài. Vào ngày lễ Vô Nhiễm năm 1932, cô đến đền Đức Mẹ Vô Nhiễm cầu nguyện: "Tại đó, tôi dâng lên lời khấn nguyện đặc biệt, lời cầu nguyện đầm đìa nước mắt và dằn vặt, tôi xin Mẹ, bằng một phương cách nào đó, hãy mở tay xử dụng các tài năng của tôi để phục vụ những người bạn nghèo khổ." Lời cầu nguyện của Dorothy xin Chúa và Mẹ hướng dẫn các tài năng của cô đã được các Ngài đáp lời. Ngay ngày hôm sau, tại New York cô gặp mặt Pierre Maurin, người đã cung ứng cho cô các tư tưởng hướng lái cô đến việc thiết lập Phong trào Công Nhân Công Giáo vào năm 1932. Pierre là một di dân người Pháp đã một thời tu tại Paris. Dorothy đã học hỏi được nơi Pierre về các thánh nhân và các nhà văn lớn trong Giáo hội, cũng như các tư tưởng chính yếu của học thuyết xã hội Công giáo. Ông còn giới thiệu chương trình mở các nhà tiếp cư, các cuộc thảo luận bàn tròn giữa các học giả và công nhân... Hai người ảnh hưởng và cộng tác với nhau. Pierre là một lý thuyết gia, còn Dorothy là nhà hoạt động. Vốn liếng triết học của Pierre giúp Dorothy đem ứng dụng vào cuộc sống. Phong trào thợ thuyền Công giáo tại Paris đã tác động đến con đường tu đức của Dorothy và hướng cô đi vào hoạt động theo đường lối của Tin Mừng. Các tác giả Âu Châu nhấn mạnh đến nhu cầu cần thiết phải đem các giá trị tôn giáo thấm nhập vào các lãnh vực luân lý và xã hội trong cuộc sống hàng ngày, quan niệm về trách vụ cá nhân và nhân cách con người theo cả tính chất cá nhân lẫn tập thể. Họ phê bình lối sống trưởng giả, ích kỷ của chủ nghĩa sống tiêu thụ, lo thu vén cá nhân, chạy theo lối sống đua đòi tiện nghi, xa hoa và kêu gọi mọi người hãy hướng đến lối sống thánh thiện anh hùng. Từ đây Dorothy đã trang bị cho mình một lối sống phối hợp nhuần nhuyễn giữa triết lý và thực hành bác ái: "Không phải chúng ta thiếu cơ hội hiểu biết Chúa Giêsu khi chúng ta không thông dự vào Lương Thực Ngài đã để lại cho chúng ta trong Thánh Thể, nhưng chúng ta cũng chẳng hiểu biết nhau trừ khi chúng ta ngồi xuống với nhau. Chúng ta học hỏi lẫn nhau khi bẻ bánh cho nhau. Khi một người xa lạ đến xin chúng ta nuôi ăn, chúng ta biết phải giúp họ vì Chúa bảo phải làm thế, vì khi chúng ta nuôi những người đói khát chính là chúng ta nuôi Ngài. Và như vậy chúng ta hiểu được điểm nền tảng nhất trong chương trình Công Nhân Công Giáo nhấn mạnh đến trách vụ cá nhân của chúng ta phải thể hiện các Công Việc Bác Ái, các hoạt động của Tình Thương." Dorothy Day
và Pierre Maurin tin rằng các công cuộc tình thương phải được tiến hành một
cách cá thể và hy sinh cá nhân. Việc hy sinh cá thể đòi hỏi một lối sống tự
nguyện nghèo khó và giản dị, khác với lối sống hưởng thụ. Tất cả các nhà văn
đã ảnh hưởng Dorothy Day đều gọi đó là tinh thần của chủ nghĩa anh
hùng, đồng thời được đồng hóa với vẻ thánh thiện và với việc trở lại sống Tin
Mừng từ nền tảng. Các nhà văn này đều hướng lái người giáo dân phải đi theo
tiếng gọi đại đồng tiến vào con đường thánh thiện và được mời gọi trở thành
men cho công ích giữa thế giới. Chẳng bao lâu các nhà tiếp cư được mở ra. Hầu như lập tức ngay sau số báo đầu tiên The Catholic Worker được phát hành vào năm 1933, tờ báo trở thành một phần của phong trào giáo dân còn kéo dài đến ngày nay với các nhà tiếp đón và các tập thể sống rải rắc khắp Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác. Phong trào Công Nhân Công Giáo đã trở thành nổi tiếng khơi động sống gương mẫu nếp sống căn bản của người Kitô hữu, tập trung vào công cuộc tiếp rước người khác và cũng đồng thời đứng lên chống lại bạo lực và các bất công xã hội. Cho đến lúc nằm xuống, Dorothy cũng như những người đồng chí hướng trong phong trào giáo dân này vẫn thường đứng lên phản kháng và vào tù ra khám vì những hành động bị quy kết là bất tuân hành luật pháp. Con đường Dorothy Day bước đi hàng ngày chính là con đường thập giá. "Đừng bận tâm về tương lai. Hãy sống cuộc sống mỗi ngày nhìn ra Chúa Kitô trong tất cả những ai đến với chúng ta và cố công sống theo Tin Mừng được kết tụ trong việc làm của chúng ta." Viễn ảnh và lối sống thực hiện các công cuộc xã hội của Dorothy đồng nhất với nhau, hòa trộn trong nhau. Bà nhấn mạnh, đối với phong trào Công Nhân Công Giáo, các công tác của tình thương không phải chỉ bao gồm có việc nuôi ăn những người nghèo đói, cho trú ngụ những người vô gia cư, thăm viếng những người đau ốm hoặc nằm tù và chôn cất những người chết, nhưng còn cả việc khai tâm những người dốt nát, "Chúng tôi xuất bản báo chí, rồi xuống phố phân phát tài liệu, dán các bích chương, có khi đi vào tù nữa như một trong những công tác của tình thương." Linh mục Dòng tên, cha Daniel Berrigan hiểu biết Dorothy khá tường tận và đã viết về bà: "Bà thúc bách lương tâm chúng ta hãy bước ra khỏi con đường mòn; bà có thể làm được những chuyện chúng ta tưởng không làm nổi, rồi sẽ làm nổi. Trên hết, bà làm được chuyện đó nhờ bà sống với niềm tin đó là chân lý thực sự." Năm 1955 bà gia nhập Hội Dòng Ba Thánh Bênêđictô. Trong nhiều năm bà được lối cuốn vào đặc sủng của Thánh Bênêđictô, khi đặt tất cả giá trị vào việc đồng nhất với Chúa Kitô nơi tập thể, nơi nhà tiếp cư và nơi cuộc sống hài hòa giữa làm việc và cầu nguyện. Dorothy hiểu được chương trình linh ứng của Thánh Bênêđictô đòi hỏi phải sống nếp sống nghèo khó tự nguyện, cũng như sống nếp sống tổng hợp giữa cầu nguyện, phát hành sách báo và làm việc lao động. Chính nhờ sống hài hòa như thế, mọi người sẽ tìm gặp được vẻ đẹp và niềm vui triển nở. Luật Dòng nhấn mạnh đến tình yêu Chúa Kitô phải được diễn tả ra bằng việc tiếp đón người khác, dựa trên chương thứ hai mươi lăm của Thánh Matthêu: "Ta là khách lạ và anh em thăm viếng Ta." Tất cả những gì kiều diễm đều nói với Dorothy về Thiên Chúa. Chính quan niệm này đã giúp bà nhìn ra trong vẻ đẹp tiềm ẩn nơi cuộc sống của những con người nghèo khổ. Một lần kia có một ân nhân tặng Dorothy chiếc nhẫn kim cương và bà cất vào túi áo. Một lúc sau đó, một người đàn bà điên khùng bước vào và Dorothy trao chiếc nhẫn cho bà ta. Một người trong ban điều hành hỏi Dorothy sao không bán chiếc nhẫn đó để trả tiền nhà cho bà ta trong cả năm. Dorothy nhắc nhở cho nhân viên đó nhớ rằng người đàn bà đó có nhân cách và chính bà ta có thể chọn lựa bán chiếc nhẫn đó để trả tiền thuê nhà. Có lẽ bà ta hưởng niềm vui xỏ chiếc nhẫn trong tay cũng như người tặng chiếc nhẫn đó. Dorothy hỏi, "Bạn có nghĩ rằng Thiên Chúa tạo dựng kim cương chỉ cho người giầu không sao?" Dòng Biển Đức (Bênêđictô) đặt nặng việc tiếp cư như trọng điểm của phong trào Công Nhân Công Giáo. Và đối với Dorothy, việc tiếp đón những người vô gia cư còn liên kết chặt chẽ với giáo lý về Thân Thể Chúa Kitô. Bà hiểu rằng Chúa Giêsu cư ngụ trong bà yêu thương Chúa Giêsu cư ngụ trong các người khác. Ngài đích thực hiện diện với ơn thánh nơi tất cả mọi chi thể trong Thân Thể huyền nhiệm của Ngài. Như Thánh Phaolô, bà nhận ra nếu một ai đau khổ, tất cả cùng chia sẻ khổ đau với họ, một ai hân hoan, mọi người cùng san sẻ hân hoan với họ. Dorothy Day đem đến cho phong trào Công Nhân Công Giáo quà tặng duy nhất bằng chính đặc sủng sống hòa bình. Bà là chiến sĩ hòa bình trước khi xây dụng phong trào Công Nhân Công Giáo. Bà thường viết về sự đối kháng giữa "hoạt động cho tình thương" và "hoạt động chống bạo lực hoặc chiến tranh." Năm 1937 bà viết: "Tôi không tin rằng tình thương lại được diễn tả bằng lựu đạn cay và trại giam của cảnh sát, bằng phi cơ oanh tạc hoặc bằng tàn sát tập thể." Chủ trương sống hòa bình của bà được nối kết với Bài Giảng Trên Núi của Chúa Giêsu. Dorothy tin tưởng rằng cầu nguyện là nhiệm vụ hàng đầu của tất cả những ai hoạt động cho công bằng xã hội, và chỉ những hoạt động nào làm cho Chúa và với Chúa Giêsu mới có giá trị đích thực. Bà thường xuyên lần chuỗi và cầu nguyện. Bà cảm nhận được rằng người ta yêu thương đủ khi người ta lặp lại tình yêu thương mỗi lần lặp lại tên Mẹ Maria trong chuỗi Mân Côi. Dorothy có một danh sách dài những người bà chuyển cầu cho họ hàng ngày. Khi đau ốm giam nhốt bà trong phòng, bà tiếp tục rước Thánh Thể và cầu nguyện liên tục. Dorothy chiêm ngắm các thánh như những mẫu gương cao cả với đầy khả năng yêu thương. Bà thường xuyên trở lại đọc chương 25 trong Tin Mừng Thánh Matthêu nhấn mạnh về ngày tận thế, chúng ta sẽ bị xét xử về tình yêu, tình yêu được cụ thể hóa bằng việc làm. Bà thường nhắc nhở và sống với câu châm ngôn: "Tình yêu là thước đo chúng ta sẽ bị xét xử sau này ra sao." Có nhiều thánh nhân đã ảnh hưởng đến cuộc đời Dorothy. Bà tổng hợp các tư tưởng sâu nhiệm của các thánh nhân vào các hoạt động của bà. Chẳng hạn Thánh Têrêsa Nhỏ, Bông Hoa Nhỏ nói với bà về Con Đường Thơ Ấu, Con Đường Bé Nhỏ. Dorothy thường nói "Làm bài, lau nhà, giao tiếp với bao khách thăm viếng suốt ngày, trả lời điện thoại, giữ mình kiên nhẫn hòa nhã, tìm ra ý nghĩa trong mọi sự việc xẩy đến - tất cả những việc này đều là công cuộc của hòa bình và thường được xem như quá nhỏ bé." Lúc tuổi đời đạt đến tám mươi, Dorothy đau đớn với một mớ bệnh hoạn do bệnh suy tim gây ra như động mạch yếu, tiêu hóa khó khăn, ngộp thở. Và còn biết bao tật bệnh khác đeo đuổi bà vào giai đoạn tàn lụi cuộc sống. Dù nhợt nhạt và yếu ớt, bà vẫn đứng trong bếp nấu cháo gà phục vụ người nghèo khổ. Bà vẫn sống nhiệt tình cho đến lúc gặp được Đấng Tạo Dựng. Cho đến những ngày sau cùng cuộc đời, bà vẫn nói trong niềm hy vọng: "Tôi vẫn muốn có thể làm được điều gì hữu dụng cho mọi người. Tôi nguyện cầu Chúa ban cho tôi cơ hội cầu nguyện với Ngài theo cách thức tôi thích cầu nguyện. Nếu tôi cầu nguyện bằng nấu cháo và bưng cháo cho người khác, tôi cảm nhận được mình đang cầu nguyện bằng việc làm. Nếu tôi cầu nguyện bằng đọc kinh, tôi sẽ cảm thấy mình uổng phí. Như vậy cầu nguyện đi trước việc làm hay theo sau việc làm? Tôi già cả rồi và sắp bước tới ranh giới định mệnh, nhưng tâm trí tôi vẫn là một Dorothy như từ trước đến nay, tôi vẫn cố công thể hiện việc lành phúc đức dâng lên Chúa và phục vụ Ngài với hết khả năng của tôi. Tâm trí tôi vẫn ao ước như thế đó, dầu cho chân tôi sắp ngã quỵ."
|